Thứ Tư, 10 tháng 2, 2021

Kinh tế Việt Nam 2020 là điểm sáng trong khu vực và thế giới

Năm 2021 là năm đầu tiên của nhiệm kỳ lãnh đạo mới của Đảng và Nhà nước, do đó, đây là năm được kỳ vọng sẽ có nhiều bước đi mới, chính sách mới và hành động cụ thể để phát triển kinh tế-xã hội.

Năm 2020, Việt Nam nằm trong số ít có tăng trưởng kinh tế dương

Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô Quý 4 và cả năm 2020 do Viện nghiên cứu chính sách kinh tế (VEPR) vừa mới công bố mới đây, trước ảnh hưởng nghiêm trọng của COVID-19 lên kinh tế toàn cầu, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có mức tăng trưởng kinh tế dương trong Quý 4/2020, đạt 4,48%. Tính chung năm 2020, cả nước có 134,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là hơn 2.235,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 1.043 nghìn lao động, giảm 2,3% về số doanh nghiệp, tăng 29,2% về vốn đăng ký và giảm 16,9% về số lao động so với năm 2019. CPI bình quân năm tăng 3,23%, nằm trong mức mục tiêu. Tỷ giá trung tâm có xu hướng giảm trong suốt Quý 4/2020, kết thúc quý ở mức 23.131 VND/USD. Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng giảm nhẹ, kết thúc ở 23.215 VND/USD. Nhìn chung, giá vàng trong nước đang theo sát những bước tiến của giá vàng thế giới. Với triển vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm, dự báo trong quý tới giá vàng trong nước có thể vẫn ở mức cao.

Kinh tế Việt Nam trong năm 2020 là điểm sáng trong khu vực, tăng 2,91% - mức tăng trưởng dương hiếm hoi, đứng vào nhóm tốt nhất so với các nước trong khu vực và thế giới. Những yếu tố có thể hỗ trợ cho tăng trưởng bao gồm: Chính phủ kiểm soát tốt dịch bệnh từ giai đoạn sớm giúp duy trì hoạt động kinh tế trong nước, kỳ vọng về triển vọng kinh tế do việc hoàn tất ký kết Hiệp định thương mại tự do và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVFTA và IPA) đem lại; tiến độ giải ngân và thi công các dự án đầu tư công trọng điểm được đẩy nhanh hơn; làn sóng dịch chuyển đầu tư và thương mại nhằm phân tán rủi ro từ cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung; môi trường vĩ mô ổn định, lạm phát kiểm soát được ở mức chấp nhận được, tạo môi trường cho việc thực thi các chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Tuy vậy, Việt Nam cũng đang gặp nhiều rủi ro và thách thức trong một môi trường kinh tế thế giới bất trắc.

Sự tái bùng phát của COVID-19 tại nhiều nước đi kèm với các biện pháp phong tỏa tiếp tục kéo dài thời gian đứt gãy của chuỗi cung ứng trong năm 2021 khiến sức chịu đựng của doanh nghiệp ngày càng yếu hơn; xung đột địa chính trị giữa các nước lớn có thể khiến một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam đối diện những rủi ro bất ngờ. Bên cạnh đó, điểm yếu của kinh tế Việt Nam còn đến từ các rủi ro nội tại như mất cân đối tài khóa lớn, tốc độ và mức độ đầu tư phát triển, đặc biệt là hạ tầng, còn chậm cho hiệu quả quản lý thấp; sức khỏe hệ thống ngân hàng – tài chính tuy dần được củng cố nhưng còn dễ tổn thương; sự phụ thuộc nặng nề của tăng trưởng vào khu vực FDI, thiếu tự chủ công nghệ và nguyên liệu; chất lượng lao động thấp và chậm cải thiện; hiệu quả đầu tư công thấp và tình trạng nhũng nhiễu của bộ máy công quyền còn nặng nề; tiến trình cổ phần hóa DNNN bị ngưng trệ, môi trường và thể chế kinh doanh dù từng bước được cải thiện nhưng về căn bản chưa giải phóng được sức mạnh của doanh nghiệp.

Đưa phương án 2 kịch bản với kinh tế Việt Nam trong 2021

Cân nhắc những yếu tố tích cực cũng như tiêu cực đang tác động lên nền kinh tế Việt Nam hiện nay, VEPR đưa ra các dự báo về tăng trưởng theo các kịch bản khác nhau về tình hình bệnh dịch. Với điều kiện dịch COVID-19 tiếp tục được khống chế ổn định ở trong nước và kinh tế thế giới bắt đầu khởi sắc do các biện pháp phong tỏa được dần gỡ bỏ, dự báo kinh tế Việt Nam năm 2021 có thể đạt mức tăng trưởng trong khoảng 5,6 - 5,8%. Tuy nhiên, nếu dịch bệnh, đặc biệt với biến thể mới, diễn biến phức tạp ở trong nước khiến hoạt động kinh tế nội địa bị gián đoạn, thì năm 2021 có thể không đạt được mức tăng trưởng của năm 2020.

Theo đó, với kịch bản cơ sở: Trong kịch bản này, bệnh dịch không lan rộng trong nước trong phần lớn thời gian của năm và hoạt động kinh tế nội địa tiếp hoạt động bình thường với sự dần trở lại trạng thái bình thường của kinh tế toàn cầu. Đặc biệt, bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới có thể tái xuất hiện cục bộ trên quy mô nhỏ ở một số quốc gia. Như vậy, mức độ tác động của COVID - 19 lên các ngành nông lâm ngư nghiệp, sản xuất chế biến chế tạo và các ngành trong khu vực dịch vụ sẽ không nghiêm trọng hơn so với năm 2020. Tăng trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 5,6 – 5,8%.

Kịch bản bất lợi: Ở kịch bản này, bệnh dịch trong nước bùng phát với biến thể mới của virus COVID-19 trong năm 2020 khiến hoạt động kinh tế bị gián đoạn. Đồng thời, bệnh dịch ở nhiều trung tâm kinh tế - tài chính quan trọng trên thế giới không có nhiều cải thiện, dù các nỗ lực đưa vaccine vào đời sống đã diễn ra, nhưng hiệu quả tới người dân chưa đạt quy mô lớn. Việc đi lại trên thế giới chưa phục hồi. Do đó, dịch vụ lưu trú và ăn uống không có động lực hồi phục do thiếu khách du lịch nước ngoài, trong khi nhu cầu trong nước với các loại hình dịch vụ này cũng bị hạn chế do tình trạng hạn chế đi lại và sinh hoạt do bệnh dịch. Hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực tư nhân, bắt đầu bộc lộ những tổn thương lớn do khả năng chống chọi dần suy kiệt. Đầu tư công tiếp tục được thúc đẩy nhằm hỗ trợ tổng cầu. Tăng trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 1,8 - 2,0%.

Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế vẫn nghiêng về kịch bản cơ sở hơn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam nhiều khả năng sẽ đạt mức tăng trưởng trong khoảng 5,6 – 5,8% trong cả năm 2021. Các chuyên gia cũng đặc biệt lưu ý rằng, cả hai kịch bản nêu trên đều giả định hệ thống ý tế trong nước vẫn chống chọi được với dịch bệnh trong nước. Nếu quy mô dịch bệnh vượt quá tải của hệ thống y tế, thì các nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề, khó dự báo được hậu quả sẽ ra sao.

Cần đồng bộ chính sách và giải pháp hỗ trợ thúc đẩy hỗ trợ tăng trưởng

Căn cứ vào các phân tích từ thực tiễn và trên kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia kinh tế phân tích, trong năm 2020, Ngân hàng nhà nước đã ba lần hạ các công cụ lãi suất điều hành. Bên cạnh đó, gói hỗ trợ tín dụng 250 nghìn tỷ VND vẫn đang được các ngân hàng thương mại triển khai. Tuy nhiên, không gian chính sách không còn rộng rãi như vậy trong năm 2021. Điều ấy khiến chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội sẽ gặp nhiều hạn chế hơn. Do nguồn lực tài khóa hạn hẹp sau nhiều năm thâm hụt ngân sách, cùng với việc chính sách tiền tệ bị ràng buộc với các mục tiêu về lạm phát và tỷ giá, Việt Nam không thể theo đuổi các chính sách vĩ mô theo cách tương tự như các nước khác trên thế giới, ví dụ như nới lỏng tiền tệ quy mô lớn.

Thêm vào đó, việc phòng chống dịch COVID-19 và trợ cấp an sinh xã hội do ảnh hưởng của dịch bệnh cũng đang tạo áp lực lớn lên cán cân ngân sách. Ưu tiên hàng đầu lúc này là đảm bảo an sinh xã hội, giữ ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động và hỗ trợ các doanh nghiệp còn hoạt động.

Các chính sách an sinh xã hội vẫn cần được ưu tiên hàng đầu và cần phải được tiếp tục triển khai nhanh chóng, đúng đối tượng, trước khi người dân rơi vào những bi kịch không đáng có. Đặc biệt, việc thực thi chính sách cần quan tâm hơn đến lao động trong khu vực phi chính thức bởi nhóm này chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác động nặng nề nhất và đang khó tiếp cận các chính sách hỗ trợ. Trong khi đó, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần tiếp tục được thực hiện theo hướng khẩn trương, tập trung, đúng đối tượng và thực chất hơn, theo sát với nhu cầu của doanh nghiệp. Việc khoanh/ngưng, miễn giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp như lãi vay, tiền thuê đất cần tiếp tục được triển khai, bên cạnh đó cần cân nhắc cắt giảm kinh phí công đoàn để hỗ trợ doanh nghiệp. Với nhóm doanh nghiệp không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh hoặc có hướng chuyển đổi hiệu quả, nên khuyến khích tín dụng, tạo điều kiện về môi trường thể chế và chính sách ngành. Trong trường hợp có các ý tưởng chính sách để hỗ trợ đặc biệt cho các doanh nghiệp cụ thể, thì các chính sách này cần đi theo hướng kích cầu, hỗ trợ người tiêu dùng thanh toán chi phí mua sản phẩm/dịch vụ của hãng, thay vì tài trợ trực tiếp cho hãng.

Báo cáo của VEPR cũng cho rằng việc giãn/giảm thuế, nếu có, chỉ nên được áp dụng với thuế VAT thay vì thuế TNDN, vì giảm thuế TNDN chỉ hỗ trợ được số ít doanh nghiệp không bị ảnh hưởng hoặc đang hưởng lợi từ các tác động của dịch bệnh, chứ không giúp được đa số các doanh nghiệp đang gặp khó khăn. Từ đó, việc giảm thuế TNDN còn có nguy cơ tạo ra bất bình đẳng sâu sắc hơn trong môi trường kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến việc phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Điều đáng lo ngại nhất hiện nay là khả năng giải ngân các gói cứu trợ xã hội, do mạng lưới thực thi kém hiệu quả và thủ tục hành chính phức tạp, khó tiếp cận. Việc thiết kế lại kế hoạch thực thi chính sách là vô cùng cần thiết để các gói cứu trợ thực sự có hiệu quả. Thực tế, gói cứu trợ lần hai ở thời điểm này là không cần thiết, bởi khi gói cứu trợ lần một còn chưa được giải ngân một cách hiệu quả thì gói cứu trợ lần hai nhiều khả năng chỉ gây thêm gánh nặng cho ngân sách thay vì thực sự tạo được ảnh hưởng tích cực trong nền kinh tế.

Trên phương diện sản xuất, cả khi bệnh dịch trong nước được kiểm soát hoàn toàn thì nhiều ngành dịch vụ và sản xuất ra xuất khẩu có thể sẽ còn gặp khó khăn lâu dài một khi bệnh dịch còn chưa hoàn toàn biến mất ở các khu vực kinh tế – tài chính quan trọng trên thế giới. Do vậy, đẩy nhanh đầu tư công, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, đã được phê duyệt và đã được bố trí vốn thực hiện trong các tháng còn lại của năm là việc nên làm để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Việc chia nhỏ ra làm nhiều gói thầu và thực hiện rải rác ở nhiều địa phương để tạo sự lan tỏa tốt hơn cũng có thể được cân nhắc. Đồng thời, cắt giảm ngân sách thường xuyên tối thiểu 10% nên được thực hiện một cách cương quyết nhằm dành nguồn lực cho việc khắc phục những hậu quả do bệnh dịch gây ra, đồng thời chia sẻ với nhân dân cả nước trong giai đoạn khó khăn.

