Thứ Hai, 3 tháng 5, 2021
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ngày Quốc tế Lao động 1/5 .
Công an Hà Nội xử lý nghiêm việc không tuân thủ phòng dịch COVID-19
Xử lý đoàn môtô "khủng" đi vào cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên
Hà Nội: 46 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, lẩn trốn trong nhà vệ sinh
Thủ tướng: Không để xảy ra tiêu cực trong việc mua bán, sử dụng vaccine
Đưa tin sai sự thật về dịch COVID-19 gây hoang mang có thể bị phạt tù
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ mong muốn thăm Việt Nam
Hà Nội ra Công điện hỏa tốc yêu cầu người trở về thành phố sau nghỉ lễ khai báo y tế
Vụ 46 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép: Cư dân toà nhà Florence lo lắng
Hà Nội tạm dừng hoạt động quán ăn uống đường phố, vỉa hè từ 17h ngày 3.5
Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2021
Trong vận động bầu cử, pháp luật cấm những hành vi nào?
Những hành
vi bị cấm trong vận động bầu cử gồm:
- Lợi dụng
vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại
đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá
nhân khác.
- Lạm dụng
chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu
cử.
- Lợi dụng
vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ
chức, cá nhân mình.
- Sử dụng
hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua
chuộc cử tri.
- Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử không được vận động bầu cử cho những người ứng cử. Thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử nói trên không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vận động bầu cử cho những người ứng cử nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng đối với những người ứng cử./.
Làm thất bại luận điệu “chọc gậy bánh xe” của các thế lực thù địch nhân dịp kỷ niệm Ngày giải phòng Miền Nam thống nhất đất nước 30-4
Làm thất bại luận điệu “chọc gậy bánh xe” của các thế lực thù địch nhân dịp kỷ niệm Ngày giải phòng Miền Nam thống nhất đất nước 30-4
Trong dịp 30/4 vừa qua, các đối tượng xấu lại làm nóng vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc trên một số trang mạng xã hội và báo chí hải ngoại. Bất chấp thực tế thời gian qua, vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc của Việt Nam đã đạt được những kết quả hết sức tích cực, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố ngày càng vững chắc thì các thế lực thù địch, các đối tượng xấu, chống đối vẫn cố tình đưa ra các thông tin, luận điệu sai trái, cố tình xuyên tạc, bóp méo tình hình thực tiễn.
Tôn trọng lịch sử, hướng đến tương lai
Chiến thắng 30/4/1975 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, thống nhất Nam – Bắc, đưa giang sơn thu về một mối. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam đã có sự phát triển toàn diện, vị thế, uy tín trên trường quốc tế được khẳng định rõ nét. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.
Vừa qua, Thượng nghị sĩ Tom Umberg đã đệ trình trước Thượng viện California, Hoa Kỳ bản Nghị quyết SCR2 với những nội dung sai trái về chiến thắng 30/4 của Việt Nam. Vẫn lặp lại luận điệu cũ, Tom Umberg gọi chiến thắng 30/4 của Việt Nam là “tháng tư đen”, xuyên tạc lịch sử bằng luận điệu: “Tháng tư đen là thời điểm tang tóc, thời điểm tưởng nhớ, không chỉ cho những sinh mạng đã mất trong chiến tranh, mà còn là cuộc sống của những người Việt Nam trong cuộc đấu tranh lịch sử vì tự do và nhân quyền.
SCR2 không chỉ là sự tưởng nhớ về mất mát bi thảm mà còn biểu dương tinh thần kiên cường và sức mạnh của người Việt Nam để vươn lên phát triển trước nghịch cảnh”. Tom Umberg giễu cợt với lối suy nghĩ đánh lận bản chất: “Việt Nam không nên khơi gợi lại quá khứ Sài Gòn thất thủ đau buồn, không ăn mừng chiến thắng 30/4 thì người Việt tại Mỹ mới chấp nhận hòa hợp dân tộc”.
Theo quy luật, mỗi khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ 30/4 thì một số đối tượng xấu, chống đối lại đào xới, xuyên tạc quá khứ. Một số người Việt Nam định cư tại nước ngoài có cái nhìn lệch lạc, phiến diện, hận thù, cực đoan đã tụ tập tiến hành kỷ niệm “ngày quốc hận”, đòi “phục hồi danh dự cho những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa”, đòi Việt Nam phải thừa nhận cuộc chiến vệ quốc là cuộc “nội chiến”.
Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”!
Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử.
Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc; là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do, đi lên CNXH. Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, gây thêm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước.
Chủ trương, chính sách nhất quán của Việt Nam
Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, có thể thấy người dân Việt Nam luôn đề cao sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận những người từng lầm đường, lạc lối nếu họ thực sự có thiện chí, biết quay đầu về với Tổ quốc. Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam tại nước ngoài đã khẳng định chủ trương: “Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
Tại Chỉ thị số 45 - CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, “Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xoá bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
Thực tế, công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc đã đat được những kết quả hết sức tích cực. Mặc dù một số người vẫn còn giữ thái độ định kiến, mặc cảm; một số còn có tư tưởng, hành động không phù hợp với lợi ích dân tộc, tuy nhiên về cơ bản, khối đại đoàn kết đã được củng cố, ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương đất nước đã được phát huy.
Trong đó, có thể kể đến một số ví dụ như trường hợp ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống của chính quyền Sài Gòn, sau gần 30 năm rời xa đất nước, cuối năm 2003, ông đã nộp đơn xin về thăm quê hương và đến đầu năm 2004 đã được trở về Việt Nam đón Tết. Khi trả lời phỏng vấn báo chí, ông Nguyễn Cao Kỳ cho biết: “Tôi bảo đảm rằng sau gần 30 năm rồi, đất nước đã được thống nhất rồi, đang cần những người trong và ngoài nước bắt tay nhau phục hưng đất nước, đưa đất nước trở thành con rồng châu Á, thì tất cả những kẻ vẫn muốn quay trở lại dĩ vãng, nói những chuyện không tưởng, giờ phút này mà còn đánh đấm, phục hưng thế này thế nọ, không hướng tới tương lai mà chỉ lo nghĩ quá khứ là một lũ...”.
Hay như trường hợp của luật sư Hoàng Duy Hùng từng là một người chống Cộng khét tiếng ở hải ngoại với lời thề “quyết tâm lật đổ chế độ cộng sản”, từng xâm nhập về nước để thực hiện mưu đồ đánh bom tại TP Hồ Chí Minh, nhưng sau khi nhận thức được chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề đoàn kết dân tộc; tận mắt chứng kiến và trải nghiệm thực tiễn đời sống tại Việt Nam; thấy rõ giá trị của hòa bình, độc lập và bản chất của chế độ, quan điểm ông đã thay đổi. Ông trở thành một người ủng hộ Đảng Cộng sản, tham gia viết báo Đảng, phản bác các quan điểm thù địch, sai trái, các nhận định, đánh giá phiến diện, sai thực tế về tình hình Việt Nam.
Không có chuyện phải lãng quên, chối bỏ lịch sử hay phải thay đổi thể chế chính trị mới có thể hòa hợp, hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù như các đối tượng xấu đang rêu rao. Tổ quốc là điều vô cùng thiêng liêng, là chất keo vững chắc nhất gắn kết người Việt Nam ở mọi nơi trên thế giới. Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; để đất nước phát triển ngày càng hùng cường, vững mạnh, tất cả người Việt Nam cần phải nêu cao tinh thần dân tộc, xóa bỏ những định kiến, phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống nhân nghĩa, chung tay xây dựng đất nước…
Kính xin... giảm bớt “kính thưa”
Khoảng 15 năm trước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đưa ra bàn thảo khá kỹ về câu chuyện xoay quanh hai chữ "kính thưa".
Sức mạnh đoàn kết quân dân - nhân tố quan trọng làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975
11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, cờ Giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử-Chiến dịch quyết chiến chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta toàn thắng.
Đây là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, đánh dấu Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta kết thúc thắng lợi, thực hiện trọn vẹn tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đánh giá thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, ý nghĩa của Chiến thắng 30-4-1975 nói riêng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.(1)
![]() |
| Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường, nồng nhiệt chào đón Quân giải phóng tiến vào thành phố ngày 30-4-1975. Ảnh: TTXVN. |
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố tạo nên sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của mọi nhân tố ấy chính là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta. Đây còn là thắng lợi của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, ngoan cường, bền bỉ của Nhân dân và Quân đội anh hùng. Thắng lợi đó là kết tinh của sức mạnh đoàn kết quân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh đó bắt nguồn từ bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, đội quân “của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.
