Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

 

MỘT HÌNH ẢNH ĐÁNG BỊ LÊN ÁN MẠNH MẼ

 

Câu chuyện về nhóm người mặc trang phục lính ngụy dự đám cưới tại thị trấn Cao Phong (Hòa Bình) hồi đầu tháng 11/2020, diễu hành đồ lính VNCH tại Hồ Thác Bà chưa dừng lại thì nay dân mạng đang rần rần chia sẻ một hình ảnh được ghi lại tại một quán bán kẹo dừa có tên Yến Hương tại quê hương Đồng Khởi. Địa chỉ tại 79H, QL60, Khu phố 1 Phú Tân, Thành phố Bến Tre. Đây là một trong 2 quán được Sở Công thương hỗ trợ đầu tư, xúc tiến thương mại.... Hình ảnh cờ vàng ba sọc được cho là rất rõ nét điều này càng làm cho dân mạng khẳng định hoàn toàn không có việc cắt ghép, photoshop.

Số tàn dư chế độ cũ VNCH hiện nay đang mưu mô tìm cách dựng lại chế độ cũ tay sai bằng cách tăng cường hoạt động tuyên truyền, nhồi sọ những thông tin, hình ảnh của chế độ cũ đến với người dân. Chúng tổ chức thành các hoạt động nhỏ lẻ, tăng cường các hoạt động tuyên truyền vào các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là giới trẻ để nhằm thay đổi nhận thức của các giai tầng trong xã hội. Tất cả những gì thuộc về quá khứ lịch sử đang được các thế hệ gọi là hậu duệ của “VNCH” dựng lên với những ca từ mĩ miều, tốt đẹp... nhưng thực chất, bản chất tay sai của VNCH tất cả mọi người dân chúng ta đều hiểu được, và đó cũng là mấu chốt để các đối tượng phản động, chống đối không có cơ hội đầu độc tư tưởng người dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đối với các hoạt động tuyên truyền các văn hóa phẩm sai trái, trong đó có cờ, trang phục của chế độ cũ VNCH cần phải lên án, đặc biệt các cơ quan chức năng cần có các biện pháp để ngăn chặn các hành vi sai trái đó. Hành vi của quán bán kẹo dừa có tên Yến Hương tại quê hương Đồng Khởi sử dụng cờ vàng ba sọc đỏ để làm biểu tượng, các cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc điều tra làm rõ để xử lý nếu như hành vi trên là đúng với sự thật./.

Description: C:\Users\TUONG-K7\Desktop\136111479_746443372659230_5055690009387487606_n.jpg

 

ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG


Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Trước sự kiện đó, các thế lực phản động đang tìm mọi cách chống phá hòng kích động, làm phân tâm trong đời sống xã hội về đường lối và công tác cán bộ của Đảng. Do vậy, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trước thềm Đại hội XIII của Đảng là việc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần quan trọng vào thành công của Đại hội.

Dư luận xã hội, cũng như mọi hiện tượng xã hội khác luôn nảy sinh, tồn tại trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển. Nhận rõ vai trò quan trọng của dư luận xã hội, các thế lực thù địch tranh thủ mạng xã hội, kết nối internet, sử dụng lực lượng, phương tiện trong và ngoài nước để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo sự chống đối từ nội bộ Đảng, làm mất niềm tin, hoài nghi lẫn nhau dẫn đến mất đoàn kết mà tự diễn biến, tự tan vỡ. Họ cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc, đặc biệt là về công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội. Lợi dụng vào một số hạn chế, yếu kém trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, chúng ra sức thổi phồng, bóp méo sự thật, bịa đặt, nhằm phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, v.v. Vì thế, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, tạo sự thống nhất về nhận thức, thái độ và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để đạt được điều đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, thường xuyên cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng quan điểm, đường lối của Đảng và sát với tình hình thực tiễn của Quân đội. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu, nên lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần nắm chắc cơ sở khoa học của quá trình hình thành và phát triển dư luận; gắn sát với tình hình thực tiễn để xác định nội dung, biện pháp tiến hành sát hợp, mang lại hiệu quả cao. Trong đó, coi trọng việc cung cấp đầy đủ thông tin, tri thức, luận cứ khoa học có tác dụng định hướng, dẫn dắt nhận thức cho quân nhân; thấy rõ Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; để Đại hội thành công là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Quá trình cung cấp thông tin cần chú ý đến đặc điểm đối tượng quân nhân (độ tuổi, giới tính, tâm thế, điều kiện tiếp nhận (ở đâu, lúc nào, phương tiện kỹ thuật vật chất đảm bảo); nguồn thông tin chính thống, thông tin xấu độc, sai trái, v.v.

Điều đó đòi hỏi cán bộ chủ trì các cấp cần cung cấp đầy đủ những nguồn thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước, Quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ có cơ sở phân biệt rõ đâu là thông tin, dư luận trái chiều, tiêu cực để có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu những tác động xấu đến đời sống, sinh hoạt của bộ đội. Khối lượng thông tin cung cấp cho cán bộ, chiến sĩ vừa đủ, đảm bảo tính kịp thời, nhất là khi có tình huống, sự kiện mới nảy sinh. Quá trình cung cấp thông tin phải bảo đảm tính minh bạch, tránh thông tin phiến diện, một chiều hoặc cố tình che giấu sự thật, gây tính tò mò của quân nhân, dễ dẫn đến sai lệch trong nhận thức, hành động. Điều này đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thực hiện tốt việc công khai thông tin, dân chủ mọi mặt trong đơn vị. Thông tin đưa đến cho cán bộ, chiến sĩ phải đảm bảo tính định hướng, đúng đường lối, quan điểm của Đảng, sát với yêu cầu, nhiệm vụ của Quân đội.