Chính sách tiền tệ, cụ thể là công cụ lãi suất trong năm 2021 sẽ giảm hiệu quả đáng kể. Đặc biệt, cần lưu ý tình trạng bong bóng tài sản đang hình thành trên thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản. Thực tế thì trong năm 2020, các thị trường tài sản đã có sự tăng trưởng đáng kể, chủ yếu vì đó là nơi trú ẩn cho khoản tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư và hộ gia đình. Điều này có thể hiểu được trong giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, việc lãi suất huy động tiền gửi liên tục hạ do cầu tín dụng giảm, đang đẩy dòng tiền tiết kiệm ra khỏi ngân hàng ngày càng nhanh hơn. Thêm vào đó, khi mức tăng giá trên các thị trường tài sản đủ lớn để tạo ra hiệu ứng của cải (wealth effect) thì mức tiêu dùng sẽ tăng đối với các mặt hàng không phải thiết yếu. Điều này dẫn tới sự lan tỏa của sự tăng giá từ thị trường tài sản sang thị trường tiêu dùng, dù chậm chạp, nhưng có thể cảm nhận được. Đây cũng là một biểu hiện của hiện tượng tăng giá khi chính sách nới lỏng tiền tệ được theo đuổi trong thời gian đủ dài. Đây là thời điểm khó khăn trong chính sách tiền tệ vì việc thắt chặt trở lại trong bối cảnh nền sản xuất vẫn chưa có cải thiện ở cấp độ căn bản (fundamentals), sẽ dẫn tới khó khăn hơn nữa cho khu vực doanh nghiệp thực.

Trong mọi tình huống, ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể là lạm phát, lãi suất và tỷ giá cần được duy trì ổn định, là hết sức cần thiết để chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi sau bệnh dịch. Đa dạng hóa thị trường xuất/nhập khẩu cũng cần được chú trọng hơn nữa nhằm tránh phụ thuộc nặng nề vào một số đối tác kinh tế lớn. Trong khó khăn, nhiều bất cập trong việc điều hành chính sách kinh tế cũng đã bộc lộ nên các nỗ lực cải thiện thủ tục hành chính,  môi trường kinh doanh cần tiếp tục được duy trì.

Hơn nữa, các chính sách hữu ích nhất trong bối cảnh hiện nay là các chính sách trọng cung, nhằm củng cố các yếu tố nền tảng của nền kinh tế. Cụ thể, đó là các chính sách cải cách hành chính, nâng cao chất lượng bộ máy quản lý nhà nước, đặc biệt ở địa phương, nhằm cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp và người dân. Bên cạnh đó là những nhóm chính sách vẫn được kêu gọi cần thực hiện trong suốt những năm qua nhưng chưa được thực hiện quyết liệt và hữu hiệu, từ lĩnh vực giáo dục cho tới tài chính-ngân hàng, từ khoa học-công nghệ đến cơ sở hạ tầng, từ chính sách ngành tới cải cách doanh nghiệp nhà nước … đều cần tiếp tục thúc đẩy với một tinh thần mới và phương pháp mới, tôn trọng thị trường nhiều hơn, đặt người dân vào trung tâm, và tôn trọng các xu thế phát triển mới./.

 

Vững niềm tin

Nhân dịp Tết Tân Sửu 2021 đang đến, chào mừng thành công Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, tác giả Võ Đình Liên viết bài thơ "Vững niềm tin". Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc:

Mừng Đảng ta,

91 năm, 13 kỳ Đại hội,

Màu cờ đỏ niềm tin chói lọi.

Đảng dẫn dắt dân tộc Việt đấu tranh.

Giành độc lập, tự do,

Quyền dân chủ, ấm no,

Cho nhân dân đất nước.

*

Đảng, Bác Hồ lấy chính nghĩa, vì dân,

Dương cao cờ búa liềm, yêu nước.

Đoàn kết toàn dân,

Vượt gian khó tiến lên vững bước.

Thắng xâm lăng, giữ yên bình,

Phát triển đất nước văn minh.

*

Hội nhập bốn phương,

Liên kết kinh tế, gìn giữ hoà bình.

Ước thế giới xoá bỏ bất công,

Không bành trướng, lộng quyền,

Không một người dân khổ đau nghèo đói.

*

Đảng anh minh vừng dương vẫy gọi,

Ánh hào quang toả chiếu muôn nơi.

Việt Nam đất nước rạng ngời,

Công ơn Đảng, Bác bao đời khắc ghi.

 

Võ Đình Liên

 

 

Tết ấm áp đến với mọi người, mọi nhà

 Với truyền thống tương thân tương ái, mỗi dịp Tết đến, xuân về, trên mọi miền tổ quốc lại sôi nổi diễn ra các hoạt động chăm lo Tết cho các gia đình có công với cách mạng, các hộ nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn…

Nhiều năm qua, dù điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn song Đảng và Nhà nước luôn chú trọng và có nhiều chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân, để không ai bị bỏ lại phía sau trong sự phát triển chung của đất nước. Đặc biệt, việc quan tâm chăm lo Tết cho người nghèo và gia đình chính sách đã trở thành một phần trong chính sách an sinh xã hội, thể hiện nghĩa cử cao đẹp, truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc mỗi khi Tết đến, Xuân về.

Năm 2020, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, các cấp, các ngành, các địa phương vẫn nỗ lực duy trì các chương trình, hoạt động chăm lo Tết cho người dân, bảo đảm mọi người, mọi nhà đều được vui xuân đón Tết vui vẻ, đầm ấm. Vì vậy, thông điệp đậm chất nhân văn “Không để ai bị bỏ lại phía sau” lại càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết, nhất là với các đối tượng yếu thế trong xã hội…!

Trước Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, vào ngày 9/12/2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị 48-CT/TW năm 2020 về việc tổ chức Tết năm 2021. Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp phát huy truyền thống văn hoá đoàn kết, "tương thân, tương ái" của dân tộc, quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong dịp Tết, bảo đảm mọi nhà, mọi người đều được vui xuân, đón Tết.  Đặc biệt, quan tâm chăm lo các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn, hộ nghèo, đồng bào vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số, miền núi, công nhân, người lao động làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp...

Và cũng như mọi năm, để chăm lo Tết cho người nghèo, đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, bảo đảm ai cũng có Tết, vui tươi, lành mạnh và tiết kiệm, ngay từ đầu tháng 12/2020, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có công văn chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, tổng hợp số hộ, số khẩu có nguy cơ thiếu đói trong dịp tết Nguyên đán Tân Sửu và giáp hạt đầu năm 2021; chủ động huy động nguồn lực, trong đó có ngân sách địa phương để hỗ trợ kịp thời cho các hộ thiếu đói, nhất là các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai; chủ động xây dựng kế hoạch thăm hỏi, tặng quà và trợ giúp xã hội trong dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021; vận động các tổ chức, cá nhân và bố trí ngân sách địa phương...

