Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2021

Đảng với mùa Xuân

 

Mỗi độ Xuân về là dịp toàn Đảng, toàn Dân lại náo nức hướng về Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ra đời vào mùa Xuân và Đảng đã đem lại mùa Xuân bất tận cho dân tộc - Mùa Xuân của độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Xuân về đất nước đơm hoa và Đảng căng tràn sức trẻ. Đảng với mùa Xuân như đất, trời giao hòa với lòng người. Như một lẽ tự nhiên, các kỳ Đại hội Đảng cũng thường diễn ra vào mùa Xuân. Ngay đầu Xuân Tân Sửu 2021 này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nô nức chào đón Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đó là Đại hội của Đoàn kết, Dân chủ, Kỷ cương, Sáng tạo và Phát triển. Cả dân tộc hướng về Đại hội và gửi gắm niềm tin Đảng ta nêu cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, đề ra đường lối và những quyết sách mang tầm chiến lược để mở ra một thời kỳ phát triển mới, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện cho được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng là Đại hội đẩy mạnh công cuộc Đổi mới, thực hiện đồng bộ đổi mới về kinh tế và chính trị, hoàn thiện thể chế để thực hiện thắng lợi đường lối chiến lược phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong đó coi trọng công tác tổ chức và cán bộ; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bảo vệ trọn vẹn lợi ích quốc gia, dân tộc.

 Cả dân tộc hướng về Đại hội với niềm tin son sắt Đại hội lần thứ XIII phát huy tinh thần đổi mới, khí phách hào hùng ngàn năm của đất Việt, sáng suốt quyết định đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, phù hợp với xu thế thời đại và mang đậm bản sắc Việt Nam. Đồng thời, sáng suốt lựa chọn ra những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cán bộ cấp chiến lược tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức của Đảng, dân tộc, nâng cao năng lực sáng tạo của Đảng, của Nhân dân để khơi dậy khát vọng Việt Nam, làm trỗi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nền văn hóa, con người Việt Nam để phát triển bền vững, hội nhập quốc tế và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cả dân tộc vững niềm tin giành thêm nhiều thắng lợi rực rỡ trong đổi mới và phát triển đất nước để cùng hướng về một tương lai tươi sáng./.

 

Xây dựng môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh là nội dung quan trọng để giúp cán bộ, chiến sỹ vững vàng về tư tưởng, phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 

Trong thời gian trước, trong và sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài và các phần tử thoái hóa, biến chất trong nước gia tăng chống đối, đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng lập hàng nghìn trang web, blog, các video clip trên internet để tung thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc, vu khống hòng tạo sự hoài nghi, gây mất lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải luôn tỉnh táo, cảnh giác, nhận diện đúng và chủ động đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh là nội dung quan trọng để giúp cán bộ, chiến sỹ vững vàng về tư tưởng, phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi vì, các thế lực thù địch thường thông qua môi trường xã hội để tuyên truyền, xâm nhập hệ tư tưởng, lan truyền lối sống hưởng thụ và quan điểm sai trái, thù địch, tài liệu, ấn phẩm xấu, độc hại vào quân đội nhằm làm “phai Đảng”, “nhạt Đoàn” trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sỹ. Vì vậy, việc xây dựng môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị sẽ có tác dụng ngăn chặn, hạn chế tác hại âm mưu, thủ đoạn này của các thế lực thù địch. Thực hiện vấn đề này, trước hết, lãnh đạo và chỉ huy các cấp cần làm tốt việc định hướng cho cán bộ, chiến sỹ có nhận thức đúng về những giá  trị văn hóa tinh thần lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của những giá trị phản văn hóa và bài trừ những tài liệu, ấn phẩm xấu, độc hại. Tiếp tục thực hiện xây dựng môi trường “xanh, sạch, đẹp”, tổ chức tốt hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí lành mạnh trong giờ nghỉ, ngày nghỉ để thu hút cán bộ, chiến sỹ, tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa-tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng thời, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương có biện pháp tổ chức cho nhân dân ngăn chặn sự truyền bá tư tưởng sai lạc, lối sống hưởng thụ, ngăn chặn sự tán phát và tác hại của các tài liệu, ấn phẩm xấu độc./.


Vững tin thực hiện khát vọng phát triển đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc



Những ngày qua, trong không khí náo nức đón Xuân, nhân dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc và đông đảo đồng bào ta ở nước ngoài đều hướng về Thủ đô Hà Nội, dõi theo từng nội dung, chương trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đại hội là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng ta, đất nước ta và dân tộc ta, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước.

VIỆT TÂn, CÁC NGƯƠI HÃY THÔI RAO GIẢNG!

 

Hôm nay, thấy Việt Tân và một số facebooker thuộc “Tổng đàn vong quốc nô, phụt cuốc” đăng tải bài viết về việc một số thành phần ACAT - một tổ chức công giáo, đấu tranh chống tra tấn và án tử hình (thực chất đây là tổ chức được lập ra để chống phá đất nước dưới danh nghĩa đấu tranh cho “nhân quyền”) phát đi lời kêu gọi Tổng thống Pháp Macron về cái gọi là “kêu gọi Pháp can thiệp về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”, kêu thả “tù nhân lương tâm”. Xin có đôi lời thế này!

Thứ nhất, Nói về nhân quyền thì ắt hẳn người Pháp, Mỹ và một số nước chuyên làm giàu trên máu xương của các dân tộc khác, họ không có tư cách để rao giảng cho Việt Nam! Chính họ đang nợ người Việt Nam ta rất nhiều! Trong Tuyên ngôn “Nhân quyền và Dân quyền” của Pháp, được Quốc hội thông qua ngày 26/8/1791; có tất cả 17 điều nhưng tuyệt nhiên không hề có một từ nào đề cập đến “quyền của nô lệ và phụ nữ”, họ mượn 10 điều răn làm biểu tượng cho “nhân quyền và dân quyền” nhưng thực chất cũng chỉ là cái cớ để hất cẳng vua Louis XIV. 

Tại chính quốc là thế, vậy nhưng sau đó 67 năm, người Pháp đã mang “tự do, bình đẳng, bác ái” đến với nhân dân Đại Nam, bằng rượu cồn, thuốc súng và máu tươi tanh tưởi; đô hộ dân tộc ta hơn 80 năm trời. Nhân quyền ở đâu? Thứ “nhân quyền” chết tiệt đó đã cướp đi mạng sống của hàng triệu người dân; chà đạp lên quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân ta; cho đến khi bị khai tử hoàn toàn vào 1954. Thứ nhân quyền kiểu Pháp đã làm cạn kiệt tài nguyên, ngu dân để trị, dùng vũ lực để tắm máu, triệt tiêu tiếng nói của nhân dân yêu nước. Riêng người Pháp, họ chẳng đủ tư cách rao giảng nhân quyền và Tổng thống Pháp da mặt cũng chẳng đủ dày để can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam! 

Ngày nay, Pháp vẫn theo Mỹ và đồng minh gieo rắc chết chóc cho các dân tộc trên thế giới dưới nhưng ngôn từ mỹ miều như "mùa xuân Ả rập", "xóa độc tài"...đem đến Lybia, Syria, Iraq...thứ dân chủ, nhân quyền hắc ám, chứa đầy gió tanh mưa máu. Quyền tối thượng của con người là quyền được sống bị những kẻ rao giảng tước đoạt? thế chẳng phải "nhân quyền" đối với người Mỹ, Pháp...chính là quyền được giết người, quyền làm cho nhân dân một số nước phải ly tán, đổ nát, đói ăn, sống không bằng chết ?