Thứ hai, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ. Thực hiện tốt biện pháp này là cơ sở quan trọng bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ có kiến thức sâu rộng, lập luận khoa học, giúp họ có khả năng phân biệt đúng - sai, nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác về các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thực tiễn, từ đó nhanh chóng đi đến thống nhất về nhận thức và tư tưởng, hình thành dư luận tích cực. Đồng thời, thông qua giáo dục mà bồi dưỡng trình độ chính trị, tư tưởng, kinh nghiệm, vốn sống cho cán bộ, chiến sĩ hình thành bản lĩnh chính trị trong xem xét và ứng xử phù hợp với các vấn đề nảy sinh ngoài xã hội. Vì thế, công tác giáo dục cần bảo đảm đúng định hướng chính trị, tư tưởng; tiến hành bằng nhiều hình thức, biện pháp phong phú, đa dạng, có trọng tâm, trọng điểm; bám sát tiến độ, chủ động cập nhật kết quả đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Hướng trọng tâm công tác tuyên truyền vào làm nổi bật ý nghĩa, tầm quan trọng, chủ đề, phương châm của Đại hội; hệ thống các văn kiện trình Đại hội và quy chế bầu cử trong Đảng. Đi liền với đó là đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ tham gia ý kiến thảo luận các quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn của Đảng; các nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với tinh thần, trách nhiệm cao. Mỗi tập thể, cá nhân phải thấu triệt quan điểm về công tác nhân sự của Đảng, bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ mà trực tiếp là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy chứ không phải của riêng ai, tổ chức nào. Việc bầu cử được thực hiện đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, dân chủ, công tâm, khách quan, minh bạch; không có chuyện “đấu đá nội bộ”, sắp xếp, gán ghép, bố trí người thân vào vị trí chủ chốt như những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có dụng ý bịa đặt, xuyên tạc đến công tác nhân sự của Đảng.

Thứ ba, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp trong định hướng và điều khiển dư luận. Sự hình thành và phát triển dư luận tập thể quân nhân đều tuân theo quy luật khách quan với sự tham gia chi phối của các nhân tố chủ quan. Do vậy, việc phát huy vai trò của nhân tố con người, tích cực hóa một số nhân tố trong tập thể là rất cần thiết, nhất là vai trò của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, các nhóm và thủ lĩnh không chính thức mang tư tưởng tích cực. Để phát huy tốt vai trò của lực lượng này, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung bồi dưỡng những phẩm chất năng lực cần thiết, tạo dựng uy tín, biết cách tác động đối với quân nhân để hình thành dư luận tích cực, khắc phục tin đồn thất thiệt, thực sự xứng đáng là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong định hướng điều khiển dư luận tập thể quân nhân.

Khi xuất hiện dư luận tiêu cực, tin đồn thất thiệt, phải nhanh chóng xác định nguồn gốc khởi phát, trực tiếp gặp gỡ chủ thể đầu tiên đưa tin sai lệch để phân tích, thuyết phục họ nhận rõ sai trái, xu hướng diễn biến tác động tiêu cực và yêu cầu cải chính trước tập thể. Đồng thời, hướng dẫn, thúc đẩy vai trò, chức năng và hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức quần chúng trong đơn vị theo mục đích và nội dung định hướng, điều khiển dư luận tập thể. Kích thích ảnh hưởng của các nhóm và thủ lĩnh không chính thức tích cực, các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; kịp thời ngăn chặn, hạn chế tác hại của nhóm không chính thức và cá nhân tiêu cực trong tập thể. Quan tâm xây dựng môi trường chính trị, văn hóa lành mạnh kết hợp với tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần cho tập thể quân nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm chính trị, thúc đẩy môi trường văn hóa quân sự phát triển lành mạnh phù hợp với yêu cầu hoạt động quân sự.

Thứ tư, nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước những tin đồn thất thiệt về các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thực tiễn là việc làm hết sức cần thiết, nhất là trong tiến trình diễn ra đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Lợi dụng sự kiện quan trọng này, các thế lực thù địch tăng cường chống phá ta một cách toàn diện, với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, như: nhào nặn thông tin, bóp méo sự thật, dựng chuyện, đẩy mạnh chiến dịch “tâm công”, đánh vào tâm lý, lan truyền tin đồn thất thiệt, tạo dư luận tiêu cực,... làm cho một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức lệch lạc về chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, nhiệm vụ của Quân đội, công tác xây dựng Đảng. Vì thế, cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp cần quan tâm giáo dục nâng cao trình độ lý luận, nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ, để tạo sức “đề kháng” cần thiết trước tác động tiêu cực của những dư luận sai trái. Từ đó, giúp họ biết nhận diện, phân biệt được tin giả, tin độc hại, tạo khả năng “miễn dịch” cao; tự mình có thể tiếp nhận, thẩm định, đánh giá và xử lý thông tin phù hợp với chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước, Quân đội.

Cùng với đó, các cấp, nhất là lực lượng chuyên trách chủ động đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, phủ nhận Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Một trong những nhiệm vụ quan trọng bảo đảm cho dư luận tập thể quân nhân phát triển theo chiều hướng tích cực, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Chỉ thị số 823-CT/QUTW, ngày 10/9/2017 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ có sức “đề kháng” tốt, không nghe, không theo những thông tin xấu độc, trái chiều; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Trong “xây”, cần chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng, đề cao ý thức chấp hành quy định về phát ngôn; động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống intetnet, mạng xã hội mở rộng đối tượng, phạm vi tuyên truyền tạo hiệu ứng tích cực trong xã hội. Trong “chống”, cần chủ động, nhạy bén và phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, phương tiện, nhất là lực lượng nòng cốt trong các đơn vị, các cơ quan báo chí, xuất bản; triển khai các giải pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực hiện tốt những nội dung cơ bản trên, sẽ giúp cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có cách nhìn tổng quan về thực trạng đời sống xã hội hiện nay và là điều kiện quan trọng để lãnh đạo, chỉ huy các cấp kịp thời có những biện pháp hữu hiệu trong định hướng tư tưởng bộ đội, nhất là khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần.

Mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở một số nước trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam

 


Tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình phân quyền

+Ở mô hình này, các cơ quan chính quyền địa phương được tồ chức theo nguyên tắc phi tập trung hóa cao, quyền lực nhà nước được chuyển giao từ chính quyền Trung ương đến các chính quyền địa phương theo Hiến pháp và pháp luật.

