Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

Phê phán quan điểm sai trái phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”

Trong những năm qua, các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh các hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mũi nhọn tấn công của chúng là gây nhiễu về chính trị, tư tưởng, văn hóa; ra sức phủ nhận nền tảng tư tưởng và công tác nhân sự của Đảng; kích động tư tưởng ly khai, chống đối; lợi dụng vấn đề “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “dân chủ”, “nhân quyền” “dân tộc”, “tôn giáo”; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên Biển Đông và tình trạng tham nhũng, dịch bệnh để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, những luận điệu xuyên tạc, công kích Quân đội nhân dân Việt Nam, hòng gây mất ổn định chính trị, xã hội và làm cho quân đội ta mất định hướng chính trị, là những luận điệu phản động, hết sức nguy hiểm và thâm độc cần kiên quyết đấu tranh, vạch trần, lật tẩy bản chất. Những “âm mưu, thủ đoạn” thâm độc của các thế lực thù địch Hiện nay, lợi dụng việc góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, một số người đã viết cái gọi là “tâm thư” góp ý, kiến nghị: “Quân đội phải trung lập, phải đứng ngoài chính trị”, “quân đội chỉ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia”, “quân đội phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân, chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức chính trị nào”. Cùng với đó, họ đưa ra yêu sách đòi Đảng, Nhà nước phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013; theo đó, phải có điều khoản hiến định kiểu “nhập khẩu” phương Tây, rằng “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào”, phải thực hiện “dân sự hóa” quân đội theo mô hình của quân đội các nước tư bản chủ nghĩa. Một trong những chiêu trò nổi lên gần đây không thể xem thường là chúng tìm mọi cách để phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”, bằng việc đẩy mạnh thực hiện mưu đồ “phi chính trị hoá”, “trung lập hoá” và “dân sự hóa” quân đội, làm cho quân đội phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc. Quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội là sai trái, hết sức phản động vì nó hướng đến mục đích: Tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội “bị lầm đường, lạc lối”, mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là phương cách để chúng dễ bề thực hiện âm mưu, thủ đoạn chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa, thực hiện ý đồ của chúng. Bài học “đắt giá” về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, các nước Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đến nay vẫn còn nguyên giá trị, luôn nhắc nhở chúng ta phải đề cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc này. Luận điệu và thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội là sai lầm về nhận thức lý luận, không phản ánh đúng thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội trong lịch sử nhân loại, cũng như thực tiễn hơn 75 năm chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hòng tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ như chúng đã thực hiện thành công ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây; trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội là chiêu thức tuy không mới, nhưng vô cùng thâm độc và được chúng đặc biệt coi trọng, triệt để tận dụng khai thác. Nhằm “góp gió thành bão”, “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn”; gần đây, chúng đã triệt để phát huy “kinh nghiệm vốn có” của “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, của “cách mạng màu” và sử dụng nó bằng mọi biện pháp để chĩa mũi tiến công vào quân đội, trực tiếp đánh vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch; xuyên tạc, bôi nhọ đời tư, thân thế, sự nghiệp của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cố tình hạ thấp uy tín, danh dự, phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”; tuyên truyền luận điệu giả dối, lừa mị nhân dân, như “quân đội đông nhưng không mạnh”, không đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo vì “sợ nước ngoài”,... Những luận điệu sai trái đó, vẫn là “tích cũ chiêu trò mới” được “tua đi tua lại”, sử dụng nhiều lần trên các phương tiện truyền thông, nhất là các trang mạng xã hội để kích động, gây hoang mang, nghi ngờ trong cán bộ, chiến sĩ và một bộ phận nhân dân do nhận thức, hiểu biết không đầy đủ, thiếu thông tin về vai trò, sức mạnh chiến đấu của quân đội; qua đó, từng bước hạ bệ thần tượng, làm lu mờ và tiến tới phủ nhận lịch sử, truyền thống vẻ vang của quân đội ta. Mục tiêu của chúng là gieo rắc sự hoài nghi, bi quan về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân; đồng thời, cắt dán, lắp ghép, tung tin xấu, độc lên các trang mạng xã hội để kích động chống phá, gây rối loạn trận địa tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng trong quân đội. Đây là một trong những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch, hòng phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đi kèm và hỗ trợ đắc lực cho quan điểm sai trái và hoạt động gây rối từ âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang cố tình “cải tiến” các mô thức, chiêu trò, hoạt động chống đối, xuyên tạc, hạ thấp, tiến tới xóa bỏ vai trò, hiệu lực, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong quân đội. Chúng xuyên tạc Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 20-7-2005, của Bộ Chính trị khóa IX, về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, cho rằng đội ngũ chính ủy, chính trị viên “chỉ là cái đuôi của bộ máy chỉ huy”, “thành phần ăn theo của một chính sách sai lầm”, là “vật cản trở sự sáng tạo của người chỉ huy” và là sự “phình to biên chế”, “gây lãng phí tiền của”, công sức nhân dân. Từ đó, chúng thổi vào quân đội các luồng thông tin xấu, độc, gây mâu thuẫn, chia rẽ giữa đội ngũ cán bộ lãnh đạo với đội ngũ cán bộ chỉ huy; kích động tư tưởng công thần, địa vị, sự so bì tài - đức giữa thế hệ cán bộ kháng chiến và thế hệ cán bộ trẻ ngày nay. Đặc biệt, chúng gieo rắc tư tưởng hưởng lạc, đòi hỏi chế độ đãi ngộ, chỉ ra sự thiệt thòi của những đồng chí có nhiều cống hiến trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, đặt họ bên cạnh một số ngụy quân của chế độ Sài Gòn đã tử trận khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo; mưu toan gây tâm lý bất bình trong một bộ phận nhân dân, quấy rối nội bộ với dụng ý làm giảm sút niềm tin, phá hoại mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ thời nay - thời xưa, chia rẽ, xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết quân  - dân, phủ nhận quan hệ “quân với dân là một ý chí”. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực xã hội theo Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” để xử lý một số cán bộ cấp cao trong quân đội vi phạm kỷ luật; các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc phao tin quân đội có phe phái “thanh trừng lẫn nhau”, khoét sâu những yếu kém trong quản lý đơn vị, thực hiện chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, những khó khăn về đời sống, quản lý vũ khí, trang bị quân sự để sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ bi quan, chán nản, dao động về lập trường, quan điểm mác-xít, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nảy sinh tư tưởng ghen tỵ, so bì, kèn cựa về lợi ích, sự hưởng thụ so với bạn bè cùng trang lứa, làm mất động lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ trẻ. Bằng những hoạt động của bộ máy “sản xuất”, “chế biến”, tung tin giả rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tìm mọi cách để thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào quân đội; qua đó, triệt để khai thác, lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn tiêu cực xã hội để xuyên tạc bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Cùng với đó, chúng tìm cách đưa lối sống thực dụng, đề cao vật chất, sùng bái đồng tiền và các “giá trị” văn hóa phương Tây, nhất là tư tưởng “sùng ngoại”, “hám đô-la”, kích thích tâm lý hưởng thụ, tung nó vào đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội với tham vọng tạo ra sự “nhạt Đảng, khô Đoàn”, làm mờ nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Thực chất của các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch chỉ nhằm mục đích duy nhất là phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; làm cho quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, bị tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trở nên vô dụng; không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước; không còn là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Chúng xuyên tạc rằng, ở Việt Nam chừng nào còn có Quân đội nhân dân Việt Nam thì chừng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam còn có chỗ dựa vững chắc để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, còn lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, và do vậy, chúng phải quyết liệt chống phá quân đội, làm xói mòn công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì lẽ đó, chúng đã và đang tìm mọi cách để thủ tiêu sức mạnh chiến đấu của quân đội, lấy chiêu trò “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội gắn chặt với âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, làm đòn bẩy “đánh gục Đảng”, tước bỏ vũ khí “tuyệt đối trung thành của quân đội ta với Đảng”. Có thể khẳng định, quan điểm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội là một âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, vô cùng độc hại của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Xét về bản chất, nội dung quan điểm này là hoàn toàn phản động, tuy nó không mới nhưng về hành vi, thủ đoạn, cách thức tiến hành, thực thi quan điểm sai trái ấy thì có một số thay đổi, nhất là các chiêu trò, hình thức chống phá bỉ ổi; làm cho quan điểm này tinh vi, xảo quyệt hơn so với trước đây, nhất là khi chúng đánh thẳng vào bộ máy, tổ chức biên chế quân đội, chĩa mũi nhọn vào các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; đẩy mạnh tâm lý chiến, gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ quân đội. Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét, các trang mạng xã hội và đối ngoại quốc phòng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng mọi hình thức, song được che đậy bởi các vỏ bọc hết sức tinh vi, rất khó nhận diện. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Một số nhiệm vụ quan trọng cần thực tiện tốt trong thời gian tới Để tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với quân đội; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, xây dựng, phát triển thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn và tác hại của các quan điểm sai trái, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương châm xây dựng quân đội là lấy chính trị làm “gốc”, thực hiện “người trước, súng sau”. Bởi vì, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(1). Điều đó có nghĩa là, không có “quân đội trung lập”, “đứng trên giai cấp”, “đứng ngoài chính trị”, “phi đảng hóa” như một số người vẫn ra rả rêu rao, bàn đi nói lại. Việc một số người đòi hỏi một cách phi lý rằng Quân đội nhân dân Việt Nam phải “đứng ngoài chính trị”, chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng Đảng Cộng sản (cầm quyền), về thực chất là tuyên truyền, cổ xúy cho cái gọi là “chuyển hóa lập trường chính trị”, “phi Đảng hóa”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội ta, dù họ biết rằng Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che. Vì vậy, lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của Đảng cũng chính là lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Quân đội không có mục tiêu, lợi ích nào khác là giành lại độc lập dân tộc, đem lại hòa bình, tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Quân đội không chỉ mang bản chất giai cấp công nhân mà còn mang tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Lịch sử hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của quân đội đã chứng minh chân lý ấy. Để nhấn mạnh những nhân tố làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(2). Đây là sự tổng kết thực tiễn và khái quát cô đọng nhất quy luật xây dựng, phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Hai là, chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức giáo dục nâng cao nhận thức và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội trong bối cảnh tình hình mới. Quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; đồng thời, là nhân tố quyết định bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, quân đội đã hoàn thành trọng trách vẻ vang là chỗ dựa vững chắc nhất của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Bất luận trong điều kiện hoàn cảnh nào, dù khó khăn, thử thách đến đâu, quân đội luôn vững vàng, kiên định, không nao núng tinh thần, không dao động ngả nghiêng trước sự chống phá điên cuồng, nham hiểm của các thế lực thù địch. Vì vậy, khâu then chốt của mọi vấn đề then chốt để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị; tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giúp họ có nhận thức, hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng; bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội. Quan tâm chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong quân đội; quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố vững chắc mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân. Trên cơ sở đó, xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ; giúp họ có đủ sức đề kháng, miễn dịch trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Ba là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa của Đảng trong quân đội. Đây là giải pháp rất quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Cấp ủy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong toàn quân cần quan tâm chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ, lọt thông tin; có biện pháp phòng ngừa “từ sớm, từ xa”, không để xảy ra tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; đồng thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa văn nghệ của Đảng trong toàn quân, toàn quốc. Trong quá trình đó, phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; chú trọng đấu tranh trực diện với các âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của kẻ thù, kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây tâm lý hoài nghi, bi quan, chán nản ở cán bộ, chiến sĩ, đi đôi với khẳng định bản chất, giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng, của Đảng và Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, cần giúp cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội là cuộc chiến đấu trong thời bình, “thầm lặng”, “không khói súng”, nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, liên quan trực tiếp đến uy tín, vị thế và sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Bởi đây là cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận, văn hóa; là sự giành giật niềm tin, trái tim, khối óc con người; quyền quản lý địa hạt chính trị, trận địa tư tưởng, văn hóa giữa ta và địch. Cuộc chiến đấu này không có giới tuyến, đối phương không lộ diện rõ hình, ta không nhìn thấy mặt, nhưng lại diễn ra thường xuyên, quyết liệt trên các lĩnh vực đối với quân đội và nhân dân, ngay trong đời sống tinh thần của từng cán bộ, chiến sĩ. Vì lẽ đó, đội ngũ cán bộ chính trị, trước hết là chính ủy, chính trị viên các cấp cần coi trọng công tác dự báo, nắm bắt tư tưởng, tăng cường giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; từ đó, có giải pháp phòng, chống hiệu quả, bảo vệ và tự bảo vệ an toàn cho đơn vị, gia đình và bản thân. Tranh sơn mài “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ” của cố họa sĩ Nguyễn Sáng là một "Bảo vật quốc gia" - hình ảnh các chiến sĩ kết nạp Đảng nơi chiến hào khi trận chiến đấu vẫn đang diễn ra là sự tượng trưng cho đỉnh cao của tinh thần cách mạng, toàn dân, toàn quân một lòng với Đảng, với sự nghiệp giải phóng dân tộc _Ảnh: laodong.vn Bốn là, tiếp tục xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh tiêu biểu, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội, trước hết thông qua hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội, từ Quân ủy Trung ương đến Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và các tổ chức cơ sở đảng. Quân ủy Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất trong Đảng bộ Quân đội, có thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định những vấn đề trọng yếu về chủ trương, đường lối, chính sách, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và lãnh đạo mọi mặt công tác, như chính trị, tham mưu, hậu cần, kỹ thuật trong quân đội,... Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ chính ủy, chính trị viên, những người chủ trì về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội chịu trách nhiệm trước Đảng về lãnh đạo mọi mặt của đơn vị theo nội dung, chức trách, nhiệm vụ, phạm vi quy định cụ thể cho từng cấp. Trong quá trình lãnh đạo quân đội, nhất là trong những năm đổi mới đất nước, Đảng ta, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, luôn dành sự quan tâm đặc biệt, chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tập trung củng cố, kiện toàn hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì; giữa xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Nhờ đó, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội được củng cố và tăng cường, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội về chính trị; đổi mới và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội sao cho phù hợp với thực tiễn xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, thích ứng với những đòi hỏi khách quan của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là biện pháp có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề cốt lõi, có tính nguyên tắc trong giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, quyết định mọi thắng lợi của quân đội ta trong bối cảnh, điều kiện lịch sử mới./.

