Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

 NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

Trồng người là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, được cả xã hội tôn vinh, trân trọng, song cũng là nghề phải chịu áp lực của xã hội nhiều nhất. Mặc dù đãi ngộ và điều kiện làm việc còn chưa tương xứng, cùng với đó là những bất cập, yếu kém chậm khắc phục của ngành Giáo dục đang đè nặng lên vai Nhà giáo, nhưng tuyệt đại đa số Thầy Cô vẫn tâm huyết với nghề, mang nặng nghĩa tình, cháy hết mình để thắp sáng trí tuệ, khai mở tâm hồn, soi đường chỉ lối cho mỗi chúng ta kiến tạo cuộc sống, thay đổi vận mệnh cuộc đời và tham gia có trách nhiệm vào xây dựng xã hội. Chỉ có Thầy Cô mới đưa lớp lớp các thế hệ học trò đi đúng trên hành trình tới Chân - Thiện - Mĩ, thành công và hạnh phúc.
Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 của năm nay, xin được bày tỏ lòng tri ân tới các Nhà giáo. Kính chúc các Thầy Cô mạnh khoẻ, tâm sáng, trí minh, giàu nhiệt huyết với nghiệp trồng người, thành công và hạnh phúc với nghề, chung tay đưa nền giáo dục Việt Nam phát triển lên tầm cao mới. Tin rằng Thầy Cô gieo hạt cho đời, đời cho trái ngọt.
"Ngày đêm dầu dãi nắng mưa
Con đò tri thức chở đưa bao người
Qua sông trò gửi nụ cười
Ấm lòng người lái - Cô Thầy kính yêu".

KIỂM ĐỊNH BỘ QUỐC SỬ BÀN VỀ BẢN CHẤT NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN.!!!

BẢN CHẤT CÁC NGỤY QUÂN – NGỤY QUYỀN.!


Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.

Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc không liên quan.

Bác Hồ nổi tiếng về khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.

Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính cho giặc.

Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên 60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận, chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận, nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).

Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền. “Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự. Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.

Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng, Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…

Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó, nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình thường.

Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, Nguyễn Phương Hùng và nhiều người khác trong lúc này vẫn đang tôn trọng hơn những người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.

Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp, được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.

Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại nước, rước giặc vào nhà.

Đó là một cách thức truyền lửa của dân ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy. Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.

Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh, chưa cút, và ngụy chưa nhào.

Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch, trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về Đông Dương, Hiến pháp 1959).

Nhìn chung thì cả trong nước và nước ngoài đều không để ý nhiều đến vai trò của ngụy quyền trong cuộc chiến Việt – Mỹ. Người ta đề cập nhiều đến vai trò của Hà Nội và Washington nhiều hơn. Lý do rất đơn giản là vì đây là cuộc đụng độ lịch sử giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, một bên có sức mạnh con người, một bên có sức mạnh khoa học công nghệ. Họ mới là hai nhân vật chính cần đề cập tới. Ngụy Sài Gòn có vai trò mờ nhạt và lãng nhách, không đáng phải đề cập và vì thế người ta thấy không cần nhắc nhiều đến.

Nhìn lại thì thấy quả thật là vai trò của chế độ Sài Gòn, quân đội Sài Gòn rất mờ nhạt trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Các tài liệu đa chiều trên thế giới rất ít nói về ngụy Sài Gòn. Họ chú trọng đến vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (họ gọi là “Việt Cộng”), và phía bên kia là Hoa Kỳ. Không có nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà báo nào tốn nhiều giấy mực, thời gian, công sức để viết về những chư hầu của Mỹ.

Trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Giặc ngoại xâm nào vào bờ cõi nước Việt thì cũng tạo ra một đội quân người bản xứ để cho quân ngoại xâm đỡ tốn xương máu, đỡ hao binh tổn tướng. Trong chiến tranh chống Việt Nam cũng vậy, lính Pháp, lính Mỹ đáng lẽ còn hao tổn hơn nhiều nếu không nhờ lực lượng ngụy quân đỡ đạn cho lính Pháp, lính Mỹ, giúp quân đội Pháp – Mỹ giảm thương vong.

Vì sao cuộc chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn các cuộc chiến chống xâm lược khác trong Việt sử?

Về kháng chiến chống Pháp, ngoài ông Nguyễn Gia Kiểng (chủ tịch của tổ chức “Tập hợp Dân chủ Đa nguyên”, tai tiếng với cuốn sách “Tổ quốc Ăn năn” chê bai Bác Hồ, vua Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và nhiều anh hùng dân tộc khác của VN) gọi kháng chiến chống Pháp là cuộc “nội chiến” (giữa Việt Minh và “Quốc gia”) ra thì hầu hết đều thống nhất rằng đây là cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Ngay cả những kẻ chống Cộng cực đoan cũng không thể phủ nhận nổi điều này, ngay cả sách giáo khoa ở miền Nam dưới thời Mỹ cũng phải ghi đây là cuộc chiến giữa “nhân dân Việt Nam” và thực dân Pháp (lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch). Sở dĩ kháng chiến chống Pháp khó xuyên tạc là vì thực dân Pháp đã đô hộ, bóc lột, nô dịch dân ta trong suốt gần 1 thế kỷ Pháp thuộc, và khái niệm “trăm năm nô lệ giặc Tây” đã in ấn sâu đậm, khắc cốt ghi tâm trong lòng dân chúng.

Còn kháng chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn, do nó là cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, trong thời đại mới, thông qua ngụy quyền mà nó dựng lên để kiểm soát miền Nam Việt Nam, khống chế khu vực và chiếm đoạt tài nguyên, trên danh nghĩa “tham chiến giúp đỡ đồng minh”. Chứ trên danh nghĩa họ không trực tiếp trắng trợn gọi miền Nam VN là thuộc địa như thực dân Pháp trong thời Pháp thuộc, và cũng không chính thức sát nhập miền Nam VN vào lãnh thổ chính quốc như phong kiến Trung Hoa trong thời Bắc thuộc.

Đây là một hình thức xâm lược “văn minh” và ma giáo. Dân ta lại chưa kinh qua cuộc xâm lược kiểu này trong lịch sử, và trước đó Mỹ cũng chưa xâm lược, chiếm đóng, đô hộ nước ta với hình thức như thực dân Pháp đã làm trong thời Pháp thuộc. Cái gì mà mới mẻ, chưa có kinh nghiệm cho nó thì thường dễ gây nhiễu nhân tâm hơn.

