Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

IMF: Giữa dịch Covid-19, tăng trưởng GDP Việt Nam 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới

IMF đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2020 thêm 0,8 điểm phần trăm so với công bố một tháng trước lên 2,4%.

Kết thúc đợt tham vấn trực tuyến từ 15/10 đến 13/11 với Việt Nam, bà Era Dabla Norris, Trưởng phái đoàn Điều IV Vụ châu Á – Thái Bình Dương của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết, nhờ kiểm soát được Covid-19, kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng ở mức 2,4%, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Hồi tháng 10, IMF đã đưa ra nhận định Việt Nam có thể tăng trưởng 1,6%, thuộc số ít quốc gia trên thế giới được dự báo tăng trưởng dương.

Theo bà Era Dabla Norris, những chính sách củng cố tài khoá thận trọng trong quá khứ đã tạo điều kiện cho Việt Nam triển khai được những biện pháp ứng phó. Các chính sách tài khoá chủ yếu đi theo hướng hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hộ gia đình dễ bị tổn thương. Các biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ và giảm căng thẳng tài chính tạm thời của Ngân hàng Nhà nước đã giúp giảm áp lực thanh khoản, hạ thấp chi phí nguồn vốn và đảm bảo tín dụng tiếp tục lưu thông.

Đại diện IMF cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục trong năm 2021 với GDP đạt 6,5%, lạm phát ở mức 4%.

Công nhân trong nhà máy chế biến hải sản ở Cần Thơ. Ảnh: Reuters.

Công nhân trong nhà máy chế biến hải sản ở Cần Thơ. Ảnh: Reuters.

Tuy vậy, triển vọng trên vẫn còn đối mặt với nhiều bất trắc như khả năng bùng phát Covid-19 trở lại, quá trình phục hồi toàn cầu chậm chạp, căng thẳng thương mại đang diễn ra và khu vực doanh nghiệp gặp khó khăn... Những điều này có thể dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa và phá sản, căng thẳng trên thị trường lao động và khu vực ngân hàng.

Những bất trắc này khiến việc linh hoạt điều chỉnh quy mô, cơ cấu hỗ trợ chính sách sẽ trở nên rất quan trọng, trong đó, chính sách tài khoá phải đóng vai trò lớn hơn, theo bà Era Dabla Norris.

Đại diện IMF cho rằng, trong năm nay, thâm hụt tài khoá nhiều khả năng sẽ nới rộng do thu ngân sách giảm, chi hỗ trợ bằng tiền và chi đầu tư tăng. Do vậy, trong ngắn hạn, hỗ trợ tài khoá nên tập trung vào công tác triển khai, còn trung và dài hạn cần tập trung vào huy động nguồn thu cho các dự án hạ tầng xanh, hiệu quả, đồng thời tăng cường các hệ thống an sinh xã hội và đảm bảo bền vững nợ công.

"Chính sách tiền tệ nên tiếp tục mang tính hỗ trợ trong ngắn hạn. Một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn sẽ giảm bớt nhu cầu tích luỹ các đệm dự trữ và tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh khi môi trường bên ngoài trở nên khó khăn hơn", bà nói.

Theo IMF, Ngân hàng Nhà nước đã cân bằng giữa việc hỗ trợ phục hồi nền kinh tế và đảm bảo khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Việc giám sát chặt chẽ những rủi ro trong hệ thống ngân hàng vẫn là yêu cầu thiết yếu khi mà các đệm vốn của ngân hàng vẫn còn thấp hơn ngân hàng tại các nước ngang hàng trong khu vực và triển vọng kinh tế vẫn còn nhiều bất trắc. Các quy định về phân loại khoản vay và ghi nhận nợ xấu nên dần được quay trở lại áp dụng như bình thường để hỗ trợ sự minh bạch của bảng cân đối kế toán và niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, Việt Nam cần củng cố hơn nữa tình hình vốn của các ngân hàng và phát triển thị trường vốn để nâng cao sức chống chịu về tài chính, thúc đẩy huy động vốn dài hạn.

Ngoài ra, IMF lưu ý Việt Nam nên ưu tiên cho việc giảm gánh nặng tuân thủ đối với các doanh nghiệp tư nhân trong nước, cải thiện tiếp cận đất đai và nguồn lực tài chính, đặc biệt là cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, và giảm bớt tham nhũng. Việc thiết lập một cơ chế phá sản riêng kịp thời và nhanh gọn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ giúp khơi thông được nguồn vốn và hạn chế những trường hợp thanh lý phá sản không cần thiết. Mặt khác, giảm sự mất cân đối giữa cung và cầu kỹ năng lao động, tăng cường tiếp cận công nghệ và nguồn vốn con người cũng sẽ giúp thúc đẩy năng suất lao động.

Báo cáo về Việt Nam sẽ được IMF thảo luận vào tháng 1/2021.

Theo Vnexpress.com

Chuyện về người thầy giáo đặc biệt trên đất Lào.

Bộ đội Việt Nam đứng lớp học 3 thứ tiếng ở đất bạn Lào

Chúng tôi gặp Thượng úy Nguyễn Văn Trinh khi anh vừa từ Hà Nội trở về Đồn. Thượng úy Trinh là 1 trong 60 cán bộ chiến sỹ BĐBP của cả nước được tuyên dương trong chương trình "Chiến sĩ quân hàm xanh nâng bước em tới trường".

Thượng tá Hoàng Văn Huy - Chính trị viên Đồn biên phòng Thông Thụ giới thiệu: "Không chỉ trực tiếp đứng lớp dạy tiếng Việt cho đồng bào người Mông ở bản Nậm Táy (cụm bản Viêng Phăn, huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, Lào), Thượng úy Trinh còn phụ trách kiểm tra mô hình phát triển kinh tế mà Đồn xây dựng cho đồng bào nước bạn.

Dạy tiếng Việt cho đồng bào mình đã khó, huống gì là cho đồng bào nước bạn. 3 năm qua, 115 học viên người Lào do Thiếu tá Trinh phụ trách đều đọc thông, viết thạo và giao tiếp tốt bằng tiếng Việt.


Thượng úy Nguyễn Văn Trinh và cậu học trò người Lào Thạo May Xi Thò.

Thành công này không chỉ giúp đồng bào nước bạn đẩy mạnh giao lưu, thông thương phát triển kinh tế với nhân dân Việt Nam bên này biên giới mà còn thắt chặt thêm tình đoàn kết, gắn bó thủy chung, bền vững, son sắt giữa hai dân tộc Việt - Lào, góp phần giữ gìn biên giới hòa bình, ổn định và phát triển".

20 năm công tác ở vùng biên, tham gia công tác xóa mù cho đồng bào huyện biên giới Kỳ Sơn, Thượng úy Nguyễn Văn Trinh mới chuyển về Đồn Thông Thụ được 4 năm.

Có kinh nghiệm đứng lớp xóa mù chữ lại được đào tạo bài bản về tiếng Lào nên khi Đồn biên phòng Thông Thụ xây dựng lớp học tiếng Việt cho các học viên người Lào, Thượng úy Trinh cùng Thiếu tá Đinh Xuân Thảo được tin tưởng, giao nhiệm vụ đứng lớp.

Lớp học tiếng Việt được mở từ 3 năm nay, trong nội dung kế hoạch giúp bà con nước bạn Lào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và học tiếng Việt Nam của Đồn.

Lớp được mở vào dịp hè để không chỉ người dân mà các em học sinh cũng có thể tham dự. Ở bản Nậm Táy hẻo lánh ấy, một lớp học đơn sơ mái tranh vách nứa được các BĐBP Việt Nam dựng lên.