âng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng luôn là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng. Trong lịch sử phát triển hơn 90 năm của Đảng ta, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã khẳng định được vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, tư tưởng, quan điểm, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị của nhiệm kỳ. Kết quả và kinh nghiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thời gian qua Trong các nhiệm kỳ gần đây, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật (KTGSKL) của Đảng đã góp phần từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, góp phần xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hành động nhằm thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, công tác KTGSKL của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII đã có nhiều chuyển biến rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, kỷ cương, thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đánh giá về công tác KTGSKL đảng nhiệm kỳ vừa qua, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được củng cố vững mạnh”(1). Công tác KTGSKL trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã có bước tiến mới với những kết quả rất quan trọng, mang tính đột phá, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao uy tín của Đảng, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền đặc lợi, bất kể người vi phạm là ai”. Thực tiễn công tác KTGSKL của nhiệm kỳ Đại hội XII đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm: Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác KTGSKL ở địa phương, đơn vị một cách chủ động, thường xuyên, liên tục theo tinh thần “lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo”. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng là hết sức quan trọng, ở Trung ương có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, cụ thể, kiên quyết của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; ở địa phương, ở các ban, bộ, ngành, vai trò của đồng chí bí thư cấp ủy là nhân tố quyết định. Thực tiễn cho thấy, ở đâu và khi nào, người đứng đầu cấp ủy quan tâm, coi trọng và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc công tác KTGSKL, thì ở đó, vai trò của ủy ban kiểm tra (UBKT) được phát huy, hoạt động kiểm tra, giám sát được đẩy mạnh; nội bộ đoàn kết thống nhất; kỷ luật, kỷ cương được giữ vững, cán bộ, đảng viên ít vi phạm; tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; từ đó, tạo cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Thứ hai, việc xác định phương hướng nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát phải thiết thực, toàn diện, đồng bộ, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị trong từng thời kỳ và gắn chặt với giải quyết các vấn đề mà cán bộ, đảng viên và nhân dân đang quan tâm. Thứ ba, thực hiện đồng bộ giữa kiểm tra và giám sát theo phương châm“giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”; trong đó, coi trọng và tăng cường giám sát để nhắc nhở, cảnh báo, chủ động phòng ngừa những vi phạm. Trong kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, phải chủ động, kịp thời, chọn đúng thời điểm và đúng nội dung kiểm tra, tập trung vào những địa bàn, lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để kết luận rõ ràng, chính xác, khách quan, chứng cứ đến đâu kết luận xử lý đến đó. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh; song, cần phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”. Vi phạm của đảng viên, nhất là vi phạm có liên quan đến tham nhũng, cần phải được phát hiện trước hết trong nội bộ tổ chức đảng để sớm ngăn chặn ngay từ khi mới manh nha; tránh để vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm ít nghiêm trọng trở thành vi phạm nghiêm trọng. Thứ tư, phải chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có bản lĩnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và chỉ đạo của UBKT cấp trên đối với UBKT cấp dưới, đặc biệt là đối với các vụ, việc nghiêm trọng, phức tạp, lĩnh vực nhạy cảm và khi xử lý vi phạm về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Khi cần thiết, UBKT cấp trên tiến hành kiểm tra “cách cấp” hoặc trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ thể, khó khăn, trở ngại, phức tạp, vấn đề mới phát sinh. Thứ năm, phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa UBKT các cấp với các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện công tác KTGSKL của Đảng trong việc phát hiện, xử lý và công khai kết quả xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Kết quả thanh tra, kiểm toán, điều tra từng bước được xác định là cơ sở, căn cứ quan trọng cho việc kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật của Đảng. Bên cạnh việc đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của cấp ủy đảng, UBKT các cấp và kết quả đạt được khá toàn diện trong nhiệm kỳ, với tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế của công tác KTGSKL của Đảng: “công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới, chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp. Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm. Giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, có nơi còn né tránh”(2). Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Cẩm Tú chủ trì Kỳ họp thứ 2 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII_Ảnh: TTXVN Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thời gian tới Kiểm tra, giám sát là công việc hệ trọng, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không tự thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được. Bước sang nhiệm kỳ khóa XIII, trong bối cảnh “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3), để góp phần tích cực hơn nữa vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần nhận thức đúng, đầy đủ và thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên các cấp về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng Ngay sau Đại hội, công tác KTGSKL của Đảng phải được triển khai thực hiện trên cơ sở bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn của từng địa phương, đơn vị; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng đối với công tác này. Tiếp tục khẳng định KTGSKL là những chức năng, phương thức lãnh đạo của Đảng, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói: “là thanh bảo kiếm của Đảng”, là bộ phận quan trọng trong chỉnh thể công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là của cấp ủy và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cấp ủy, UBKT các cấp. Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác KTGSKL đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai để nhân dân biết, ủng hộ và tham gia giám sát. Phải kiên định, kiên quyết, kiên trì trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến công tác KTGSKL của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Thực hiện tốt cơ chế phối hợp trao đổi thông tin và tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật giữa UBKT với các cơ quan tư pháp, thanh tra, kiểm toán và các cơ quan báo chí. Xây dựng và tổ chức thực hiện Quy định về chế độ tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên các cấp về công tác KTGSKL đảng để đội ngũ này nâng cao nhận thức và thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm được giao phó. Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn thiện hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; xây dựng hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ và các ban đảng ở Trung ương chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác KTGSKL đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cấp ủy các cấp quan tâm chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác KTGSKL đảng đồng bộ, thống nhất với quy định của Trung ương; cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác KTGSKL đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên. Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và thi hành kỷ luật của Đảng; kỷ luật hành chính, xử lý bằng pháp luật gắn với việc xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và “không cần tham nhũng”. Cùng với các quy định, chính sách, pháp luật để xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm, cần có cơ chế để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, mạnh dạn đi đầu trong đổi mới vì sự phát triển của đất nước; việc đánh giá về các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tiêu cực để chia rẽ nội bộ, nói xấu lãnh đạo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và chế độ. Ba là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động kiểm tra, giám sát Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án; tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác KTGSKL đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo hướng có cơ quan được giao chủ trì điều phối, phối hợp. Tăng cường sự phối hợp giữa công tác giám sát trong Đảng với công tác giám sát của Nhà nước (Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp) và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Coi trọng sơ kết, tổng kết việc phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát giữa UBKT với các cơ quan, tổ chức liên quan để rút kinh nghiệm và đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện đạt kết quả trong từng thời gian cụ thể. Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Cấp ủy các cấp đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc ban hành đầy đủ, kịp thời các quy định của Đảng về xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức nghiên cứu, quán triệt triển khai thực hiện; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong thực tế. Các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp phải chủ động xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh và thực hiện có kết quả. Phân công thành viên cấp ủy, tổ chức đảng phụ trách và tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo chức trách, nhiệm vụ, huy động các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; khắc phục tình trạng chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh; tăng cường giám sát chuyên đề trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; trong đó, tập trung vào những nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa. Cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hòa Bình tham mưu cho cấp ủy xây dựng, triển khai chương trình kiểm tra, giám sát năm 2021_Nguồn: baohoabinh.com.vn Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy tăng cường phối hợp với UBKT cùng cấp tham mưu giúp cấp ủy tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách. Chi bộ tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên, kịp thời phát hiện, uốn nắn, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên từ khi mới manh nha để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm trong nội bộ, ngay từ cơ sở. Ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; chủ động, tích cực tham mưu, giúp cấp ủy về công tác KTGSKL đảng. Ủy ban kiểm tra cấp trên tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng có liên quan; phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Ủy ban kiểm tra các cấp tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao; trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm với tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, chú trọng những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như về các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là công tác cán bộ. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị. Việc đánh giá, xử lý các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Công khai kết quả xử lý các vụ, việc trên các phương tiện thông tin đại chúng để phát huy tối đa hiệu quả, tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh các vi phạm có thể xảy ra, tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả đối với việc tổ chức triển khai thực hiện các thông báo kết luận, kiến nghị qua công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng; bảo đảm các nội dung kết luận, kiến nghị được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Năm là, đổi mới, kiện toàn ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy và cơ quan ủy ban kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Thống nhất mô hình tổ chức bộ máy cơ quan UBKT từ Trung ương đến cấp huyện, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đánh giá hiệu quả của việc sáp nhập cơ quan UBKT với cơ quan thanh tra cùng cấp tại một số địa phương, đơn vị đã thực hiện. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra; có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ có chuyên môn giỏi và phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra. Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác KTGSKL đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn. Sáu là, đổi mới công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng Quan tâm đầu tư nghiên cứu nâng cao khả năng dự báo về tình hình vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là những vi phạm mới do tác động bởi những mặt trái của toàn cầu hóa, cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học  - công nghệ mới,... để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược và cán bộ, chuyên gia theo hướng nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát; liên kết với các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu vừa có kiến thức lý luận, vừa am hiểu thực tiễn; hoàn thiện hệ thống lý luận về kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực trong điều kiện một đảng cầm quyền. Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, học tập, trao đổi kinh nghiệm về công tác KTGSKL đảng với các đảng cộng sản và với các nước trên thế giới trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực và phản biện xã hội./.