Thông tin khiến nhiều người ấm lòng là ngay từ những ngày giữa tháng 1/2021, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký quyết định về việc tặng quà người có công với cách mạng. Dù việc này đã trở thành việc làm thường xuyên, liên tục mỗi dịp xuân về, Tết đến, song tin vui là so với năm 2020, mức quà tặng dịp tết Nguyên đán 2021 dành cho người có công được điều chỉnh chỉnh tăng 1,5 lần, theo 2 mức 600.000 đồng và 300.000 đồng/người. Tổng kinh phí tặng quà tết người có công với cách mạng dịp này là gần 518 tỉ đồng.

Bên cạnh đó, các Bộ, ngành, Mặt trận tổ quốc Việt Nam các cấp đã có nhiều hoạt động thiết thực, phong phú huy động nguồn lực của địa phương, đóng góp của doanh nghiệp, cá nhân để chăm lo Tết cho các hộ gia đình chính sách, hộ gia đình nghèo bị thiên tai, bão lũ, vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; các hộ gia đình nghèo chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh COVID - 19, các hộ nghèo là công nhân viên chức, người lao động làm việc ở những khu vực khó khăn.

Được biết, tính đến ngày 27/01/2021, các địa phương đã huy động được hơn 1.820 tỷ đồng, trong đó nguồn xã hội hóa hơn 187 tỷ đồng để hỗ trợ Tết cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn với mức từ 300.000 đồng - 500.000 đồng/người.

Cùng với đó, các địa phương đã có kế hoạch, chủ động chăm lo Tết cho các đối tượng; bố trí ngân sách chi trả trợ cấp xã hội đầy đủ, kịp thời cho hơn 3,1 triệu đối tượng bảo trợ xã hội đang sống tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng cho hơn 50 nghìn đối tượng tại các cơ sở trợ giúp xã hội trong cả nước.

Điêu rất đáng mừng là một số địa phương có điều kiện như Thành phố Hà Nội quyết định trích ngân sách hơn 371 tỷ đồng, Thành phố Hồ Chí Minh hơn 813 tỷ đồng; Thành phố Đà Nẵng hơn 52 tỷ đồng để tặng quà cho người có công với cách mạng, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội với mức từ 1.100.000 đồng - 1.500.000 đồng/người.

Để không ai bị đói, đứt bữa trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt, tính đến ngày 01/02/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 03 Quyết định hỗ trợ tổng số 11.580,915 tấn gạo cứu đói cho 221.875 hộ với 772.061 nhân khẩu trong dịp tết Nguyên đán Tân Sửu và giáp hạt đầu năm 2021. Việc xuất cấp gạo hỗ trợ người dân trong dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc có ý nghĩa thiết thực, mang đậm chất nhân văn, thể hiện tinh thần “tương thân tương ái” sẻ chia của Chính phủ đối với bà con vùng đặc biệt khó khăn, vùng thiên tai, mất mùa… Đặc biệt là giúp người nghèo, những hộ dân còn khó khăn về lương thực được "đỏ lửa" trong những ngày Tết nguyên đán cổ truyền của dân tộc.

Bên cạnh đó, với tinh thần lá lành đùm lá rách, nhiều chương trình chung tay vì người nghèo đã được tổ chức trên khắp cả nước, góp phần giúp bà con đón Tết cổ truyền đầm ấm.

Theo Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, thông qua phong trào “Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam” Xuân Tân Sửu 2021, đến ngày 8/2, cả nước đã vận động và trao tặng hơn 1,5 triệu suất quà cho người nghèo, nạn nhân chất độc da cam với tổng trị giá hơn 750 tỷ đồng.

Việc tặng quà diễn ra theo hình thức hỗ trợ trực tiếp (tiền mặt, hàng hóa) và các hình thức hỗ trợ khác, như xây dựng, sửa chữa nhà ở cho hộ nghèo, hộ có thành viên bị ảnh hưởng bởi chất độc dam cam/dioxin; tặng thẻ bảo hiểm y tế, tổ chức khám, chữa bệnh miễn phí cho người có hoàn cảnh khó khăn; tặng học bổng cho học sinh nghèo vượt khó; tặng bò sinh sản, hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo vươn lên...

Điểm mới của phong trào năm nay là các cấp Hội Chữ thập đỏ tổ chức "Phiên chợ Tết nhân đạo" tại nhiều tỉnh, thành phố. Tại đây, những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn được phát phiếu mua hàng trị giá 0 đồng để đổi quà, gồm tiền mặt và hàng hóa thiết yếu phục vụ các gia đình đón Tết Nguyên đán Tân Sửu… Nhiều tỉnh, thành triển khai Chợ Tết nhân đạo lưu động, vận chuyển xe hàng Tết đến với bà con vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Tết đang đến rất gần, trên mọi miền tổ quốc vẫn sôi nổi diễn ra các hoạt động chăm lo Tết cho các gia đình có công với cách mạng, các hộ nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn bằng các hình thức phù hợp với tình hình, diễn biến và chỉ đạo về phòng, chống dịch COVID-19. Đặc biệt, nhiều ngày qua, các đồng chí lãnh đạo thay mặt Đảng và Nhà nước đã đi thăm và tặng quà các gia đình tại nhiều địa phương trong cả nước.

Những việc làm thiết thực này đã góp phần hỗ trợ, động viên, giảm bớt nỗi lo lắng của những người có hoàn cảnh khó khăn trên cả nước, để mọi người đều được đón Tết đầm ấm, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, không ai bị bỏ lại phía sau./.

Kết quả của Đại hội đã thể hiện ý Đảng, lòng dân

 Sau 8 ngày làm việc nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả, Đại hội XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp. Được đánh giá là một sự kiện chính trị quan trọng, Đại hội đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều tầng lớp Nhân dân. Theo ghi nhận của phóng viên, đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong cả nước đã hết sức vui mừng, phấn khởi trước thành công của Đại hội; đồng thời, bày tỏ niềm tin, sự kỳ vọng vào mục tiêu, đường lối được xác định tại Đại hội.