Ở đó, ngày ngày những học viên người Lào không kể tuổi tác say sưa học chữ dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - bộ đội Việt Nam. Những phụ nữ địu con, những nam giới bàn tay đầy vết sứt sẹo lam lũ bám rừng mưu sinh cặm cụi bên từng trang sách, cần mẫn đưa từng nét chữ, khuôn mặt rạng ngời nhưng không giấu được vẻ ngượng ngịu khi thầy giáo khen ngợi, khích lệ.

Không chỉ học chữ, người dân Nậm Táy và các bản lân cận tìm đến lớp học để được thầy giáo - bộ đội biên phòng hướng dẫn cách trồng trọt, chăn nuôi phát triển kinh tế. Ông Thò Xây Vả, Cụm trưởng Cụm bản Viêng Phăn cho biết: "Nhu cầu mua bán, thông thương của người dân hai biên biên giới Việt - Lào qua cửa khẩu Thông Thụ rất lớn.

Biết được tiếng Việt giúp bà con làm thủ tục qua lại biên giới, trao đổi mua bán hàng hóa, lâm - nông sản, giống cây, giống con về bên này nuôi trồng. Mỗi lớp học 3 tháng, không mất tiền, lại được bộ đội Trinh, bộ đội Thảo hướng dẫn tận tình nên bà con nhớ nhanh, nhớ lâu, ai học xong cũng đọc thông, viết thạo tiếng Việt".

"Thầy bộ đội Việt Nam tốt lắm!"

Cậu bé người Lào Thạo May Xi Thò (SN 2000, trú bản Nậm Táy) nói như vậy khi chúng tôi hỏi về Thượng úy Trinh và các cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Thông Thụ.

17 tuổi, May Xi mới học lớp 9. Em đã từng phải gián đoạn việc học tập bởi hoàn cảnh quá khó khăn. Bằng tiếng Việt trơn tru, May Xi kể, bố em mất sớm, nhà có tận 7 anh em. Mẹ May Xi mắc bệnh dạ dày kinh niên và nhiều thứ bệnh khác, hầu như không làm gì được. Học đến lớp 7, May Xi phải nghỉ học vì nhà nghèo quá. May Xi buồn lắm!

Trong một lần đi công tác đối ngoại biên phòng, BĐBP Thông Thụ biết đến hoàn cảnh của May Xi. Bảy năm liền May Xi là học sinh giỏi toàn diện, nếu phải nghỉ học thì tiếc quá!.

"Sau khi bàn bạc, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thông Thụ quyết định hỗ trợ May Xi mỗi tháng 500.000 đồng theo chương trình "Nâng bước em đến trường" mà BĐBP Việt Nam đang triển khai. Số tiền này do cán bộ, chiến sỹ Đồn trích 1 phần lương đóng góp.

Ngoài May Xi, Đồn hiện đang hỗ trợ 4 học sinh người Việt Nam và 1 học sinh người Lào khác để các em có điều kiện tiếp tục đến trường, không phải lỡ dỡ việc học hành vì cảnh nghèo", Đại úy Nguyễn Văn Thưởng - Chính trị viên Phó Đồn biên phòng Thông Thụ cho biết.

Đối với May Xi, thầy Trinh và các chú BĐBP Thông Thụ không chỉ là ân nhân, là người thầy mà còn là người cha, người anh, bày dạy cho em từng li từng tí. Hồi tháng 11/2017, May Xi được thầy Trinh đưa ra Hà Nội để nhận quà của Chủ tịch nước Việt Nam và Bộ Tư lệnh BĐBP.

Ngoài sách vở, quần áo, May Xi còn được đến thăm Phủ Chủ tịch, được tặng bức chân dung Bác Hồ và số tiền hơn 10 triệu đồng. "10 triệu này em mang về mua cho mẹ con bò để mẹ nuôi", May Xi khoe.

Hỏi May Xi về dự định sau này, cậu bé người Lào cười thật tươi: "Em sẽ cố gắng học thật giỏi, sau này thi vào Học viện Biên phòng Việt Nam (có lớp dành cho học viên người Lào - PV) để sát cánh cùng BĐBP Việt Nam bảo vệ bình yên biên giới, bảo vệ những bản làng quê em".

May Xi chào chúng tôi, tạm biệt các thầy, các chú bộ đội Đồn BP Thông Thụ để về nhà, mang theo tình cảm, nghĩa tình của những người Việt Nam mà em luôn miệng "bộ đội Việt Nam tốt lắm".


Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 90 năm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Thấm nhuần quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng lực lượng cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách mặt trận là chính sách rất quan trọng. Công tác mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, xây dựng hệ thống mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam vững mạnh và đại đoàn kết dân tộc là nền tảng để thực hiện mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường. 1. Đại đoàn kết là nội dung xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phát huy cao nhất sức mạnh toàn dân tộc. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã không ngừng chăm lo, vun trồng cho sự nghiệp đoàn kết toàn dân, tập hợp lực lượng toàn dân tộc trong một Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Trải qua 90 năm ra đời và phát triển, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ sáng lập, rèn luyện, từ Hội Phản đế Đồng minh - hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đến MTTQ Việt Nam ngày nay đã phát huy truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc ta, nhân lên gấp bội tinh thần yêu nước của người Việt Nam, đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân thành một lực lượng hùng mạnh để đánh đuổi bè lũ thực dân, đế quốc, giành lại độc lập cho Tổ quốc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cùng với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam qua từng thời kỳ, Mặt trận Dân tộc Thống nhất đã không ngừng được củng cố, mở rộng với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã có những cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Kế tục truyền thống của Hội Phản đế Đồng minh và Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đoàn kết, vận động toàn dân nổi dậy làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày nay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam). Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam. Đoàn kết trong MTTQ Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam, nhân dân ta đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử vẻ vang giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước. Từ ngày nước nhà thống nhất, cả nước đi lên CNXH, MTTQ Việt Nam đã động viên nhân dân tăng cường đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đưa đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, tháng 5-1995, nhân kỷ niệm 105 năm Ngày sinh của Người, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phát động cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, sau đó là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Đây là cuộc vận động nhân dân rộng lớn trong cả nước của thời kỳ đổi mới có nội dung toàn diện, diễn ra trong thời gian dài. Quá trình triển khai cuộc vận động đã phát huy được tính tích cực, sáng tạo và nội lực của người dân, cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự ở từng địa bàn khu dân cư; khơi dậy truyền thống đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân thông qua hình thức tự quản ở cơ sở, tích cực xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh… Kết quả của cuộc vận động đã góp phần quan trọng cùng Nhà nước thực hiện đường lối của Đảng về công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp nối thành công của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, tháng 11-2015, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phát động cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; đồng thời MTTQ Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, MTTQ Việt Nam các cấp đã vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa các cuộc vận động ở cơ sở để cổ vũ, động viên nhân dân tham gia phát triển sản xuất - kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vươn lên làm giàu chính đáng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh. Thực hiện Chương trình hành động nhiệm kỳ 2014-2019 của Đại hội lần thứ VIII MTTQ Việt Nam và yêu cầu nhiệm vụ mới, MTTQ Việt Nam tiếp tục củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phát huy mọi nguồn lực góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền quốc gia trong tình hình mới, nhất là chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân, tăng cường đoàn kết quốc tế, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam. Tổng kết 10 năm (2-2010 - 2-2020) thực hiện Quyết định số 290-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc ban hành quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, MTTQ Việt Nam các cấp đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tinh thần năng động, sáng tạo của cán bộ mặt trận đối với công tác dân vận, với phương châm gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm và gắn bó mật thiết với nhân dân, gương mẫu nơi công tác và nơi cư trú, phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên. MTTQ Việt Nam các cấp chủ động phối hợp với chính quyền và các ngành để tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các dự án luật, dự án pháp lệnh; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân, các tổ chức thành viên của mặt trận để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước về những vấn đề nhân dân quan tâm. MTTQ Việt Nam thực sự có vị trí, vai trò to lớn trong việc tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. MTTQ Việt Nam cũng đã thực hiện tốt công tác phát triển tổ chức, kiện toàn bộ máy, bố trí nâng cao năng lực cán bộ, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân trong nhiều vấn đề, qua đó tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, bảo đảm cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, trên tinh thần “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”. MTTQ đã khẳng định vị trí là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là các kênh đại diện cho tiếng nói của người dân ở nhiều góc độ khác nhau. Vai trò to lớn này đang được phát huy hơn nữa để củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo nên sự lan tỏa và tạo dựng niềm tin của nhân dân trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. 2. Ngày nay, MTTQ Việt Nam đang đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với chức năng tham gia đóng góp ý kiến, giám sát, phản biện đối với các quyết sách của Đảng. Trước đó, ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 217-QĐ/TU kèm theo bản “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội”. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã đề ra những biện pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò của nhân dân và MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội trong giám sát và phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một số cán bộ, đảng viên. MTTQ Việt Nam đã chủ động, tích cực thực hiện nhiệm vụ này đạt được nhiều kết quả như: Xây dựng Dự thảo Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; quy định về các hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam; phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và một số bộ, ngành, xây dựng, trình Chính phủ ban hành một số Nghị định như: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của ban thanh tra nhân dân; quy định về giám sát và đánh giá đầu tư, trong đó có những quy định về quyền giám sát đầu tư công của nhân dân, các ban giám sát đầu tư của cộng đồng; quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Năm năm qua, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã triển khai 4 hình thức giám sát, trong đó tăng cường phối hợp giám sát với các cơ quan tổ chức có thẩm quyền như Quốc hội, HĐND, viện kiểm sát nhân dân. Triển khai 10 chương trình phối hợp giám sát, nội dung chủ yếu hướng tới những vấn đề nhân dân quan tâm. MTTQ Việt Nam ba cấp (tỉnh, huyện, xã) chủ trì 56.689 cuộc giám sát (cấp tỉnh 721 cuộc, cấp huyện 6.404 cuộc, cấp xã 49.564 cuộc) tập trung vào những việc thiết thực, liên quan đời sống, việc làm của người dân, như: thực hiện chính sách, chế độ bồi thường, giải phóng mặt bằng; bố trí tái định cư và tạm cư cho người dân có nhà, đất bị thu hồi; thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm, an toàn giao thông; về công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân... Bảo đảm các chính sách hỗ trợ, bồi thường của Nhà nước đến với người dân đúng đối tượng, kịp thời và hiệu quả. Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức thành viên đã góp ý, phản biện xã hội đối với hàng chục dự thảo các văn bản quan trọng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền khác; tập trung vào hoạt động tập hợp, lấy ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo Văn kiện Đại hội XII của Đảng, vào Hiến pháp sửa đổi 2013 và nhiều dự án luật khác. Các kiến nghị, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam được dư luận đánh giá cao, nhiều nội dung phản biện được cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu và có ý kiến phản hồi tích cực; trở thành một kênh thông tin quan trọng, cần thiết, giúp Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, quản lý, điều hành. Toàn Đảng ta đang tích cực chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đây là thời điểm rất quan trọng thực hiện việc giám sát, phản biện của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội trong quá trình hoạch định các chủ trương, chính sách, lựa chọn những người ưu tú vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị của Nhà nước. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên cần phát huy tinh thần đoàn kết, dân chủ và nâng cao trách nhiệm của MTTQ và tổ chức chính trị - xã hội, sự chỉ đạo và phối hợp sát sao của các cấp ủy và chính quyền các cấp. Các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước cần quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò của MTTQ trong điều kiện một đảng cầm quyền với yêu cầu xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chỉ đạo, phối hợp và tạo điều kiện để MTTQ và các đoàn thể ở địa phương tổ chức thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, 90 năm qua, MTTQ luôn là nơi quy tụ đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng hành cùng với Đảng vượt qua mọi thử thách, giành nhiều thắng lợi, để đất nước ta có cơ đồ như ngày nay, đã cho ta bài học quý báu: Chỉ khi nào các cấp ủy đảng và chính quyền từ Trung ương đến địa phương thực sự xem MTTQ và các đoàn thể nhân dân là lực lượng giám sát và phản biện tích cực, thì khi ấy tính chính xác và khả năng thực thi đầy đủ những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước vào trong đời sống xã hội mới được bảo đảm để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vươn tới thịnh vượng, hùng cường. Nguồn: Xây dựng Đảng.

NGHỀ CAO QUÝ NHẤT CỦA NHỮNG NGHỀ CAO QUÝ

CÓ MỘT NGHỀ NHƯ THẾ Có một nghề dẫu vất vả gian lao Vẫn tự hào bởi tình yêu dân tộc Có một nghề bảo vệ nền độc lập Cho bình yên hạnh phúc của mỗi nhà. Có một nghề luôn vất vả đi xa Làm bạn với biển xanh và mây trắng Giọt mồ hôi trên thao trường đầy nắng Bước tuần tra băng qua những núi đèo. Gói tình yêu nhung nhớ để mang theo Chặng hành quân qua những ngày gian khó Trước kẻ thù không bao giờ run sợ Bởi tình yêu đất nước trong tim ta. Có một nghề khi bão dịch tràn qua Lại vang xa khúc ca người chiến sỹ Nơi khó khăn càng luyện tôi ý chí Vì Nhân dân vì đất nước quên mình. Có một nghề chỉ biết đến hy sinh Yêu cha mẹ qua dòng thư, điện thoại Thương vợ trẻ luôn nhớ nhung khắc khoải Những nỗi niềm của đôi lứa yêu nhau. Có một nghề khi em ốm lòng đau Bố mẹ bệnh chưa kịp về chăm sóc Nén đau thương khi gia đình tang tóc Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nghề bộ đội dẫu vất vả gian lao Nhưng tự hào với non sông đất nước Lớp cha trước chúng con nguyện tiếp bước Giữ dáng hình của Tổ quốc thân yêu.