Nghi án con trai cắt cổ mẹ tử vong

Dân trí Bà Nguyễn Thị D. (phường Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa) vừa được phát hiện tử vong với vết cắt ở cổ. Nghi phạm được xác định là con trai nạn nhân. Chiều ngày 4/5, tin từ UBND phường Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xác nhận trên địa bàn vừa xảy ra một vụ án mạng nghiêm trọng. Nạn nhân là bà Nguyễn Thị D. (SN 1961, trú tại số nhà 20/28 Nguyễn Hữu Cảnh, thôn Trường Sơn, phường Quảng Thịnh. Vụ án mạng xảy ra vào khoảng 14h chiều ngày 4/5. Người dân phát hiện có tiếng la hét trong nhà bà D., tuy nhiên do căn nhà khóa cửa nên không ai vào được. Khoảng 30 phút sau, khi người dân tiếp cận được vào bên trong căn nhà thì bà D. đã tử vong với vết cắt trên cổ, bên cạnh là con trai Lê Hoàng Nam (SN 1987) có biểu hiện "ngáo đá". Nghi phạm Lê Hoàng Nam đã bị cảnh sát bắt giữ ngay sau đó. Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.

Bổ nhiệm Trung tướng Trịnh Văn Quyết làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị

Dân trí Thủ tướng vừa ký quyết định bổ nhiệm Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Chính ủy Quân khu 2, giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Hôm nay (4/5), tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng (BQP) tổ chức Hội nghị công bố, trao quyết định về công tác cán bộ. Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng BQP chủ trì hội nghị. Thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, Thượng tướng Phan Văn Giang (bìa phải), Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trao Quyết định cho Trung tướng Trịnh Văn Quyết. Căn cứ đề nghị của Thường vụ QUTƯ, BQP, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định bổ nhiệm Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 2 giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Thay mặt QUTƯ, BQP, cán bộ, chiến sĩ toàn quân, Thượng tướng Phan Văn Giang chúc mừng Trung tướng Trịnh Văn Quyết được bổ nhiệm giữ cương vị Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT), đồng thời khẳng định: Được bổ nhiệm Phó chủ nhiệm TCCT là vinh dự lớn mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng, giao trọng trách; đồng thời cũng là vinh dự đối với cá nhân đồng chí, tự hào của quân đội, của đơn vị, của quê hương, gia đình, dòng họ. Bộ trưởng Phan Văn Giang mong rằng, trên cương vị mới, Trung tướng Trịnh Văn Quyết xác định tốt trách nhiệm; kiên định lập trường, tư tưởng; nhanh chóng tiếp cận công việc; quyết tâm phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao; tiếp tục nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, học tập; thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, đạo đức, lối sống để tham mưu, đề xuất những chủ trương, giải pháp lãnh đạo trên cương vị công tác của mình cho thủ trưởng TCCT, QUTƯ, BQP về xây dựng quân đội và thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Ở cương vị mới, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thượng tướng Phan Văn Giang cũng lưu ý, tân Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phải luôn đề cao trách nhiệm, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, chấp hành và giữ vững nguyên tắc trong công tác, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, đạo đức, pháp luật và kỷ luật quân đội; chăm lo xây dựng nội bộ đoàn kết, thống nhất, thực sự là hạt nhân đoàn kết trong cấp ủy, chỉ huy đơn vị; khiêm tốn, lắng nghe ý kiến tập thể; gương mẫu trong cuộc sống, gần gũi, yêu thương, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Trung tướng Trịnh Văn Quyết phát biểu đã gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Đảng, Nhà nước, QUTƯ, BQP đã tin tưởng, giao trọng trách; đồng thời xin hứa trên cương vị mới sẽ nỗ lực cố gắng thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước quy định.

Từ 5/5 thực hiện quy định mới về quản lý, bàn giao người hoàn thành cách ly

Dân trí Nói tới những ca Covid-19 lây lan ra cộng đồng từ những người hoàn thành việc cách ly về địa phương những ngày qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu thắt chặt quy định bàn giao đối tượng này... Chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19 chiều nay (4/5), Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu, phải cách ly triệt để, không được để lây nhiễm trong khu cách ly, từ khu cách ly ra cộng đồng. Phó Thủ tướng đề cập bối cảnh nhiều địa phương những ngày qua lại bước vào "trận chiến" căng thẳng mới. "Đến nay, đương nhiên tình hình còn rất phức tạp nhưng cơ bản đến giờ phút này, tình hình vẫn đang được kiểm soát tốt" - Phó Thủ tướng khái quát. Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý, 3 đợt dịch trước, hoặc dịch bùng phát từ nguồn bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc từ bên trong, nhưng đợt dịch lần này thì vừa có từ bên trong, mà áp lực từ biên giới Tây Nam cũng rất lớn. Thêm nữa, biến thể virus mới từ Ấn Độ lây lan nhanh hơn, bệnh nặng hơn nên càng phải quyết tâm chặn dịch. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chủ trì phiên họp chiều 4/5 của Thường trực Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Covid-19 (ảnh: VGP). Xử lý nghiêm địa phương, cá nhân lơ là chống dịch Nói về đặc điểm đợt dịch lần này, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế Đặng Quang Tấn đề cập những trường hợp nhập cảnh trái phép hoặc nhập cảnh không được quản lý cách ly chặt chẽ, có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh ra cộng đồng cao. Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long nhận định, tình hình dịch bệnh hiện nay rất đáng quan ngại với nhiều yếu tố nguy cơ lây nhiễm từ người nhập cảnh hợp pháp, nhập cảnh trái phép, tâm lý chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, tại phiên họp trước của Ban Chỉ đạo, ông đã yêu cầu Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và các bộ rà soát, chuẩn bị cho tình huống có 30.000 người nhiễm. "Không phải chúng ta dự báo sẽ có 30.000 người nhiễm mà tính đến trường hợp xấu để sẵn sàng chuẩn bị và phải phấn đấu để không bao giờ có tình huống đó xảy ra", Phó Thủ tướng giải thích. Phó Thủ tướng yêu cầu tới đây phải quản lý, kiểm soát chặt chẽ biên giới, người nhập cảnh; cách ly triệt để không được để lây nhiễm trong khu cách ly, từ khu cách ly ra cộng đồng. Thời gian tới, cả nước sẽ triển khai đợt cao điểm rà soát tất cả người nhập cảnh theo phương châm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng" không được bỏ sót; kể cả những người phục vụ, làm việc tại các cơ sở có nhiều người nước ngoài đến. Qua phân tích một số trường hợp phát bệnh sau khi hoàn thành cách ly tập trung và lây nhiễm cho cộng đồng, Thường trực Ban Chỉ đạo đã thảo luận về việc thực hiện các quy định cách ly tập trung, theo dõi, giám sát y tế tại nhà. Các ý kiến thống nhất đánh giá, một số cơ sở cách ly tập trung chưa thực hiện đầy đủ các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế, đặc biệt trong xử trí khi phát hiện trường hợp cách ly nhiễm Covid-19. Công tác bàn giao, tiếp nhận người hoàn thành thời gian cách ly tập trung, sau đó theo dõi, giám sát y tế tại nơi cư trú ở nhiều nơi rất lỏng lẻo. Điển hình là ca bệnh 2899 tại thôn Quan Nhân, xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, sau khi về theo dõi, giám sát y tế tại nhà đã gặp gỡ, tiếp xúc, tổ chức ăn uống với rất nhiều người. Hay trường hợp ca bệnh là chuyên gia Trung Quốc sau khi hoàn thành cách ly tập trung tại Yên Bái đã di chuyển đến rất nhiều tỉnh thành. Vấn đề rà soát quy trình cách ly, bàn giao người hoàn thành cách ly về địa phương được tập trung thảo luận trong phiên họp. Từ thực tế đó, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã chỉ đạo từ 0h ngày 4/5, các trung tâm cách ly chưa đưa người đã hết thời gian cách ly tập trung về địa phương. Bộ Y tế phải rà soát lại quy định, hướng dẫn và trong ngày 4/5, phải có văn bản gửi tất cả địa phương, trung tâm cách ly để quán triệt nhằm bảo đảm việc bàn giao giữa trung tâm cách ly với địa phương có người cách ly về cư trú, về làm việc phải có bàn giao, tiếp nhận, được quản lý chặt chẽ trong 14 ngày sau khi hoàn thành cách ly tập trung. Theo báo cáo của Bộ trưởng Y tế, Bộ sẽ hoàn thành văn bản này và ban hành trong chiều tối 4/5 để từ sáng 5/5, các trung tâm và các địa phương căn cứ thực hiện đúng. Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia yêu cầu cơ quan tổ chức, giám sát hoạt động cách ly tuyệt đối không được để tình trạng trong thời gian theo dõi, giám sát y tế sau cách ly mà người phải thực hiện cách ly lại tiếp tục đi tụ tập đông người, đi ăn uống, những nơi công cộng mà không giữ nguyên tắc phòng dịch, để lây lan ra cộng đồng cực kỳ nguy hiểm. Tại phiên họp, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng cảnh báo, thời gian qua, cả nước mới tập trung phát biểu về ngăn chặn người nhập cảnh trái phép qua biên giới nhưng qua đợt này cũng phải chú ý nguy cơ dịch bệnh trong nước từ người nhập cảnh hợp pháp do công tác cách ly tập trung và quản lý y tế sau cách ly không tốt. Đối phó với tình hình hiện tại, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia nhắc nhở, không được bỏ quên nguy cơ dịch bệnh có thể thẩm thấu từ những người nhập cảnh trái phép ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào vì để dịch cùng lúc xuất hiện trong nước lẫn xâm nhập từ bên ngoài thì rất phức tạp. Phó Thủ tướng yêu cầu lực lượng công an, bộ đội biên phòng, chính quyền, đoàn thể tất cả các tỉnh biên giới tiếp tục tăng cường kêu gọi nhân dân tiếp tục cùng với chính quyền quản lý thật tốt, không để nhập cảnh trái phép xảy ra, gây họa cho cộng đồng.