Thứ hai, Tất cả các “tù nhân lương tâm” mà đám phản quốc hay rêu rao, quy chụp cho chế độ ta thực chất là những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam, đến mức phải xử lý hình sự chứ chẳng ai ở Việt Nam yêu nước, thương nòi, góp tiếng nói góp ý cho Đảng và chính quyền mà lại phải rơi vào vòng lao lý! Đó là điều chắc chắn! Chỉ nhưng kẻ ôm chân ngoại bang, phá hoại sự bình yên của tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân; mưu đồ đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chính quyền nhân dân, gây phương hại đến lợi ích của dân tộc, của nhân dân thì nhất thiết phải bị trừng trị; diệt loài sâu bọ để cứu “vườn rau xanh tốt Việt Nam”.

Thứ ba, Việt Nam được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản, những người con ưu tú của tổ quốc; những người đã lãnh đạo toàn dân tộc đánh đổ ách đô hộ của chính người Pháp đem lại dân chủ, nhân quyền thực sự cho nhân dân Việt Nam. Người Việt từ thân phận nô lệ, sống kiếp trâu ngựa, bị Pháp bóc lột thậm tệ;  không có quyền quyết định vận mệnh của mình và dân tộc mình mà được làm chủ đất nước, làm chủ cơ đồ thuần Việt Nam, có cơm ngon, áo đẹp, có tất cả các quyền của con người như hôm nay. Vậy ai đã đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh cho người Việt Nam, nếu không phải là Đảng Cộng sản Việt Nam?

Thứ tư, thế và thời ngày nay đã thay đổi, khác xưa rất nhiều! người Việt Nam và người Pháp hiện nay có mối quan hệ hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau. Vậy nên đừng có mơ đến chuyện ông Macron rỗi hơi nghe lời một số kẻ đã không làm được gì cho nước Pháp mà chỉ giỏi phá hoại mối quan hệ Việt - Pháp. Tổng thống Pháp cũng đang rất lo ngại và tính toán làm sao không để xảy ra biểu tình như năm 2019, làm cho Paris hoang tàn, đổ nát và ngập tràn khói lửa. Cổ nhân dạy “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”; nước Pháp bên trong thì trị nội loạn, trị quốc, an bang chưa xong, lấy gì để “bình thiên hạ”?

Dân chủ, nhân quyền suy cho cùng chỉ gói gọn “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Đảng Cộng sản Việt Nam chiến đấu cho mục tiêu đó suốt 91 năm qua và đến nay đã đạt được những thành tựu mà cộng đồng quốc tế phải ngã mũ kính phục! đất nước chưa bao giờ có cơ đồ to lớn, uy tín, vị thế vượt trội như hôm nay. Người dân ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Chẳng ai thèm nghe những con chó dại đang ưỡn mình mà sủa vào ánh trăng rằm vằng vặc! Dân chủ, nhân quyền ư? Các ngươi hãy thôi rao giảng./.

Hải Đăng ST

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2021

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa giữ chức Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

 



Sáng 19/2, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã trao quyết định và tặng hoa chúc mừng đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa được Bộ Chính trị phân công đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Chống quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Biểu hiện của loại này cũng đa dạng như cho rằng sự ra đời của Đảng là sai lầm; đòi đa nguyên chính trị; cho kinh tế thị trường không thể đi cùng định hướng xã hội chủ nghĩa; lôi kéo theo Mỹ “bài” Trung Quốc; cho rằng sự lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản là ngược, là trái với quy luật tự nhiên; không nên đi lên chủ nghĩa xã hội, v.v.. Những người có quan điểm này thường là những người có lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình liên quan đến chế độ cũ, bởi lẽ sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội sẽ làm cho bản thân họ, gia đình họ mất đi những lợi ích to lớn. Đứng trước lợi ích gia đình và lợi ích Tổ quốc họ đã sẵn sàng hy sinh lợi ích Tổ quốc, dân tộc. Những người có quan điểm này là những người đã từng phục vụ cho lợi ích của thực dân, đế quốc ngoại bang. Chính họ đã bán rẻ lợi ích dân tộc từ lâu rồi. Bởi lẽ, một công dân bình thường của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào cũng sẽ luôn muốn bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không muốn làm nô lệ cho ngoại bang, cho dân tộc khác. Nhưng những người này lại sẵn sàng làm tay sai, nô lệ cho ngoại bang. Vì vậy, chính họ đã xúc phạm đến sự hy sinh của hàng nghìn, hàng vạn các anh hùng liệt sỹ, thương binh - những người đã hy sinh tính mạng, một phần thân thể của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có những sai lầm nhất định, bởi Đảng ta không phải là thánh, nhưng Đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật để sửa chữa sai lầm và kiên quyết sửa chữa. Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, vị thế thực sự của Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế, sự nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân... đã nói lên tất cả.

Trong tình hình hiện nay có nhiều chủ trương, giải pháp để phòng chống có hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn của kẻ định song biện pháp quan trọng nhất là phải phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; ổn định chính trị, xã hội, an ninh, an toàn, trật tự. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống và trong công việc. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. Có như vậy thì việc nhận diện và đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch mới hiệu quả, thiết thực./.

 

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 


Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo càng đi vào chiều sâu càng đạt được những thành tựu rất đỗi tự hào thì càng nảy sinh những vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Đó cũng là lẽ thường tình, bởi thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, luôn làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi con người phải giải quyết. Chính thực tiễn đổi mới cũng đang đặt ra nhiều vấn đề mới trên tất cả các lĩnh vực đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải kịp thời giải quyết. Hơn nữa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tác động của biến đổi khí hậu; thực tiễn chính trị thế giới thay đổi nhanh, khó lường; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, v.v. đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Trong tình hình ấy, lực lượng thù địch lợi dụng những khó khăn, yếu kém của ta tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong bối cảnh mới, các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay rất đa dạng, phong phú, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, vừa trực diện, vừa ẩn mình chống phá Đảng, Nhà nước ta, trong đó cần đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta với biểu hiện rất đa dạng như sau:

1. Quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là đúng đắn nhưng chỉ đúng đắn trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí. Còn hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (Big data). Hay nói như một số nhà lý luận phương Tây là thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp nữa. Trong thời đại ngày nay, trong nền sản xuất hiện đại đã sử dụng nhiều robot - người máy, tự động hóa, người công nhân được tuyển dụng và sử dụng rất ít, cho nên học thuyết giá trị thặng dư của Mác, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện hiện đại thì nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân lao động nữa. Giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại.

2. Quan điểm khác cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển là sản phẩm của sự phát triển kinh tế, văn hóa của châu Âu là chủ yếu. Mà đó lại là châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Do vậy, đối với châu Âu hiện nay thì nó không còn phù hợp. Đối với châu Á thì càng không phù hợp. Bởi lẽ, châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên,.... Chủ nghĩa Mác - Lênin mặc dù ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nhưng luôn được bổ sung, phát triển và dù được trình bày bằng ngôn ngữ nào thì nó vẫn phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người, trong đó có quy luật: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”4. Chính vì vậy, giai cấp tư sản không thích thú gì với học thuyết khoa học chỉ ra rằng chính họ - chính giai cấp tư sản - sẽ bị sụp đổ cả. Vì vậy, việc họ quyết liệt chống đối, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và những chủ thuyết dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin là điều không khó hiểu.