Đó cũng là lý do vì sao mà trong thời Pháp thuộc suốt gần 100 năm, Việt Nam lại có nhiều Việt gian cam tâm làm tay sai đắc lực cho Pháp đến như vậy, nhiều hơn gấp trăm lần so với các cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc. Đó là vì hình thức xâm lược của thực dân Pháp khác với hình thức xâm lược, đô hộ kiểu cũ của phong kiến Trung Hoa. Pháp không chính thức sát nhập Đại Nam vào lãnh thổ Pháp, mà sử dụng Đại Nam làm một thuộc địa (colony), làm một nơi để khai thác, vơ vét, bóc lột, trên danh nghĩa “bảo hộ” triều đình An Nam, An Nam vẫn có vua, nhà Nguyễn vẫn còn đó. Trước thời Pháp thuộc thì dân ta lại chưa kinh qua cách thức xâm lược và đô hộ như thế này, nên cũng có nhiều người mơ hồ về việc Pháp xâm lược Đại Nam, họ coi mình là đang phục vụ triều đình, chỉ huy lính Nam triều, chứ không nghĩ mình đang phục vụ cho Pháp, họ cho rằng Pháp đã đem ánh sáng văn minh phương Tây vào Đại Nam, giúp khai hóa dân tộc Việt, giúp Đại Nam có tự do tôn giáo, tự do truyền đạo, bảo hộ và giúp đỡ triều đình và đất nước ta, giúp người Việt chống Trung Hoa (quân Thanh, quân Cờ Đen, quân Cờ Vàng, quân Cờ Trắng v.v.), họ tự lừa dối bản thân, họ cố nghĩ như vậy, nhiều khi cũng chỉ để cho lương tâm không bị cắn rứt, tự an ủi bản thân, tương tự như nhiều người trong thời Mỹ sau này.

Trong lịch sử các nước, phía xâm lược luôn có những chiêu bài chính trị để hợp thức hóa hành động xâm lược, xâm phạm chủ quyền. Chiêu thức dựng lên một “đối tượng để giúp đỡ” là chiêu đã được dùng đi dùng lại từ ngàn xưa. Như nhà Minh “phù Trần diệt Hồ”. Như Mông Cổ “giúp” Trần Ích Tắc làm vua. Quân đội Mãn Thanh “giúp” Lê Chiêu Thống khôi phục cơ nghiệp tổ tông và chống “giặc Tây Sơn” v.v. Nó luôn lặp lại với những hình thức khác nhau, nhưng bản chất thì vẫn vậy, “bình mới rượu cũ”.

Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ giặc xâm lược đều có những hình thức xâm lược khác nhau, và ngày càng tinh vi hơn. Mục tiêu xâm lược cũng có những khác biệt nhất định. Phong kiến Trung Hoa xâm lược Đại Việt, chiếm đất đai, sát nhập lãnh thổ Đại Việt vào Trung Hoa, biến đất Việt thành đất Trung Hoa, biến Đại Việt thành một quận huyện của họ. Và trong thời gian đô hộ thì không tồn tại triều đình người Việt.

Pháp bắt đầu xâm lược Đại Nam năm 1858, ép nhà Nguyễn ký hiệp ước dâng lên Nam Kỳ Lục tỉnh rồi lần lượt “bảo hộ” Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Họ chiếm hữu và trục lợi ở Việt Nam và Đông Dương như một thuộc địa, nhưng trên danh nghĩa thì vẫn có vương quốc An Nam “độc lập”. Vẫn có triều đình Huế với các “hoàng đế” có ngai nhưng không quyền. Họ trực tiếp quản lý VN bằng Toàn quyền Đông Dương, và dưới trướng có rất nhiều cộng sự người Việt mà dân gian gọi là “chó săn” của Pháp. Họ thiết lập một hệ thống ngụy quyền quy mô, rộng lớn, bao gồm những lực lượng ngụy quân (lính Nam triều, lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng) được huấn luyện chu đáo và chuyên nghiệp.

Cho thấy rằng Pháp cũng xâm lược, nhưng hình thức xâm lược, hình thức chiếm đóng, hình thức trục lợi là khác với phong kiến Trung Hoa. Pháp không chủ trương sát nhập Đông Dương vào “nước mẹ Đại Pháp”, mà chỉ muốn xơ múi, khai thác, bóc lột, vơ vét những lợi ích tài nguyên màu mỡ, những nguồn nhân lực, nô lệ, lao công phong phú ở đây. Tóm lại là hút cạn kiệt thuộc địa để làm giàu cho mẫu quốc.

Pháp không cần Việt Nam thành một phần của nước Pháp. Không coi Đông Dương là nước Pháp, mà họ coi Đông Dương và Việt Nam là một vùng thuộc địa (colony) để họ khai thác, họ coi họ là “nước mẹ” của thuộc địa này. Ngụy triều của người Việt được phép tồn tại và làm vật trang trí. Ngụy quân người Việt được xây dựng, trang bị, huấn luyện, và trả lương. Đây gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, khi mà tên giặc không cần sát nhập lãnh thổ, cướp đất đai trên danh nghĩa, thay vào đó, họ mị dân bằng những tuyên bố “bảo hộ” sự “độc lập” của vương quốc An Nam trên danh nghĩa. Họ cho người Pháp vào trực tiếp quản lý, trực tiếp nắm lấy. Và các cộng sự người Việt chỉ là loại thừa hành cấp thấp. Người Pháp chỉ việc tha hồ bóc lột và nô dịch nhân dân bản xứ.

Hoa Kỳ viện trợ và giúp đỡ Pháp tái chiếm Việt Nam thất bại, sau đó trực tiếp nhảy vào rồi từng bước hất cẳng Pháp, thu nhận và nuôi dưỡng ngụy quyền và ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại. Thay tên đổi họ lại cho ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức lại, xây dựng lại, vá lại, thay đổi tay sai, chỉ giữ “quốc kỳ” và “quốc ca”.

Cách thức xâm lược của giặc ngoại xâm theo tiến trình lịch sử, theo sự tiến hóa của văn minh nhân loại, cũng thay đổi và “nâng cấp” theo thời gian, càng lúc càng mị dân và được ngụy trang tinh vi hơn.

Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược kiểu thực dân mới. Theo đó, ông chủ đứng ngoài thu lợi, quan sát, kiểm soát. Còn phần quản lý thuộc trách nhiệm của ngụy quyền bản địa, chứ giặc xâm lược không trực tiếp bắt tay vào làm như thực dân cũ. Tương tự như người đạo diễn đứng ngoài điều khiển, chỉ đạo, các diễn viên cứ thế mà diễn tuồng, đóng kịch. Đến khi diễn viên bất tài vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn, vai trò, thì có khi đạo diễn phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và 58 vạn quân Mỹ, trong giai đoạn 1964-1973, đã tiến vào tham chiến trực tiếp như bọn thực dân cũ, như xâm lăng thời phong kiến.

Do đó nếu chỉ nhìn các cuộc chiến tranh trong lịch sử hiện đại và ngày nay bằng cặp mắt phong kiến lạc hậu, chỉ biết đến các hình thức xâm lược của phong kiến từ xa xưa mấy ngàn năm trước, cứ phải có cùng một hình thức thủ đoạn chính trị, quân sự đó thì mới là xâm lược, thì thật là thiếu sót, lạc hậu, kém cập nhật.

“Thắng làm vua, thua làm giặc”?

Một luận điệu lệch lạc, phi thực tế thường xuất hiện sau ngày Việt Nam chiến thắng: “Được làm vua, thua làm giặc”, “lý lẽ và chân lý thuộc về kẻ chiến thắng”. Hai câu này đã có từ lâu và cũng đúng phần nào, tuy nhiên, những kẻ phản động đã lấy 2 câu này của người xưa rồi gán ghép bừa bãi và dùng những câu này để bóp méo bản chất của kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam.