XU HƯỚNG DỊCH CHUYỂN ĐẦU TƯ VÀ CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID-19 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Dịch bệnh COVID-19 đã làm bộc lộ những rủi ro khi cung ứng các sản phẩm, thiết bị thiết yếu bị gián đoạn, không kịp thời do mạng lưới chuỗi cung ứng trải rộng toàn cầu cũng như nhiều chuỗi cung ứng quá phụ thuộc vào các trung tâm sản xuất và các thị trường lớn, nhất là Trung Quốc. Bên cạnh việc tối ưu hóa sản xuất và chi phí, việc dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng còn nhằm để phân tán và giảm thiểu rủi ro. Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc ngày càng quyết liệt, xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu đang thể hiện mạnh mẽ, đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu dưới tác động của dịch bệnh COVID-19 Thứ nhất, dịch chuyển chuỗi cung ứng kéo theo dịch chuyển đầu tư, di chuyển toàn bộ hoặc một phần sản xuất về nước (reshoring) hoặc sang các nước khác trong khu vực (near-shoring) để giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Bên cạnh đó, một số chuỗi cung ứng được cơ cấu, sắp xếp lại thông qua mở rộng mạng lưới nhà cung cấp (outsourcing) để phân tán rủi ro, như đặt hàng mua linh kiện, nguyên liệu từ nhiều nhà cung cấp ở các nước khác nhau, mà không nhất thiết kéo theo dịch chuyển vốn đầu tư và sản xuất. Các ngành, lĩnh vực đang có nhiều dịch chuyển, bao gồm: dệt may, thiết bị điện tử, viễn thông, phụ tùng, linh kiện ô-tô... (Trong ảnh: Công nhân làm việc tại nhà máy dệt ở tỉnh Giang Tô, Trung Quốc)_Ảnh: AFP Thứ hai, các cấu phần/công đoạn thượng nguồn hoặc gắn với công nghệ cao thường được dịch chuyển về nước(1), trong khi các công đoạn hạ nguồn (lowstream)(2), gia công, lắp ráp thường được dịch chuyển ra nhiều nước nhằm phân tán rủi ro và tối ưu hóa chi phí sản xuất. Các ngành, lĩnh vực đang có nhiều dịch chuyển, bao gồm: dệt may, thiết bị điện tử, viễn thông, phụ tùng, linh kiện ô-tô, hàng hóa, trang thiết bị y tế và dược phẩm thiết yếu, năng lượng, tài chính, bất động sản. Thứ ba, các tập đoàn có khả năng dịch chuyển đầu tư hoặc chuỗi cung ứng chủ yếu là các tập đoàn tiếp cận các thị trường ngoài Trung Quốc có nhu cầu tối ưu hóa về chi phí, các tập đoàn đang đầu tư nhiều vào Trung Quốc có nhu cầu phân tán rủi ro, các tập đoàn chịu tác động trực tiếp của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc. Đơn cử như, một số tập đoàn trong lĩnh vực công nghệ, máy tính, điện tử, điện thoại, như Foxconn, Winstron, Qishda, Pegatron, Inventec, Apple, Intel…, đã và đang xúc tiến kế hoạch đầu tư hoặc mở rộng sản xuất tại nhiều nước ngoài Trung Quốc, như Ấn Độ, Mexico, một số nước Đông Nam Á để giảm thiểu rủi ro gián đoạn cung ứng khi xảy ra biến động ở thị trường Trung Quốc. Có thể thấy, dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc thực chất là một xu hướng khách quan đã diễn ra trong nhiều năm nay với động lực chính được thúc đẩy bởi mục tiêu lợi nhuận, tối ưu hóa sản xuất, chi phí và sự phát triển của khoa học - công nghệ. Dưới tác động của dịch bệnh COVID-19, xu hướng này được đẩy mạnh hơn, bởi ngoài các động lực nói trên nay có thêm động lực phân tán và giảm thiểu rủi ro. Dù được đẩy mạnh hơn, song thực tế cho thấy, trước mắt, xu hướng này chưa tạo ra làn sóng mạnh mẽ về dịch chuyển đầu tư trên toàn cầu, cũng như trong khu vực vì chưa có quốc gia nào thay thế được Trung Quốc trong chuỗi cung ứng - sản xuất toàn cầu cả về thị trường lẫn sản xuất. Trong số các nền kinh tế đang phát triển, Trung Quốc đến nay vẫn có năng lực cạnh tranh vượt trội về thị trường, hiệu quả theo quy mô, kết cấu hạ tầng, hệ thống logistics, mạng lưới công nghiệp hỗ trợ và nguồn cung lao động có kỹ năng. Bên cạnh đó, nhiều tập đoàn toàn cầu gắn kết lợi ích chặt chẽ với Trung Quốc về thị trường và sản xuất, nhiều năm đầu tư lớn cho phát triển chuỗi cung ứng tại Trung Quốc nên khó có thể rời đi trong thời gian ngắn(3), nên cho đến nay, hầu như chưa thay đổi chiến lược và kế hoạch đầu tư ở Trung Quốc. Nhiều tập đoàn thuộc nhóm 500 tập đoàn hàng đầu thế giới (Fortune 500) chưa sẵn sàng dịch chuyển toàn bộ hoặc phần lớn sản xuất ra khỏi Trung Quốc. Theo điều tra của Phòng Thương mại Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) tại Trung Quốc, hơn 70% số doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc và 90% số doanh nghiệp Nhật Bản ở miền Đông Trung Quốc chưa có kế hoạch rút khỏi Trung Quốc… Nhiều tập đoàn trong số này mặc dù chưa rút khỏi Trung Quốc nhưng vẫn tìm kiếm các nước khác để đầu tư nhằm giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc và phân tán rủi ro. Về lĩnh vực chuyển dịch, nhiều sản phẩm/chi tiết/công đoạn thượng nguồn vẫn được giữ lại ở Trung Quốc hoặc nếu dịch chuyển khỏi Trung Quốc thì chủ yếu được đưa về nước như Mỹ, Nhật Bản, các nước EU... Những cấu phần sản xuất trong chuỗi cung ứng, giá trị toàn cầu đang hoặc có thể dịch chuyển sang các nước khác chủ yếu là công đoạn hạ nguồn bởi không đòi hỏi cao về công nghệ, cũng như trình độ lao động nên dễ tìm kiếm được địa bàn để phân tán rủi ro. Bên cạnh đó, việc di chuyển các công đoạn hạ nguồn sang các nước có chi phí lao động thấp hơn Trung Quốc còn nhằm kéo dài vòng đời dây chuyền công nghệ. Chính sách của một số quốc gia trước xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng Các nước cung cấp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp của mình đầu tư về nước. Mỹ ban hành nhiều chính sách để thu hút đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại Mỹ, như miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp Mỹ (giảm thuế thu nhập từ 25% xuống 21%), cải cách thủ tục cấp phép đầu tư, đưa ra các tiêu chuẩn linh hoạt hơn nhằm nâng cao tính cạnh tranh của một số ngành công nghiệp Mỹ (năng lượng, ô-tô, nhôm, thép…). Các nước EU thúc đẩy kinh tế “tự chủ chiến lược”, kiểm soát đầu tư ra nước ngoài, như Đức, Italia quy định chặt chẽ hơn đối với đầu tư ra nước ngoài trong các ngành chiến lược; Pháp triển khai chiến lược “sản xuất tại Pháp” nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước trong các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, như ô-tô, hàng không, công nghệ số… Nhật Bản dành ngân sách 2,2 tỷ USD, trong đó 2 tỷ USD hỗ trợ các doanh nghiệp Nhật Bản đưa sản xuất từ Trung Quốc về nước và khoảng 200 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản di chuyển sản xuất, đa dạng hóa nguồn cung trong một số ngành ưu tiên (thiết bị y tế, phụ tùng ô-tô, điện tử, kim loại hiếm…). Hàn Quốc ban hành luật thu hút các doanh nghiệp đã đầu tư ở nước ngoài quay về sản xuất, kinh doanh tại Hàn Quốc… Công nhân làm việc tại nhà máy của hãng Foxconn ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc_Ảnh: reuters Một số nước tăng cường ngăn chặn nhà đầu tư nước ngoài thâu tóm doanh nghiệp trong nước, nhất là trong lĩnh vực công nghệ, kết cấu hạ tầng quan trọng, an ninh - quốc phòng. Mỹ mở rộng phạm vi kiểm duyệt đầu tư đối với các dự án liên quan đến an ninh quốc gia; trao quyền cho Ủy ban Đầu tư nước ngoài (CFIUS) sàng lọc đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ và kết cấu hạ tầng trọng yếu. Ấn Độ điều chỉnh chính sách quản lý đầu tư, theo đó, tất cả đầu tư từ các quốc gia láng giềng có chung biên giới với Ấn Độ đều phải được chính phủ xét duyệt. Đức tăng cường kiểm soát đầu tư nước ngoài vào kết cấu hạ tầng quan trọng. Pháp đưa ra danh sách công nghệ chịu sự kiểm soát của chính phủ, giảm tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư ngoài EU được phép đầu tư vào các doanh nghiệp Pháp, từ 25% xuống 10%. Tây Ban Nha quy định các khoản đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng quan trọng, cung ứng các nguyên liệu chủ chốt, phải được chính phủ phê duyệt. Trong khi đó, một số nước tiếp nhận FDI đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư nhằm cạnh tranh thu hút FDI. Ấn Độ xem xét miễn thuế cho các dự án đầu tư mới trên 500 triệu USD, miễn thuế 4 năm cho các dự án đầu tư trên 100 triệu USD trong các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, như dệt may, da giày, chế biến thực phẩm. Indonesia ban hành các chính sách ưu đãi mới, hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài chuyển từ Trung Quốc sang Indonesia, thiết lập Khu công nghiệp Brebes dành riêng cho doanh nghiệp Mỹ. Thái Lan đẩy mạnh thu hút đầu tư trong lĩnh vực thiết bị y tế, ưu tiên các dự án công nghệ cao. Malaysia tăng ưu đãi thuế để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược. Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp khá mạnh mẽ nhằm “giữ chân” nhà đầu tư, giảm thiểu việc dịch chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng ra ngoài Trung Quốc, như xây dựng các chính sách ưu đãi đặt biệt đối với các doanh nghiệp hàng đầu thế giới, nhất là các tập đoàn đa quốc gia của phương Tây; ban hành Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi; mở rộng các khu thí điểm tự do thương mại (FTZ) với nhiều ưu đãi; tăng cường hợp tác kinh tế với khu vực, trọng tâm là hợp tác khu vực Đông Bắc Á, ASEAN+1, ASEAN+3, thúc đẩy Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); áp dụng một số rào cản kỹ thuật nhằm hạn chế nhà đầu tư rút vốn, chuyển sản xuất ra ngoài Trung Quốc... Cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam có một số lợi thế để tranh thủ sự dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng, như chính trị - xã hội ổn định, nguồn lao động trẻ dồi dào, tiềm năng thị trường gần 100 triệu dân với tầng lớp khá giả ngày càng tăng... Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia được nhiều doanh nghiệp đánh giá là một lợi thế lớn của Việt Nam để thu hút các nhà đầu tư di chuyển sản xuất sang Việt Nam nhằm tiếp cận các thị trường có FTA với Việt Nam. Đơn cử như, FTA Việt Nam - EU (EVFTA) bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8-2020, tạo cho Việt Nam lợi thế đi trước hầu hết các nước trong khu vực từ 7 - 10 năm về đặc quyền tiếp cận thị trường EU rộng lớn với cam kết giảm thuế quan đối với gần 100% dòng thuế. Dây chuyền sản xuất và lắp ráp sản phẩm tại nhà máy Daikin Việt Nam_Ảnh: Tư liệu Đặc biệt, việc thực hiện thành công mục tiêu kép: vừa khống chế được dịch bệnh COVID-19, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đã nâng cao uy tín của Việt Nam như một điểm đến đầu tư an toàn, có năng lực quản trị, cũng như khả năng kháng chịu, thích ứng tương đối tốt trước những biến động của thế giới. Đây cũng là lợi thế của Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực còn chưa khống chế được dịch bệnh COVID-19 (Ấn Độ, Indonesia, Philippines…) trong cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài. Nếu phát huy và khai thác tối đa những lợi thế trên, Việt Nam có cơ hội lớn với vị thế thuận lợi, đa dạng hóa, đa phương hóa việc tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu, sẽ thu hút các tập đoàn lớn, tập đoàn công nghệ có nhu cầu dịch chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng, nhờ đó thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh cơ hội có ý nghĩa lâu dài này, việc thu hút đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực đang dịch chuyển sản xuất và chuỗi cung ứng (điện tử, dệt may, linh kiện ô-tô…) còn trực tiếp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội trong và sau dịch bệnh COVID-19. Tuy nhiên, cơ hội, thuận lợi luôn đan xen với thách thức, khó khăn. Môi trường đầu tư của Việt Nam hiện còn nhiều điểm yếu, chậm được khắc phục, như hạn chế về năng lực quản lý, kết cấu hạ tầng, thủ tục đầu tư, thiếu lao động có kỹ năng, công nghiệp phụ trợ và mạng lưới logistics… Năng lực các doanh nghiệp trong nước, nhất là trong lĩnh vực công nghệ, là một trở ngại lớn để thu hút các chuỗi cung ứng của các tập đoàn công nghệ vào Việt Nam cũng như hạn chế khả năng Việt Nam tham gia các công đoạn cao trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Những điểm yếu này nếu không sớm khắc phục sẽ làm tăng nguy cơ lún sâu vào bẫy gia công, lắp ráp, khó kiểm soát được các dòng đầu tư chất lượng thấp, đầu tư thâu tóm thị trường và doanh nghiệp trong nước, đầu tư “núp bóng”... Việc tranh thủ được cơ hội tới đâu và có vượt qua được thách thức hay không phụ thuộc nhiều vào cơ chế, chính sách của Nhà nước, ý chí và nỗ lực vươn lên của các doanh nghiệp trong nước. Nghị quyết số 50-NQ/TW, ngày 20-8-2019, của Bộ Chính trị (khóa XII), “Về đinh hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”, có chủ trương xuyên suốt là thu hút đầu tư có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Chính phủ đã ban hành chương trình hành động thực hiện nghị quyết này, trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương. Vấn đề đặt ra là cần sớm đưa các chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn đi vào cuộc sống bằng các biện pháp căn cơ và quyết liệt. Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu vừa là cơ hội, vừa là thách thức, nên trong thu hút FDI hiện nay và thời gian tới cần quán triệt quan điểm phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Muốn vậy, cần tăng cường sự chủ động, tích cực của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Trước hết, đó là chủ động, tích cực hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư; chủ động tiếp cận các dòng vốn đầu tư có chất lượng thông qua đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, tiếp cận, vận động các tập đoàn lớn, tập đoàn công nghệ; chủ động thúc đẩy hợp tác đầu tư và chuỗi cung ứng trong các khuôn khổ hợp tác với các đối tác có tiềm lực tài chính và công nghệ; chủ động chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, kiên quyết từ chối các dự án không phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như không đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn công nghệ, môi trường… Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Việt Nam (Trong ảnh: Dây chuyền lắp ráp ô tô tại nhà máy của Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco) trong Khu kinh tế mở Chu Lai (huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam)) _Nguồn: thacochulai.vn Bên cạnh việc tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học - công nghệ và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, các cơ quan liên quan cần sớm có quy định, chính sách ưu đãi cụ thể đi kèm với điều kiện được hưởng ưu đãi để thu hút đầu tư vào một số lĩnh vực, như hình thành các chuỗi sản xuất, cung ứng có giá trị gia tăng ở Việt Nam, thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm nghiên cứu - phát triển tại Việt Nam, liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ; xây dựng các quy định có tính sàng lọc đầu tư nước ngoài, như quy định, cơ chế đánh giá yếu tố quốc phòng - an ninh, tiêu chuẩn công nghệ, môi trường, lao động, xuất xứ hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong thẩm định và cấp phép đầu tư nhằm khuyến khích đầu tư gắn với công nghệ cao; đồng thời, ngăn ngừa các dự án đầu tư tiềm ẩn rủi ro về mất an ninh, ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu, đầu tư "núp bóng", trốn tránh thuế quan, chuyển giá, gian lận thương mại… Ngoài các biện pháp trước mắt, biện pháp căn cơ và lâu dài là tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển các doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh có năng lực liên kết với các tập đoàn công nghệ trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, Việt Nam mới tranh thủ được cơ hội, cũng như giảm thiểu các thách thức từ xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu để phát triển nhanh, bền vững và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời gian tới./. -------------------- Theo: tapchicongsan.org.vn