3. Có quan điểm đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội nói riêng. Từ đây, họ ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cho rằng chính chủ nghĩa xã hội dân chủ là mô hình phát triển phù hợp với thế giới đương đại, vừa tích hợp được những mặt mạnh của chủ nghĩa tư bản với mặt mạnh của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, có một số ý kiến cho rằng những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, mặc dù có những bất cập nhất định nhưng tốc độ phát triển kinh tế nhanh, những vấn đề xã hội, môi trường thường được giải quyết tốt hơn các nước đi theo chủ nghĩa xã hội. Những loại ý kiến này đều sai lầm ở một điểm là đồng nhất một mô hình chủ nghĩa xã hội sai lầm với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội nói chung. Họ cố tình làm ngơ trước những thành tựu của chủ nghĩa xã hội cải cách, mở cửa, đổi mới ở Cộng hòa Cuba, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Họ đồng nhất hiện trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không phủ định những hạn chế biểu hiện ở tình hình tham nhũng, quan liêu, độc đoán ở một số nước xã hội chủ nghĩa, nhưng hiện trạng này cũng tồn tại ở các nước tư bản phát triển, ở các nước không đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dường như hiện trạng này tồn tại khá phổ biến trên thế giới, không loại trừ quốc gia nào. Nó là căn bệnh của bộ máy quan liêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm làm trong sạch./.

 

 

 

HÃY TỈNH TÁO KHI TIẾP NHẬN THÔNG TIN MẠNG

 

Cần thấy rằng nhận thức, quan điểm về internet, MXH và tham gia MXH của một số người chưa đúng, chưa đầy đủ. Không ít người dùng nghĩ rằng tự do internet, tự do MXH là vô hạn, không thấy rõ sự gắn bó giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm của mình khi tham gia MXH. Do cách nhìn thiên về mặt trái của MXH nên vẫn có người nhìn nhận MXH với thái độ thành kiến. Đi kèm với tốc độ phát triển mạnh mẽ của internet, MXH, Việt Nam cũng là quốc gia có nguy cơ xảy ra các hành vi phạm pháp từ MXH.

Đặc biệt, tình trạng tin giả, lừa đảo, xuyên tạc, bịa đặt qua MXH là một trong những vấn đề nhức nhối nổi lên thời gian qua. Nguyên nhân của tình trạng này do đâu? Phân tích chúng ta thấy dư luận phản ứng rất mạnh mẽ trước những vấn đề thuộc giá trị đạo đức truyền thống hoặc các vấn đề nóng, vấn đề có tính thời sự cao trong đời sống xã hội. Lợi dụng yếu tố tâm lý này, nhiều người đã tạo ra các tin giả, tin lừa đảo, tin bóp méo, xuyên tạc sự thật với động cơ và mục đích cá nhân. Vì mục đích kinh tế mà một bộ phận bán hàng online cố tình tạo ra tin giả và lan truyền tin giả nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng vào trang MXH của mình.

Sự bùng phát của tin giả, tin xuyên tạc cũng một phần do chính những người tiếp cận thông tin, những người tham gia MXH. Do nhận thức hạn chế, thiếu kiến thức và kinh nghiệm cần thiết nên không ít người không biết thông tin mình tiếp cận là đúng hay sai, có cơ sở khoa học hay không, tác động, ảnh hưởng đến người khác, đến xã hội như thế nào nên đã đăng tải, chia sẻ, bình luận một cách tùy tiện, vô trách nhiệm... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động tạo ra rất nhiều thông tin giả, thông tin xấu độc nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận, tạo sự bất ổn về an ninh trật tự để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một số đối tượng mang danh “thực hiện quyền tự do ngôn luận” thông qua MXH để “bày tỏ quan điểm cá nhân” nhưng thực chất là tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và đã bị xử lý trước pháp luật. Sau mỗi trường hợp bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động lại lu loa rằng “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “vi phạm tự do internet”... Cần khẳng định rõ rằng giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là bao che, dung túng, tiếp tay cho những hành vi vi phạm pháp luật và sâu xa là chống phá Việt Nam. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do MXH là nhiệm vụ của mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng cũng như các quyền cơ bản khác, quyền tự do MXH chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào mục đích đúng đắn và phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Mọi hành vi lợi dụng quyền này để vi phạm pháp luật thì không chỉ có Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải xử lý nghiêm minh.

Để đối phó với nạn tin giả, tin xấu độc trên không gian mạng, trước hết cần tuyên truyền, giáo dục để mọi người thấy rõ tính nguy hại của vấn đề; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân, nhất là người tham gia MXH cần tỉnh táo trong tiếp cận thông tin để tránh bị lợi dụng tiếp tay cho kẻ xấu, đồng thời tích cực đấu tranh với vấn nạn tin giả.

Tin giả lan truyền nhanh nhất ở bộ phận độc giả thiếu hiểu biết nhưng lại quá nhẹ dạ, cả tin… Do vậy, mỗi người cần đề cao trách nhiệm tự thân, nâng cao trách nhiệm đối với các nội dung được đăng tải, chia sẻ. Có thể ví MXH như cái chợ, ở đó người ta bán đủ thứ thông tin, hình ảnh mà không ai kiểm chứng, kiểm duyệt. Ở đó có cả hàng thật lẫn hàng giả, hàng nhái; lẫn cả hàng tươi ngon với hàng ôi thiu… Mỗi chúng ta hãy trở thành những người “tiêu dùng thông thái” khi tham gia vào chợ thông tin này. Hãy giữ cho mình tác phong thận trọng và luôn mang tâm thế của người hiểu biết, tỉnh táo. Chỉ có như vậy mới tạo ra cho mình một bộ lọc chuẩn trong thời đại "bão" thông tin này.

Tầm nhìn của Đảng qua Văn kiện Đại hội XIII

 


Tầm nhìn là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu về năng lực, phẩm chất của người lãnh đạo, của một đảng chính trị, nhất là đảng cầm quyền. Tầm nhìn thể hiện lý tưởng phấn đấu, thể hiện mục tiêu cần đạt được, là cơ sở để xác định nhiệm vụ, giải pháp thực hiện; để thống nhất tư tưởng, đoàn kết trong Đảng, tập hợp, đoàn kết, cổ vũ, động viên mạnh mẽ các tầng lớp nhân dân, các lực lượng xã hội phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh để thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó. 

GIỮ VỮNG, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

 

Năm 1943, từ khi cách mạng Việt Nam còn trong trứng nước, Đảng ta đã có Đề cương Văn hóa với những nguyên tắc có sức sống trường tồn. Đề cương Văn hóa năm 1943 lúc đó tập trung vào nhiệm vụ cách mạng trước mắt là đưa văn hóa Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng nô dịch của văn hóa thực dân và phát xít, biến văn hóa Việt Nam từ chỗ bị động và tiêu cực trở thành một nhân tố tinh thần lớn mạnh trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Đề cương đã gắn liền nhiệm vụ giải phóng kinh tế, chính trị cho xã hội với nhiệm vụ giải phóng cho con người.

Tháng 11-1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ của văn hóa mới là phải lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh, đồng thời phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam với 3 tính chất: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn hóa, nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Luận điểm này trở thành nguyên tắc chi phối, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận thức sâu sắc về một trong những đặc điểm ưu việt của chủ nghĩa xã hội là tính nhân văn, trong sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng văn hóa, xây dựng con người. Và đó cũng là cơ sở lý luận-thực tiễn quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH).

Trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng, Đảng ta tiếp tục tiếp thu quan điểm về văn hóa, con người của Hồ Chí Minh, đồng thời sáng tạo, bổ sung một số tiêu chí mới phù hợp yêu cầu phát triển. Đó là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã khẳng định, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Trong thời kỳ đổi mới chúng ta đã đi qua, văn hóa ngày càng có được sự gắn kết chặt chẽ hơn với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tựu về KT-XH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng: So với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu và tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong lĩnh vực phát triển văn hóa chưa thực sự vững chắc; văn hóa chưa khẳng định được sức mạnh tạo dựng một nền tảng tinh thần xã hội có khả năng miễn nhiễm trước những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, trước sự xâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai. Những sản phẩm văn hóa “made in Vietnam” còn thiếu sức cạnh tranh, thậm chí bị lấn át ngay tại thị trường nội địa. Những luồng văn hóa-tư tưởng ngoại lai vẫn tác động tiêu cực đến lối sống của một số lượng không nhỏ người dân Việt, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên. Từ đó, phát sinh ra nhiều hành vi phản văn hóa, ảnh hưởng đáng kể tới công cuộc xây dựng nền tảng tinh thần xã hội.

GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

 


 

UNESCO đã cảnh báo cho cả thế giới, hễ ở đâu phát triển kinh tế mà không quan tâm tới yếu tố văn hóa thì ở đó phát triển không bền vững và những hệ lụy đặt ra cho xã hội lớn hơn nhiều so với kinh tế. Điều này được cảnh báo từ lâu nhưng hình như để vượt qua điều này không dễ dàng, nhất là những nước đang phát triển, bản sắc văn hóa dân tộc rất dễ bị tổn thương.

Nếu trước đây dân tộc ta từng có cả nghìn năm bị cưỡng bức văn hóa thì ngày nay chuyện đó sẽ khó có thể xảy ra. Nhưng trong quá trình giao lưu văn hóa hiện nay, sự xâm nhập, thẩm thấu các giá trị văn hóa ngoại lai vào nước ta diễn ra thông qua nhiều hình thức, con đường rất tinh vi, nên chúng ta rất cần có những giải pháp phù hợp để phòng ngừa những tác hại, hệ lụy của những luồng văn hóa lai căng, xấu độc. Muốn giữ được gốc gác cội nguồn dân tộc và bản sắc văn hóa Việt Nam, ngoài trách nhiệm của ngành văn hóa và những người làm công tác văn hóa, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và cả cộng đồng, xã hội. Vì văn hóa gắn liền với mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi địa phương và gắn liền với các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, do đó, cả hệ thống chính trị phải cùng nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia giữ gìn, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc.

Có nhiều cách để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Một trong những cách đó là thường xuyên đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta phải tận dụng tối đa những ưu thế của công nghệ thông tin để tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá những nét đẹp văn hóa của cha ông cho thanh thiếu niên thông qua những hình thức sinh động, phong phú, hấp dẫn, phù hợp với tâm lý, thị hiếu của giới trẻ. Cùng với đó là mở rộng giao lưu văn hóa, nói chuyện lịch sử truyền thống, tăng cường tính tương tác, tính trực quan sinh động khi giáo dục truyền thống văn hóa cho tuổi trẻ.

GIỮ VỮNG TRÂN ĐỊA TƯ TƯỞNG VÔ SẢN


Để góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững trận địa tư tưởng vô sản; xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới, cần phải thực hiện tốt một số nội dung và biện pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trước hết và trên hết là do Đảng ta nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết cần tập trung: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa yêu nước XHCN, lý tưởng cách mạng; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo ra sự “miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước các đòn tiến công về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản.

Hai là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và  nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.

LỊCH SỬ CỦA MỘT BỨC ẢNH

 




Đây là nguyên vẹn một đại đội sơn cước Trung Quốc, mà bộ đội ta chả cần hô "Thấu xéng chiu sâu khoan tai" (Đầu hàng thì sẽ được đối đãi tử tế), đã ra hàng, chịu bị bắt làm tù binh ở xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, Cao Bằng.

Đại đội sơn cước ra hàng này thuộc trung đoàn bộ binh 448, sư đoàn 150, quân đoàn 50, quân khu Thành Đô. Đơn vị còn có đầy đủ cả bộ sậu: Đại đội trưởng Lý Hòa Bình, chính trị viên Phùng Tăng Mẫn, cả ban chi ủy, các trung đội trưởng… và đầy đủ vũ khí trang bị. Cùng đi với đại đội còn có hai cán bộ do trung đoàn phái xuống để đốc chiến, một ‘vị’ là tham mưu phó trung đoàn Phó Bồi Đức, 'vị' kia là phó chính ủy trung đoàn Long Đức Xương. Cả đại đội còn đầy đủ cả trăm con người. Đại đội sơn cước này luồn quá sâu vào đất ta (nhưng do trinh sát dựa vào bản đồ không chuẩn). Khi đến Minh Tâm - Nguyên Bình - Cao Bằng, đại đội này dừng chân trên một mỏm đồi đá. Nhìn xung quanh, thấy đâu đâu cũng có quân ta, và đối chiếu với bản đồ, ban chỉ huy đại đội biết rằng, đánh để mở đường về là vô vọng. Chính vì vậy, chi ủy chi bộ đại đội này đã tiến hành họp cấp ủy mở rộng, có ghi Nghị quyết đàng hoàng. Khi ra hàng, đại đội này trình ta cả bản Nghị quyết.

Trong Nghị quyết ra hàng ghi rõ thế này: "Tuân theo lời dậy của lãnh tụ Lê-Nin là: "Hãy làm việc cụ thể - trong từng giai đoạn cụ thể". Vậy nay quyết nghị ra hàng, để bảo toàn lực lượng, đặng còn về với Tổ quốc". Nói là "một sự tích, độc nhất vô nhị, chưa từng có trong toàn bộ lịch sử chiến tranh thế giới", chính là vì, từ thời cổ đại cho đến nay, chưa có đơn vị nào ra hàng với Nghị quyết của Chi Ủy Chi bộ như thế cả. Xin nói thêm, qua việc đại đội sơn cước này ra hàng, ta đã thu được nguyên vẹn toàn bộ trang bị của một đại đội sơn cước, từ trang bị vũ khí cho đến cả giày chuyên dùng để leo núi đá. Toàn bộ đồ trưng bầy triển lãm của ta, về lực lượng sơn cước Trung Quốc, đều là lấy từ đại đội này.

Ảnh: Đại đội 8, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 448, Sư đoàn 150, Quân đoàn 50, Đại quân khu Thành Đô sau khi đầu hàng tập thể quân dân Cao Bằng và bị dẫn giải về trại giam.

ĐỒNG ĐỘI






NHỮNG CHUYỂN BIẾN TÍCH CỰC CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM

 


So với vài thập niên trước đây, văn hóa Việt Nam hiện nay, ở tất cả các dạng hoạt động và với tất cả các loại hình của nó, đều có những thay đổi, theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực.

Kể từ khi tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển (1986-1997), đặc biệt kể từ khi thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII năm 1998 về văn hóa, văn hóa, Việt Nam đã có những bước phát triển đạt tới chất lượng và diện mạo khác nhiều so với trước đó.

Vượt ra khỏi khuôn khổ thế giới quan và phương pháp luận về văn hóa giai đoạn trước kia, ngày nay văn hóa không còn bị xem là sản phẩm thụ động của đời sống kinh tế, của cơ sở hạ tầng, mà đã trở thành nhân tố bên trong, là cái quy định hành vi và hoạt động của con người, thậm chí quy định cả diện mạo sự phát triển ở phạm vi quản lý, điều hành chính sách của Đảng và Chính phủ Việt Nam, và ở cả phạm vi hoạt động thường ngày của mỗi con người. Quan điểm mới này về văn hóa đem lại cho con người và các tổ chức xã hội khả năng can thiệp, giải quyết các vấn đề xã hội bằng nguyên nhân văn hóa, điều mà trước kia chưa được quan tâm. Chức năng điều tiết của văn hóa cũng được thực hiện một cách thầm lặng và đôi khi nằm ngoài sự tính toán.

Quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước Việt Nam và toàn thể xã hội về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển, mặc dù trên bề mặt xã hội có vẻ sáo mòn, không mấy thực chất, nhưng thực tế thì khác. Bằng lối đi riêng của văn hóa, quan điểm đó đã xoay chuyển nhận thức, tạo nền cho văn hóa khởi sắc, kích thích sự hồi sinh của phần lớn những giá trị truyền thống trước đó còn bị bỏ quên, thậm chí bị kỳ thị, làm cho văn hóa Việt Nam trở lại với diện mạo bình thường của nó, nối được với quá khứ và rồi nhờ hội nhập mà bắt nhịp ngày càng sâu vào văn hóa thế giới, đóng góp được cho kho tàng văn hóa chung của cộng đồng thế giới.

Hiện nay, văn hóa truyền thống được tôn trọng và phục hồi rất căn bản, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được xác định và đánh giá theo Chuẩn quốc tế, nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản thiên nhiên và di sản ký ức thế giới được cộng đồng quốc tế ghi nhận3. Các hoạt động văn hóa được hiện đại hóa; giao lưu và tiếp biến văn hóa đặc biệt mở rộng; văn hóa công quyền, văn hóa ứng xử, văn hóa hội nhập… gần gũi hơn với khu vực và thế giới. Đời sống văn hóa của nhiều tầng lớp dân cư có dấu hiệu được nâng cao cả về trình độ và chất lượng.

Nghĩa là, có đủ sơ sở để nói rằng, hệ giá trị văn hóa Việt Nam sau mấy chục năm phát triển theo xu thế đổi mới đã xác lập được các khuôn mẫu văn hóa mới4, thực sự hội nhập tương đối sâu vào văn hóa nhân loại theo các chuẩn mực phổ biến của cộng đồng thế giới. Tình trạng dị biệt - không giống ai đã bớt dần.

 

Ở khá nhiều loại hình thuộc hoạt động văn hóa, hệ giá trị văn hóa Việt Nam đã không còn lạc lõng, khoảng cách lạc hậu đã được thu hẹp. Thậm chí, ở nhiều hoạt động văn hóa, như văn hóa biểu diễn - tổ chức các sự kiện, văn hóa Showbiz, văn hóa thời trang, văn hóa hội thảo, văn hóa du lịch, Việt Nam đã không còn thua kém bao nhiêu so với các nền văn hóa có kinh nghiệm.

Với những lĩnh vực thuộc đời sống văn hóa (như văn hóa tiêu dùng, văn hóa kinh doanh,văn hóa xuất bản, văn hóa khách sạn, v.v.), Việt Nam mặc dù vẫn chịu khá nhiều phê phán hay phàn nàn, nhưng mặt bằng chung đã có những tiến bộ khá xa so với trước; thậm chí ở một số hoạt động cụ thể, còn tỏ ra nhanh nhạy không thua kém các nước có nền kinh tế phát triển.

Về văn hóa ẩm thực, văn hóa khách sạn, văn hóa sử dụng IT…, ngày nay Việt Nam đã tạo được ấn tượng tích cực trên trường quốc tế.

Về văn hóa chính trường, văn hóa công quyền, văn hóa đối ngoại (ngoại giao), văn hóa công an, văn hóa quân sự, văn hóa học đường, v.v., hệ giá trị văn hóa Việt Nam cũng đã có không ít điểm sáng, với những chuẩn mực gần với thế giới, dù những lĩnh vực này hiện vẫn bị chê trách nhiều cả từ phía bên trong và bên ngoài.

Không chỉ ở những hiện tượng bề ngoài thuộc hoạt động văn hóa, mà cả ở tầng sâu hơn, trong các nội dung thuộc phẩm chất nhân văn của phát triển, với các chiều cạnh thuộc về con người, về cộng đồng và về dân tộc, văn hóa Việt Nam cũng có những bước phát triển mà trước kia khó có thể đạt được.

Bằng cách thức độc đáo của “sức mạnh mềm”, văn hóa đã ngày càng làm sâu sắc hơn ý thức dân tộc - quốc gia; ngày càng làm rõ thêm lịch sử dân tộc, giá trị thiêng liêng của độc lập và chủ quyền quốc gia. Trên cơ sở “Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh” (lời Joseph S. Nye đánh giá về Việt Nam [9]), văn hóa đã thực sự uốn nắn quan điểm cực đoan của một số chủ thể, làm xích lại gần nhau những quan niệm trước vốn xa nhau. Các giá trị và bản sắc văn hóa, gồm cả bản sắc văn hóa các địa phương, các tộc người, được nghiên cứu ngày càng sâu và khơi dậy được ý nghĩa nhân văn khách quan của sự tồn tại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong Quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất. Các thành tựu văn minh của nhân loại từng có mặt tại Việt Nam đã được đánh giá ngày càng hợp lý, và là nhân tố được kế thừa của văn hóa người Việt. Nhận thức của xã hội, đặc biệt của các cơ quan có trách nhiệm, về tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, được nhận thức và được triển khai ngày càng thực tế và có hiệu quả. Không phải ngẫu nhiên rằng, Việt Nam đã hoàn thành hầu hết các mục tiêu Thiên niên kỷ, đã thực hiện một cách ấn tượng chỉ tiêu giảm nghèo, đã thực hiện thành công nhiều chính sách an sinh xã hội. Thu nhập của người dân ở khắp mọi miền tuy còn nhiều vấn đề nhưng không ngừng được cải thiện. Khoa học, giáo dục mặc dù còn rất nhiều hạn chế, nhưng đã có những bước phát triển tương đối rõ theo hướng hội nhập. Người Việt Nam vẫn được đánh giá là năng động, thông minh. Học sinh Việt Nam, theo kết quả khảo sát quốc tế (PISA), vẫn được xếp ở thứ hạng cao về nhận thức toán, ngôn ngữ và khoa học5.

Nhìn nhận những điểm mạnh của văn hóa Việt Nam hơn 30 năm qua, Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá: “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[1, tr.126].

Trong dịp tuần lễ cấp cao APEC, nhiều chính khách đã không tiếc lời khen ngợi Việt Nam, coi Việt Nam đã thực sự trở thành một trong những “Điều kỳ diệu lớn” (The Great Miracles) của thế giới; “Ngày nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trái đất” (One of the Fastest-growing Economies on Earth) [10],[11].

Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ không thể phủ nhận ấy, văn hóa Việt Nam với bộ mặt thường ngày của nó trong đời sống xã hội, lại tỏ ra là chưa đủ bản lĩnh để đề kháng trước những tác động tiêu cực từ bên trong và bên ngoài. Sự tử tế và tính nhân văn của văn hóa đôi lúc lại không đủ mạnh để tự vệ và tấn công lại cái thiếu văn hóa và vô văn hóa. Ngược lại, chính nó trong không ít trường hợp lại bị tha hóa vì những tác động của cái xấu và cái ác.

 Tác động tiêu cực đến văn hóa hiện nay là một loạt những vấn nạn lớn và không kém phần nghiêm trọng về kinh tế - chính trị - xã hội, dù ai đó muốn lãng quên cũng không thể. Như nhiều tài liệu chính thức và không chính thức đã phản ánh, chẳng hạn, nền kinh tế ngày càng lệ thuộc nặng nề vào nguồn vốn FDI và vào kinh tế Trung Quốc; tỷ lệ nợ công sắp chạm trần; sự chuyển đổi mô hình phát triển vẫn rất lúng túng và chậm trễ; tình trạng tham nhũng và làm ngơ trước tham nhũng mới chỉ có dấu hiệu dừng lại; hiểm họa của tình trạng môi trường “gần chết” khó lường; khai thác tài nguyên vẫn khó kiểm soát; khủng hoảng giáo dục chưa có lối thoát; hoạt động y tế đã xuống cấp ở chính quan hệ giữa thày thuốc với con bệnh; tình trạng cán bộ công quyền lãnh cảm với dân và với các bên đối tác chưa bớt; Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ bị trực tiếp đe dọa, v.v..