+ Các thiết chế được phân quyền chủ động, độc lập thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm.

 +Chức năng quản lý các chính quyền địa phương được giao cho một cơ quan ở Trung ương như bộ hay văn phòng.

+ Việc tổ chức và hoạt động của chính quyền tự quản địa phương do các địa phương tự quản quy định. Do đó, mô hình tự quản địa phương đa dạng và phong phú.

Ví dụ: Tổ chức chính quyền địa phương ở Mỹ - Anh

+Các chính quyền địa phương được chủ động toàn quyền trong giải quyêt các công việc mà không bị can thiệp hay phụ thuộc chính quyền Trung ương.

+ Chính quyền địa phương chia thành các cấp như chính quyền bang > hạt, > thành phố.

+ Ở những địa phương không thành lập được chính quyền thành phố do không đủ tiêu chuẩn về số dân thì thành lập chính quyền thị xã, thị trấn hay xã.

 (từ 2.500 dân được tách ra khỏi hạt để tổ chức thành các đơn vị hành chính tự quản là thành phố, thị xã (trực thuộc bang))

+ Cơ quan quản lý là các Hội đồng tự quản hay Hội đồng đại diện. Hội đồng tự quản bầu ra đơn vị chấp hành và người đứng đầu là Thị trưởng hay Quản trưởng.

-Chính quyền bang: Là cấp cao nhất của địa phương, đứng đầu chính quyền bang có chức danh Thống đốc do cử tri bang trực tiếp bầu ra với nhiệm kỳ thường khoảng hai đến bốn năm (tùy Hiến pháp mỗi bang quy định). Tổ chức chính quyền bang có các cơ quan Nghị viện, cơ quan thực hiện quyền hành pháp và Tòa án.

-Chính quyền hạt: Có Hội đồng hạt bao gồm nhiều ủy viên do cử tri của hạt bầu ra trong một thời gian nhất định. Các ủy viên của Hội đồng hạt được phân công phụ trách hoặc phối hợp với nhau đế thực hiện các quyền hạn liên quan đến cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp ở địa phương.

-Chính quyền thành phố: Các chính quyền thành phố đều có một loại hội đồng trung tâm do cử tri bầu ra và một quan chức điều hành được sự hỗ trợ của các sở, ban, ngành. Có ba dạng tổng quát của chính quyền thành phố: thị trưởng (thị trưởng được bầu trực tiêp và đứng đầu hành pháp, trong khi đó hội đồng cũng được bầu như là cơ quan lập pháp); ủy ban (hình thức này kết hợp cả hành pháp lẫn lập pháp vào một nhóm người, tức là ủy ban, được bầu trực tiếp) nhà quản lý thành phố (người dân bầu ra hội đồng thành phố, hội đồng này sẽ chỉ hoạt động lập pháp và hoạch định chính sách).

+Chính quyền xã, thị trấn, thị xã: Hàng ngàn khu vực thực thi quyền lực pháp lý ở đô thị quá nhỏ nên không đủ tiêu chuẩn để trở thành chính quyền thành phố. Chính quyền thường được giao phó cho một ban hay hội đồng dân cử, có thể được gọi với nhiều tên khác nhau. Hội đồng có thể có chủ tịch hay người đứng đầu có chức năng như một quan chức điều hành chính, hoặc có thể là một thị trưởng dân cử.

+Các chính quyền quận đặc biệt hoặc chính quyền đặc khu: Những chính quyền này hoạt động độc lập với các chính quyền địa phương và thường được thiết lập để phục vụ một mục đích riêng trong phạm vi một vùng địa lý cụ thể.

Tổ chức chính quyền địa phương ở Anh

 + Lãnh thổ của Anh và xứ Wales chia ra các lãnh địa. Anh có 44 lãnh địa, xứ Wales có 8 lãnh địa,

+ 6/52 lãnh địa được hưởng quy chế lãnh địa đô thị do có mức độ đô thị hóa cao.

+Các lãnh địa lại chia ra các quận (quận có thể là quận thành phố, thị xã hay quận nông thôn (trước đây gọi là huyện hoặc quận hỗn hợp).

Hiện nay, nước Anh có khoảng 36 quận ở các lãnh địa đô thị và khoảng 333 quận ở các lãnh địa khác. Dưới quận là các đơn vị hành chính cơ sở thường được gọi là công xã. Lãnh thổ Scotland lại chia ra 9 vùng, 55 quận và các công xã. Lãnh thổ của Bắc Ailen lại chia ra 8 lãnh địa và 26 quận nhưng không có cấp cơ sở là công xã. Chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính ở Anh do cử tri bầu ra, bao gồm Hội đồng tự quản, có người đứng đầu là Thị trưởng - có chức năng làm chủ tọa các phiên họp của Hội đồng tự quản. Hội đồng tự quản bầu ra bộ máy hành chính đứng đầu là Thống đốc.

Tổ chức chỉnh quyền địa phương theo mô hình tản quyền

Mô hình tản quyền biểu hiện ở sự tập trung quyền lực nhà nước ở chính quyền Trung ương.

 Tuy nhiên, nguyên tắc tản quyền hạn chế được những khiếm khuyết của mô hình tập quyền, hạn chế tinh trạng quan liêu của nhà nước trung ương trong việc giải quyết những vấn đề ở địa phương, đồng thời khắc phục tình trạng phân tán, cát cứ hay phi tập trung hóa quyền lực.

+Ở mô hình này, Chính phủ Trung ương thực hiện kiểm soát quyền lực của chính quyền địa phương thông qua việc cử các đại điện hoặc thành lập các cơ cấu ở chính quyền địa phương.

+ Các đại điện của Trung ương cử xuống địa phương thực hiện quyền giám sát địa phương đồng thời thực hiện quyền lực tại địa phương.

Ví dụ: Chính quyền địa phương ở Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức

Theo đó, chính quyền địa phương được chia thành 3 cấp lần lượt là vùng, tỉnh và xã.