NHỚ THẦY DẠY SỬ NƯỚC NAM !

Thầy đã về nơi cội nguồn Tiên tổ
Cùng cha già hội ngộ đoàn viên
Cõi linh thiêng của thế giới người hiền
Nhưng tinh anh của thầy -Người con vĩ đại
Vẫn lấp lánh và lung linh sáng mãi
Bên ánh cờ sao của Tổ Quốc thân yêu
Bên hơi thở của người dân mỗi sớm mỗi chiều
Lịch sử đã gọi tên thầy -Người anh hùng dân tộc
Đất nước Tiên rồng tự hào nâng tầm vóc
Hỡi người thầy ! Vĩ đại của non sông
Trái tim thầy mang dòng máu Lạc hồng
Nói về thầy là nói về tài thao lược
Nghệ thuật cầm quân chắc ăn theo từng bước
Phong thái toát lên bình thản lạ lùng
Khiến bao kẻ thù phải khiếp vía kinh run
Phong thái ấy xuất phát từ cốt cách
Của một người thầy tâm sáng trong thanh bạch
Một người thầy đã dạy sử nhiều năm
Luôn đau đáu và suy nghĩ trở trăn
Trước lịch sử đau thương giống nòi dân tộc
Nhớ một lần thầy được dẫn ra cửa Bắc
Đất Hà Thành in dấu vết chiến tranh
Được đồng chí cách mạng giải thích rõ rành
Hai vết đại bác này của kẻ thù giặc Pháp
Trong cuộc chiến cam go đối mặt
Khiến Hà Thành phải thất thủ thương đau
Tướng Hoàng Diệu thế thua trận buồn dầu
Nên quyết định quyên sinh tuẫn tiết
Tướng Hoàng Diệu người con trung quân ái quốc
Thà chết chứ không chịu đầu hàng
Thầy nghe mà nhức nhói buốt tâm can
Nỗi đau của thầy hòa cùng nỗi đau dân tộc
Không kìm nén thầy bật thành tiếng khóc
Khắc khoải đau thương trước vận mệnh nước nhà
Mỗi bài giảng từng câu chữ bật ra
Thầy lại truyền lửa cho trò về tình yêu đất nước
Về chí khí hiên ngang kiên cường bất khuất
Về quá khứ đau thương một dân tộc anh hùng
Bài thầy giảng trò nức nở rưng rưng
Cháy bỏng trong tim lòng căm thù sâu sắc
Kiến thức của thầy rộng sâu uyên bác
Càng toát lên cốt cách người thầy
Trò càng học càng thích thú mê say
Thầy yêu sử nên chọn nghề dạy sử
Không màng lợi danh không đắn đo tư lự
Và chính lịch sử đau thương đã sáng suốt chọn thầy
Ôi ! Cuộc đời bao biến động đổi thay
Thầy truyền sử đã trở thành tướng lĩnh
Hồ Chí Minh-Người tài tình quyết định
Giao cho thầy vận mệnh của non sông
Thầy trui rèn hùng hậu một đội quân
"Từ nhân dân mà ra ,vì nhân dân mà chiến đấu "
Trái tim thầy trọn một đời nung nấu
Tổ Quốc giang sơn mãi mãi trường tồn
Cả dân tộc ngàn đời nhớ tri ơn
Khắc sâu tim mình hình bóng người thầy giáo
Uống nước nhớ nguồn tôn sư trọng đạo
Một người thầy dạy lịch sử nước Nam
Tác giả:Nguyễn Thị Tính

Hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng, cây, ngoài trời và thiên nhiên

BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG GỬI THƯ CHÚC MỪNG CÁC NHÀ GIÁO, CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRONG QUÂN ĐỘI...!

    Thân ái gửi các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 2020.

    Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 2020, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi thân ái gửi tới các thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã và đang công tác trong Quân đội lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng đẹp nhất.
    Các đồng chí thân mến!
    Năm học 2019-2020, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhất là dịch Covid-19 tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, trong đó có công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Quân đội, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các nhà trường trong toàn quân đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều giải pháp để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội luôn đoàn kết, tích cực, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực, tác phong công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề sư phạm, lập được nhiều thành tích xuất sắc trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục; thực sự là lực lượng nòng cốt, quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của các nhà trường Quân đội; góp phần quan trọng vào sự nghiệp “trồng người”, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững     chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
    Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ghi nhận, biểu dương, khen ngợi những thành tích mà các học viện, nhà trường và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội đã đạt được trong năm học vừa qua.
    Các đồng chí thân mến!
    Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; các nhà trường Quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ về công tác giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; tập trung đổi mới nội dung, chương trình theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và liên thông”, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo; phát huy, nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo trong dạy và học; triển khai thực hiện tốt mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và chất lượng ngày càng cao; góp phần đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Quân đội phát triển mạnh mẽ, vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
    Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội cần tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” và “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, khả năng tư duy, tay nghề sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn; tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng vào giảng dạy nhằm khơi dậy, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học, tự rèn và năng lực hoạt động thực tiễn cho người học, lấy người học làm trung tâm; nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
    Chúc các đồng chí cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và không ngừng tiến bộ; luôn xứng đáng với sự quan tâm, tôn vinh, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội.
    Chào thân ái và quyết thắng!
    Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH
Nguồn: QĐND

NGHĨ VỀ LỜI BÁC DẠY: “GIÁO VIÊN PHẢI CHÚ Ý CẢ TÀI, CẢ ĐỨC"

     Có thể nói, ở bất cứ xã hội nào nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo. Do vậy, người thầy phải không ngừng rèn đức luyện tài để hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng trao gửi. Trong Bài nói chuyện tại Lớp học Chính trị của giáo viên, tháng 8-1959, Bác dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức... Thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con. Trách nhiệm đó rất là vẻ vang, quan trọng”.

    “Tôn sư trọng đạo” là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Vị trí, vai trò của người thầy luôn được xã hội tôn vinh với sự kính trọng, tin tưởng: “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Nhà giáo dục học người Séc (Tiệp Khắc) Comenxki đã từng nói: “Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao sứ mệnh của người thầy giáo. Phát biểu tại Lớp học Chính trị của giáo viên năm 1959, Người đã khẳng định: “Giáo viên là người phụ trách đào tạo những công dân tiến bộ, những cán bộ tiến bộ cho dân tộc. Nhiệm vụ ấy rất vẻ vang”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nền giáo dục cách mạng, người giáo viên có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại; bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Người thầy là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục, sản phẩm của dạy học là tương lai của dân tộc. Mọi tài liệu, giáo trình dù hay đến đâu nếu không có thầy giáo hướng dẫn thì không phát huy hết tác dụng. Khi đến thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên: “Còn gì vẻ vang hơn nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng Huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh… Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Giá trị, tầm quan trọng của người thầy được thể hiện trong câu nói rất đỗi bình dị của Hồ Chí Minh: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục... Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”.