Trong thời gian diễn ra Đại hội, ông Bùi Đình Quyển, nguyên Bí thư Huyện ủy Phú Xuyên (Hà Nội) thường xuyên đọc báo, nghe tin, theo dõi diễn biến của Đại hội và các nội dung được Đại hội thảo luận, thông qua. Theo ông, Đại hội XIII của Đảng có nhiều đổi mới, coi trọng dân chủ, niềm tin và nguyện vọng của nhân dân. Các nội dung thảo luận, trao đổi tại Đại hội rất cụ thể, đi vào chiều sâu. Đồng thời, Đại hội có những chỉ đạo chặt chẽ, sát sao, thể hiện tình đoàn kết, sức chiến đấu trong nội bộ Đảng. “Kết quả của Đại hội XIII đã thể hiện ý Đảng, lòng dân; thể hiện sự đoàn kết, tập trung, dân chủ. Tôi luôn tin sau thành công của Đại hội, đất nước ta sẽ có những bước chuyển mới trên con đường phát triển”, ông Bùi Đình Quyển khẳng định.

Đồng tình với ý kiến trên, là một đảng viên trẻ, anh Kim Ngọc Hải (Hà Nội) cho biết: Bản thân tôi luôn tin vào thành công của Đại hội XIII vì thực tế Đại hội được chuẩn bị rất cẩn trọng, bài bản trong từng bước, từ khâu chuẩn bị các văn kiện đến công tác nhân sự. Kết quả là Đại hội đã diễn ra rất thành công. Bên cạnh những quan điểm, đường lối lãnh đạo mang tính chiến lược, Đại hội còn xác định những mục tiêu cụ thể: đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. “Những mục tiêu này đồng thời cũng là mong mỏi chung của toàn dân. Với sự lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết, đồng lòng của các tầng lớp nhân dân, tôi tin là chúng ta sẽ hoàn thành những mục tiêu này”.

Từng là cán bộ quân đội có nhiều năm trực tiếp làm về công tác cán bộ, Trung tướng Đặng Nam Điền, nguyên Chính ủy Học viện Hậu cần (Bộ Quốc phòng) dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác nhân sự tại Đại hội. Theo đánh giá của Trung tướng Đặng Nam Điền, các đại biểu tham dự Đại hội đều có tinh thần trách nhiệm cao khi thay mặt cho hơn 5 triệu đảng viên và cho toàn dân để lựa chọn ra những người lãnh đạo xứng đáng bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Thực tế, những đồng chí tái cử cũng như những đồng chí mới tham gia Ban Chấp hành Trung ương lần này đều là những đảng viên ưu tú, tiêu biểu, được rèn luyện qua thực tiễn, được tổ chức và quần chúng ghi nhận. Nguyên Chính ủy Học viện Hậu cần chia sẻ: “Bác Hồ đã dạy, cán bộ là gốc của mọi công việc. Có thể thấy, quá trình chuẩn bị Đại hội, nhất là tại Hội nghị Trung ương lần thứ 15 và trong quá trình diễn ra Đại hội XIII, công tác nhân sự đã được chuẩn bị, lựa chọn rất kỹ càng, đúng nguyên tắc. Những đồng chí trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lần này đều là những người đủ đức, đủ tầm, đủ tài”.

Ở góc nhìn khác, đồng chí Nguyễn Thị Hoàn, đảng viên sinh hoạt tại Đảng bộ Ngân hàng Nhà nước tỉnh Hòa Bình chia sẻ, trong những năm gần đây, kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã củng cố thêm niềm tin của Nhân dân với Đảng. Thành công của Đại hội XIII cùng những phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp tục thắp sáng niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân cả nước. Thành công lớn nhất của Đại hội XIII đó là đã đề ra đường lối chính xác, phù hợp và lựa chọn được đội ngũ cán bộ đủ mạnh, đủ tâm, đủ tầm, tiếp tục lãnh đạo đất nước vững bước trên con đường phát triển. Mong mỏi chung của người dân là sau thành công của Đại hội, những nội dung của Nghị quyết cần sớm đi vào cuộc sống; các cấp, các ngành cần nhanh chóng tổ chức quán triệt Nghị quyết và xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII một cách hiệu quả.

Đại hội XIII của Đảng thành công tốt đẹp, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cả nước càng thêm vững tin vào sự đổi mới phát triển của đất nước. Thành công của Đại hội XIII cũng sẽ cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

 

Chiến tranh biên giới 1979: Huênh hoang tuyên bố "ăn sáng ở Hà Nội, ăn trưa ở Huế, ăn tối ở Sài Gòn", quân TQ thảm bại

 

Chiến tranh biên giới 1979: Huênh hoang tuyên bố "ăn sáng ở Hà Nội, ăn trưa ở Huế, ăn tối ở Sài Gòn", quân TQ thảm bại

Với những tổn thất to lớn do trang bị kém, ít kinh nghiệm chiến đấu, phương án tác chiến tệ hại, cùng sức ép từ biên giới Xô-Trung, ngày 5.3.1979, Trung Quốc buộc phải rút quân.

Vốn đã sẵn âm mưu chống phá Việt Nam, trong tình thế tay sai Khmer Đỏ bị đánh cho tơi bời và đứng trước nguy cơ bị xóa sổ - nhà cầm quyền Trung Quốc khi đó đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới vào ngày 17.2.1979 nhằm cứu nguy cho bè lũ Polpot.

Nguyên nhân - Mục đích - Lực lượng và Biện pháp

Là hai quốc gia láng giềng của nhau, "núi liền núi, sông liền sông" - như lời một bài hát song lịch sử bang giao giữa hai nhà nước Việt Nam - Trung Quốc có nhiều khúc quanh co, gập ghềnh.

Năm 1949, Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Với một ý thức hệ có nhiều điểm tương đồng, Trung Quốc đã có những giúp đỡ rất quan trọng đối với Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.Từ sau khi Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng chấm dứt ngót 1.000 năm "Bắc thuộc", giành lại nền độc lập cho nước nhà thì các triều đại phong kiến Trung Quôc đã nhiều lần cất quân xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh xâm lược đó trước sau đều bị quân dân Việt Nam đánh cho đại bại.

Tuy nhiên, với bản chất "sô-vanh" nước lớn, sự giúp đỡ đó cũng không hoàn toàn trong sáng mà luôn đi kèm theo đó là những mục đích phục vụ cho những lợi ích của họ.