+Vùng là đơn vị hành chinh cao nhất tại địa phương

+ Tỉnh là đơn vị hành chính có trách nhiệm thực hiện các hoạt động an sinh xã hội, quản lý và cung cấp dịch vụ công. Tỉnh trưởng do Chính phủ Trung ương bổ nhiệm, đại diện cho chính quyền Trung ương tại địa phương. Tuy nhiên, Tỉnh trưởng và các cơ quan tự quản địa phương hoạt động độc lập với nhau.

+ Xã là đơn vị hành chính cơ sở có trách nhiệm thực hiện các dịch vụ xã hội, nhà trẻ, nhà ở cho người già, đô thị hóa, trường mẫu giáo và tiểu học, đường giao thông xã, thể thao.

- Chính quyền địa phương có thẩm quyền lập quy để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

+ Mỗi cấp của chính quyền địa phương đều có hội đồng dân cử, có nhiệm kỳ là 6 năm và có thẩm quyền ban hành các nghị quyết đề giải quyết các vấn đề tại cấp quản lý(vùng, tỉnh, xã).

+Chủ tịch hội đồng (vùng, tỉnh) và xã trưởng do Hội đồng dân cử bầu ra, là cá nhân chịu trách nhiệm cao nhất về hành pháp tại cấp quản lý (vùng, tỉnh, địa phương). Giúp việc Chủ tịch hội đồng và xã trưởng là cơ quan quản lý hành chính gồm các công sở. Tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm cùa người đứng đầu cơ quan hành pháp ở địa phương rất cao và thực hiện nguyên tắc tự quản địa phương hiệu quả.

-Tổ chức chính quyền địa phương ở Cộng hòa Liên bang Đức giống như mô hình ở Pháp, nhưng không có cơ quan đại diện của chính quyền cấp trên ở chính quyền địa phương,

 +Một số bang được chia ra các huyện, huyện chia ra xã (công xã).

+  Một số bang lớn hơn chia ra vùng (nhưng không bầu ra chính quyền mà do Chính phủ cử ra người để thực hiện chức năng quản lý) - huyện - công xã.

+ Công xã là đơn vị cơ sở - một địa phương nhỏ nhưng công xã có thể là thành phố lớn.

+ Huyện được coi là cấp hành chính cơ bản và quan trọng trong t/ chức chính quyền địa phương ở Cộng hòa Liên bang Đức.

+ Về tổ chức chính quyền, cử tri bầu ra các Hội đồng với những tên gọi khác nhau như: Hội đồng, Hội đồng công xã và thành phố, cơ quan đại diện công xã... đứng đàu các Hội đồng là Chủ tịch Hội đồng do cử tri trực tiếp bầu ra, là người đứng đầu cơ quan hành chính.

Tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình tập quyền

Ở mô hình này, các chinh quyền địa phương được tô chức theo nguyên tắc quyền lực tập trung vào chính quyền Trung ương.

+ Chính quyền Trung ương kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương cũng như quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương.

+ Chính quyền địa phương được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, chính quyền địa phương cấp dưới chịu sự giám sát của chính quyền địa phương cấp trên, tạo thành hệ thống thứ bậc trực thuộc trên dưới.

+  Chính quyền địa phương vừa thực hiện nhiệm vụ của chính quyền Trung ương, vừa thực hiện nhiệm vụ của chính quyền địa phương.

+ Khác với chính quyền địa phương được tổ chức theo mô hình phân quyền, ở mô hình này chính quyền địa phương không có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.

- Mô hình tập quyền có ba hình thúc;

+  Hình thức tập quyền tuyệt đối,

+  Tập quyền có phân chia trách nhiệm

Ví dụ: Tập quyền xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết trước đây.

 Ví dụ: Trung Quốc

+ Nước chia thành các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương

+ Tỉnh, khu tự trị, chia thành châu tự trị (còn gọi là địa khu), huyện, huyện tự trị và thành phố

+ Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện

+ Châu tự trị chia thành huyện, huyện tự trị, thành phố

+ Huyện, huyện tự trị chia thành xã, xã dân tộc, trấn.

Chú ý: Khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị đều là những vùng tự trị dân tộc. Nhà nước còn thiết lập đặc khu hành chính.

- Chính quyền địa phương ở Trung Quốc gồm Hội nghị đại biểu nhân dân địa phương và cơ quan hành chinh nhà nước địa phương.

+ Ở các khu dân tộc tự trị, chính quyền địa phương là các cơ quan tự quản.

+ Hội nghị đại biểu nhân dân địa phương được thành lập ở các tỉnh, khu tự trị, các thành phố trực thuộc Trung ương, đặc khu tự trị, các huyện, các huyện tự trị, các thành phố, các quận, xã, xã của người dân tộc thiểu số và thôn.

- Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (được gọi là Chính phủ nhân dân) được thành lập ở tất cả các cấp có Hội nghị đại biểu nhân dân.

+Chính phủ nhân dân các cấp địa phương là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp địa phương, là cơ quan hành chính các cấp địa phương.

+ Chính phủ nhân dân các cấp địa phương thực hiện chế độ Chủ tịch tỉnh, Chủ tịch thành phố, Chủ tịch huyện, Chủ tịch khu, Hương trưởng, Trấn trưởng chịu trách nhiệm.

Giá trị tham khảo cho Việt Nam

Nghiên cứu về chính quyền địa phương ở một sô nước cho thấy.

+ Hầu hết các quốc gia, chính quyền địa phương được thiêt lập và hoạt động trên nguyên tắc tự quản địa phương.

+ Chính quyền địa phương có nhiều mô hình khác nhau ở các nước nhưng thường có Hội đồng tự quản (do cử tri địa phương bầu ra), Hội đồng tự quản bầu ra cơ quan hành chính. Người đứng đầu cơ quan hành chính là Thị trưởng hay Chủ tịch có thể do cử tri bầu trực tiếp hoặc do Hội đồng tự quản bầu ra, được giao nhiều quyền hạn, đại diện cho chính quyền có chức năng quản lý hành chính.