    Ðể làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi nhà giáo phải là người có đức và có tài. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ giáo viên phải vừa hồng vừa chuyên, toàn diện cả đức lẫn tài để gánh vác trách nhiệm đào tạo những thế hệ công dân, cán bộ có tài, có đức cho xã hội. Theo Hồ Chí Minh, đức và tài là một thể thống nhất, không thể tách rời. Vì vậy, không thể chỉ có đức mà không cần tài, càng không thể coi trọng tài mà xem nhẹ đức, chúng phải tương hỗ cùng nhau, thống nhất hữu cơ với nhau mới giúp cho con người, nhất là người giáo viên hoàn thành nhiệm vụ cách mạng cũng như hoàn thiện nhân cách bản thân. Trong mối quan hệ biện chứng đó, đức là nền tảng của tài, định hướng cho tài năng phát triển và phát triển đúng hướng - tức phục vụ nhân dân và cách mạng. Ngược lại, tài là thành tố góp phần tạo nên đức, phát huy tác dụng của đức, hoàn thiện đức.

    Theo Hồ Chí Minh trong mối quan hệ tương hỗ đức và tài thì “đức phải có trước tài”, đức là “nền tảng”, là “cái gốc” của người giáo viên. Trong bài nói tại Lớp học Chính trị của giáo viên năm 1959, Bác nhắc nhở: “Có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn, nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài”. Đức là cái gốc giúp người cán bộ cách mạng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Người khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Cũng trong Bài nói chuyện tại Lớp học Chính trị của giáo viên, Người nhấn mạnh: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức”.

    Bác Hồ luôn đề cao và yêu cầu cao đối với nghề dạy học xuất phát từ việc trồng cây đã khó, trồng người còn khó hơn, “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. Sản phẩm của “trồng người” là tạo ra con người của thế hệ tương lai, do đó không được phép làm ra “phế phẩm”. Một người cán bộ, một công nhân tồi có thể làm hỏng một vài sản phẩm, vài công trình, nhưng một người giáo viên tồi có thể làm hỏng cả một thế hệ, đó là hậu quả khôn lường mà cả xã hội phải gánh chịu. Người nói: “Giáo dục được người thầy giáo, được cả một thế hệ”, thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu; một tấm gương sáng của người thầy sẽ có cả một thế hệ noi theo, ngược lại một hành vi xấu của người thầy có thể làm tổn thương, làm mất niềm tin cả một lớp người. Sách Tam tự kinh có câu: “Giáo bất nghiêm/ sư chi đọa - giáo dục không nghiêm là lỗi ở thầy giáo”. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu”. Đặc biệt, Người rất quan tâm đến phương pháp nêu gương. Theo Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, thầy cô giáo là những người đi khai sáng trí tuệ, mở mang tri thức, thắp sáng ngọn lửa tâm hồn cho học sinh. Người nhắc nhở: “Các thầy, cô giáo phải trở thành tấm gương sáng, thành kiểu mẫu cho các em noi theo, phải là kiểu mẫu về mọi mặt, tư tưởng, đạo đức, lề lối làm việc”. Người còn ví: “Trẻ em như cái gương trong sáng, thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu, cho nên phải chú ý giáo dục chính trị tư tưởng trước, chính thầy giáo, cô giáo cũng phải tiến bộ về tư tưởng”. Người không tán thành hiện tượng nói không đi đôi với làm, nói một đường nhưng làm một nẻo, nói nhưng không làm. Người cho rằng, nếu người làm công tác giáo dục mà như thế thì giáo dục lại thành ra phản giáo dục, bởi: “Trẻ em hay bắt chước, cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách, v.v.. phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Nếu các cô các chú bảo: “Các em phải siêng làm” nhưng các cô, các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà”, nhưng các cô, các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung”, nhưng các cô, các chú bẩn, như thế là không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”.

    Theo luận điểm của Hồ Chí Minh, có tài mà không có đức là người vô dụng; nó nguy hiểm hơn có đức mà không có tài. Bởi lẽ, tài năng đó không phục vụ cho cái chung, cho nhân dân mà chỉ mưu cầu lợi ích cho mỗi cá nhân thì cũng thành vô giá trị. Người có tài mà đi ngược lại lợi ích chân chính của tập thể, của nhân dân, phản bội Tổ quốc thì chẳng những vô dụng mà còn có tội, tài đó đáng bỏ đi, không đáng trân trọng. Thực tiễn cho thấy, người càng có tài mà kém đức thì tác hại mang đến cho xã hội càng lớn. Một cán bộ, đảng viên với đầu óc sắc sảo, nắm giữ vị trí quan trọng trong xã hội mà suy thoái đạo đức, không có đạo đức thì nguy hiểm khôn lường. Một kẻ trộm cắp không đáng sợ, tác hại không to lớn bằng một kẻ cầm cân nảy mực mà không công chính nghiêm minh. Đã là một giáo viên, nếu không có đạo đức tốt, không yêu trường, mến nghề, tận tụy với học sinh thì khó lòng mà say mê, toàn tâm toàn ý với công việc, phấn đấu vươn lên để nâng cao năng lực chuyên môn. Đạo đức của người giáo viên là một đòi hỏi cao, bao gồm ngoài đạo đức công dân nói chung họ còn phải có đạo đức người thầy giáo. Trong đạo đức người thầy giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, để giáo dục học sinh thì người giáo viên trước hết phải gương mẫu, tận tâm với trẻ, với nghề bởi đây là cơ sở, động lực thôi thúc trách nhiệm và nhiệt huyết để mỗi nhà giáo phấn đấu hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của mình. Người căn dặn: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?”. Yêu trò - là phải tất cả vì học sinh thân yêu, vì sự tiến bộ của học trò, “Phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình, không nên phân biệt các cháu vùng này hay các cháu vùng khác. Cháu nào cũng là con em đại gia đình ta, cũng là do Đảng và Chính phủ giao cho các cô, các chú phụ trách nuôi dạy”. Yêu nghề, yêu trò còn thể hiện trong cách quan tâm, chăm lo, tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần trong trường học. Bác dặn “Các cô, các chú, các cháu phải cùng nhau tổ chức và quản lý đời sống vật chất và tinh thần ở các trường học ngày một tốt hơn, tăng cường bảo đảm sức khỏe và an toàn”. Đây là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp, chung sức đồng lòng vì tương lai của con em ta, dân tộc ta.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà được hình thành, củng cố và phát triển. Để rèn luyện đạo đức, Người luôn nhắc nhở các nhà giáo phải thanh liêm, trung thực, biết đặt lợi ích của đất nước, của nhà trường lên trên lợi ích cá nhân. “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải có chí khí cao thượng, phải tiên ưu hậu lạc nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng” và “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”.

    Người nhắc nhở mỗi thầy giáo, cô giáo phải thường xuyên rèn luyện đạo đức nhà giáo mẫu mực. Người nhấn mạnh: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”. Có thể nói, đạo đức là nền tảng quan trọng vậy nên trong giáo dục mặc dù giáo viên vẫn còn thiếu nhưng để bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo và vì lợi ích lâu dài của sự nghiệp trồng người, Đảng ta kiên quyết yêu cầu: “Không bố trí người kém phẩm chất làm giáo viên, kể cả giáo viên hợp đồng”. Đây là quan điểm rất quan trọng khi tuyển chọn và bố trí cán bộ, trong đó có nhà giáo.