Hải Dương phát hiện 2 trường hợp nghi nhiễm SARS-CoV-2

Dân trí Cơ quan chức năng của tỉnh Hải Dương cho biết, trong ngày 4/5, tỉnh ghi nhận có 2 trường hợp nghi nhiễm SARS-CoV-2 tại huyện Tứ Kỳ và TP Hải Dương. Tối 4/5, trao đổi với phóng viên Dân trí, lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) tỉnh Hải Dương cho biết, trong ngày 4/5, tỉnh này ghi nhận có 2 trường hợp nghi nhiễm SARS-CoV-2 tại huyện Tứ Kỳ và TP Hải Dương. Cụ thể, trường hợp thứ nhất là anh Đ.V.H. (SN 1995, ở khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương). Nguồn nghi nhiễm, anh H. đi cùng chuyến bay VN160 có bệnh nhân Covid-19. Về lộ trình di chuyển của H., lãnh đạo CDC Hải Dương cho biết: Anh H. từ Đà Nẵng về Nội Bài trên chuyến bay VN160, chuyến bay khởi hành lúc 10h46 ngày 29/4/2021 đến sân bay Nội Bài lúc 12h10 phút cùng ngày. Sau khi xuống sân bay, 13h cùng ngày, anh H. đi xe taxi hãng Xuân Quỳnh từ Hà Nội về Hải Tân, TP Hải Dương, đi cùng xe có 5 người (anh H., lái xe, 2 người ở Bình Giang, 1 người ở TP Hải Dương). Đến khoảng 15h, anh H. bắt xe bus số 09 từ Hải Tân về nhà tại khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, tiếp xúc với gia đình. Đến 7h30 ngày 30/4, anh H. đi ăn cùng 7 người bạn tại quán lẩu Trung Kiên ở khu An Nhân Đông (gần siêu thị CTECH Plaza), sau đó đi uống nước mía tại quán vỉa hè cổng trường THPT Tứ Kỳ, sau đó về nhà tại khu An Nhân Đông, thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ và nghỉ ngơi tại nhà. Ngày 2/5, anh H. biết được thông tin 2 chuyên gia Trung Quốc mắc Covid-19 đi cùng chuyến bay VN160 nên đã chủ động khai báo y tế tại Trạm Y tế thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ. Sau đó anh H. được đưa đi cách ly tập trung tại Khoa Truyền Nhiễm, Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ. Ngày 3/5/2021, Trung tâm Y tế huyện Tứ Kỳ lấy mẫu xét nghiệm lần 1 gửi CDC Hải Dương làm xét nghiệm. Ngày 4/5/2021, kết quả xét nghiệm nghi ngờ anh H. dương tính với SARS-CoV-2. Ngay khi có kết quả nghi ngờ, CDC Hải Dương đã lấy lại mẫu xét nghiệm gửi Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương làm xét nghiệm khẳng định đồng thời chuyển trường hợp trên lên bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương cách ly, điều trị. Thực hiện điều tra truy vết các trường hợp tiếp xúc gần, hiện tại truy vết được 18 trường hợp tiếp xúc gần với anh H., 11/18 trường hợp đã có kết quả âm tính lần 1 ngày 4/5. Chiều ngày 4/5/2021, CDC Hải Dương đã tổ chức giám sát các khu vực cách ly tập trung của huyện Tứ Kỳ. Trường hợp thứ 2 là anh N.H.T. (SN 1987, ở Nghĩa Hưng, Nam Định, là Việt kiều hồi hương). Anh T. nhập cảnh Việt Nam vào đêm ngày 29/4/2021 trên chuyến bay VJ5103 từ Nhật Bản hạ cánh tại sân bay Nội Bài. Đoàn khách có 46 khách chia làm 2 xe 47 chỗ di chuyển từ Sân bay Nội về cách ly y tế tại phòng 309, khách sạn Purple Lotus, TP Hải Dương (tỉnh Hải Dương) lúc 4h ngày 30/4. Trong quá trình cách ly anh T. được lấy mẫu như sau: Lấy mẫu xét nghiệm lần 1 ngày 30/4 (lấy mẫu lại sau 3 ngày); lấy mẫu xét nghiệm lần 2 ngày 3/5; ngày 4/5, kết quả xét nghiệm nghi ngờ với SARS-CoV-2. Ngay khi có kết quả nghi ngờ, CDC Hải Dương đã lấy lại mẫu xét nghiệm gửi Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương làm xét nghiệm khẳng định, đồng thời chuyển trường hợp trên lên bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Hải Dương cách ly, điều trị. Chiều ngày 4/5/2021 Lãnh đạo Sở Y tế Hải Dương, lãnh đạo UBND TP Hải Dương và CDC Hải Dương tổ chức kiểm tra, giám sát công tác thực hiện cách ly y tế tại khách sạn Purple Lotus, TP Hải Dương.

Hà Nội: Cảnh sát phá cửa, bắt quả tang 12 người Trung Quốc nhập cảnh "chui"

Dân trí Kiểm tra căn hộ chung cư ở quận Hà Đông nhưng các đối tượng bên trong cố thủ, không chịu mở cửa, cảnh sát phá cửa ập vào, phát hiện 12 người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ. Quá trình xác minh, mở rộng vụ việc phát hiện 50 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, tá túc tại quận Cầu Giấy và Nam Từ Liêm, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an TP Hà Nội phát giác manh mối về nhóm người Trung Quốc khác cũng mới nhập cảnh "chui" vào Việt Nam và tìm cách về Hà Nội. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, chiều 4/5, lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh phát hiện một đối tượng nữ người Trung Quốc lảng vảng ở sảnh tòa nhà Samsora (số 105 đường Chu Văn An, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông). Căn cứ tài liệu thu thập, lực lượng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp cùng Công an phường Yết Kiêu, Công an quận Hà Đông đã xác định và thực hiện kiểm tra căn phòng số 3017, tòa A chung cư Samsora. Tuy nhiên, các đối tượng bên trong đã cố thủ, không chịu mở cửa. 19h cùng ngày, lực lượng chức năng quyết định phá khóa ập vào. Thời điểm cảnh sát kiểm tra, trong phòng có 11 đối tượng, đều mang quốc tịch Trung Quốc, không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ. Cùng với đối tượng nữ ở sảnh tòa nhà, tổng số đối tượng bị cảnh sát phát hiện là 12 người (7 nam, 5 nữ). Trong đó, đối tượng ít tuối nhất sinh năm 1994 và lớn tuổi nhất sinh năm 1973. Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục xác minh, xử lý số đối tượng trên theo quy định pháp luật.

CẢNH GIÁC TRƯỚC ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG NGÀY BẦU CỬ

 

Ngày 23 tháng 05 năm 2021, một sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với vận mệnh của dân tộc sẽ diễn ra - Đó là ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội Khóa XV và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026.

Sẽ không lạ gì khi đây là dịp để các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng chống phá, gây sức ép với nhà nước ta. Và tất nhiên, những chiêu trò cũ vẫn sẽ được chúng tiếp tục diễn trong dịp bầu cử này.

Có người đã quen, có người đã biết, đã chứng kiến, nhưng mọi sự cảnh giác vẫn không bao giờ thừa bởi “đám rận” luôn sẵn sàng bất chấp mọi thứ để có được điều chúng muốn.

Điều đầu tiên và cần cảnh giác đó là việc tụ tập đông người rồi kiếm cớ biểu tình. Đây là điều chúng ta có thể dự đoán từ trước bởi đó là cách đầu tiên và hiệu quả nhất để bọn chúng tiến hành các hoạt động chống phá tiếp theo.

 Đám người biểu tình sẽ như là tấm màn bao bọc cho thân phận của bọn chúng, gây khó khăn cho các lực lượng chức năng trong việc phát hiện những kẻ kích động biểu tình để “kiếm tiền”.

Và trong tấm màn bao phủ đó, tay chân của một số tổ chức chống Việt Nam ở nước ngoài về nước, móc nối với đám "nhân sĩ, trí thức bất mãn", lũ lưu manh đường phố, và những kẻ lợi dụng "dân oan" sẽ âm thầm, lựa chọn thời cơ để gây rối, biến cuộc biểu tình “ôn hòa” thành một cuộc chống phá, gây rối.

Một vấn đề nữa mà cũng cần có sự cảnh giác cao độ. Nhiều khả năng, các đối tượng sẽ lợi dụng việc một số người dân không thể đi bầu cử và thường nhờ người thân, bạn bè bỏ phiếu hộ. Khi đó, các đối tượng sẽ quay phim, chụp ảnh làm bằng chứng để yêu cầu Tổ bầu cử lập biên bản, sau đó tung lên mạng làm chứng để tố cáo chính quyền với luận điệu rằng quá trình tổ chức bầu cử sai nguyên tắc, và kêu gọi không công nhận kết quả bỏ phiếu.

 Chiêu trò này chắc chẵn cũng sẽ được bọn chúng lợi dụng. Quá trình yêu cầu lập biên bản, chúng sẽ cố ý nhục mạ, xúc phạm hoặc tạo ra lý do dẫn đến xô xát.

Chính vì lẽ đó, trước hết, bản thân mỗi cử tri nên sắp xếp thời gian, công việc để thực hiện trách nhiệm, quyền lợi chính đáng của mình, hãy chứng tỏ mình là một người có trách nhiệm với đất nước, với xã hội và với chính tương lai con em của chúng ta.

Một sự cảnh giác có lẽ cũng không thừa, đó là nhiều đối tượng sẽ lợi dụng quá trình giám sát bỏ phiếu để cố tình gây sự với nhân viên cơ quan công quyền, nhất là các cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức cuộc bầu cử và các lực lượng khác bảo vệ bầu cử đang làm nhiệm vụ, từ đó tạo ra các vụ xô xát, ăn vạ để quay phim, chụp ảnh rồi tung lên mạng, vu cáo chính quyền này nọ…

Riêng về bản thân những đối tượng này, nếu bạn có theo dõi trên các trang mạng xã hội, sẽ thấy nhiều thẻ cử tri đã bị các đối tượng viết, vẽ, bày tỏ quan điểm chống đối ngay trên tờ phiếu cử tri.

Chính vì thế, các cán bộ thuộc tổ chức bầu cử cần chú ý đến việc xử lý những Thẻ cử tri không hợp lệ, hoặc thẻ cử tri có dấu hiệu bị làm giả, bị tẩy xóa, bị viết vẽ bậy… Việc xử lý những trường hợp như thế cũng đòi hỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, vu cáo chính quyền.