Thực tế mà nói, hai câu trên không tuyệt đối đúng: Triệu Đà chiến thắng và có tuyên truyền thế nào thì An Dương Vương cũng không phải là giặc. Phong kiến Trung Hoa chiến thắng và có tuyên truyền đến thế nào thì Trưng Vương, Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế cũng không là giặc. Lý Phật Tử đã chiến thắng nhưng Triệu Việt Vương cũng vẫn không phải là giặc.

Nhà Minh chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào thì Hồ Quý Ly, Trần Giản Định, Trần Trùng Quang cũng không phải là giặc. Nhà Nguyễn chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào suốt hơn 100 năm thì người dân vẫn xem nhà Tây Sơn là anh hùng, không phải là giặc. Thực dân Pháp và bọn phản động trong thời Pháp thuộc dù có tuyên truyền đến thế nào thì các nghĩa quân cũng không phải là “giặc phiến loạn”.

Giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai trong suốt hơn 30 năm chiến tranh, thắng bao nhiêu lần, nhưng dù có tuyên truyền đến mức độ nào thì cũng không biến được cuộc kháng chiến chống Mỹ thành cuộc “nội chiến”, “ý thức hệ”, “cuộc chiến quốc tế”, “cuộc chiến ủy nhiệm”. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ chiến thắng, mà thuộc về nhân dân, thuộc về chính nghĩa dân tộc.

Chân lý chỉ thuộc về kẻ chiến thắng với điều kiện kẻ chiến thắng đó chính là nhân dân, là dân tộc, và lực lượng quân sự, chính trị mà dân tộc đó, nhân dân đó ủng hộ. Thực tế lịch sử khách quan thì không thể phủ nhận được.

Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, 11 sứ quân, nhà Hồ, nhà Hậu Trần, nhà Mạc, chúa Nguyễn, chúa Trịnh v.v. đều đã thua nhưng dân tộc Việt Nam không coi họ là giặc, là ngụy.

Còn các triều đình Huế thời Pháp thuộc, ngụy quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu v.v. thì dân ta đã gọi họ là ngụy, là giặc ngay trong lúc chưa chiến thắng, ngay trong lúc giặc chưa thua. Trước 1975, khi Mỹ – Việt chưa biết ai thắng ai thua thì dân miền Nam đã gọi ngụy quyền là “ngụy” rồi.

Quan niệm “thắng làm vua, thua làm giặc” cũng không phải lúc nào, thời nào cũng đúng với thực tế, đúng với lịch sử. Quan điểm này chỉ đúng trong những cuộc chiến nội bộ trong thời phong kiến. Trong lịch sử nước ta, giặc Đông Hán, giặc Minh, giặc Pháp từng chiến thắng nhưng họ vẫn mãi là giặc. Họ vẫn là giặc khi bắt đầu cuộc chiến, trong cuộc chiến và sau cuộc chiến, dù thời điểm nào thì vẫn đều là giặc.

Giặc là giặc, ngụy là ngụy, chính là chính, tà là tà, chính nghĩa là chính nghĩa, phi nghĩa là phi nghĩa, tự vệ là tự vệ, xâm lược là xâm lược, nội chiến là nội chiến, chống ngoại xâm là chống ngoại xâm. Những điều này không phụ thuộc vào sự duy ý chí của con người, cảm tính, cảm nghĩ của cá nhân, niềm tin cá nhân của con người, mà nó phụ thuộc vào thực tế lịch sử khách quan và bản chất của các đối tượng tranh đấu trong cuộc chiến đó. Bạn có nghĩ, tin, tuyên truyền cá đi trên bờ thì con cá vẫn lội dưới nước.

Dĩ nhiên trong trường hợp khoa học lịch sử, thì gọi thế nào ít nhiều có phụ thuộc phần nào đó vào góc độ lợi ích của quốc gia dân tộc liên quan, trong trường hợp của Đại Việt – Việt Nam nghìn năm nay thì đều có những tiêu chí rất rõ ràng, khó nhầm lẫn, để đánh giá, nhận định ai là giặc, ai là ngụy. Không thể chỉ vin vào kết quả thắng – thua hay thực lực yếu – mạnh rồi đánh đồng tất cả, đánh tráo khái niệm, cào bằng giá trị, vàng thau lẫn lộn, thiện ác bất phân.

Như tại miền Nam Việt Nam trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra thì những cụ già từ thôn quê đến thành phố đã gọi Mỹ-ngụy là giặc, họ gọi thế ngay dưới mạng lưới truyền thông, sách báo, hệ thống tuyên truyền, và bộ máy trấn áp khổng lồ và tinh vi của giặc Mỹ và tay sai. Họ thấy khắp miền Nam đều dày đặc người Mỹ, lính Mỹ, “Tây ba lô” da trắng, mắt xanh mũi lõ. Những kẻ mà họ gọi là “chó săn” kia thì khúm núm trước quan thầy Hoa Kỳ, ai được chụp hình chung với người Mỹ là mặt mày tươi rói, kênh kiệu, vênh váo, sáng rỡ hẳn lên, rồi dựa thế của Mỹ lên mặt với đồng bào, cướp bóc, vơ vét, xách nhiễu, quấy rối, gây khó dễ. Thì họ coi Mỹ-ngụy là giặc là chuyện tất nhiên.

Bà con mình thấy bọn Việt gian chỉ đường và thông ngôn, thông dịch cho quân Mỹ đi càn quét khắp miền quê Nam Bộ, đi càn hết làng này sang thôn khác thì không gọi là giặc thì gọi là gì? Liên quan gì đến kết quả ai thắng, ai bại?

Thực dân Pháp đã từng chiến thắng hàng trăm cuộc chiến trong thời Pháp thuộc, từng tiêu diệt hàng trăm lực lượng nghĩa quân, lê máy chém trên khắp đất Việt chặt đầu hàng chục ngàn thủ lĩnh, lãnh tụ, tướng lĩnh của nghĩa quân. Nhưng thực dân Pháp mãi mãi là giặc, các ngụy triều ở Huế thời Pháp thuộc mãi mãi là ngụy, lính khố xanh, khố đỏ là ngụy, bọn tay sai đắc lực của Pháp như Trần Tiễn Thành, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân v.v. luôn luôn là ngụy, chắc chắn là ngụy. Dù bên nào thắng, bên nào thua thì lịch sử vẫn không thay đổi.

Yêu nước ST.

Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

 

 

Thưa các đồng chí,

Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, hôm nay chúng ta tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đây là lần đầu tiên chúng ta làm việc này, nhằm mục đích kịp thời đánh giá, khẳng định những việc làm tốt, thấy rõ những hạn chế, trao đổi kinh nghiệm giữa các cấp uỷ, tổ chức đảng trong cả nước, giúp thêm cho Trung ương chuẩn bị và tổ chức Đại hội XIII của Đảng thành công.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và câu chuyện về tình thầy trò

 

Là người giữ chức vụ cao nhất của Đảng, Nhà nước nhưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vô cùng giản dị và khiêm nhường. Ông luôn dành những từ ngữ trân trọng, trìu mến và ấm áp khi kể về thầy cô và bạn bè.

TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NÒNG CỐT BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết 35-NQ/TW về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết xác định đây là nội dung cơ bản của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân. Để thực hiện nhiệm vụ này, thiết yếu phải có sự tham gia của đội ngũ cán bộ trực tiếp nghiên cứu, bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng mà Đảng đã lựa chọn.

Những nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, khẳng định giá trị cốt lõi, bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng

Đội ngũ cán bộ tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chủ yếu là những người có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, hiện đang công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an... Không chỉ khẳng định giá trị của nền tảng tư tưởng của Đảng, đội ngũ cán bộ là những nhà khoa học, những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời cách ngày nay hàng trăm năm nên bên cạnh những giá trị bền vững, trường tồn vẫn có những quan điểm cần được bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Thứ hai, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức tấn công phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta bằng những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Thứ ba, tuyên truyền, lan tỏa giá trị của nền tảng tư tưởng của Đảng đối với toàn xã hội

Thông qua hoạt động giáo dục, bồi dưỡng, xã hội hóa các công trình nghiên cứu, bài viết, đội ngũ cán bộ này đã tuyên truyền, lan tỏa giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên hiểu được lý do tại sao Đảng ta luôn kiên trì, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, nâng cao ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ngoài ra, đội ngũ cán bộ nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn có thể định hướng dư luận cho nhân dân, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Có thể thấy, đội ngũ cán bộ nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có vai trò rất to lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục nhân dân ý thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, họ chính là những chiến sĩ trên tuyến đầu, tham gia trực tiếp vào việc khẳng định, lan tỏa giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bổ sung, phát triển hệ thống lý luận này cho phù hợp với thực tiễn, trực diện đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các lực lượng phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước.

 

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG HÀNH ĐỘNG CHIẾN TRANH TÂM LÝ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

 Chiến tranh tâm lý trên không gian mạng một thủ đoạn của chiến tranh thông qua không gian mạng, nhằm làm suy yếu đối thủ nhanh hơn và giành chiến thắng triệt để hơn so với các phương thức khác đã được tiến hành trong chiến tranh xâm lược truyền thống. Chiến tranh tâm lý trên không gian mạng là các thủ đoạn của đấu tranh tư tưởng thông qua không gian mạng để tác động vào tâm lý con người, xã hội của đối phương; nhằm tạo ra những xung đột tư tưởng: Lý tưởng, niềm tin, lợi ích và quyền lợi chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị văn hóa… Từ đó gây ra mất đoàn kết, khủng hoảng và xung đột nội bộ, suy giảm tinh thần chiến đấu, dẫn đến phe cánh, bè phái, nội chiến rồi tự tan dã. Trận địa của chiến tranh tâm lý trên không gian mạng, đó là cuộc chiến tranh diễn ra ở nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, ngoại giao, khoa học công nghệ, truyền thông, giáo dục, thể thao… Trong thời bình, chiến tranh tâm lý trên không gian mạng càng được phát huy tác dụng và trở thành phương tiện quan trọng để tiêu diệt chính phủ của quốc gia có chủ quyền hoặc là chế độ chính trị có xu hướng đi ngược lại mục tiêu “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”. Vũ khí của chiến tranh tâm lý trên không gian mạng là cuộc chiến tranh sử dụng phương thức tuyên truyền trên không gian mạng là chủ yếu. Phương tiện tiến hành chiến tranh tâm lý trên không gian mạng không phải là các loại máy bay, tàu chiến, tàu ngầm hay những sư đoàn, quân đoàn với hàng nghìn binh sĩ mà lại là các phương tiện có kết nối internet, Internet, phát thanh, truyền hình, truyền đơn… Đạn của chiến tranh tâm lý trên không gian mạng là “thông tin”, theo các nhà phân tích chính trị, xã hội, “đạn” của chiến tranh tâm lý trên không gian mạng có nhiều loại, rất đa dạng và được sử dụng ở từng thời điểm khác nhau. Nếu là tuyên truyền công khai thì sẽ có “thông tin trắng”. Còn tuyên truyền bí mật lại có “thông tin đen”, “thông tin xám”, “thông tin hồng”… Nhằm thực hiện triệt để ba chức năng chính: Một là,đánh lạc phương hướng chính trị của đối phương thông qua việc cung cấp nhiều thông tin sai lệch cho cá nhân và cộng đồng, làm biến dạng chân lý, mang lại cho con người “bán chân lý” (thực thực hư hư), tạo nên những ảo tưởng xa lạ. Hai là, phá hoại đạo đức và lối sống của quân đội và nhân dân phía đối lập, khêu gợi sự thất vọng. Ba là, gieo cấy vào nhận thức của quần chúng các quan điểm và giá trị tinh thần theo mục đích của bên tham chiến. Vì là cuộc chiến vô hình, không giới tuyến, không bộc lộ trực diện ý đồ, khó xác định đối tượng và thông qua việc sử dụng thông tin trên không gian mạng ở các thời điểm khác nhau nên chiến tranh tâm lý trên không gian mạng trở thành cuộc chiến khó nhận diện và phòng, chống nhất trong giai đoạn hiện nay...

Ở Việt Nam, để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch trong và ngoài nước liên kết với nhau đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức; trong đó, có việc sử dụng internet Tác chiến mạng đã và đang trở thành một trong những biện pháp chủ yếu, được các thế lực thù địch sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực.

Chiến tranh tâm lý thời nào cũng có nhưng ngày nay, trong thời đại mạng Internet phát triển, chiến trường chiến tranh tâm lý mang một diện mạo mới được mở rộng về quy mô và phát huy tối đa uy lực của nó. Đó là một cuộc chiến không có bom đạn nên không có người chết hay bị thương nhưng tác động rất mạnh đến tinh thần công chúng. Chiến tranh tâm lý là một trong những thủ đoạn mà kẻ địch đã sử dụng trong các cuộc kháng chiến trước đây và hiện nay chúng còn tiếp tục sử dụng với những chiêu thức mới hết sức tinh vi phức tạp. Chính vì vậy, để có sức kháng thể tốt, tạo ra sự miễn dịch, đòi hỏi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân phải hết sức tỉnh táo, cảnh giác cao, biết cách ngăn chặn không để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý trên không gian mạng.

 

Đề phòng lợi dụng việc góp ý Dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để chống phá

 Đóng góp ý kiến cho Dự thảo các Văn kiện, trong khi đa số người dân đồng tình, góp ý thẳng thắn, cầu thị thì vẫn có những tiếng nói lạc lõng cố tình lợi dụng lấy ý kiến Văn kiện Đại hội Đảng nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, chống phá chế độ, làm giảm sút lòng tin của dân với Đảng.

Lợi dụng việc này, một số người có quan điểm sai trái cho rằng: “Nội dung báo cáo một số mảng còn dàn trải, trình bày mang tính liệt kê, ôm đồm, tạo nên sự cồng kềnh thiếu sắc nét, điểm nhấn”.

Dưới dạng “Thư góp ý”, rồi là “Thư ngỏ”; dưới cái vỏ bọc “tâm huyết”, “trách nhiệm”, một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng sự dân chủ góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội đã làm nhiễu loạn các nguồn thông tin về thể chế chính trị, về vai trò lãnh đạo của Đảng, về công tác nhân sự và nhiều vấn đề liên quan đến Đại hội.