Những năm 60 của thế kỷ trước, thất bại trong việc lôi kéo Việt Nam chống Liên Xô và hành động theo ý mình trong đánh Mỹ, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã trở mặt, bắt tay với Mỹ chống phá Việt Nam.

Khi nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thì sự chống phá của Trung Quốc với Việt Nam càng trở nên rõ ràng. Đã nhiều lần, các lãnh đạo Trung Quốc gọi Việt Nam là "tiểu bá" và tuyên bố sẽ "trừng phạt" bằng quân sự.

Lo ngại về một nước Việt Nam láng giềng thống nhất, hùng mạnh trong tương lai không xa, Trung Quốc đã có những âm mưu rất thâm hiểm để ngăn cản quá trình đó.

Ngoài việc cắt đứt viện trợ, ngăn cản thông thương, tạo ra vụ "nạn kiều" nhằm phá hoại nền kinh tế Việt Nam thì Trung Quốc còn nuôi dưỡng bọn tay sai Khmer Đỏ làm tên lính xung kích chống phá nước ta từ phía Tây Nam, tạo nên một gọng kìm hòng "bóp chết" Việt Nam.

Chiến tranh biên giới 1979: Huênh hoang tuyên bố ăn sáng ở Hà Nội, ăn trưa ở Huế, ăn tối ở Sài Gòn, quân TQ thảm bại - Ảnh 2.

Bất chấp sự chống phá có hệ thống của Trung Quốc, nhân dân Việt Nam vẫn kiên trì con đường độc lập của mình.

Không chỉ vậy, bằng đòn phản công vũ bão, chỉ trong vòng 1 tuần lễ, quân đội nhân dân Việt Nam cùng với lực lượng của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia đã đánh tan hàng chục sư đoàn chủ lực Khmer Đỏ, giải phóng thủ đô Phnom Pênh, cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng.

Vốn đã sẵn âm mưu tiến công Việt Nam, trong tình thế ấy, để cứu nguy cho bọn tay sai Khmer Đỏ, nhà cầm quyền Trung Quốc đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược VN trên toàn tuyến biên giới vào ngày 17.2.1979 với cái cớ hết sức nực cười là "phản công tự vệ".

Để thực hiện mục đích đó, tư tưởng chỉ đạo được nhà cầm quyền Trung Quốc đặt ra cho cuộc chiến tranh là "đánh nhanh, thắng nhanh", "đốt sạch, phá sạch" với sự tham gia của hai Đại quân khu Quảng Tây và Côn Minh quân số tổng cộng lên đến 600.000 người cùng hàng nghìn phương tiện chiến tranh.

Binh pháp truyền thống của Quân đội Trung Quốc đã được nhấn mạnh đó là việc dùng hai đội quân nhằm "Tập trung biển người để bao vây quân địch từ hai bên sườn nhằm tiêu diệt từng bộ phận quân địch bằng những trận đánh hủy diệt theo phương thức đánh nhanh rút gọn".

Nguyên tắc chủ đạo khi giao chiến là "ngưu đao sát kê" (dùng dao mổ trâu để giết gà) gồm ba điểm: tập trung tấn công vào vị trí quan trọng nhưng không phải điểm mạnh của quân địch; sử dụng lực lượng và hỏa lực áp đảo (tiền pháo hậu xung) để đập tan hàng phòng ngự của đối phương tại những những điểm mấu chốt; các đơn vị xung kích phải hết sức nhanh chóng thọc sâu và tấn công sào huyệt đối phương.

Ảo tưởng vào sự áp đảo binh lực và sự sáng suốt của binh pháp chiến thuật, một lãnh đạo chủ chốt của Trung Quốc đã huênh hoang tuyên bố trên truyền thông trước khi mở màn chiến dịch: "Trung Quốc sẽ ăn sáng tại Hà Nội, ăn trưa tại Huế và ăn tối tại Sài Gòn".

Diễn biến - Kết quả và những bài học

Sáng sớm ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc huy động tổng cộng khoảng 25 sư đoàn chính quy (từ 200.000 đến 250.000 quân) cùng gần 600 xe tăng và nhiều loại phương tiện chiến đấu khác bất ngờ đánh chiếm toàn tuyến biên giới dài 1.400 km tại 6 tỉnh biên giới của Việt Nam.

Do các lực lượng chính quy và tinh nhuệ nhất của Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia nên để chống trả lại cuộc xâm lược này của Trung Quốc chủ yếu là các dân quân, địa phương quân, du kích và công an biên phòng cùng một số sư đoàn: 338, 346, sư đoàn 3 Sao Vàng.

Tổng cộng phía Việt Nam chỉ có từ 100.000 đến 120.000 quân, chủ yếu là dân quân cho công cuộc phòng thủ này.

Với lợi thế quen thuộc địa hình và kinh nghiệm trong chiến tranh chống Mỹ cùng tinh thần chiến đấu dũng cảm đã thành truyền thống, các lực lượng phòng thủ phía Việt Nam đã gây cho Trung Quốc những tổn thất rất lớn khiến chúng không tràn xuống được vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Về phía Liên Xô cũng có những hành động ủng hộ Việt Nam hết sức kịp thời: Hạm đội Thái Bình Dương lập tức dàn lực lượng hỗ trợ bảo vệ toàn bờ biển Việt Nam, 40 sư đoàn Hồng quân Liên Xô áp sát biên giới Xô-Trung, các máy bay vận tải Liên Xô lập cầu không vận để chuyển một số đơn vị chủ lực đang chiến đấu tại Campuchia ra phía Bắc để chuẩn bị phản công.

Chiến tranh biên giới 1979: Huênh hoang tuyên bố ăn sáng ở Hà Nội, ăn trưa ở Huế, ăn tối ở Sài Gòn, quân TQ thảm bại - Ảnh 4.

Máy bay vận tải liên Xô lập cầu không vận đưa một số đơn vị chủ lực đang chiến đấu tại Campuchia ra phía Bắc.

Lệnh tổng động viên được ban bố, khắp Hà Nội các hào chiến đấu, hầm chống bom được đào nhanh chóng. Phòng tuyến sông Cầu, chốt chặn thị xã Bắc Giang được gấp rút xây cất chờ đợi tặng cho bọn xâm lược Trung Quốc những bài học đẫm máu nếu chúng dám tràn xuống đồng bằng để đánh chiếm Hà Nội.