+ Chính quyền địa phương ở các nước được tổ chức trên nguyên tắc phân quyền mạnh, được độc lập giải quyết những vấn đề của địa phương trong khuôn khổ pháp luật.

Mặc dù được xây dựng và hoạt động trên nguyên tắc phân quyền mạnh và tự quản địa phương, chính quyền Trung ương vẫn thực hiện quyền kiểm soát đối với chính quyền địa phương bằng nhiều hình thức khác nhau

Thực hiện quyền tư pháp cần năm vững mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập và nguyên tắc kiểm soát quyền lực Tư pháp

 


Kiểm soát được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.[9]

Kiểm soát quyền lực Nhà nước là một vấn đề phức tạp song cần thiết xuất phát từ đặc tính của quyền lực Nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhằm mục đích khắc phục sự tha hóa của quyền lực, đưa quyền lực trở về đúng nội dung chân chính là quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng công quản lý xã hội. Kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được sử dụng đúng mục đích, quyền lực được thực thi hiệu quả. Là một nội dung của quyền lực Nhà nước, quyền lực Tư pháp cũng cần phải được kiểm soát.

Tuy nhiên, đối với quyền lực Tư pháp vốn là phạm vi quyền lực có tính độc lập cao nhưng nó luôn phải đặt trong nhu cầu tiết chế, kiểm soát chặt chẽ. Vậy kiểm soát quyền lực Tư pháp và quyền Tư pháp độc lập cần được hiểu theo những phạm vi như thế nào và tác động với nhau ra sao?

Theo nghĩa chung nhất, kiểm soát quyền lực Tư pháp là hệ thống những cơ chế, biện pháp được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ cho quyền lực Tư pháp được thực thi đúng mục đích, hiệu quả.

Xét theo nghĩa rộng, kiểm soát quyền lực Tư pháp chính là việc tổ chức, thực thi quyền lực Tư pháp đúng mục đích, hiệu quả nhất. Để đạt được mục tiêu này, việc tổ chức và thực hiện quyền lực Tư pháp phải dựa trên các nguyên tắc nhất định và kiểm soát quyền lực Tư pháp cũng phải thống nhất trên cơ sở các nguyên tắc đó. Theo nghĩa này, nguyên tắc quyền lực Tư pháp độc lập là một nội dung của kiểm soát quyền lực Tư pháp. Quyền Tư pháp phải độc lập với quyền Lập pháp và quyền Hành pháp. “Cũng không có gì là tự do nếu quyền Tư pháp không tách khỏi quyền Lập pháp và quyền Hành pháp. Nếu quyền Tư pháp nhập lại với quyền Lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền Tư pháp nhập lại với quyền Hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.[10]

Xét theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực Tư pháp là toàn bộ những cách thức, quy trình, biện pháp mà dựa vào đó Nhà nước và xã hội có thể ngăn chặn, loại bỏ những Hành động sai trái của chủ thể quyền lực Tư pháp, điều chỉnh việc thực thi quyền lực Tư pháp đảm bảo mục đích và hiệu quả. Kiểm soát quyền lực Tư pháp gồm hệ thống các cơ chế kiểm soát, từ trên ngoài và bên trong hệ thống, thông qua các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước như: hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của nhân dân và xã hội, sự kiểm soát của nhà nước[11]. Những cơ chế kiểm soát này tác động ở mức độ khác nhau đến thực thi quyền lực Tư pháp không nhằm mục đích nào khác là để quyền lực Tư pháp được thực thi theo đúng chức năng, nguyên tắc của mình. Kiểm soát quyền lực Tư pháp đảm bảo quyền lực Tư pháp độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Kiểm soát quyền lực Tư pháp không mâu thuẫn hay tác động tiêu cực đến nguyên tắc độc lập Tư pháp.

Đồng thời, kiểm soát quyền lực tư pháp cũng chỉ trong giới hạn của nguyên tắc độc lập tư pháp. Độc lập tư pháp không phải là mục đích tự thân nhưng là phương tiện, công cụ để đạt đến những mục đích trong thực thi quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, tư pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Từ đó, yêu cầu đặt ra là kiểm soát quyền lực Tư pháp phải được tiến Hành thông qua các cơ chế, phương thức và nội dung đặc thù, theo đó, hoạt động kiểm soát luôn bị giới hạn bởi tính chất độc lập của tư pháp trên cả ba bình diện: (1) sự độc lập của nhánh quyền lực Tư pháp so với nhánh quyền lực Lập pháp và Hành pháp. Theo đó, Tòa án phải độc lập về thể chế, nghĩa là phải có hệ thống tổ chức với những quy chế hoạt động riêng, không trùng và không thể giống với Lập pháp và Hành pháp; (2) sự độc lập của Thẩm phán và Bồi thẩm, Hội thẩm nhân dân khi xét xử, loại trừ mọi Hành vi can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của các cá nhân, tổ chức khác; (3) sự độc lập của mỗi cấp xét xử, hệ thống Tòa án được thiết kế theo cấp xét xử, chứ không theo hệ thống dọc từ trung ương đến cấp xã theo kiểu quan hệ “trên – dưới”[12].

Ở Việt Nam, cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp và tư pháp được đặt ra trực tiếp và cụ thể trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp và tư pháp”. Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã quy định tại khoản 3, Điều 2: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp, tư pháp”. Việt Nam cũng đã xây dựng được nhiều cơ chế để kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát quyền lực tư pháp nói riêng. Đây là những cơ sở chính trị, pháp lý để việc kiểm soát quyền lực Tư pháp và nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập được duy trì và hiệu quả.

 

XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG KẾT HỢP QUỐC PHÒNG, AN NINH VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - MỘT TRÒ RẺ TIỀN CỦA TRANG PHẢN ĐỘNG VIỆT TÂN

Vừa qua, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 132/2020/QH14 thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Nghị quyết đã góp phần quy định rõ vấn đề làm kinh tế trên đất quốc phòng, an ninh – điều chưa được quy định trong luật Đất đai 2013. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu lại đang xuyên tạc vấn đề này để công kích, chống phá Đảng, Nhà nước.