Phát huy dân chủ, huy động sức sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân là bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Chính vì vậy, chúng ta phải cảnh giác trước những hành động sai trái của những phần tử cơ hội, thù địch lợi dụng việc góp ý Dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để chống phá Đảng, Nhà nước ta hiện nay

 

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC THEO LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế, họp ở Mátxcơva, tháng 11 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để đánh thắng kẻ thù chung, chúng ta nhất định phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”.

Trong bối cảnh chủ nghĩa cơ hội xuất hiện, các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế đang có sự chia rẽ, bất hòa trong nhận thức và giải quyết các vấn đề quốc tế. Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài phát biểu và kêu gọi sự đoàn kết thống nhất của các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Lời khẳng định của Bác có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tư duy nhạy bén, tầm nhìn xa trông rộng của Người trước các vấn đề quốc tế, qua đó nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Thực hiện lời dạy của Người đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường đoàn kết quốc tế, đoàn kết với nhân dân lao động các nước, với các dân tộc, với nhân loại tiến bộ vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tư tưởng sô vanh, nước lớn.

 

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi thư chúc mừng các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội

Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã gửi thư chúc mừng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu toàn văn bức thư của đồng chí Đại tướng Ngô Xuân Lịch: Thân ái gửi các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 2020 Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11 năm 2020, thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tôi thân ái gửi tới các thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã và đang công tác trong Quân đội lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng đẹp nhất. Các đồng chí thân mến! Năm học 2019-2020, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhất là dịch Covid-19 tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, trong đó có công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Quân đội, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các nhà trường trong toàn quân đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều giải pháp để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội luôn đoàn kết, tích cực, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực, tác phong công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề sư phạm, lập được nhiều thành tích xuất sắc trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục; thực sự là lực lượng nòng cốt, quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của các nhà trường Quân đội; góp phần quan trọng vào sự nghiệp “trồng người”, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ghi nhận, biểu dương, khen ngợi những thành tích mà các học viện, nhà trường và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội đã đạt được trong năm học vừa qua. Các đồng chí thân mến! Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo; các nhà trường Quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ về công tác giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; tập trung đổi mới nội dung, chương trình theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa và liên thông”, sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo; phát huy, nhân rộng những mô hình mới, cách làm sáng tạo trong dạy và học; triển khai thực hiện tốt mô hình “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”; xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và chất lượng ngày càng cao; góp phần đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Quân đội phát triển mạnh mẽ, vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội cần tiếp tục phát huy phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” và “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, không ngừng nâng cao trình độ học vấn, khả năng tư duy, tay nghề sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn; tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng vào giảng dạy nhằm khơi dậy, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học, tự rèn và năng lực hoạt động thực tiễn cho người học, lấy người học làm trung tâm; nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, tin học để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chúc các đồng chí cùng gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và không ngừng tiến bộ; luôn xứng đáng với sự quan tâm, tôn vinh, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội. Chào thân ái và quyết thắng! Nguồn: QĐND.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Kiên quyết chống phe cánh, lợi ích nhóm trong công tác nhân sự

 

Phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh cần kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội; vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm...

Vai trò trung tâm của ASEAN trong xử lý các thách thức ở Biển Đông

  Tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 12, các đại biểu đã công nhận vai trò trung tâm của ASEAN để giữ được vị thế trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng gay gắt ở Biển Đông.

Hướng tới tinh thần thượng tôn pháp luật ở Biển Đông

 Đây là ý kiến chung của các đại biểu khi thảo luận về chủ đề Tranh luận pháp lý bằng Công hàm tại Liên hợp quốc trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ 12.

Không tồn tại một quy chế cho riêng nước nào trong vấn đề Biển Đông

 Trong năm 2020, nhiều quốc gia ven Biển Đông đã bày tỏ, làm rõ hơn lập trường pháp lý ở Biển Đông thông qua các công hàm được trao đổi tại Liên hợp quốc (LHQ). Việc lưu hành công hàm với những nội dung mang đậm ngôn ngữ và hàm ý pháp lý cho thấy các quốc gia ngày càng đề cao vai trò và giá trị của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế của LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Việt Nam sẽ trở thành quốc gia "siêu già" vào năm 2050

 Việt Nam là một trong 4 quốc gia trong cộng đồng ASEAN có tốc độ già hóa dân số rất nhanh và sẽ trở thành quốc gia “siêu già” vào năm 2050. Theo dự báo đến năm 2050, Việt Nam sẽ có 22,3 triệu người cao tuổi, chiếm 20,4% tổng dân số.

Nhận diện một số biểu hiện xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng trước thềm đại hội

 

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của Đảng và đất nước ta. Việc cán bộ, đảng viên và nhân dân bày tỏ sự quan tâm, muốn tìm hiểu về công tác lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ trong cơ quan lãnh đạo của Đảng để gánh vác nhiệm vụ cách mạng cũng là vấn đề bình thường và chính đáng. Tuy vậy, lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng nhằm chống phá Đảng và sự nghiệp cách mạng của đất nước là điều không thể chấp nhận.

Đến thời điểm này, các đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 đã tổ chức xong và thành công tốt đẹp. Đặc biệt, cơ cấu, chất lượng cấp ủy nhiệm kỳ này được nâng lên rõ rệt, cơ bản bảo đảm 3 độ tuổi trong cấp ủy; số bí thư tỉnh ủy, thành ủy không là người địa phương tăng cao; tất cả các đồng chí được giới thiệu bầu cán bộ chủ chốt đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư phê duyệt phương án đều trúng cử tập trung với số phiếu rất cao. Điều này thể hiện công tác nhân sự đại hội được Đảng ta tiến hành bài bản, theo quy trình chặt chẽ, bảo đảm thực sự chất lượng, thể hiện quyền lợi cao nhất của đảng viên.

Từ đầu nhiệm kỳ, công tác cán bộ được tiến hành chặt chẽ, bài bản, kỹ lưỡng, từ việc thể chế hóa văn bản về công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh phân công, phân cấp, phân quyền, gắn với thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chống chạy chức, chạy quyền...

Nhân sự giới thiệu vào các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư... khóa XIII cũng đang được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ và tiếp tục được xem xét, thảo luận tại các hội nghị Trung ương và các phiên họp quan trọng khác sẽ được tổ chức trong thời gian tới.