BÀI HỌC TỪ DÂN CHỦ TƯ SẢN ĐANG ĐẾN VỚI MYANMAR?

Cuộc đảo chính ở Myanmar chưa có dấu hiệu chấm dứt mặc dù Tổng thống Mỹ Joe Biden vừa ban hành sắc lệnh trừng phạt lãnh đạo quân đội Myanmar. Theo đó, Mỹ xác định cụ thể nhóm mục tiêu sẽ bị trừng phạt đầu tiên; tiến hành một số biện pháp ngăn chặn các tướng lĩnh Myanmar tiếp cận quỹ chính phủ Myanmar 1 tỉ USD đang được gửi tại Mỹ; thực hiện những biện pháp kiểm soát xuất khẩu nghiêm ngặt, phong tỏa những tài sản tại Mỹ có lợi cho chính phủ Myanmar (đang nằm dưới quyền kiểm soát của quân đội); và sẵn sàng áp thêm các lệnh trừng phạt bổ sung. Có thể thấy rằng, một số quốc gia ở khu vực Đông Nam Á (trong đó có Myanmar, Thái Lan) khác với Việt Nam, lựa chọn thể chế đa đảng và thực tế tình hình của các nước này đều rất phức tạp. Có thể dễ dàng thấy hình ảnh những xe bọc thép và lực lượng vũ trang chống bạo loạn tràn ngập ở các thành phố ở các quốc gia này cũng với những cuộc đàn áp người biểu tình. Tiếp theo là sự trừng phạt của quốc tế đứng đầu là các nước phương tây sẽ bóp nghẹt nền kinh tế của các nước đó. Và người dân cuối cùng vẫn là những người chịu đựng sự khó khăn và nghèo khó do bị (cấm vận). Từ những vấn đề xảy ra ở Myanmar và một số quốc gia khác trên thế giới (Libya, Xyri, Apganistan, Yame…), chúng ta có thể cảm nhận được sự thiêng liêng, quý giá của một quốc gia hòa bình, ổn định về chính trị như thế nào? Chúng ta thật sự cảm thấy may mắn, tự hào và hạnh phúc vì được sinh ra, lớn lên trên mảnh đất hình chữ S thân yêu này, được hưởng thụ những gì tốt đẹp nhất mà cha ông ta cùng các anh hùng liệt sĩ đã đổ bao nhiêu xương máu có được. Trên Tổ quốc thân yêu chúng ta có thể cảm nhận được sự bình yên, an toàn mà một số quốc gia khó có thể mang lại được. Thế mới thấy dân chủ ở “xứ thiên đường” không phù hợp với Việt Nam và cũng đứng lấy những tiêu chuẩn đó mà áp đặt hay xoi xét với Việt Nam.

Nhận diện thủ đoạn chống phá hoạt động của Quốc hội nước ta hiện nay

Các kỳ họp Quốc hội là nơi đại biểu Quốc hội thay mặt cử tri và nhân dân cả nước bàn bạc, quyết sách những vấn đề quan trọng của đất nước. Đây cũng là lúc những kẻ núp bóng “dân chủ, nhân quyền” không từ mọi thủ đoạn để suy diễn, xuyên tạc. Những thủ đoạn đó cần nhận diện như sau: Một là, các đối tượng ra sức xuyên tạc vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội, xuyên tạc, vu khống Quốc hội hoạt động không hiệu quả, thậm chí cúng cho rằng các kỳ họp Quốc hội là không cần thiết, cố tình xóa bỏ những kết quả trong hoạt động của Quốc hội. Bên cạnh đó, phủ nhận mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội, đòi hỏi Quốc hội là tổ chức độc lập. Hai là, hạ thấp uy tín, bôi nhọ danh dự, phủ nhận những đóng góp của các đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu Quốc hội giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Ba là, lợi dụng các phiên chất vấn, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội để cố gắng làm “méo mó”, “biến dạng” các vấn đề thảo luận giữa các đại biểu, hướng lái, công kích dư luận theo cách diễn giải theo mưu đồ của chúng. Tìm mọi cách khoét sâu vào những khó khăn, bất cập cần tháo gỡ để vu khống, với phương châm: “Nói không thành có, đổi trắng thay đen”, lấy hiện tượng để quy thành bản chất và quy kết đó là do những hạn chế hoạt động của Đảng, Nhà nước. Bốn là, sử dụng các trang mạng xã hội như: YouTube, Facebook, Blog… với tính năng lan tỏa nhanh tác động tiêu cực đến nhận thức nhân dân; phát tán các bài viết, hình ảnh, video với thông tin sai lệch, trái chiều, không đúng sự thật. Đặc biệt họ cố tình cắt ghép, pha trộn, chỉnh sửa các bài tranh luận, phát biểu của các đại biểu Quốc hội để tuyên truyền chống phá các hoạt động của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, cần nhìn nhận các vấn đề trên như sau: Trước hết, chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội được Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội. Do đó, Quốc hội nước ta có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng, chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng. Hai là, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013). Thứ ba, Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực nhà nước ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. Thứ tư, thực tiễn đã chứng minh, trải qua 74 năm, Quốc hội đã luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, không ngừng phát huy vai trò, vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đóng góp to lớn và quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ năm, diễn biến, tiến trình các kỳ họp Quốc hội luôn được phát thanh, truyền hình trực tiếp, được báo chí trong nước và quốc tế đưa tin, thu hút sự quan tâm theo dõi, đánh giá, góp ý của cử tri và nhân dân cả nước. Việc tranh luận được khuyến khích khiến vấn đề chất vấn được làm rõ ràng hơn, nhất là các mặt hạn chế, trách nhiệm cán bộ và nêu rõ giải pháp. Tại các kỳ họp Quốc hội, nhiều vấn đề quan trọng, cấp thiết được tranh luận, chất vấn và trả lời chất vất sôi nổi, nhiệt thành, có chất lượng. Sau phiên chất vấn, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về các nội dung này, từ đó có cơ sở để theo dõi vấn đề đã được đặt ra và giám sát lời hứa hẹn của những người trả lời chất vấn. Việc Quốc hội tăng cường hoạt động chất vấn khiến cho những người giữ các chức danh mà Quốc hội bầu, phê chuẩn luôn phải nỗ lực thể hiện rõ trách nhiệm của mình, không thể lơ là. Thứ sáu, các đại biểu Quốc hội là đại diện do cử tri cả nước bầu ra. Nếu trong quá trình trình thực hiện trọng trách dân tộc giao phó, không đáp ứng được sự mong mỏi, kỳ vọng của nhân dân thì sẽ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và cử tri cả nước, có thể bị miễn nhiệm, thôi giữ cương vị đại biểu Quốc hội. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, song song với việc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy Nhà nước nói chung, Quốc hội cũng rất kiên quyết chống tiêu cực trong đội ngũ của mình. Chính vì thế, việc gương mẫu xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của số đại biểu vi phạm pháp luật cho thấy, Quốc hội luôn tự đổi mới, tự chính đốn mọi hoạt động, cũng như đội ngũ của mình, làm cho vị thế, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao trong lòng nhân dân. Tất cả những vấn đề trên đã khẳng định vị trí, vai trò của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Mọi chiêu trò hạ thấp, bôi nhọ uy tín, danh dự của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội hiện nay không ngoài mục đích phá hoại sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.