Nghị quyết của Quốc hội nêu rõ việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh phải bảo đảm phục vụ cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh là chính; trường hợp sử dụng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế thì phải quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh. Đất quốc phòng, an ninh sử dụng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh và phương án sử dụng đất được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt. Chỉ đơn vị, doanh nghiệp quân đội, công an quy định trong các nhóm được pháp luật quy định và đối tượng được tiếp tục sử dụng đất quốc phòng, an ninh quy định mới được sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.

Đồng thời, Quốc hội cũng nghiêm cấm việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh để góp vốn bằng quyền sử dụng đất thực hiện hợp đồng liên doanh, liên kết; cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế thì phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

KẺ GIAN “ TIẾNG SỦA” CŨNG GIAN

Việc phát triển kinh tế quốc phòng, an ninh không phải là vấn đề mới. Có thể thấy, thời gian vừa qua, một số doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng đã đi tiên phong trên mặt trận phát triển kinh tế, trở thành những điểm sáng góp phần thúc đẩy nền kinh tế cả nước nói chung và nền kinh tế quốc phòng nói riêng. Tuy nhiên, đây cũng là cái cớ được nhiều đối tượng xấu, cơ hội chính trị xuyên tạc để chống phá đất nước. Theo đó, các đối tượng xuyên tạc rằng việc phát triển kinh tế quốc phòng là không phù hợp với nền kinh tế thị trường; các doanh nghiệp an ninh, quốc phòng tham gia vào nền kinh tế gây ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Đồng thời, các đối tượng tung ra luận điệu rằng công an, quân đội thì không nên làm kinh tế mà chỉ cần tập trung vào việc huấn luyện, phòng thủ…

Vẫn với tư duy tiêu cực như trên, khi Quốc hội thông qua Nghị quyết số 132/2020/QH14 ngày 17/11/2020 thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, các đối tượng tiếp tục tiến hành xuyên tạc, hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, xấu xa. Những luận điệu phản động, thâm độc được tung ra có thể kể đến như: Nghị quyết là không đúng với chủ trương của Đảng và giúp quân đội “giữ đất”, vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm; đất của dân sẽ bị công an, quân đội “cướp”; khi Quốc hội cho công an và quân đội làm kinh tế thì hai lực lượng này sẽ phớt lờ nhiệm vụ bảo vệ đất nước và ổn định trật tự trị an của xã hội…

CÔNG AN, QUÂN ĐỘI LÀM KINH TẾ KHÔNG CHỈ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐƠN THUẦN

Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 132/2020/QH14 là một bước đi góp phần làm rõ hành lang pháp lý đối với vấn đề sử dụng đất quốc phòng, an ninh gắn với hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế. Việc lực lượng vũ trang tham gia sản xuất không phải là một chủ trương mới mà nó xuất hiện từ lâu trong chính sách quốc phòng của Việt Nam. Từ thời phong kiến, chúng ta đã thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” để vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm quốc phòng. Đến hiện tại, Đảng, Nhà nước ta vẫn xác định kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh.

Luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng, Nhà nước ta đang tạo điều kiện cho công an, quân đội “giữ đất”, “chiếm đất” là một sự xuyên tạc trắng trợn. Chủ trương để lực lượng vũ trang tham gia xây dựng kinh tế là cần thiết, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, phù hợp yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cần phải hiểu rõ, an ninh kinh tế là một trong những trụ cột của nền an ninh quốc gia. Đồng thời, trong các hoạt động, lĩnh vực của sản xuất kinh tế, có không ít lĩnh vực mang tính chất đặc thù, gắn chặt với nền an ninh, an toàn và ổn định của đất nước. Đơn cử như riêng vấn đề viễn thông, có thể thấy tập đoàn Viettel của quân đội đang nổi lên như một điểm sáng. Tuy nhiên, hoạt động này không chỉ đơn thuần ở việc phát triển kinh tế. Hoạt động thông tin liên lạc có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta để lĩnh vực này bị thâu tóm bởi các tập đoàn bên ngoài thì an ninh thông tin sẽ không được bảo đảm.

Trong trường hợp nếu có bất ổn chính trị, thậm chí là chiến tranh diễn ra, khi hệ thống thông tin bị thâu tóm cũng đồng nghĩa với việc chúng ta bị đánh gục. Hay như vấn đề nghiên cứu, sản xuất vũ khí, chúng ta không thể mãi phục thuộc vào việc mua của nước ngoài. Cần phải có sự tự chủ trong vấn đề này. Và khi đó, công an, quân đội tham gia nghiên cứu, sản xuất là điều hiển nhiên.

Do đó, cần phải khẳng định chắc chắn rằng việc Đảng, Nhà nước thông qua nghị quyết về việc sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là đúng đắn, phục vụ nhiệm vụ cao nhất là bảo vệ an ninh, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ./.

 

Mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập và nguyên tắc Đảng lãnh đạo

 


Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, trong đó có cơ quan thực hiện quyền Tư pháp – Tòa án, là nguyên tắc xuyên suốt tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống Tòa án nhân dân. Thực tiễn đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng không vi phạm nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập mà còn đảm bảo thực hiện tốt các nội dung của nguyên tắc này.

Đảng lãnh đạo không vi phạm nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập do phương thức lãnh đạo của Đảng.

Đảng lãnh đạo nhưng không thực hiện quyền lực Nhà nước mà phải thông qua bộ máy Nhà nước để thực hiện cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của mình. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan Tư pháp là sự lãnh đạo chính trị, Đảng không làm thay các cơ quan Tư pháp, tôn trọng, đề cao các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Tư pháp, trong đó có nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập .

Đảng lãnh đạo cơ quan Tư pháp có nội dung toàn diện trên các mặt: lãnh đạo về chính trị, tư tưởng; về tổ chức, cán bộ; về định hướng công tác. Đảng đề ra các nguyên tắc, quan điểm lớn làm cơ sở xây dựng tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp, vạch ra đường lối, định hướng trong các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan Tư pháp. Nhưng Đảng không can thiệp trực tiếp vào việc xét xử, giải quyết một vụ việc cụ thể của các cơ quan Tư pháp. Nội dung lãnh đạo cũng không chứa đựng các vấn đề nội dung giải quyết vụ việc cụ thể.