Sức mạnh đoàn kết quân dân là cơ sở để Đảng ta đề ra phương pháp cách mạng sáng tạo, độc đáo trong chỉ đạo chiến tranh. Đó là, sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng: Lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời, biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ tổ chức những trận tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi cuối cùng.
![]() |
| Hoạt động kết nghĩa của Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn 144, Bộ Tổng Tham mưu hằng năm tăng cường gắn kết tình quân dân. Ảnh: TUẤN HUY |
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đoàn kết quân dân là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, để thực hiện tư tưởng chiến lược của Đảng, Bác Hồ kính yêu: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Nền tảng đó đã được quân và dân ta không ngừng vun đắp với nhiều phương thức, cách làm sáng tạo, phong phú, phù hợp với hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền. Ở miền Bắc, các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, chi viện sức người, vũ khí trang bị kỹ thuật cho chiến trường miền Nam với tinh thần: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Nhường nhà để hàng, nhường làng để xe”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”... Trên chiến trường miền Nam, mặc dù ngụy quân, ngụy quyền và đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn chia rẽ giữa nhân dân với bộ đội, du kích, như: Dồn dân lập ấp chiến lược, đàn áp phong trào cách mạng... nhưng mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được củng cố, ngày càng gắn bó. Hàng nghìn, hàng vạn người mẹ, người chị không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh tính mạng để nuôi giấu bộ đội, làm giao liên, y tá... hun đúc nên ý chí “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó là những hình ảnh sáng ngời về tình đoàn kết quân dân, là cội nguồn của sức mạnh. Sống trong lòng nhân dân, được nhân dân che chở, giúp đỡ, nuôi dưỡng, bộ đội ta luôn phát huy truyền thống “Trung với nước, hiếu với dân”, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường với ý chí quyết chiến, quyết thắng, bảo vệ nhân dân trong từng trận chống lấn chiếm, càn quét, đánh bại các chiến dịch quy mô lớn của địch, giữ vững vùng giải phóng, chuẩn bị tốt mọi điều kiện để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975.
Tình đoàn kết quân dân thực sự là nguồn sức mạnh vô địch của Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì nhân dân-đó là động lực mạnh mẽ thôi thúc lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Thực tiễn lịch sử trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã chứng minh và khẳng định sức mạnh của đoàn kết quân dân, nòng cốt của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bất kỳ giai đoạn nào, phải đương đầu với kẻ thù tàn bạo, nếu biết cổ vũ, động viên, quy tụ được sức mạnh toàn dân, cốt lõi là sức mạnh đoàn kết quân dân thì dân tộc ta đều giành thắng lợi vĩ đại, bảo đảm sự bền vững của độc lập, tự do, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ.
Nhận thức sâu sắc sức mạnh đoàn kết quân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương-Bộ Quốc phòng luôn nhất quán quan điểm “dân là chủ”, “lấy dân làm gốc”, nhân dân là chủ thể công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta khẳng định: Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.
![]() |
| Học viên trường Sĩ quan Chính trị tham quan trưng bày sách chuyên ngành Công tác đảng, công tác chính trị. Ảnh: TUẤN HUY. |
Qua 35 năm đổi mới, sức mạnh đoàn kết quân dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam ngày càng được củng cố và tăng cường. Tiềm lực, thế trận, lực lượng, cơ sở vật chất của nền quốc phòng không ngừng được củng cố, phát triển toàn diện, đồng bộ. Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng, thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; thực hiện tốt chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; không ngừng củng cố, tăng cường sự gắn bó máu thịt với Nhân dân. Quân đội luôn gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là lực lượng đi đầu tuyên truyền, quán triệt, thực hiện tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị-xã hội ở địa phương; tuyên truyền, vận động Nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ, phá hoại sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và củng cố lòng tin của Nhân dân với cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; chủ động phối hợp xử lý hiệu quả các tình huống phức tạp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Toàn quân đã nêu cao ý chí, xung kích, đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, kịp thời có mặt ở những nơi gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhà nước và của Nhân dân. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là những lúc khó khăn, hoạn nạn, thiên tai; sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc của cấp ủy, chính quyền địa phương và được Nhân dân tin tưởng, yêu mến.