Dù quy trình thực tế rõ ràng như vậy, nhưng vẫn như những lần trước, càng gần đến đại hội thì lại có nhiều thông tin xuyên tạc về công tác nhân sự, rồi việc “tự sắp xếp nhân sự” trên mạng xã hội, của những nhóm người thường xuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” với công việc của Đảng, của nước, của dân. Thời gian qua, xuất hiện một số người thường xuyên lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng để xuyên tạc, bóp méo thông tin với những kiểu gán ghép, quy chụp rất phản động, như: “Thanh trừng nội bộ”, “trả thù”, “mục đích là triệt hạ”, “đấu đá khốc liệt”, “giữ ghế”... giữa các cá nhân, phe nhóm... Ít nhiều, những thông tin xuyên tạc, võ đoán, quy chụp đó đã khiến nhiều người không hiểu hoặc hiểu không đúng về quy trình, cũng như các bước tiến hành công tác nhân sự của Đảng. Một số cán bộ, đảng viên và người dân thiếu thông tin, thiếu hiểu biết đã bị dư luận xấu dẫn dắt, phân tâm, thậm chí rơi vào ma trận thông tin, có khi tiếp tay phát tán những thông tin sai trái đó. Điều quan trọng là mỗi người cần phải lắng nghe, tiếp thu những thông tin chính thống, cần chọn lọc thông tin, biết phân tích đúng sai, tránh sự a dua theo những thông tin xuyên tạc, bịa đặt. Đó không chỉ là quyền lợi mà cũng là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi chúng ta./.

Muốn hòa hợp thực chất, hiệu quả, phải xuất phát từ cái tâm trong sáng, mang tinh thần xây dựng

 

Chủ trương hòa hợp dân tộc đã được Đảng ta áp dụng ngay sau ngày đất nước thống nhất, nhưng để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thì phải đến khi chúng ta có Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Hơn 16 năm qua, kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 36, vấn đề hòa hợp dân tộc ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả. Chúng ta đã thu hút được nguồn lực to lớn từ kiều bào khắp nơi trên thế giới, chung tay, góp sức xây dựng đất nước. 

Tuy nhiên, những vướng mắc hiện nay không phải ở chủ trương, mà ở cách vận dụng, thực hiện chủ trương từ cơ sở, địa phương và từ phía đối tượng của hòa hợp dân tộc. Người tài trong cộng đồng Việt kiều không hiếm, nhưng để thu hút họ toàn tâm toàn ý đóng góp xây dựng quê hương, đất nước thì phải có môi trường, bệ đỡ vững chắc từ cơ sở. Điều này đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng từ cơ sở phải năng động, nhạy bén, cởi mở. Hơn nữa, nói đi cũng cần phải nói lại, sự thông thoáng không đồng nghĩa với dễ dãi. Mọi hoạt động đều phải thượng tôn pháp luật, không để tình trạng lợi dụng tính nhân văn của chủ trương, sự thông thoáng của cơ chế để thực hiện các âm mưu đen tối. Người Việt Nam ở nước ngoài, bất kể là ai, ở đâu, đều phải có nhận thức thấu đáo, bản thân mình vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của hòa hợp dân tộc. Thế nên, trước hết và trên hết, muốn hòa hợp thực chất, hiệu quả, phải xuất phát từ cái tâm trong sáng, mang tinh thần xây dựng. Mọi hành động, việc làm hướng về quê hương đất nước phải thực tâm. Đã là người Việt Nam thì phải luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết./.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

NHẬN DIỆN DIÊN BIẾN HOÀ BÌNH TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC

 


Diễn biến hòa bình là một khái niệm về một chiến lược chính trị, ý thức hệ xã hội của chủ nghĩa tư bản nhằm phá hoại xã hội chủ nghĩa; là một quá trình phá hoại của CNTB và các thế lực thù địch nhằm vào CNXH không sử dụng vũ khí để xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, ý thức hệ XHCN.

Ngày nay, diễn biến hoà bình được mở rộng và áp dụng của một số nước CNTB phương tây và các thế lực thù địch nhằm vào các nước mà họ cho là đối thủ. Trong những năm 1950, thời kỳ chiến tranh lạnh, khái niệm diễn biến hoà bình được đề cập tới bởi Ngoại trưởng Mỹ John Forster Dulles nhắm vào Liên Xô;  ở cách hiểu rộng hơn, "Diễn biến hòa bình" cũng có thể được hiếu là sự sụp đổ của một quốc gia hoặc một nền văn minh sau một thời gian dài sống trong hòa bình, bởi các yếu tố nội tại bị suy thoái chứ không phải do bị tấn công từ bên ngoài.

Cách thức thực hiện trên lĩnh vực chính trị đó là sự phối hợp giữa bên ngoài và bên trong. Các đối tượng thực hiện bên trong gồm phần tử bất mãn, một số trí thức và cán bộ biến chất, các phần tử cơ hội chính trị. Chúng tập chung xuyên tạc lịch sử, phủ định chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dùng cộng sản chống lại và phản bác chủ nghĩa xã hội. Chúng làm cho quần chúng nhân dân và một bộ phận cán bộ, đảng viên xa rời chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sử dụng những kẻ cơ hội, đảng viên biến chất tự diễn biến, tự chuyển hoá. Lợi dụng những sự việc có thật, sự yếu kém trong quản lí Nhà nước để nhào nặn, bóp méo và cường điệu với dụng ý xấu nhằm quy kết, phủ nhận vai trò và thành quả của Đảng, Nhà nước.

         Trong lĩnh vực xã hội chúng lợi dụng các mâu thuẫn, khiếu kiện, các chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tôn giáo để can thiệp vào tình hình nội bộ, phá hoại sự ổn định của Việt Nam.

           Đối với Quốc phòng - An ninh chúng xuyên tạc đường lối, chính sách quốc phòng - an ninh, đối ngoại của Đảng-Nhà nước. Thực hiện mưu đồ phi chính trị hóa Quân đội Nhân dân Việt Nam và Công an Nhân dân... làm mất lý tưởng, sức chiến đấu của lực lượng vũ trang để sẵn sàng tạo cớ răn đe, can thiệp quân sự hoặc xâm lược khi điều kiện chín muồi.

TRƯỜNG TỒN

Hơn 100 bộ đội nắn dòng sông Rào Trăng tìm người mất tích

 THỪA THIÊN - HUẾBốn xe múc cùng hơn 100 bộ đội vận chuyển rọ đá để đắp đập nắn dòng sông Rào Trăng, tìm kiếm 12 công nhân đang mất tích.

Chiều 18/11, lực lượng chức năng cùng xe chở rọ đá vào đến thủy điện Rào Trăng 3, xã Phong Xuân (huyện Phong Điền) để tiếp tục tìm kiếm 12 nạn nhân còn mất tích. Thời gian qua việc tìm kiếm tạm dừng do thời tiết xấu.

Ngay khi quay lại hiện trường, các chiến sĩ công binh lội bùn, thay phiên nhau đưa các rọ đá xuống khu vực sẽ đắp đập để nắn dòng sông Rào Trăng. Hai kỹ sư xây dựng cầu đường của Sở Giao thông Vận tải tham gia đánh dấu vị trí múc đất, tạo dòng chảy mới cho sông.

Bộ đội thực hiện việc nắng dòng sông Rào Trăng. Ảnh: Võ Thạnh.

Bộ đội thực hiện việc nắn dòng sông Rào Trăng. Ảnh: Võ Thạnh.

Sau khi hai kỹ sư đánh dấu vị trí, 4 xe múc liên tục đào đất, tuy nhiên dòng sông Rào Trăng chảy xiết, nhiều khối đá lớn gây khó khăn cho việc nắn dòng.

Lực lượng chức năng phát hiện nhiều khối bê tông lớn nằm dưới suối, khu vực nghi nhóm công nhân bị vùi lấp.