Với những tổn thất to lớn do quân số trang bị kém, ít kinh nghiệm chiến đấu, phương án tác chiến đạt hiệu quả thấp, cộng với sức ép từ biên giới Xô-Trung và từ cộng đồng quốc tế - ngày 5.3.1979, Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân.

Các đơn vị quân chính quy của Việt Nam được tiếp vận từ Campuchia lên hoàn toàn chưa kịp tham chiến.

Cuộc chiến tuy ngắn ngày: chỉ từ sáng 17.2 đến 5.3 năm 1979, và từ 5.3 đến 16.3 cho giai đoạn Trung Quốc rút quân về nước nhưng vô cùng khốc liệt.

Ngoài việc đánh chiếm các tỉnh biên giới Việt Nam hòng mở đường tiến về Hà Nội, Trung Quốc còn thực hiện việc phá huỷ đến mức hoàn toàn tất cả các cơ sở hạ tầng, nhà máy, cầu cống, nhà ở, trường học, trạm xá, bệnh viện v.v.... của các tỉnh biên giới Việt Nam và giết hại nhiều dân thường Việt Nam.

Tuy nhiên, cuộc chiến do Trung Quốc châm ngòi và phát động để "dạy cho Việt Nam một bài học" đã mang lại cho chính họ những thiệt hại nặng nề.

Chiến tranh biên giới 1979: Huênh hoang tuyên bố ăn sáng ở Hà Nội, ăn trưa ở Huế, ăn tối ở Sài Gòn, quân TQ thảm bại - Ảnh 5.

Theo một số tài liệu phương Tây, Trung Quốc đã mất đến 45.000 quân. Còn theo phía Việt Nam ước tính thì Trung Quốc có thể đã mất 30.000 quân, số bị thương cũng khoảng 30.000, gần 300 xe tăng thiết giáp bị bắn cháy.

Cuộc chiến đã khiến nhà cầm quyền Trung Quốc phải rút ra những bài học lớn, trong đó quan trọng nhất là bài học về sự lạc hậu cả về trang bị vũ khí cũng như binh pháp chiến thuật.

Còn về phía Việt Nam, bài học quan trọng nhất cần rút ra là phải luôn luôn cảnh giác. Đồng thời chúng ta phải xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh về mọi mặt, đủ sức đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2021

VẪN NHỮNG CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC ĐÃ CŨ

 Những ngày qua, trong khi đồng bào, chiến sĩ cả nước phấn khởi chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và hàng trăm tổ chức đảng, lãnh đạo các đảng cộng sản, đảng công nhân và nhiều tổ chức phong trào cộng sản trên thế giới gửi thư chúc mừng sự kiện trọng đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì trên mạng xã hội và một số trang báo điện tử nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam, đã đưa ra những thông tin sai trái, những bình luận ác ý, những lời lẽ xuyên tạc nhằm hướng lái dư luận theo một cái nhìn tiêu cực về Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội XIII của Đảng.


Vẫn là những chiêu trò “bổn cũ soạn lại”, các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, “Đại hội XIII: Dân chủ chỉ là cột mỡ”, “Đại hội XIII chả có gì mới”, “Vẫn là đại hội trấn áp tiếng nói bất đồng”... Thậm chí, có đối tượng còn xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tập trung lo cho đại hội toàn quốc "để chia chác quyền lực", "chi tiêu cả nghìn tỷ đồng của dân, trong khi để cho hàng triệu bà con miền Trung sau lũ lụt vẫn chịu thảm cảnh đói rét". Táng tận lương tâm hơn, có kẻ còn rêu rao rằng, Đảng và Chính phủ Việt Nam "bưng bít thông tin về đại dịch Covid-19" xảy ra trước thời điểm Đại hội XIII, cho đến khi dịch bệnh bung ra khắp nơi thì không kiểm soát nổi khiến dân tình lâm vào cảnh mất vui, mất Tết(!).

Những thông tin nêu trên không chỉ làm lộ rõ thêm “chân tướng” của những kẻ vốn có tư tưởng thù hằn với chế độ, mà chắc chắn cũng không bao giờ được nhân dân Việt Nam chấp thuận. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần “lấy dân làm gốc" của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chúc Tết các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước

 Sáng 9-2, tại Phủ Chủ tịch, lãnh đạo Đảng, Nhà nước tổ chức gặp mặt mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước đổi mới, để chúc mừng những thành tựu toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đạt được trong năm 2020; gửi tới đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài lời chúc năm mới tốt đẹp nhất.

Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân!

 Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc và của nhân dân Việt Nam làm mục tiêu phấn đấu của mình. Càng những lúc khó khăn, gian khổ, tinh thần "lấy dân làm gốc" của Đảng càng được thể hiện rõ ràng, nhất quán thông qua những việc làm thiết thực để góp phần hiện thực hóa mục tiêu “Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”.

GIỮ VỮNG NIỀM TIN VÀ BẢN LĨNH!

       Trước Đại hội XIII của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tuyên truyền, kích động, xuyên tạc về văn kiện và công tác nhân sự của Đảng. Từ đầu năm 2020 đến nay, các đối tượng phản động lưu vong đã lập gần 150 hội, nhóm với hàng trăm nghìn thành viên, lập nhiều trang mạng, kênh youtube, tài khoản facebook, hơn 500 cuốn sách và khoảng 6.000 tài liệu để phát tán các thông tin xấu độc, xuyên tạc công tác chuẩn bị văn kiện và công tác nhân sự của Đại hội XIII. Việc chúng ta tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng cũng chính là bằng chứng thất bại của các thế lực thù địch.

Mùa xuân của niềm tin và hy vọng

 

Một mùa xuân nữa lại về trên quê hương Việt Nam, với mùa xuân này thêm một niềm vui lớn đó Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp mang đến cho dân tộc Việt Nam một niềm tin và khát vọng tràn đầy, nhân dân cả nước đang rất vui mừng, tin tưởng vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và tín hiệu tốt tại Đại hội XIII, đó là việc Đại hội không chỉ định hướng tầm nhìn của nước Việt ta đến năm 2045 khi chúng ta kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mà còn “tiến cử” được những người dẫn đường cho công cuộc xây dựng và bảo về Tổ quốc, lãnh đạo toàn xã hội tiếp tục đà đổi mới đất nước. Đó là Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết; là tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam khóa mới.