Để ngày bầu cử diễn ra an toàn, đúng quy trình, đúng pháp luật, khi có nghi vấn hoặc có sự việc xảy ra, các cán bộ ngay lập tức dùng camera cá nhân ghi lại toàn bộ diễn biến vụ việc để tự bảo vệ mình và làm chứng cứ xử lý vụ việc trước pháp luật.

Ngoài những lưu ý mà chúng ta cần cảnh giác nêu trên thì còn tùy thuộc vào tình hình thực tế, các đối tượng sẽ sử dụng nhiều cách khác nhau để đạt được mục đích cuối cùng./.


Sẵn sàng phương án ôn thi tốt nghiệp THPT trong dịch Covid - 19 phức tạp

Dân trí Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT, Cục nhà trường, nhà trường chủ động xây dựng phương án tổ chức ôn tập cho HS trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 khi điều kiện dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp. Bộ GD&ĐT vừa có văn bản gửi các Sở GD&ĐT, Cục Nhà trường (Bộ Quốc phòng), Cục Nhà trường (Bộ Công an), các cơ sở giáo dục trung học trực thuộc, về việc tổ chức ôn tập đối với học sinh lớp 12, chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 trong điều kiện dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp hoặc thiên tai xảy ra ở địa phương. Đơn vị này cũng yêu cầu các địa phương chủ động sẵn sàng phương án chuyển sang dạy học trực tuyến, dạy học trên truyền hình, dạy học qua mạng internet nếu dịch Covid-19 bùng phát trở lại. Chỉ còn thời gian ngắn, kỳ thi tốt nghiệp THPT sẽ diễn ra, Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở giáo dục căn cứ đề thi tham khảo để xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học, ôn tập cho học sinh lớp 12 phù hợp điều kiện thực tế địa phương. Trong quá trình ôn tập, chú trọng trang bị, củng cố cho học sinh nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình cấp THPT, trong đó tập trung chủ yếu ở chương trình lớp 12. Riêng với nội dung kiến thức lớp 11 học kỳ II năm học 2019 - 2020, thực hiện theo Công văn số 1113/BGDĐT-GDTrH ngày 30/3/2020 về hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học học kỳ II năm học 2019 - 2020. Các sở GD&ĐT, cục nhà trường tổ chức tập huấn, hướng dẫn cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh lớp 12 nghiên cứu, học tập quy chế thi tốt nghiệp THPT bảo đảm chất lượng, hiệu quả, nhằm giúp cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh tham gia kỳ thi nghiêm túc, an toàn. Bộ GD&ĐT cũng lưu ý, việc phân loại các nhóm đối tượng học sinh để tổ chức ôn tập cho phù hợp, không gây quá tải, bảo đảm sức khỏe cho học sinh. Các cơ sở giáo dục THPT trực thuộc tiếp tục thực hiện đúng hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2020 - 2021 đối với giáo dục trung học, giáo dục thường xuyên (GDTX) và hoàn thành theo khung kế hoạch thời gian năm học 2020 - 2021 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành, không dạy dồn, cắt xén chương trình. Sở GD&ĐT Hà Nội sẽ thành lập các đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các đơn vị, trường học trên địa bàn. Tính từ 18h ngày 29/4 đến 6h ngày 30/4, Việt Nam thêm 4 ca mắc mới Covid-19 (BN2911-2914), trong đó có 3 ca ghi nhận trong nước tại Hà Nội (1), Hưng Yên (2) và 1 ca được cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Quảng Trị. Ca bệnh 2911 (BN2911) ghi nhận tại Hà Nội là bệnh nhân nam, 28 tuổi, địa chỉ tại xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, TP Hà Nội, là F1 của BN2899. Ngày 22/4, bệnh nhân đi ăn liên hoan cùng BN2899 tại thị trấn Vĩnh Trụ, Lý Nhân, Hà Nam. Ngày 29/4, bệnh nhân có kết quả dương tính với SARS-CoV-2. Hiện bệnh nhân đang được cách ly điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh. Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Hà Nội mới có ca lây nhiễm trong cộng đồng, để đảm bảo an toàn, đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội cho biết, sẽ thành lập các đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các đơn vị, trường học trên địa bàn thành phố. Thủ trưởng các đơn vị, trường học phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra trường hợp cá nhân vi phạm quy định phòng, chống dịch Covid-19. Sở Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu các phòng giáo dục và đào tạo tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện các quy định về phòng, chống dịch Covid-19 tại các trường học thuộc địa bàn quản lý; nhắc nhở các nhà trường duy trì nghiêm túc công tác vệ sinh, khử khuẩn trường, lớp học; rà soát trang thiết bị, vật tư y tế, bảo đảm sẵn sàng ứng phó trước mọi diễn biến phức tạp của dịch.

Hà Nội: Trường học sẵn sàng "kịch bản" thi trực tuyến vì Covid-19 khó lường

Diễn biến dịch Covid-19 phức tạp, các trường ở Hà Nội phải nghỉ học tập trung nên lịch kiểm tra học kỳ cũng ảnh hưởng. Nhiều trường sẵn sàng phương án thi trực tuyến trong trường hợp cần thiết. Theo lịch gửi đến phụ huynh học sinh, Trường tiểu học Đặng Trần Côn (Quận Thanh Xuân) dự kiến kiểm tra học kỳ cao điểm rơi vào giữa tháng 5. Lường trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, ngay trước kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5, nhà trường đã đẩy lịch kiểm tra học kỳ của học sinh sớm hơn so với dự kiến trước đó. Tuy nhiên, nỗ lực của trường này và một số trường khác trên địa bàn TP Hà Nội "bất thành" bởi chiều tối 3/5, Sở GD&ĐT thông báo cho học sinh toàn thành phố tạm dừng đến trường, các trường này cũng chưa hoàn thành việc kiểm tra học kỳ. Ngay trong đêm, giáo viên chủ nhiệm các lớp thông báo trên nhóm Zalo lớp việc thay đổi thời khóa biểu, học sinh chuẩn bị bài để học trực tuyến ngay từ 14h chiều 4/5. Trường tiểu học Phan Đình Giót (quận Thanh Xuân) cũng gửi thông báo khẩn tới phụ huynh và học sinh về việc điều chỉnh lịch thi học kỳ sớm hơn so với dự định, vào ngày 4 - 7/5. Ngay sau khi có lịch nghỉ để chống dịch, trường này chủ động thông báo lịch học trực tuyến. Trường tiểu học Xuân Phương (quận Nam Từ Liêm) dự định tổ chức thi kết thúc học kỳ II sớm hơn 1 tuần so với lịch đã thông báo, đồng thời tính đến việc giảm tải một số nội dung thi cho học sinh. Tuy nhiên, do những thay đổi hôm 3/5, nhà trường ngay lập tức thiết lập kế hoạch mới, sẵn sàng cho phương án học trực tuyến. Đồng thời, thầy cô của tất cả các khối đã xây dựng kế hoạch học tập trong 3 tuần còn lại. Ngay khi có lịch nghỉ học để chống dịch Covid-19, Trường tiểu học Khương Thượng (quận Đống Đa) yêu cầu giáo viên thiết lập lại thói quen cũ, đồng thời gửi thông báo tới phụ huynh học sinh trong toàn trường về việc triển khai hình thức này để đảm bảo việc học không bị gián đoạn. Hiện Trường Tiểu học Xuân Phương vẫn đang chờ Phòng GD&ĐT thống nhất hình thức thi học kỳ trong toàn quận. Tuy nhiên, cô Lê Thị Tuyết Lan, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, trong trường hợp dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, học sinh không thể trở lại trường, đơn vị này sẵn sàng tổ chức thi học kỳ II bằng hình thức trực tuyến. Nhà trường dự kiến có thể thiết lập một ngân hàng đề thi, sau đó tổ chức cho học sinh thi trực tuyến. Phương án này sẽ phù hợp với các môn thi trắc nghiệm như tiếng Anh, Lịch sử,… Đối với các môn cần thi đọc và viết như Tiếng Việt, thầy cô có thể kiểm tra từng học sinh theo hình thức mặt đối mặt thông qua Zoom. Một "kịch bản" khác cũng được đưa ra ở trường này, giáo viên đánh giá dựa vào những kết quả trước đó và thông qua kết quả trong quá trình ôn tập học kỳ. Tại quận Ba Đình, ông Lê Đức Thuận, Trường Phòng GD&ĐT cho biết, quận đã tổ chức dạy học trực tuyến ôn tập các môn Toán, Ngữ Văn, tiếng Anh, Lịch Sử theo lịch cố định cho học sinh lớp 9 từ cách đây 2 tuần. Từ ngày 4/5, các trường tùy theo điều kiện cụ thể, khối lớp này sẽ được thầy cô giảng dạy trực tuyến các môn học theo chương trình. Về câu hỏi, lịch kiểm tra học kỳ cho học sinh tiểu học có khó khăn nếu việc nghỉ dịch kéo dài, các nhà trường có sẵn sàng thi trực tuyến hay không? Ông Thuận cho hay, các trường căn cứ tình hình thực tiễn để hoàn thành kế hoạch dạy học, trong đó có kiểm tra học kỳ và tổng kết năm học, trên cơ sở an toàn tuyệt đối phòng chống Covid-19. Về việc thi học kỳ bằng hình thức trực tuyến, ông Thuận cho hay, các trường thực hiện theo quy định của Bộ và Sở GD&ĐT về dạy học trực tuyến, trong đó có quy định về kiểm tra học kỳ.

Lực lượng làm nhiệm vụ trên biển hôm nay đi bầu cử sớm nhất nước

Ủy ban bầu cử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tổ chức bầu cử sớm nhất cả nước cho các đơn vị làm nhiệm vụ trên biển không có điều kiện tham gia vào ngày bầu cử toàn quốc 23/5 tới đây. Ngày 4/5, Ủy ban Bầu cử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tổ chức 5 điểm bầu cử trên địa bàn tỉnh là Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải Quân (2 điểm), Lữ đoàn 171, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 và Công ty Vietsovpetro để cử tri đi bầu cử sớm. Tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3, ông Nguyễn Văn Thọ - Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Thiếu tướng Lê Xuân Thanh Tư lệnh, Thiếu tướng Đỗ Hồng Đó Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 dự lễ khai mạc. Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 (khu vực bỏ phiếu số 8) có tổng số 446 cử tri. Sau lễ khai mạc, 44 cử tri là cán bộ, chiến sĩ công tác tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 đã bỏ phiếu bầu cử sớm để bầu chọn đại biểu 3 cấp trước khi thực hiện nhiệm vụ trên biển. Lữ đoàn 171, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân có 471 cử tri là cán bộ, chiến sĩ thuộc các tàu Trường Sa 4 và Trường Sa 19. Tất cả cán bộ, chiến sĩ có mặt và thực hiện nghi thức chào cờ, khai mạc bầu cử. Đến trưa cùng ngày, cán bộ chiến sĩ thuộc tàu Trường Sa 4 và Trường Sa 19 thuộc Vùng 2 Hải Quân đã hoàn thành quyền bầu cử. Tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 100% theo đúng danh sách niêm yết. Ngay sau đó, tàu Trường Sa 4 và Trường Sa 19 lên đường đi làm nhiệm vụ, mang theo thùng phiếu ra các nhà giàn DK1 để cán bộ chiến sĩ thực hiện quyền cử tri trong thời gian từ 15 - 18 ngày và trở về đất liền trước ngày bầu cử 23/5. Những lá phiếu đầu tiên bầu đại biểu Quốc hội khóa 15 và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 được cán bộ, chiến sĩ công tác tại Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 bỏ vào thùng phiếu. Tại hội trường Hải đoàn 129 Hải quân (khu vực bỏ phiếu số 1 của đơn vị Hải đoàn 129 Hải quân) có 207 cử tri là cán bộ, chiến sĩ tham gia bỏ phiếu sớm. Còn 138 cử tri đang làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa sẽ tham gia bầu cử trên biển. Những lá phiếu đầu tiên bầu đại biểu Quốc hội khóa 15 và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026 đã được các cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, người lao động tại các đơn vị bỏ vào thùng phiếu, thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tại các điểm bầu cử, công tác phòng chống dịch bệnh cũng được triển khai theo quy định 5K của Bộ Y tế.