Các rọ thép được làm để đặt đá vào, chuẩn bị cho việc nắn dòng sông. Ảnh: Võ Thạnh.

Các rọ thép được làm để đặt đá vào, chuẩn bị cho việc nắn dòng sông. Ảnh: Võ Thạnh.

"Ban ngày, bộ đội vào hiện trường, còn ban đêm ra thủy điện Rào Trăng 4 nghỉ ngơi. Quyết tâm của đơn vị là bằng mọi cách tìm kiếm được nhóm công nhân đang mất tích", Trung tá Phan Thắng, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy quân sự Thừa Thiên Huế, nói.

Theo kế hoạch, ngày mai 19/11, lực lượng chức năng tiếp tục triển khai xếp rọ đá ngăn đập, nắn dòng sông Rào Trăng. Ba chó nghiệp vụ được huy động tham gia đánh hơi tìm kiếm người mất tích.

Phương án ngăn đập, nắng dòng Rào Trăng để tìm kiếm nạn nhân còn mất tích.

Phương án ngăn đập, nắng dòng Rào Trăng để tìm kiếm nạn nhân còn mất tích.

Trước đó, 0h ngày 12/10, nửa quả núi sạt lở đã vùi lấp lán trại, nhà điều hành thủy điện Rào Trăng 3 nơi 17 có công nhân đang túc trực. Lực lượng cứu hộ đã tìm thấy 5 thi thể, 12 công nhân đang mất tích.


KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO



 KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO

-*****-

Từ đầu năm 2011, làn sóng biểu tình, nổi dậy khởi đầu ở Tuy-ni-di; tiếp đó, lan rộng tới các nước: Ai Cập, Li-bi, Xy-ri, Y-ê-men, Gioóc-đa-ni, Ô-man, Xu-đăng,… làm chấn động thế giới Ả-rập. Phương Tây gọi đó là “Mùa xuân Ả-rập”. Đây là hiện tượng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, gợi cho nhân loại bao điều phải nghĩ suy, trong đó đáng chú ý là bài học “giữ nước ngay từ thời bình”

 

Phong trào mang tên gọi mỹ miều là “mùa xuân Ảrập” đã không hề đem lại chồi non, lộc biếc mà nó chỉ dẫn tới một loạt các cuộc nội chiến, tiếp theo đó là sự trỗi dậy của lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) - một trong những lực lượng khủng bố lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Các thế lực phương Tây đã sử dụng truyền thông để kích động làn sóng biểu tình, nổi dậy lật đổ chính quyền đương nhiệm nhằm tạo dựng chính quyền mới thân phương Tây. Những cuộc nổi dậy mà ban đầu phương Tây ca ngợi là "vì tự do và dân chủ" cuối cùng có kết cục trái ngược hoàn toàn: thêm hỗn loạn, đất nước tan rã và sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Nhiều nhà lãnh đạo mà phương Tây gọi là những "nhà độc tài" đã bị lật đổ, để rồi nhiều nhóm quyền lực mới còn độc tài và cực đoan hơn đã nổi lên, sẵn sàng chém giết lẫn nhau để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả Rập tỏ ra hối tiếc và muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền mùa Xuân”, giai đoạn với chính quyền dẫn dắt bởi những "bàn tay sắt" để có thể gìn giữ được ổn định và trật tự. Có điều là tất cả đã quá muộn màng; những Gaddafi, Saddam hay Ali Abdullah Saleh đã không thể sống lại và đất nước Syria, Lybia, Yamen và cả Iraq không còn nguyên vẹn như xưa. Hàng triệu người chết, và ly tán, đất nước giàu mạnh bổng nhiên trở thành đống hoang tàn vì khói lửa chiến tranh. Đắng lòng, thắt ruột!

Tiên trách kỷ hậu trách nhân, người Á đông chúng ta hay nói thế, có trách hãy trách một bộ phận nhân dân các nước trên đã quá ngây thơ khi tin rằng người Mỹ và phương Tây sẽ mang đến cho họ cuộc sống sung sướng, tự do, dân chủ và đầy tình hữu ái; họ đã lầm khi theo giặc để xâu xé đất nước bằng những nhát chém ngang lưng đầy bạo tàn. Giờ đây, khi đất nước hoang tàn và chia rẽ thì những kẻ cầm đầu, thân Mỹ và phương Tây đã cao chạy xa bay đến với vùng đất an toàn, sống sung sướng vì được Mỹ trả công thì nhân dân các nước Syria, Lybia, Yamen…đang được hít thở bầu trời nhân quyền đầy hắc ám. Nói thế để hiểu rằng chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Bác Hồ đã chỉ ra sẽ mãi mãi là chân lý bất diệt dù trải qua bất kỳ thực tế khách quan nào đi chăng nữa.

 

Việt Nam ta, tuy vẫn còn những hạn chế và nguy cơ mà Đảng chỉ ra, song đó cũng chỉ là thiểu số; về cơ bản đất nước ta đã trở mình để vươn ra biển lớn. Giá trị của hòa bình, độc lập thật đáng trân quý biết bao vì nó được đánh đổi bằng cả non xương, bể máu của các thế hệ “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Nhìn gương của các nước Trung Đông, Bắc Phi để mở to đôi mắt mà nhìn, mà ngẫm, mà thêm yêu quý dân tộc này. Nên nhớ là miếng pho mát chỉ nằm trong bẫy chuột, chúng ta đừng hy vọng quá nhiều vào ngoại bang; ta chỉ hợp tác với họ trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau chứ không bao giờ lệ thuộc bất kỳ nước nào vì suy cho cùng thì chỉ lợi ích quốc gia mới là thứ bất biến. Đừng tin đám loạn thần tặc tử trong nước và đám vong quốc nô ở hải ngoại. Hãy nhìn gương Syria, Lybia, Yamen, Iraq... để xác định cần phải làm gì cho Tổ quốc hôm nay./.

Theo: Hoa Dinh

Việt Nam chung tay 'giữ lửa' tinh thần hợp tác APEC

Nhận lời mời của Thủ tướng Malaysia Muhyiddin Yassin, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc sẽ tham dự Hội nghị Cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 27 theo hình thức trực tuyến vào ngày 20/11/2020, hoạt động quan trọng nhất của Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 27.

Trong vai trò chủ nhà, Malaysia đề xuất chủ đề của năm APEC 2020 "Tận dụng tiềm năng con người vì một tương lai tự cường, thịnh vượng chung" và tập trung vào 3 ưu tiên: Cải thiện thương mại và đầu tư; kinh tế bao trùm thông qua kỹ thuật và kinh tế số; thúc đẩy bền vững sáng tạo. 

Năm 2020 có ý nghĩa đặc biệt đối với APEC, là năm hoàn tất thực hiện các Mục tiêu Bogor và thông qua Tầm nhìn APEC đến năm 2040. Các thành viên đề cao vai trò của APEC, nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng Tầm nhìn sau năm 2020.