    Ngược lại, có đức mà không có tài “thì làm việc gì cũng khó”. Một giáo viên yếu kém về năng lực sư phạm, hạn chế về tri thức chuyên môn, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp thì khó lòng mang lại bài học hiệu quả, kích thích tư duy, trí tuệ của người học. Học trò trước hết là sản phẩm của thầy giáo. Học trò “ngồi nhầm lớp” được xem có cội nguồn từ việc thầy “đứng nhầm lớp”, thực trạng đó không chỉ gây nên bức xúc cho ngành giáo dục mà còn làm suy giảm lòng tin của xã hội đối với người thầy giáo, với ngành nghề vốn dĩ được coi là cao quý nhất. Có thầy giỏi mới có trò giỏi. Người giáo viên phải có trí tuệ và tài năng mới có thể đào tạo được những thế hệ công dân, cán bộ có tài cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một người thầy giáo giỏi không có nghĩa là phải tinh thông tất cả mọi lĩnh vực, hiểu trọn tri thức nhân loại, vì tri thức nhân loại vô cùng rộng lớn, tuy nhiên, người giáo viên cần không ngừng trau dồi kiến thức, đặc biệt phải thạo lĩnh vực chuyên môn của mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Trên tinh thần nắm vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin “bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, để xứng đáng là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người huấn luyện phải học tập mãi thì mới làm tốt được công việc của mình. Người huấn luyện nào tự cho mình là biết đủ cả rồi thì người đó là dốt nhất”. Người dẫn lại câu nói của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” và lời dạy của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi” để nhấn mạnh rằng người huấn luyện nào tự mãn cho mình giỏi rồi mà dừng việc học lại là lùi bước, là lạc hậu, là tự đào thải mình. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Muốn có tri thức thì phải học. Về thăm thầy và trò Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc tháng 9-1949 (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Người đã đặt bút ghi trong trang đầu quyển sổ vàng của nhà trường “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Theo Bác, học ở đây không phải là làm quan to, quan nhỏ mà là học để có tri thức, học để có đạo đức cách mạng, “học để làm việc”, để nuôi sống bản thân mình, nuôi sống gia đình và làm giàu cho xã hội. Người thầy cũng vậy, phải học những tri thức tự nhiên, xã hội,… tiếp thu tích lũy những kiến thức trong quá trình học tập, từ đó áp dụng linh hoạt, sáng tạo những tri thức mình đã học vào thực tiễn làm việc thì mới gặt hái được kết quả. Người thầy nêu gương rõ nét nhất khi có trách nhiệm đi tiên phong trong việc tự học, tự nghiên cứu nâng cao năng lực công tác, trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được phân công. Đây không chỉ là một trong những đặc thù của người trí thức, mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đó còn là nhiệm vụ hàng đầu của trí thức, của nhà giáo - “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”.

    Ngoài việc nhắc nhở các thầy giáo phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, Người cũng lưu ý một vấn đề hết sức quan trọng đó là học tập chính trị, vì “có học tập lý luận Mác - Lênin thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết về trình độ chính trị mới làm nòng cốt công tác Đảng giao phó”. Trong giáo dục, Người nhắc nhở các thầy giáo và các nhà quản lý giáo dục cần quan tâm đến phương pháp giáo dục, phải am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn giảng dạy, bởi vì: “muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội”. Tài của người giáo viên còn thể hiện ở chỗ linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy không được phép “câu nệ”, “hình thức”, “nhồi sọ” mà phải biết “quý hồ tinh bất quý hồ đa” và “việc cốt yếu là phải làm cho học sinh thấu hiểu vấn đề”. Tài của thầy giáo còn thể hiện ở khả năng biên soạn giáo án, tài liệu, cập nhật tài liệu học tập, hiểu biết sâu sắc người học. Đây là năng lực quan trọng, nhờ có sự gia công về mặt sư phạm mà nội dung tri thức, bài học được chuyển tải phù hợp với đặc điểm tâm lý, trình độ, kinh nghiệm của người học và tri thức được mang tính mới mẻ, hiện đại. Vì vậy, để nâng cao chất lượng của hoạt động dạy và học thì thầy giáo phải rèn luyện mình thêm trong thực tiễn đấu tranh của xã hội, tiếp thu lấy chất lượng sống ở đó mà truyền lại cho thế hệ trẻ: “Thầy giáo và học trò, tùy hoàn cảnh và khả năng cần tham gia vào những công tác xã hội ích nước lợi dân”. Những kiến thức thực tiễn đó mới thật là dòng sữa ngọt lành nuôi dưỡng thế hệ đang lớn lên.

    Lời Bác dạy: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức” cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn tươi mới, thiết thực đối với ngành Giáo dục - Đào tạo, là kim chỉ nam cho các thế hệ những người làm công tác “trồng người”. Đảng, Nhà nước và nhân dân đang tạo điều kiện tốt để ngành Giáo dục - Đào tạo thực hiện tốt nhiệm vụ cao cả của mình. Thiết nghĩ, để xứng đáng là “người thầy” theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi thầy giáo, cô giáo cần luôn có ý thức rèn đức - luyện tài, tự tu dưỡng, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, yêu nghề - yêu người, nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những hiện tượng tiêu cực, sai trái trong giáo dục. Tự mình phấn đấu trở thành người nhà giáo tốt, thực sự là hình mẫu cho người học, để nghề dạy học xứng đáng là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý mà Bác Hồ đã dành tặng.

ThS. Phan Thị Hoài, Phòng Tuyên truyền, Giáo dục

ThS. Hoàng Trung Thành, Trường Chính trị tỉnh Hà Nam

Theo ditichchutichhochiminh

Hình ảnh có thể có: 8 người, mọi người đang ngồi và trong nhà
1

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA - NGÀY 19/11

 “… Rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn trọng trong mọi cử chỉ, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác!”.

- Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Nhân dân với Quân đội”, đăng trên Báo Nhân dân, số 267, ra ngày 19 tháng 11 năm 1954.
Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta vừa kết thúc (07/5/1954). Miền Bắc được giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà. Trong cuộc kháng chiến này, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu hết sức anh dũng trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn, gian khổ, đã lập được những chiến công rực rỡ, ghi vào lịch sử kháng chiến vĩ đại của dân tộc những trang sử oanh liệt nhất, được bạn bè quốc tế, quân đội và nhân dân các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới khâm phục, đánh giá cao. Tuy nhiên, khi Bác nghe phản ánh về một số cán bộ, chiến sĩ ra đường không được chỉnh tề như đội mũ lệch, cúc áo không cài tử tế, cưỡi xe bình bịch lượn chơi phố, đánh “tú lơ khơ” ngoài đường để đồng bào nhầm tưởng là đánh bạc. Bác cho rằng, những chú ý đó của đồng bào là đúng, vì đồng bào muốn quân đội của mình phải gương mẫu về mọi mặt, không những chiến đấu dũng cảm, mà cần phải có thái độ nghiêm trang, để cho thế giới đều thấy rằng “Quân đội Cụ Hồ có khác”. Lời dạy của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở, chỉ bảo ân cần và sát sao đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nghiêm túc trong sinh hoạt cũng như tác phong ăn mặc để xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã tin tưởng, yêu mến và trao tặng.
Lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp phần định hướng quan trọng trong nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Hiện nay, Quân đội ta tiếp tục đẩy mạnh xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên thực hiện việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, phong trào thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động của các cấp, các ngành… Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh phải luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giữ vững tư thế, tác phong quân nhân; từ lời nói đến hành động phải thể hiện sự chân thành, khiêm tốn, yêu thương, kính trọng, lễ phép trước nhân dân, thật sự coi nhân dân là “cha mẹ” của quân đội. Tuyệt đối không được sách nhiễu, gây phiền hà cho dân, không làm điều gì tổn hại đến tình cảm mật thiết và mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu như Bác Hồ thường căn dặn. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện vi phạm kỷ luật trong quan hệ quân dân, phê phán các hiện tượng thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với nhân dân.