Vĩnh Phúc khẩn trương xây dựng khu cách ly sức chứa hơn 1.000 người

Dân trí Thành phố Phúc Yên, Vĩnh Phúc khẩn trương tiến hành các bước để xây dựng khu cách ly tập trung có sức chứa hơn 1.000 người phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19. Ngày 4/5, kiểm tra hệ thống cơ sở vật chất tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng an ninh - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 (phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên), Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - bà Hoàng Thị Thúy Lan cho rằng, đây là địa điểm phù hợp để thành lập khu cách ly tập trung với quy mô lớn. Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan kiểm tra công tác chuẩn bị khu cách ly tập trung tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng an ninh - Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 (Ảnh: Bích Phượng). Bà Lan yêu cầu thành phố Phúc Yên phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và các lực lượng chức năng khẩn trương tiến hành các bước để xây dựng tại đây trở thành khu cách ly tập trung có sức chứa hơn 1.000 người phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19 của thành phố Phúc Yên và trường hợp cần thiết, có thể trở thành khu cách ly tập trung của tỉnh. Sau khi đi kiểm tra công tác bảo đảm an toàn, an ninh trật tự tại Khu đô thị Đồng Sơn và Trung tâm Y tế thành phố Phúc Yên cơ sở 2, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã trực tiếp đến thăm, kiểm tra công tác khám, chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên - nơi đang thực hiện quyết định cách ly y tế để bảo đảm phòng, chống dịch Covid-19. Theo báo cáo nhanh của UBND thành phố Phúc Yên, thành phố đã chỉ đạo các xã, phường truy vết thần tốc tất cả các trường hợp liên quan đến ổ dịch tại quán bar Sunny và các ca bệnh khác. Đến thời điểm này có 439 trường hợp F1 được cách ly tập trung; 995 trường hợp F2 và F3 được cách ly tại nhà; thành phố đã lấy 1.515 mẫu xét nghiệm. Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thành phố Phúc Yên đề xuất tỉnh thiết lập vùng cách ly y tế tại khu vực Đồng Sơn, trong đó, thực hiện cách ly y tế vùng lõi xung quanh quán bar Sunny và các hộ dân xung quanh khu đô thị Đồng Sơn; xét nghiệm để sàng lọc Covid-19 cho toàn bộ dân cư trong khu đô thị; thành lập cơ sở cách ly tập trung của thành phố, quy mô 300 giường tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng an ninh thuộc trường Đại học sư phạm Hà Nội 2; hỗ trợ thành phố thêm nhân lực, vật tư, trang thiết bị y tế, nhất là các đội cơ động, chuyên gia, nhân viên y tế có kinh nghiệm về phòng, chống dịch Covid-19. Trước tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đề nghị thành phố Phúc Yên cần chủ động, kiên quyết hơn nữa trong việc ngăn chặn và dập dịch. Trước mắt, cần tập trung truy vết các nhóm có nguy cơ cao; bảo đảm mọi điều kiện về cơ sở vật chất cho công tác phòng, chống dịch hiệu quả nhất; có quyết định, áp dụng các biện pháp cứng rắn đối với những khu vực đang thực hiện cách ly. Bà Lan yêu cầu thành phố Phúc Yên siết chặt công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, nhất là trật tự đô thị, kịp thời phát hiện các trường hợp nhập cảnh, cư trú trái phép trên địa bàn; rà soát, kiểm soát hộ khẩu từng gia đình, nhanh chóng phát hiện các trường hợp F1, F2. Tăng cường kiểm tra, thực hiện nghiêm các quy định của Trung ương, của tỉnh về phòng, chống dịch Covid-19, nhất là việc chấp hành quy định về giãn cách, đeo khẩu trang nơi công cộng, quản lý các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, du lịch, khu công nghiệp,…

Vượt kỷ lục 20 triệu ca nhiễm, Ấn Độ tranh cãi lệnh phong tỏa

Dân trí Tổng số ca mắc Covid-19 tại Ấn Độ đã vượt 20 triệu người hôm 4/5, đánh dấu kỷ lục tiếp theo trong cuộc khủng hoảng dịch bệnh tại quốc gia Nam Á. Theo thông báo của Bộ Y tế Ấn Độ ngày 4/5, trong 24 giờ qua, nước này ghi nhận thêm 357.229 ca nhiễm mới, nâng tổng số người mắc Covid-19 lên 20,3 triệu trường hợp. Cũng trong 24 giờ qua, Ấn Độ có thêm 3.449 ca tử vong. Tính đến nay, quốc gia Nam Á đã ghi nhận tổng cộng 222.408 người chết vì Covid-19. Nhiều chuyên gia cho rằng số người nhiễm và tử vong trên thực tế tại Ấn Độ còn cao hơn nhiều so với số liệu được công bố chính thức. Ấn Độ đã ghi nhận thêm khoảng 8 triệu ca nhiễm mới kể từ cuối tháng 3 trong làn sóng Covid-19 mới. Nguyên nhân khiến Ấn Độ rơi vào khủng hoảng dịch bệnh được cho là do sự xuất hiện của biến thể virus mới có khả năng lây lan nhanh hơn, cùng với đó là việc chính phủ cho phép tổ chức các hoạt động tập trung đông người như các sự kiện tôn giáo và chính trị lớn. Điều này khiến hệ thống y tế vốn gặp khó khăn của Ấn Độ bị quá tải, dẫn đến tình trạng thiếu giường bệnh, thuốc men và ôxy trầm trọng. Nhiều bệnh nhân mắc Covid-19 tử vong ngay bên ngoài các cơ sở y tế chật kín người ở thủ đô New Delhi cũng như những nơi khác. Tuy nhiên, số ca nhiễm mới hàng ngày tại Ấn Độ đã giảm trong những ngày gần đây, sau khi đạt mức cao kỷ lục 402.000 ca nhiễm hôm 30/4. Ấn Độ là nước đầu tiên trên thế giới ghi nhận số ca nhiễm mới lên tới hơn 400.000 người trong một ngày. "Nếu phân tích các ca nhiễm và tử vong hàng ngày, có một tín hiệu dịch chuyển sớm theo hướng tích cực", quan chức cấp cao của Bộ Y tế Ấn Độ Lav Aggarwal nói với các phóng viên hôm 3/5, song cũng nhấn mạnh rằng đây mới chỉ là tín hiệu ban đầu và cần theo dõi thêm. Hai tuần trước, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã kêu gọi các bang chỉ coi việc phong tỏa "là lựa chọn cuối cùng". Nhưng bây giờ, tất cả mọi người, từ các đồng minh chính trị của ông Modi cho đến các lãnh đạo doanh nghiệp hàng đầu và cố vấn y tế của Tổng thống Mỹ Joe Biden đều coi lệnh phong tỏa là cách duy nhất để ngăn dịch Covid-19 bùng phát ở Ấn Độ. Cách hiệu quả nhất để ngay lập tức phá vỡ chuỗi lây nhiễm là duy trì khoảng cách đủ để virus không lây lan từ người này sang người khác. Một số chuyên gia, bao gồm Anthony S. Fauci - bác sĩ hàng đầu về bệnh truyền nhiễm của Mỹ, nói rằng việc phong tỏa tạm thời là rất quan trọng. Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng việc phong tỏa toàn quốc hoàn toàn không khả thi và sẽ là thảm họa đối với người nghèo - nhóm dân cư bị tác động nhiều nhất khi dịch bệnh bùng phát. Chính phủ liên bang đã để ngỏ cho các bang tự quyết định về việc phong tỏa tại địa phương. Những nơi như thủ đô New Delhi và trung tâm tài chính Mumbai đã áp đặt các biện pháp hạn chế để chống dịch - mặc dù các biện pháp này ít nghiêm ngặt hơn so với năm ngoái. Theo một số chuyên gia, trong khi các bệnh viện phải vật lộn để tìm ôxy và các thi thể chất đống tại các lò hỏa táng, việc phong tỏa càng làm gia tăng tình trạng khó khăn. Việc mất đi sinh kế đột ngột có thể khiến người lao động đổ xô từ thành phố về quê nhà, đồng thời khiến virus lây lan nhanh hơn. Các chuyên gia cho rằng thay vì phong tỏa nghiêm ngặt, các chính quyền địa phương có thể ngừng các hoạt động ở những nơi khó duy trì giãn cách xã hội.