Được thành lập năm 1989, hợp tác APEC tập trung vào 3 trụ cột chính: Tự do hóa thương mại và đầu tư; thuận lợi hóa kinh doanh; hợp tác kinh tế-kỹ thuật. Cam kết xuyên suốt, quan trọng nhất đến nay của APEC, được thông qua tại Hội nghị Cấp cao lần thứ hai vào năm 1994 tại Indonesia là hoàn thành các Mục tiêu Bogor về thương mại, đầu tư tự do và mở đối với các nền kinh tế thành viên phát triển vào năm 2010 và các nền kinh tế thành viên đang phát triển vào năm 2020. 

Mục tiêu này đã trở thành định hướng cho hợp tác APEC trong suốt hơn 2 thập niên qua và trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng một khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC đang diễn ra tại Malaysia, trên cơ sở những thành tựu của Mục tiêu Bogor, các nhà lãnh đạo APEC sẽ hoàn thành xây dựng một tầm nhìn xa hơn, phù hợp với tình hình mới hiện nay.

Hơn 2 thập niên qua, mức độ tự do hóa thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường hiện nay của APEC đã vượt xa rất nhiều so với thời điểm Mục tiêu Bogor được đưa ra và đưa APEC trở thành một trong những khu vực năng động nhất thế giới.

Nhiều rào cản về thuế quan, hành chính được dỡ bỏ, nhiều tiêu chuẩn được hợp nhất và nâng cao. Nhiều chương trình hợp tác kỹ thuật được định hình đã giúp cho các nền kinh tế hội nhập và liên kết ngày càng tốt hơn, hình thành các chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, góp phần đưa các doanh nghiệp xích lại gần nhau.

Mức độ tự do hóa sâu rộng của APEC còn thể hiện ở sự gia tăng nhanh chóng các hiệp định thương mại tự do (FTA) và các hiệp định thương mại khu vực (RTA). Nói cách khác, APEC chính là chất xúc tác cho ra đời rất nhiều hiệp định thương mại. Hơn 2 thập niên qua, số lượng các FTA/RTA đi vào thực thi trong APEC tăng từ 22 lên gần 160.

Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 27 gồm các hoạt động chính: Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 27, dự kiến thông qua 2 văn kiện là Tuyên bố Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 27 và Tuyên bố về Tầm nhìn APEC sau năm 2020…

Trong số 21 thành viên APEC, có 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 9 thành viên Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G20) và nhiều nền kinh tế mới nổi, phát triển năng động, đại diện khoảng 39% dân số thế giới, đóng góp 59% GDP, 49% thương mại toàn cầu. 

APEC hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận, tự nguyện, không ràng buộc; không có hiến chương hay điều lệ. Các thành viên đã tích cực trao đổi xây dựng tầm nhìn APEC đến năm 2040 nhằm góp phần duy trì vai trò của khu vực là động lực tăng trưởng và liên kết kinh tế toàn cầu, nâng cao hiệu quả hoạt động, khẳng định vị thế diễn đàn kinh tế hàng đầu ở châu Á-Thái Bình Dương, định hướng các hoạt động hướng tới người dân, doanh nghiệp hơn nữa. 

Giữ đà hợp tác APEC

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của APEC tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao-Kinh tế APEC vào tháng 11/1998, tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia. Điều đó đánh dấu bước triển khai mạnh mẽ chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, tạo động lực cho tiến trình đổi mới và hội nhập của đất nước trong những năm qua.

Tham gia APEC góp phần quan trọng nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Là thành viên APEC, Việt Nam có vai trò, tiếng nói ngang hàng với nhiều trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới trong việc xây dựng, định hình các luật lệ, quy tắc về kinh tế, thương mại khu vực.

Tham gia "sân chơi" APEC tạo tiền đề để Việt Nam tham gia vào những "sân chơi" rộng lớn và có mức độ cam kết cao hơn như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao. Việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng là đòn bẩy để hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm khiết, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp. 

Việt Nam là một trong số không nhiều thành viên đã hai lần đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC, vào các năm 2006 và 2017.

Sau 11 năm, Việt Nam tiếp tục được các thành viên tín nhiệm lựa chọn đăng cai APEC lần thứ hai. Thành công của các chuyến thăm song phương mang tính lịch sử và hàng chục cuộc hội đàm, tiếp xúc song phương dịp Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 tiếp tục đặt nền móng nâng tầm quan hệ song phương của Việt Nam với nhiều đối tác trong khu vực. Việt Nam đã tổ chức thành công xuất sắc Năm APEC 2017 với gần 250 sự kiện, đỉnh cao là Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 25 tại thành phố biển Đà Nẵng năng động và hiện đại.

Vai trò và đóng góp của Việt Nam được đặc biệt đề cao khi Việt Nam chủ trì khởi xướng thảo luận về xây dựng Tầm nhìn mới cho Diễn đàn APEC sau năm 2020.

Bên cạnh đó, dấu ấn Việt Nam còn thể hiện qua thành công của Đối thoại lần đầu tiên giữa lãnh đạo APEC với ASEAN và việc Việt Nam đóng góp tích cực thúc đẩy hình thành Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong dịp Tuần lễ Cấp cao Đà Nẵng.

Việt Nam là một trong những thành viên tích cực nhất trong đề xuất các sáng kiến và dự án, với hơn 100 dự án trên nhiều lĩnh vực. Nhiều sáng kiến do Việt Nam đề xuất được đánh giá thiết thực, đáp ứng sự quan tâm chung, nhất là về phát triển bao trùm, phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, tạo thuận lợi thương mại điện tử qua biên giới, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, phát triển nông thôn và đô thị…

Năm 2020, Việt Nam tham gia Diễn đàn APEC với vị thế được nâng cao, đặc biệt trong vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Việt Nam tích cực ủng hộ, chủ động phối hợp chặt chẽ với chủ nhà Malaysia và các thành viên bảo đảm giữ đà hợp tác APEC trong bối cảnh hợp tác APEC bị ảnh hưởng và gián đoạn do dịch bệnh bùng phát, thúc đẩy để các Hội nghị APEC ra được Tuyên bố chung, khẳng định tinh thần hợp tác APEC.

Trong năm 2020, Việt Nam đã tích cực tham gia, đóng góp tại gần 100 cuộc họp, hội nghị của APEC được tổ chức (cả hình thức trực tiếp và trực tuyến), nhất là tham dự 9 hội nghị, đối thoại cấp Bộ trưởng. Việt Nam đồng thời chủ động, tích cực tham gia và đóng góp xây dựng nhiều văn bản định hướng hợp tác quan trọng của APEC như: Tầm nhìn APEC sau 2020 (đây là một trong những đề xuất quan trọng của Việt Nam, Việt Nam cũng đảm nhiệm vai trò Phó Chủ tịch Nhóm xây dựng Tầm nhìn APEC), Tầm nhìn năng lượng APEC sau 2020, Chương trình cải cách cơ cấu APEC giai đoạn 2021-2025 (với vai trò Trưởng nhóm công tác), các Tuyên bố hội nghị, cũng như các báo cáo quan trọng khác.  

Trong năm 2020, Việt Nam tham gia đóng góp trong các hoạt động đa phương nói chung và APEC nói riêng với vị thế gia tăng. Việt Nam tiếp tục đồng hành cùng APEC trên chặng đường phát triển sắp tới, chung tay xây dựng tầm nhìn chiến lược về cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, năng động, sáng tạo, gắn kết và thịnh vượng.