Nhận diện âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá cách mạng nước ta

Khái niệm “xã hội dân sự” được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân; tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình Tại Việt Nam, các tổ chức “xã hội dân sự” đang tồn tại dưới nhiều hình thức như: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không phải do Nhà nước lập ra… Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí, phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước. Tuy nhiên, với âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đang bóp méo, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, thái nghén, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước. Điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy được hoạt động của nhiều hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” do các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước thành lập, điều hành, như: “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Tổ chức xã hội dân sự”, “Viet Liberty” (Việt Nam Tự do), “Nhà xuất bản tự do”, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”… Đặc biệt, các đối tượng chống đối không chỉ đơn thuần thành lập các hội, nhóm dưới bóng “xã hội dân sự” trong lòng Việt Nam, hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ, mà đã có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế. Dưới vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam; hình thành các hội nhóm, tổ chức để tập hợp lực lượng, tiến hành huấn luyện, đào tạo các phương thức hoạt động; tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, tiến đến các cuộc bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Mục tiêu của việc thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” tại Việt Nam là tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản một cách công khai, hợp pháp. Từ đó, các đối tượng đưa Việt Nam đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội. Khi tiến hành chống phá dưới chiêu bài “xã hội dân sự”, trước nhất các đối tượng ra sức cổ súy tính ưu việt, sự dân chủ của “xã hội dân sự” để đánh lừa nhận thức của người dân, cũng như hạ bệ vai trò của hệ thống chính quyền. Các đối tượng này cố tình hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; rêu rao luận điệu cho rằng các tổ chức “xã hội dân sự” hoạt động ưu việt và hiệu quả hơn nhiều so với các cơ quan công quyền. Từ đó, các đối tượng kích động sự hoài nghi, thiếu niềm tin vào Đảng trong một bộ phận quần chúng. Đặc biệt, không ít cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị cũng triệt để tận dụng vấn đề làm từ thiện trên để đánh bóng tên tuổi. Đồng thời, các đối tượng tập trung tung ra luận điệu đòi tuyệt đối hóa sự “độc lập” của các tổ chức “xã hội dân sự”, đòi thúc đẩy thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lý do “bảo vệ sự dân chủ”, các đối tượng cho rằng cần có sự tách bạch một cách tuyệt đối giữa “công” và “tư”, giữa nhà nước và xã hội dân sự. Thậm chí, các đối tượng này còn đưa ra quan điểm cho rằng, các tổ chức “xã hội dân sự” chỉ cần hoạt động theo tôn chỉ, mục đích, thỏa thuận của những người lập ra nó mà không cần tuân thủ theo quy định của pháp luật. Trong quá trình tiến hành chống phá, các tổ chức chống đối núp bóng “xã hội dân sự” không chỉ hoạt động đơn lẻ, cá biệt, mà có sự câu kết, móc nối với các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối ngoài nước để cùng tiến hành công kích dưới hình thức “nội công, ngoại kích”. Các thế lực thù địch, chống đối, phản động ở nước ngoài trở thành chỗ dựa về tinh thần, nguồn viện trợ về vật chất cho các tổ chức trong nước. Ngoài ra, các thế lực này dưới nhiều thủ đoạn khác nhau cũng tiến hành gây sức ép, đòi chúng ta thay đổi đường lối, chính sách, pháp luật, tạo điều kiện, nền tảng thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức chống đối trong nước hoạt động. Dưới sự chống lưng giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các hội, nhóm trong nước trực tiếp tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công chính quyền, trở thành nơi tập hợp những thành phần bất hảo, hình thành lực lượng đối lập, sẵn sàng tiến đến bạo loạn lật đổ theo hình thức “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Thông qua hình thức “xã hội dân sự”, lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do đóng góp ý kiến, các đối tượng thúc đẩy tư tưởng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hướng lái người dân hình thành tâm lý chống đối, phản kháng với chính quyền. Dưới danh nghĩa phản biện xã hội, đóng góp ý kiến, không ít đối tượng đã biến nó thành một diễn đàn để công khai các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá chính quyền, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng ta không kỳ thị, không ngăn cản việc người dân lập hội, tham gia các tổ chức “xã hội dân sự”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ.

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi tam quyền phân lập thông qua giảng dạy môn học “Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa” ở Trường Chính trị Quảng Bình hiện nay

 Quán triệt Hướng dẫn số 475-HD/HVCTQG ngày 24-9-2019 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thời gian qua, Trường Chính trị Quảng Bình đã chủ động, tích cực tổ chức thực hiện các giải pháp phát huy vai trò, trách nhiệm của giảng viên, học viên tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thùđịch thông qua hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi tam quyền phân lập thông qua giảng dạy môn học “Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa” ở Trường Chính trị Quảng Bình hiện nay

Qua nội dung những bài giảng trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng trung cấp chính trị, học viên được truyền đạt những kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Trên cơ sở đó, học viên hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, hiểu được bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, cũng như sức sống của nó trong thời đại ngày nay. Đó chính là cơ sở lý luận cơ bản, nền tảng để hình thành bản lĩnh chính trị, tư tưởng, phương pháp tư duy khoa học trong nhận thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, đồng thời giúp hình thành những kỹ năng, thái độ cần thiết cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở trong quá trình nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Để phản bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, mỗi giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật đã chủ động học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu kỹ những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt là nội dung môn học Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa; hệ thốngquan điểm của Đảng và Nhà nước ta về sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực Nhà nước; nội dung nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hơp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”; giảng viên không chỉ nắm vững nội dung của vấn đề mà thực sự thấm sâu, nhuần nhuyễn và trở thành nội lực của bản thân. Trong hoạt động giảng dạy luôn bảo đảm tính đảng, tính chiến đấu và tính khoa học. Tính đảng, đó là bảo đảm truyền đạt đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sánh pháp luật của Nhà nước. Tính chiến đấu là chất thép, chất lửa của người giảng viên-đảng viên, đứng trên lập trường của giai cấp công nhân vì lợi ích của Nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tính khoa học là nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề phải dựa và cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn khoa học khách quan để chứng minh, làm rõ những nội dung trong bài giảng giúp học viên không chỉ hiểu rõ, nắm vững kiến thức mà còn xây dựng, cũng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, Nhà nước, vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trong thời gian gần đây, một số cá nhân lợi dụng việc chậm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp, tình trạng tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và việc hoạt động chưa thật sự hiệu quả của một số thiết chế trong bộ máy nhà nước... để phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước và tung hô, cường điệu hóa, lý tưởng hóa học thuyết “tam quyền phân lập”. Đây là những luận điệu không mới và đã được các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, kích động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta.