Mọi hành động cũng chỉ vì dân, hướng đích tới dân

Không có dân thì Đảng không có lực lượng, cách mạng không có sức mạnh. Không có Đảng thì dân không có người lãnh đạo. Để xứng đáng là người lãnh đạo của dân, đảng và mỗi đảng viên phải vì dân mà tận tụy trong mỗi việc làm, vì dân mà nêu cao đức tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư đoàn kết và thanh khiết, phụng công thủ pháp, dĩ công vi thượng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quy luật của muôn đời là vậy, có dân thì có tất cả, mất dân thì mất hết. Dựa vào dân mà xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng dân, trọng pháp, gần dân, học dân, nghe dân, tin dân để thương dân và vì dân. Đó là đạo lý, đạo nghĩa với dân, đó cũng là trách nhiệm đạo đức, chính trị, pháp lý đối với dân của Đảng và mỗi đảng viên. Đảng vĩ đại bởi Đảng quang minh chính đại. Đảng vĩ đại bởi Đảng chân chính cách mạng, trong sự cảm nhận, đánh giá trực tiếp của dân, trong sự giúp đỡ, kiểm tra, phê bình của dân với tất cả niềm tin và tình thương yêu của dân với Đảng, vừa nghiêm khắc vừa bao dung, tin tưởng, hy vọng và tự hào về Đảng của mình. 84 năm trong lịch sử quang vinh của Đảng với gần 70 năm Đảng liên tục cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội để Việt Nam có một cơ đồ, sự nghiệp như hiện nay. Khi làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng mới có gần 5.000 đảng viên trong sức mạnh của dân tộc 20 triệu người dân. Giờ đây, dân tộc Việt Nam đã là 90 triệu người và đội ngũ của Đảng đã gần 4 triệu đảng viên. Dân tộc anh hùng, Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại luôn là niềm tự hào kiêu hãnh của nhân dân ta, của mỗi người chúng ta. Đất nước đã vào Xuân. Xã hội đang chuyển mình từ truyền thống tới hiện đại. Dân tộc đang đứng trước vận hội mới để phát triển, dồi dào sinh lực sáng tạo. Con người Việt Nam, thế hệ tiếp nối thế hệ với học vấn, học thức ngày một nâng cao, lại đang sống trong môi trường đổi mới, hội nhập, đang xây dựng xã hội dân chủ và nhà nước pháp quyền, tiến tới văn minh và hiện đại, bằng tài năng, nhiệt huyết và trách nhiệm trước nhân dân và dân tộc, nhất định sẽ làm rạng rỡ trí tuệ, nhân cách Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được toàn dân tin tưởng và tôn vinh, đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền. Phẩm chất xứng đáng của Đảng làm nên tính chính đáng và chính danh của Đảng trong thực thi trách nhiệm nặng nề, vẻ vang mà lịch sử giao phó và nhân dân ủy thác. Đảng mạnh bởi có một Nhà nước mạnh và đặc biệt là có sức mạnh từ sự ủng hộ, giúp đỡ, bảo vệ của Nhân dân, sức mạnh trong lòng dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong giai đoạn phát triển mới hiện nay, Ý Đảng, Lòng dân, Phép nước càng phải được gắn kết mật thiết, keo sơn hơn nữa. Sinh thời, Bác hằng quan tâm, lo lắng và làm hết sức mình để dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được tự do đi lại. Đó là những việc mà Người coi là cấp bách, thiết thực, phải làm ngay. Bác căn dặn, nhắc nhở chúng ta, dân chỉ biết đến tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc đủ. Nước nhà giành được độc lập tự do mà dân vẫn đói rét, vẫn cực khổ, lạc hậu thì độc lập tự do cũng chẳng để làm gì. Dân là chủ và dân làm chủ thì Đảng và mỗi đảng viên là đầy tớ, công bộc trung thành tận tụy của dân. Công chức nhà nước mà đa số là đảng viên, làm việc trong bộ máy công quyền phải suốt đời "dĩ công vi thượng", phải tu dưỡng một lẽ sống "phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý cao nhất" vì dân là quý nhất, dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân. Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân – có thể nói, đó là điều xác định cao quý, thiêng liêng mà Đảng đã nguyện phấn đấu hy sinh để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân - quyền con người, quyền công dân đã ghi trong Hiến pháp. Cũng với trách nhiệm cao cả đó, Thông điệp đầu năm mới 2014 của Thủ tướng Chính phủ đã đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của Dân, trọng trách của Nhà nước và Chính phủ trong việc phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. "Đây là lúc chúng ta cần có thêm động lực để lấy lại đà tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững. Nguồn động lực đó phải đến từ đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân". "Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật. Pháp luật phải đảm bảo được công lý và lẽ phải. Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển”. Từ tinh thần ấy, Đảng Nhà nước, cán bộ đảng viên phải vì dân mà hành động, trước sau như một, mọi hoạt động, mọi hành động cũng chỉ vì dân, hướng đích tới dân./.

Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân

Thực tiễn và thành tựu của đổi mới cũng đem lại cho Đảng và Nhân dân ta điều xác tín quan trọng là, sức mạnh của Đảng và sự bền vững của chế độ bắt nguồn từ sức mạnh của lòng dân, của mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng đồng thời là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hữu cơ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đúng quy luật, thuận lòng dân và hợp thời đại – đó là bí quyết của thành công, là đảm bảo chắc chắn của thắng lợi theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo. Dân là gốc của Nước nên dân giàu thì nước mạnh. Đảng vì dân, vì nước nên dân tin Đảng, theo Đảng, ủng hộ và bảo vệ Đảng, bởi dân hiểu rõ, Đảng là Đảng của mình. Có được uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong lòng dân, trong sự gắn bó đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội như vậy là niềm tự hào chính đáng của Đảng về truyền thống vẻ vang, về những giá trị cao quý của mình được nhân dân và dân tộc tôn vinh. Sâu xa hơn nữa, càng tự hào bao nhiêu Đảng càng phải tự ý thức rõ ràng và đầy đủ bấy nhiêu về cội nguồn sâu xa của sức mạnh, sức sống của Đảng chính là Dân, từ nhân dân và dân tộc mà sinh ra, Dân tộc và Nhân dân đã nuôi dưỡng, bảo vệ và thúc đẩy Đảng của mình, sao cho Đảng luôn luôn xứng đáng với niềm tin, sự ủy thác và kỳ vọng của dân. Mối quan hệ giữa Đảng với dân, giữa giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, trong hoàn cảnh và điều kiện lịch sử của Việt Nam ngay từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX, khi Đảng ra đời đã mang một ý vị và sắc thái đặc biệt, là tính đặc thù nổi bật của Đảng ta so với nhiều Đảng Cộng sản khác trên thế giới. Hồ Chí Minh đã khái quát quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lenin với phong trào công nhân và với phong trào yêu nước của dân tộc. Vậy là, từ trong bản chất làm nên sức mạnh của mình, giai cấp công nhân Việt Nam với Đảng là đội tiên phong ngay từ đầu đã gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc. Bởi thế, dù số lượng ít, nền công nghiệp thực sự của dân tộc chưa sản sinh, chỉ có công nghiệp do tư bản thực dân du nhập vào với mục đích khai thác thuộc địa… vậy mà giai cấp công nhân nước ta thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản vẫn đảm trách xuất sắc vai trò lãnh đạo và thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chính truyền thống lịch sử của dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân đã làm nên sức mạnh của Đảng, đã trở thành nguồn sống, tạo sinh lực, cốt cách và dũng khí cho Đảng. Một dân tộc anh hùng, bất khuất, có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bản sắc văn hóa và văn hiến độc đáo làm nên diện mạo trí tuệ, tinh thần, đạo đức của dân tộc Việt Nam đã nuôi dưỡng, đào luyện nên giai cấp công nhân Việt Nam, đã kết tinh những phẩm giá tốt đẹp ưu tú nhất của giai cấp, của dân tộc vào trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Và Nhân dân ta, một khối quần chúng nhân dân đã từng thấm thía tình cảnh nô lệ, nỗi nhục mất nước nên khao khát độc lập tự do, thà chết vinh còn hơn sống nhục, thà hy sinh tất cả quyết không chịu làm nô lệ… Một dân tộc, một khối quần chúng nhân dân như thế không chỉ dồi dào sức sống, sức sáng tạo, dũng cảm, mưu trí mà còn thủy chung tình nghĩa, vị tha nhân ái, bao dung độ lượng, trọng chân lý và đạo lý, đề cao phẩm giá, danh dự, khí tiết sống ở đời và làm người được thế giới ngợi ca là quý hơn thỏi vàng dòng. Có một cơ sở xã hội như thế, một cội nguồn sức mạnh như thế, Đảng Cộng sản Việt Nam chịu ơn sâu nghĩa nặng với dân tộc và nhân dân của mình.

Điều trần…một phía, làm sao khách quan? .