Quân đội luôn đi đầu trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”... Với hàng chục đoàn kinh tế-quốc phòng, hàng trăm tổ, đội công tác và cán bộ tăng cường cơ sở, những hoạt động thiết thực đó không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; là cội nguồn sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân đã trở thành truyền thống quý báu, là bản chất của Quân đội, tạo nên sức mạnh vô địch cho Quân đội, là cơ sở vững chắc để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp, cũng như toàn quân thực hiện tốt công tác dân vận của Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Các vấn đề về an ninh truyền thống và phi truyền thống, các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên tiếp tục diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch luôn tạo cớ can thiệp quân sự, đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” bằng những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm, thâm độc hơn... Tình hình đó đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với xây dựng và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong đó có sức mạnh đoàn kết quân dân, làm cơ sở tăng cường quốc phòng, xây dựng Quân đội, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Để thực hiện yêu cầu đó, toàn quân cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và sự nghiệp quốc phòng. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng, củng cố đoàn kết quân dân trong tình hình mới; phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền quốc phòng toàn dân mà chúng ta xây dựng là nền quốc phòng “của dân, do dân, vì dân”, phát triển theo phương hướng: Toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai là, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; vững mạnh về chính trị; có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ trong tình hình mới. Xây dựng, củng cố đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo; tạo điều kiện để xây dựng, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” ở các địa bàn trọng yếu.
Cán bộ, chiến sĩ toàn quân nhận thức sâu sắc yêu cầu xây dựng tình đoàn kết quân dân; không ngừng tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, rèn luyện nếp sống chính quy, xây dựng chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; không ngừng phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang, quyết tâm thực hiện thắng lợi các chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; mãi mãi là lực lượng chính trị đặc biệt, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ba là, cấp ủy, chỉ huy các cấp tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận. Các cấp, các đơn vị tiếp tục cụ thể hóa Chương trình hành động số 620-CTr/QU ngày 11-10-2013 của Quân ủy Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26-1-2015 của Quân ủy Trung ương về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới”, cùng các thông tư, quy chế để thực hiện thống nhất trong toàn quân; đồng thời, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác dân vận, thực hiện nghiêm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước.
Công tác dân vận của Quân đội phải luôn hướng về cơ sở, chú trọng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo; nội dung, hình thức phải thường xuyên được đổi mới, đa dạng, phong phú, xây dựng được nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, nhất là đẩy mạnh Phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt”, Quân đội tham gia xây dựng nông thôn mới, tổ chức hành quân dã ngoại làm công tác dân vận... Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các đơn vị Quân đội với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong tiến hành công tác dân vận. Cấp ủy đảng các cấp có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo, phân công cấp ủy viên phụ trách, xây dựng quy chế, kế hoạch tổ chức thực hiện, gắn với chức trách, nhiệm vụ của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy. Thường xuyên kiện toàn cơ quan dân vận và đội ngũ cán bộ các cấp, đề cao trách nhiệm, nâng cao chất lượng hoạt động, thực hiện tốt chức năng tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn về công tác dân vận trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Bốn là, chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Quân đội và Nhân dân, Quân đội với Công an của các thế lực thù địch.
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội”, các âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, phủ nhận bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội.
Tiến hành đồng bộ, toàn diện các giải pháp giữa “xây” và “chống” để bộ đội và nhân dân nhận rõ bản chất phản động, phản khoa học, tính chất nguy hại, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Lên án, phê phán lối sống thực dụng, cá nhân chủ nghĩa, vi phạm kỷ luật, pháp luật, ảnh hưởng tới bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Quân đội.
Năm là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong các nhiệm vụ, trong đó cần đặc biệt coi trọng làm tốt công tác dân vận, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội.
Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận CTĐ, CTCT, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Hoạt động CTĐ, CTCT phải hướng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả CTĐ, CTCT, xây dựng sức mạnh đoàn kết quân dân chính là nhằm bảo đảm và giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của Quân đội ta.