Đảng lãnh đạo đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập thể hiện ý nghĩa, vai trò của lãnh đạo Đảng đối với cơ quan Tư pháp.

Trên cơ sở tôn trọng và ghi nhận nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập , các cấp ủy Đảng có nhiệm vụ quán triệt, xây dựng nhận thức chính trị thực hiện nghiêm túc nguyên tắc trong toàn bộ cán bộ, đảng viên. Nhờ vậy, nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập sẽ được tổ chức thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả. Đồng thời, trong lãnh đạo về công tác tổ chức, cán bộ, Đảng xác định chức năng, nhiệm vụ, xây dựng tổ chức, bộ máy của các cơ quan Tư pháp đảm bảo nguyên tắc độc lập ; đề ra các mục tiêu và giải pháp lớn để xây dựng đội ngũ cán bộ cơ quan Tư pháp trong sạch, vững mạnh, vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ, đủ bản lĩnh, dũng cảm bảo vệ công lý, bảo đảm hoạt động theo đúng pháp luật, có thể độc lập trong thực hiện nhiệm vụ xét xử. Đảng thông qua các tổ chức đảng, đóng vai trò chính và quyết định việc đề cử nhân sự vào hệ thống các cơ quan Tư pháp các cấp.

Trong công tác chuyên môn, “Đảng chỉ đạo hoặc cho ý kiến về nguyên tắc chung trên cơ sở quy định của pháp luật trong giải quyết, xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên, các vụ án nghiêm trọng, phức tạp về chính trị, kinh tế, xã hội, các vụ án tham nhũng có liên quan đến cán bộ thuộc diện quản lý của các cấp ủy đảng, các vụ án có liên quan đến đối ngoại.[8]”, và không quyết định những vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền của các cơ quan tư pháp.

Tóm lại, Đảng lãnh đạo cơ quan Tư pháp là nội dung quan trọng và cần thiết đảm bảo nguyên tắc quyền độc lập Tư pháp. Đảng chỉ lãnh đạo về chủ trương, đường lối, không can thiệp, làm thay và lãnh đạo hoạt động Tư pháp tuân theo quy định pháp luật.

Tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay

 


Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy đinh:

Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kỉnh tế đặc biệt do luật định.

Trên cơ sở đó, mô hình chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay được xác định theo các mô hình như sau:

Mô hình chính quyền địa phương ở nông thôn (tỉnh, huyện, xã)

*Đặc điểm của các đơn vị hành chính trên địa bàn nông thôn

+Dân cư ở nông thôn cư trú tập trung tại nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác.

+ Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên, về quản lý nhà nước, ngoài hệ thống chính quyền xã còn có hệ thống các thiết chế có tính tự quản cộng đồng như làng, bản, thôn, ấp trên tinh thần tự quản cao.

+Dân cư nông thôn gắn kết cộng đồng có quy mô nhỏ theo làng, xã, thôn, xóm, bản, ấp, dòng họ, có những hương ước và phong tục, tập quán riêng mang nhiều tính tự quản.

+ Đời sống cư dân nông thôn phụ thuộc vào nhau, gắn bó và ràng buộc với cộng đồng.

+ Chức năng chính của chính quyền ở địa bàn nông thôn là thực hiện các chính sách và triển khai các biện pháp nhằm giải quyết tốt các vấn đề như nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

Yêu cầu đặt ra trong tổ chức chính quyền địa phương ở nông thôn phải bảo đảm các nguyên tắc:

+Bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước đồng thời bảo đảm phát huy dân chủ, phát huy tính tự quản cộng đồng địa phương ở nông thôn

+Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với chính quyền ở các đơn vị hành chính ở nông thôn.

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở đô thị gồm: chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phổ thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, phường, thị trấn.

*Đặc điểm

+ Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp

+ Là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.

+ Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tinh

+ Đô thị có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.

+ Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị phải bảo đảm việc quản lý nhà nước tập trung, thống nhất, thông suốt, nhanh nhạy, có hiệu lực, hiệu quả cao.

* Yêu cầu đặt ra đối với chính quyền địa phương đô thị phải bảo đảm các nguyên tắc:

+Nguyên tắc tập trung, thống nhất, vận hành thông suốt và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân;

+ Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với chính quyền đô thị ở các đơn vị hành chính các cấp;

+Nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan hành chính;

+ Nguyên tắc phân công, phân cấp rõ ràng, rành mạch giữa Trung ương với địa phương, phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp, đồng thòi bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan nhà nước cấp trên và của Trung ương.

Mô hình tổ chức chỉnh quyền địa phương ở hải đảo gồm huyện và xã.

Chính quyền địa phương ở hải đảo được tổ chức tùy theo điều kiện địa lý, dân cư, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

+ Các đảo, quần đảo có thể được tổ chức thành các đơn vị hành chính tại đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.

+Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.

+Cơ cấu tổ chức của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở địa bàn hải đảo thực hiện như cơ cấu tổ chức của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính tương ứng theo quy định của pháp luật.

+Chính quyền địa phương ở địa bàn hải đảo được tổ chức theo hai cấp: cấp huyện và cấp xã và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định cùa pháp luật.

+ Chính quyền địa phương cấp xã ở hải đảo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật.

+Về nguyên tắc tồ chức của chính quyền địa phương ở hải đảo: Theo quy định của pháp luật hiện hành,

 Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính ở hải đảo trong các văn bản quy phạm pháp luật khác phải bảo đảm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại địa phương, bảo đảm linh hoạt, chủ động ứng phó khi có sự kiện, tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh tế biển, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm thu hút người dân ra sinh sống, bảo vệ và phát triển hải đảo.

Mô hình chỉnh quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

+Chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt gồm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.

+ Nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở đom vị hành chính - kinh tế đặc biệt thực hiện theo quy định của pháp luật.