Suốt tiến trình lịch sử 91 năm xây dựng, trưởng thành, Đảng ta luôn làm tốt công tác tạo nguồn, quy hoạch cán bộ các cấp, nhất là cán bộ Trung ương và Ủy viên Trung ương các khóa. Đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ Trung ương. Cán bộ các cấp, nhất là các đồng chí Ủy viên Trung ương qua các nhiệm kỳ đều có những đóng góp quan trọng, cùng Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, giành nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực; thể hiện và khẳng định vai trò lãnh đạo toàn xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Công tác cán bộ chiến lược luôn được Đảng ta quan tâm, chăm lo, nhưng có lẽ chưa bao giờ phần việc trọng yếu này lại có nhiều dấu ấn như ở Đại hội XII và XIII. Công tác nhân sự cấp cao của Đảng đã được thảo luận, xem xét, giới thiệu từ các cấp, là phần việc của toàn dân và hệ thống chính trị, chứ không phải chỉ do Trung ương chuẩn bị.

Đại hội XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Ánh sáng chủ trương, đường lối sẽ tiếp tục soi rọi trên con đường đổi mới đang rộng mở. Những ngày cận kề tết Tân Sửu 2021, một số địa phương vẫn phải đang căng mình để đẩy lùi dịch bệnh Covid-19. Nhưng với tất cả niềm tin và hy vọng Nhân dân trong vùng dịch bệnh vẫn luôn tuyệt đối tin tưởng và chấp hành tốt mọi quy định của Chính phủ và địa phương với một tinh thần để “không ai bị bỏ lại phía sau”. Hy vọng bệnh dịch sẽ sớm qua đi để Nhân dân ta có một mùa xuân trọn vẹn. Thêm một lần nữa Đảng kiến tạo nên mùa xuân cho đất nước, niềm tin và khí thế mới từ Đại hội XIII đang lan tỏa, hình thành một tâm thế mới, tạo khí thế mới. Thành công của Đại hội là nguồn cổ vũ, động viên toàn xã hội cùng “chung sức, đồng lòng”, nỗ lực đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn thử thách mà trước tiên là vượt qua đại dịch Covid-19 để vững tiến vào một giai đoạn phát triển mới cao hơn, nhanh hơn, mạnh mẽ hơn! Tự tin và quyết tâm đi tới, cả dân tộc sôi nổi ra quân trong mùa Xuân thứ 35 của công cuộc Đổi mới. Tâm thế và dáng dấp của dân tộc thật vững chắc, như lời Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khảng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như bây giờ”./.

HA2021

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2021

QUẬN CẦU GIẤY CÓ CA MẮC COVID MỚI

 Theo thông tin từ Sở Y tế Hà Nội, trưa 9/2, bệnh nhân mới là Đ.Đ.N, nam, 73 tuổi, địa chỉ ở phường Dịch Vọng, Cầu Giấy. Người này là F1 của bệnh nhân 1819 (nữ, 48 tuổi, trú tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy).

Ông N. được lấy mẫu lần 1 ngày 30/1 và có kết quả âm tính. Sau đó, bệnh nhân cách ly tập trung tại tiểu đoàn 14, 15, sư đoàn 308 Hòa Thạch, Quốc Oai.

Ngày 3/2, ông được chuyển sang Bệnh viện Đa khoa Hà Đông điều trị do xuất hiện đau đầu kèm tiền sử bệnh tiểu đường.

Ngày 8/2, bệnh nhân ho và được Bệnh viện Đa khoa Hà Đông lấy mẫu xét nghiệm lần 2, kết quả nghi ngờ dương tính với SARS-CoV-2.

Ngày 9/2, mẫu bệnh phẩm được gửi đến Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hà Nội xét nghiệm, có kết quả khẳng định dương tính với SARS-CoV-2.

Dich Covid-19 o Ha Noi anh 1

Nhân viên y tế tiếp nhận khai báo y tế và lấy mẫu xét nghiệm cho người dân ở Hà Nội.

Như vậy, tính đến trưa 9/2, Hà Nội ghi nhận 27 ca mắc Covid-19, trong đó, Nam Từ Liêm (13), Cầu Giấy (5), Hai Bà Trưng (2), huyện Mê Linh (3), Đông Anh (3), Đống Đa (1). Hiện thành phố phong tỏa nhiều địa điểm liên quan tới các ca mắc Covid-19 này.

THÊM MỘT TỈNH CÓ BỆNH NHÂN MẮC COVID-19

    Hưng Yên ghi nhận ca dương tính SARS-CoV-2 đầu tiên, từng là giảng viên công tác tại huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương khẳng định, anh Đ.C.L., 38 tuổi, trú tại thôn Từ Hồ, xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên dương tính với SARS-CoV-2. Đây là ca bệnh Covid-19 đầu tiên tại tỉnh Hưng Yên từ ngày 28/1 đến nay.
    Anh L. là giáo viên trường Cao đẳng Công thương, đóng tại thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Anh L. đã về quê 1 tháng nay, ngày 27/1 gặp lại 4 đồng nghiệp cùng trường, đến huyện Văn Giang xem quất.
    Ngày 28/1, anh cùng bạn chở quất về trường ở Hải Dương, họp với khoa rồi về nhà ở thôn Từ Hồ.
    Ngày 6/2, anh xuất hiện ho sốt thất thường nên đến phòng khám Thiên An, ở huyện Khoái Châu, Hưng Yên thăm khám, kết quả phát hiện viêm phổi.
    Ngày 8/2, anh tiếp tục đến Bệnh viện Phổi Trung ương để kiểm tra với biểu hiện ho, khạc đờm, đau họng. Do có tiền sử dịch tễ, bệnh nhân được sàng lọc, lấy mẫu xét nghiệm, kết quả lần 1 dương tính với SARS-CoV-2, chuyển sang Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương để cách ly, xét nghiệm lại.
    Đến sáng nay, kết quả xét nghiệm lại tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương khẳng định bệnh nhân L. dương tính với SARS-CoV-2.
    Bước đầu cơ quan chức năng đã xác minh được 13 F1, 15 trường hợp F2, phun khử khuẩn và lập các chốt kiểm soát tại xã Yên Phú.
    Từ ngày 28/1 đến nay, dịch Covid-19 tại nước ta đã lan ra 13 tỉnh với 471 ca mắc, trong đó Hải Dương là ổ dịch lớn nhất nước với 321 ca, Quảng Ninh ghi nhận 53 ca, TP. HCM 31 ca, Hà Nội 26 ca, Gia Lai 21 ca…