Có thể khẳng định ngay rằng, đó là luận điệu sai trái, cực đoan và cơ hội chính trị. Học thuyết “tam quyền phân lập” được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức và một số nước phương Tây mặc dù có mang lại một số mặt tích cực, cần được nghiên cứu, tham khảo, nhưng không nên vì thế mà cường điệu hóa, lý tưởng hóa và xem nó như là chìa khóa vạn năng của “dân chủ - pháp quyền”, của kiểm soát quyền lực nhà nước và ngăn ngừa tham nhũng với những lý do sau đây:

Thứ nhất,về phương diện lý luận, “tam quyền phân lập” là một học thuyết phức tạp, đa chiều, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Tư tưởng “tam quyền phân lập” được các nhà hiền triết đề xướng từ thời La Mã cổ đại, nhưng với tư cách là một học thuyết, có thể nói nó là sản phẩm của nền dân chủ phương Tây, gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của kiểu tổ chức quyền lực nhà nước phong kiến với toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào tay một người là Vua, theo quan niệm Vua là con trời, thể theo lòng trời mà làm vua, ý vua là pháp luật cao nhất. Có thể xem, đây là một học thuyết có giá trị về chính trị - kỹ thuật pháp lý rất to lớn trong tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi, hạt nhân hợp lý nhất của học thuyết này, là khi quan niệm quyền lực nhà nước không được tập trung vào một người hay một cơ quan mà được cấu thành từ ba quyền cơ bản lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba quyền được giao cho các cơ quan khác nhau, có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập tương đối với nhau. Giữa ba quyền này có sự kiểm soát, đối trọng lẫn nhau. Với quan niệm đó, học thuyết phân quyền là sự phủ định biện chứng đối với các nhà nước chuyên chế tập quyền.

C.Mác và Ph.Ăngghen khi nêu ra mặt tiến bộ của học thuyết về “tam quyền phân lập” đã nhấn mạnh rằng, sự phân chia quyền lực, thực chất, không phải là cái gì khác ngoài sự phân công lao động thực tế cơ cấu nhà nước nhằm làm đơn giản hóa và dễ kiểm soát. Ph.Ăngghen viết: “Sự phân quyền... trên thực tế chỉ là một sự phân công lao động tầm thường trong công nghiệp, được vận dụng vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hóa và kiểm soát”(1).

Dựa trên quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự cần thiết của việc phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong hiến pháp, nhiều nhà triết học, nhà tư tưởng đã có chung quan điểm: Sự phân chia quyền lực là hệ thống các chế định pháp luật  - nhà nước hướng tới bảo đảm các phương tiện pháp lý có sự độc lập tương đối của các cơ quan nhà nước với nhau(2).

Thứ hai,về phương diện thực tiễn, do những hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập” mà mức độ, tính chất và đặc điểm của sự thể hiện và áp dụng nó trong thực tế có sự khác nhau ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như trình độ dân chủ, truyền thống dân tộc, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Sự áp dụng học thuyết này trong nhà nước theo chính thể cộng hòa tổng thống khác với chính thể cộng hòa đại nghị hoặc chính thể cộng hòa hỗn hợp...; trong hình thức cấu trúc nhà nước liên bang khác với hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất.

Dựa trên học thuyết “tam quyền phân lập”, hơn hai thế kỷ nay, các nhà nước tư sản phương Tây đã tổ chức quyền lực nhà nước của mình. Tuy nhiên, việc vận dụng học thuyết đó là hết sức đa dạng, muôn màu, muôn vẻ, không có nước nào giống nước nào. Cũng phân chia quyền lực nhà nước thành lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cách thức tổ chức mỗi quyền thì ở các nước khác nhau quy định rất khác nhau. Có nước thì phân quyền cứng rắn theo chính thể cộng hòa tổng thống (như nước Mỹ); có nước thì phân quyền mềm dẻo theo chính thể Cộng hòa đại nghị (như Liên bang Đức) hay chính thể quân chủ Lập hiến (như Vương quốc Anh); ngược lại, có nước phân quyền lưỡng tính theo chính thể Cộng hòa lưỡng tính (như Cộng hòa Pháp). Cũng tổ chức quyền lực nhà nước gồm ba quyền, nhưng có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp không có sự độc lập, đối trọng chế ước lẫn nhau (như nước Anh) mà dựa vào phe đối lập thiểu số trong Nghị viện. Có nước giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp lại độc lập, kiềm chế và đối trọng một cách cứng rắn (như nước Mỹ); có nước kiềm chế đối trọng một cách mềm dẻo giữa các quyền (như ở Đức). Việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư sản là rất khác nhau. Bởi tổ chức quyền lực nhà nước về phương diện chính trị và kỹ thuật pháp lý, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố từ tương quan lực lượng giữa các giai cấp, nhất là trong nội bộ của giai cấp cầm quyền, từ đặc thù của cuộc đấu tranh giai cấp ở trong nước và trên trường quốc tế, tư tưởng lập hiến của những người đương thời,… Tất cả các yếu tố đó đều là những nhân tố chi phối và ảnh hưởng đến việc vận dụng học thuyết phân quyền, trong tổ chức quyền lực nhà nước của mỗi nước. Vì thế, không thể nói phân quyền theo nước này thì tốt nước kia thì không tốt, theo mô hình này thì dân chủ, theo mô hình kia thì không có dân chủ. Vì thế, tuyệt nhiên không có sự sao chép, rập khuôn máy móc mô hình phân quyền của nước này cho nước kia; đòi hỏi tổ chức quyền lực nhà nước của nước này phải giống nước kia mới có dân chủ và nhân quyền như một số người mong muốn.

Thứ ba,về bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia (chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác); các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Tư tưởng phân quyền, về bản chất, đối lập với tư tưởng thống nhất quyền lực. G.G.Rútxô phủ nhận sự phân chia quyền lực về mặt chính trị - xã hội và cho rằng, quyền lực cần phải bắt nguồn từ nhân dân. Nói đúng hơn, đó không phải là sự phân chia quyền lực, mà là sự phân công chức năng giữa các cơ quan quyền lực nhà nước thống nhất.

Quyền lực nhà nước vốn dĩ là một chỉnh thể, bao gồm các bộ phận cấu thành quan hệ hữu cơ với nhau và với toàn bộ quyền lực nhà nước, không thể phân tách độc lập và yêu cầu các quyền chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau được. Trên thực tiễn, quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Vì thế, những cố gắng phân quyền trong các hiến pháp tư sản đã bị phá sản trong thực tiễn; tư tưởng của những người “sáng lập” ra nó cũng trở nên vô ích.

Ở Việt Nam, tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Điều 2 Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Sự khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng ta. Với sự hoàn thiện này, nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân được xác định bởi bốn nội dung quan trọng: thống nhất quyền lực, phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Tổ chức quyền lực của bộ máy nhà nước ta dựa trên quan điểm về sự thống nhất quyền lực:“Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”của tư tưởng dân chủ XHCN.

Nguyên lý này không những được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta mà hầu hết các nước có chế độ chính trị dân chủ và pháp quyền trên thế giới. Theo đó, nhân dân thực hiện quyền dân chủ đại diện bằng cách trao một phần quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp, đồng thời giữ lại một phần quyền lực của mình để thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp. Hiến pháp 2013 khẳng định rõ nguyên tắc phân công phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp khi quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước(3); Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội(4); Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp(5).

Thực tế ở nước ta chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng ta đã chỉ ra.

Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất nói trên là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm trước Nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà Nhân dân đã ủy quyền. Đó cũng là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp. Ngược lại, sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là: phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước, nhờ đó hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng cao; tránh sự trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của cả bộ máy nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thống nhất. Đồng thời, đó cũng là điều kiện để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là Nhân dân.

Từ những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn như đã phân tích ở trên, chúng ta khẳng định rằng: “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam, bởi lẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước theo phương thức nào là phụ thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia. Ở nước ta, Nhân dân là chủ nhân của quyền lực chính trị, quyền lực nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước, quyền lực đó chỉ có thể thực hiện một cách thống nhất dưới sự giám sát của Nhân dân, chứ không thể phân chia. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được bảo đảm thực hiện bởi sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.Thực tiễn và kinh nghiệm qua 35 năm đổi cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế đã cho thấy, tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới, lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không “tam quyền phân lập” mà thống nhất quyền lực của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hơp và kiểm soát giữ các cơ quan nhà nước trong viêc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

__________________