+ Sổ lượng đại biểu Hội đồng nhân dân, số lượng thành viên ủy ban nhân dân, cơ cấu tổ chức của Hội đông nhân dân, Uy ban nhân dân và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó.

 

TĂNG CƯỜNG CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

 

Trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị lại tìm mọi cách chống phá đại hội bằng nhiều thủ đoạn, hình thức khác nhau, tập trung lợi dụng các trang mạng xã hội, phát tán các thông tin xuyên tạc, phản động. Đặc biệt tập trung chống phá, xuyên tạc về công tác nhân sự Đại hội Đảng mặc dù công tác này đã được chuẩn bị chu đáo, công phu, bài bản trong suốt thời gian qua.

Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã một lần nữa khẳng định, Tiểu ban Nhân sự và Bộ Chính trị đã họp nhiều lần, xem xét một cách dân chủ, khách quan, toàn diện; rà soát chặt chẽ, kỹ lưỡng, bổ sung, hoàn chỉnh các phương án nhân sự theo đúng phương hướng, quy trình công tác nhân sự đã đề ra. Tại hội nghị này, Trung ương tiếp tục các bước chuẩn bị nhân sự cho nhiệm kỳ Đại hội XIII, tại hội nghị này Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh - "Hôm nay mới là bỏ phiếu giới thiệu để xem xét thôi, chứ chưa phải là bầu quyết định. Bầu là sau khi Đại hội đã bầu Trung ương rồi, Trung ương sau người ta mới bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư cơ. Chứ không phải chúng ta bầu, nhưng chúng ta có trách nhiệm chuẩn bị để Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư của khóa sau".

Như vậy, hội nghị lần này Trung ương mới chỉ thảo luận và bỏ phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII. Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội đã xuất hiện những thông tin xuyên tạc, bịa đặt về thông tin nhân sự Đại hội. Đa phần các video bịa đặt này đều có xuất xứ từ nước ngoài.

Chỉ ít giờ sau khi Hội nghị Trung ương 14 khai mạc, một tài khoản đã tung ra những clip xuyên tạc rằng "Bộ Chính trị ra "thông cáo" về tứ trụ nhân sự Đại hội XIII hay là "Bộ Chính trị thông báo "Tứ trụ tạm thời", Hội nghị Trung ương 14 đã quyết định "ông A" làm Tổng Bí thư khóa XIII. Phi lý hơn nữa đó là ngay từ đầu tháng 12 đã có những video giới thiệu về "chân dung tân Tổng Bí thư sau Đại hội XIII", thu hút tới hàng trăm nghìn lượt theo dõi.

Theo dõi kỹ thì đây một kênh Youtube chuyên dựng các video xuyên tạc, bịa đặt về tình hình Việt Nam. Những kẻ phản động, thù địch còn dựng lên hẳn một chuyên mục riêng có tên "Đại hội 13", với gần 700 video được sản xuất liên tục hàng ngày, hầu hết là thông tin bóp méo, gán ghép, quy chụp rất phản động. Để kích thích sự tò mò, hiếu kỳ của người xem, họ tạo ảnh đại diện cho mỗi video bằng cách cắt dán hình ảnh của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, rồi gắn vào đó những cụm từ rất giật gân, kích động và hoàn toàn xuyên tạc.

Càng gần đến Đại hội, hoạt động của những kẻ này không còn thực hiện đơn lẻ như trước mà sẽ tiến hành ráo riết theo kiểu "chiến dịch". Chúng sử dụng thủ đoạn "mưa dầm thấm lâu", tung tin theo kiểu nghe nhiều cũng thành quen, bé xé thành to.

Đặc biệt, tần suất tung tin xấu độc nhằm vào các đồng chí lãnh đạo cấp cao ngày càng gia tăng. Họ dùng các thủ đoạn tinh vi, thậm chí còn đưa ra thuyết âm mưu người này triệt hạ người kia để giữ được vị trí này, vị trí khác.

Không chỉ tạo lập các trang web, blog, các tài khoản mạng xã hội để tán phát thông tin bịa đặt, bóp méo mà cơ quan chức năng còn xác định được một số tổ chức đã chi rất nhiều tiền chạy quảng cáo cho các tài khoản này, để bài viết xuyên tạc tiếp cận được nhiều người xem nhất. Hoặc nhiều trang Facebook phản động đang giả dạng là những trang tin "tử tế" để tiếp cận người dùng, tăng lượng theo dõi thường xuyên rồi đan cài vào đó những nội dung phục vụ ý đồ xấu.

Cơ quan chức năng của Việt Nam đã chỉ rõ: Nhật ký yêu nước, Bùi Buôn Gió, Chim báo bão, Lê Trung Khoa hay Hội những người cầm bút can đảm… đều là những Fanpage, trang cá nhân thường xuyên đăng tải những thông tin xuyên tạc về công tác cán bộ, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao.

Không chỉ nhằm phá hoại Đại hội XIII, mục đích sâu xa hơn của những kẻ thù địch, phản động là rắp tâm chia rẽ Đảng với dân. Nhiều người dân vì nghe theo những thông tin không kiểm chứng đã bị tác động, thậm chí trong nội bộ không phải là không có những cán bộ suy thoái, cơ hội chính trị, đầy tham vọng cá nhân. Và đáng buồn và cũng rất đáng trách là khi nghe những thông tin đó, có một số cán bộ, đảng viên chẳng những không định hướng cho nhân dân mà còn hùa theo, đưa ra những bình phẩm, nhận định vô căn cứ, khiến thông tin càng thêm nhiễu loạn.

Càng gần đến thời điểm diễn ra Đại hội XIII, dự báo, việc tuyên truyền, phán tán thông tin xấu độc về nhân sự Đại hội sẽ diễn ra với mức độ gay gắt và tinh vi hơn. Vậy nên, những thông tin xấu, độc, nhiễu loạn cũng cần phải được nhận diện đúng và kịp thời, để mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nâng cao cảnh giác, tăng cường sức đề kháng, tránh sự a dua theo những thông tin xuyên tạc, bịa đặt.