“Đến hẹn lại lên”, cứ tới ngày Tự do báo chí thế giới (3-5), lại xuất hiện một số tiếng nói thiếu thiện chí từ nước ngoài để dựng chuyện, bôi xấu tự do báo chí ở Việt Nam. Năm nay, được sự hậu thuẫn của một số đài báo, tổ chức chống cộng cùng hai dân biểu Hoa Kỳ, họ đã lôi kéo một nhóm người không phải là nhà báo từ Việt Nam sang Hoa Kỳ dự cái gọi “buổi điều trần về tự do báo chí tại Việt Nam”. Đâu là sự thật đằng sau câu chuyện này? Nhóm người mà một số đài báo nước ngoài “phong” cho là những “nhà báo độc lập”, “diễn giả” thật ra chỉ là các blogger từ Việt Nam tới tham gia cuộc điều trần bao gồm Nguyễn Thị Kim Chi, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Đình Hà, Tô Oanh và Lê Thanh Tùng. Một số người khác cũng được họ mời tham gia cái gọi là "phiên điều trần" bao gồm: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Lân Thắng và Anna Huyền Trang. Những người này được gán cho những vai trò có vẻ rất quan trọng như “khởi động một nền báo chí độc lập tại Việt Nam”, được tiếp xúc với các quan chức, các tổ chức nhân quyền, một số công ty internet và tham dự “khóa huấn luyện về truyền thông và an ninh điện tử”. Thoạt nghe thì tưởng đây là những hoạt động có ý nghĩa nhưng tìm hiểu kỹ thì thấy nó xa rời tôn chỉ, mục đích của chính ngày Tự do báo chí thế giới vì ẩn chứa nhiều ý đồ xấu. Thật ra, ngày Tự do Báo chí Thế giới 3-5-2014 với chủ đề là: “Tự do cho truyền thông vì một tương lai tốt đẹp hơn” và dấu nhấn được đặt trên các vấn đề: “Truyền thông tự do, Nhà nước pháp quyền, báo chí chuyên nghiệp là một bộ phận của phát triển”. Nếu dựa theo những tiêu chí đó mà xét thì cái gọi là “điều trần”, “hội thảo” ở Mỹ đều đi ngược với tinh thần đó. Trước hết, chỉ cần nhìn vào thành phần ban tổ chức đã đủ thấy “ban bệ” của nó toàn những đối tượng nhiều năm nay quấy phá nền dân chủ, xuyên tạc tình hình ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Đài á Châu Tự Do, Tổ chức Phóng viên Không biên giới, cái gọi là Đảng? Việt Tân - một tổ chức khủng bố có nhiều hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Còn hai dân biểu Loretta Sanchez và Zoe Lofgren thì từ lâu đã được dư luận quốc tế đánh giá là hai nghị sĩ diều hâu, thường đưa ra những ý kiến rất chủ quan, phiến diện về dân chủ, nhân quyền Việt Nam và nhiều nước khác. Riêng bà Sanchez là một dân biểu Mỹ thường xuyên ráo riết vận động hạ viện Mỹ thông qua các dự luật, nghị quyết về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Những người tổ chức cái gọi là cuộc điều trần chỉ đặt ra một vế “truyền thông tự do”, mà tách rời “nhà nước pháp quyền”, đồng thời cũng quên luôn “báo chí chuyên nghiệp” khi các diễn giả được họ mời gọi thực chất không phải là các nhà báo mà chỉ là những kẻ cơ hội chính trị đã kết bè với nhau và liên kết với các tổ chức chống cộng cực đoan, các tổ chức thù địch với Việt Nam. Họ sử dụng blog, facebook thành nơi truyền bá, phát tán những thông bịa đặt, xuyên tạc, chống đối chính quyền, thổi phồng những bất mãn cá nhân dưới một cái mũ hào nhoáng là “tự do báo chí” và “yêu nước”. Nói về những “nhà báo” này, ông John Lee, chủ bút tờ Việt Hải Ngoại ở Hoa Kỳ khi trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân cho biết: “Những người cơ hội chính trị đó đã thực sự đối lập với lợi ích Tổ quốc, một khi họ nuôi dã tâm xấu xa đó thì họ sẽ không bao giờ thực hiện “tự do báo chí” theo nghĩa chân chính nhất của từ này. Thực tế, họ đã đi ngược lại tinh thần của ngày Tự do báo chí năm 2004 nêu rất rõ chủ đề “báo chí chuyên nghiệp”. Không thể có nền tự do báo chí tốt nếu người bàn luận về nó lại là những người không hiểu gì về báo chí vậy. Những “chuyên gia la làng” Xin nêu một ví dụ về trường hợp Nguyễn Lân Thắng, khi bị cấm xuất cảnh đã có thư ngỏ gửi bà Loretta Sanchez, bậy bạ gán ghép chuyện "không có tự do báo chí" có thể gây tác hại nghiêm trọng như việc thiếu thông tin trong dịch sởi hiện nay. Chỉ cần vào google gõ cụm từ “dịch sởi”, đủ thấy có tới hàng nghìn tin bài đưa về việc này, thế nhưng Thắng tuyên bố “người dân đã bị tước bỏ quyền được thông tin để tự bảo vệ mình”. Xét về phương pháp tổ chức cuộc điều trần, có thể thấy ngay nó rất thiếu khách quan. Nhóm người được mời như Phạm Chí Dũng, Ngô Nhật Đăng, Nguyễn Lân Thắng, Huyền Trang, Kim Chi lâu nay chỉ đại diện cho những tiếng nói bất mãn, cực đoan. Không có một bài viết nào của họ trên blog, facebook phản ánh đúng hiện thực đất nước mà chỉ là cái nhìn phiến diện, lệch lạc, hằn học về Đảng, Nhà nước. Tương tự như Cù Huy Hà Vũ, phần lớn những người này đã đi ngược lại truyền thống, lý tưởng cách mạng của gia đình. Họ không chỉ bị xã hội mà bị chính gia đình lên án. Không ít kẻ trong những nhóm người này hiện đã bỏ công việc nghề nghiệp từng làm. ở trong nước, họ đã xuyên tạc, bịa đặt không tiếc lời trên blog, facebook nay ra nước ngoài lại tiếp tục xuyên tạc, bịa đặt về tự do báo chí. Nếu thực sự vì tự do báo chí đích thực, các dân biểu Hoa Kỳ phải hướng tới những kênh thông tin đa chiều, có cơ sở như từ các cơ quan báo chí, các nhà báo, các cuộc khảo sát độc lập…Nếu cần những thông tin có thể tin cậy hơn, độc lập hơn, các dân biểu hoàn toàn có thể tiếp cận các nghiên cứu của hạ nghị sĩ Eni Falemavaega, thành viên cao cấp của ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 8-2 vừa qua, tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ. Trong tuyên bố, hạ nghị sĩ Falemavaega đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam về tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, bảo đảm quyền của tù nhân, tự do tôn giáo. Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin ở Việt Nam được thể hiện rõ qua số lượng đầu báo, ấn phẩm, các kênh phát thanh truyền hình, các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp và được luật pháp bảo vệ. Ngày 7-4 vừa qua, Hạ viện Mỹ đã ra Bản ghi nhận của Quốc hội đưa toàn văn tuyên bố nêu trên của hạ nghị sĩ Falemavaega thành tài liệu chính thức của Hạ viện Mỹ và trân trọng trao Bản ghi nhận của Quốc hội cho Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường. Lẽ nào các dân biểu và nhóm “nhà báo độc lập” lại không hiểu, không ghi nhận thông tin này? Điều trần không khách quan sẽ mất uy tín Ca dao Việt Nam có câu “Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ Ghét nhau thì quả bồ hòn cũng vuông”. Còn ngạn ngữ phương Tây cũng lại có câu: “Trong thế giới của những tay gù thì tất cả những người lưng thẳng đều là dị dạng”. Không có quốc gia nào có nền tự do báo chí tuyệt đối, kể cả Mỹ cũng là nước bị chính dư luận từ Mỹ cho rằng không có tự do báo chí thực sự. Vậy thì không nên vì những suy diễn cảm tính mà đánh giá sai lệch về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Bởi lẽ, càng bóp méo hiện thực khách quan thì uy tín của mỗi dân biểu, mỗi tổ chức nhân quyền và chính mỗi người tham gia cổ súy cho ngày Tự do báo chí thế giới sẽ càng bị suy giảm. Thậm chí, sẽ đến lúc, công luận và nhận thức tiến bộ của nhân dân sẽ quay lưng với chính những việc làm tưởng như vì sự tiến bộ đó. Điều này có lẽ đã có tiền lệ ở Xin-ga-po. Năm ngoái, khi tổ chức Các nhà báo Không biên giới (RWB) công bố “Chỉ số tự do báo chí” hàng năm, đánh giá Xin-ga-po ở vị trí thứ 149 trong tổng số 179 quốc gia, Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long đã bức xúc nói rằng, chỉ số “Tự do báo chí” này không có ý nghĩa gì cả. Ông cho rằng, hệ thống báo chí đã “được truyền tải một cách rất tự do trên Internet, mọi người có thể tiếp nhận thông tin ngay lập tức ở bất kỳ đâu trên thế giới. Các tờ báo được quyền đăng tải một cách tự do mọi loại tin tức nhưng đồng thời cũng phải có trách nhiệm cao”. Tổ chức Các nhà báo Không biên giới xem xét tính “tự do báo chí” của các quốc gia bao gồm cả việc xem xét các đạo luật kiểm soát hoạt động báo chí nhưng lại không xem xét đến chất lượng của báo chí - truyền thông của quốc gia đó. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục khẳng định, mở rộng hơn quyền tự do báo chí. Xét cả về số lượng và chất lượng, Việt Nam đang có một nền báo chí phát triển và thực hiện tốt tự do báo chí. Với những tinh thần của ngày Tự do báo chí thế giới năm nay như “Nhà nước pháp quyền, báo chí chuyên nghiệp là một bộ phận của phát triển” càng cho thấy những tiến bộ trong hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan tới quyền con người, quyền tự do báo chí, trong đó cao nhất là Hiến pháp ở Việt Nam phải được ghi nhận. Không thể khiên cưỡng, áp đặt và đưa ra những đánh giá sai lệch. Những cuộc “điều trần” như thế này là không cần thiết và thiếu khách quan!

Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật .

Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. . Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện một số người tự xưng là “người yêu tự do”, “nhóm yêu tự do”. Họ cho rằng quyền tự do ở Việt Nam đang bị hạn chế. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do “vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền. Bản chất của nhà nước pháp quyền là tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân. Quyền tự do của công dân trong nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật. Mọi người sống trong nhà nước pháp quyền được tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Nhắc đến quyền tự do của con người, một số người đã trích Công ước nhân quyền châu Âu (Công ước) có hiệu lực từ ngày 3-9-1953, trong đó quy định: “Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới”. Một số người cho rằng, công dân Việt Nam chưa được hưởng quyền này. Thế nhưng họ không biết hoặc cố tình coi như không biết phần tiếp theo của Công ước đã trích dẫn ở trên nhấn mạnh: “Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc tán phát các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”. Như vậy, việc thực thi các quyền tự do đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do của công dân. Nước Mỹ được một số người coi là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385 Chương 115-Bộ luật Hình sự Mỹ đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi "in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực". Theo Hiến pháp Mỹ thì Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân. Vì thế, hằng năm có hàng trăm các văn bản lớn nhỏ khác nhau được Tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ. Thực tế không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp… Quyền tự do của mỗi con người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia đó. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Quyền tự do của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam. Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975) đến nay, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã nâng tầm chế định quyền con người, quyền công dân thành một chương. So với hiến pháp của nhiều quốc gia, Hiến pháp năm 2013 của nước ta thuộc vào những hiến pháp ghi nhận một số lượng cao về quyền con người, trong đó có quyền tự do. Sự tiến bộ này đã được nhiều học giả trên thế giới ghi nhận. Đặc biệt, Điều 20 và 21 của Hiến pháp năm 2013 quy định rõ, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ; do đó, đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền được bảo vệ về đời tư so với Điều 73 của Hiến pháp năm 1992-chỉ quy định về quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn chế định một số quyền mới, như quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17). Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013, ở Điều 25, thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật. Triển khai và cụ thể hóa những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, nhằm nâng cao hơn nữa quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của người dân, Nhà nước ta đang khẩn trương xây dựng một số dự án luật mới như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Về hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin... Trong đó, dự án Luật Biểu tình và dự án Luật Trưng cầu dân ý dự kiến sẽ được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5-2015) và biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10-2015) của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Luật Báo chí dự kiến cũng sẽ được đưa ra sửa đổi tại nhiệm kỳ của Quốc hội này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, ở nước ta quyền tự do của người dân đã và đang được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam mới đây, Phối Sư Thượng Tám Thanh-Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh-nói: "Có thể là do một số nước không nắm được tình hình thực tế về sinh hoạt của các tôn giáo hiện có trên đất nước Việt Nam. Cũng có thể là các nước đó đã nhận được những nguồn tin thiếu trung thực, lệch lạc, khiến họ hiểu sai về thực trạng tự do hoạt động tôn giáo tại Việt Nam". Gần đây, khi một số người sử dụng mạng xã hội cũng như những hình thức thông tin khác xuyên tạc sự thật, chống phá Nhà nước và nhân dân ta bị xử lý theo pháp luật, đã có ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, việc xử lý đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng… và lên án gay gắt Điều 258 của Bộ luật Hình sự, đòi bỏ điều này. Cần phải khẳng định rằng, Điều 258 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”. Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định những hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Điều luật này ban hành nhằm thực hiện quyền tự do của công dân trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tránh những kẻ lợi dụng ý nghĩa của việc “tự do” để thực hiện những ý đồ đen tối, gây ảnh hưởng tới an ninh xã hội. Giả sử Điều 258 được bỏ đi như ý nguyện các nhà tự xưng là “tự do dân chủ” thì xã hội sẽ không thể tồn tại được bởi ai thích nói gì thì nói, có thể nói nhăng nói cuội, vu khống, bịa đặt… Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng “hết cỡ” các quyền tự do thì sự tự do ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật.

Tăng cường sức đề kháng để phòng, chống văn hóa xấu độc, ngoại lai

Không rùm beng ồn ĩ, không hô hào, kích động ào ạt, mà cuộc “xâm lăng văn hóa” diễn ra từ từ, ngấm ngầm, dai dẳng, nhưng vô cùng tai hại. Nếu không sớm nhận diện, tỉnh táo và có biện pháp phòng ngừa từ xa, văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ đứng trước thử thách “sinh tử” bởi “cuộc chiến mềm” đầy mưu mô, tính toán của các thế lực thù địch. Sở dĩ người ta ví sự “xâm lăng văn hóa” như một “cuộc chiến mềm” bởi xuất phát từ vị trí, vai trò và chức năng của văn hóa. Văn hóa là gốc rễ, là cội nguồn làm nên sức mạnh nội sinh và sức sống của mỗi dân tộc, đồng thời được ví như “tấm thẻ căn cước”, “chứng minh thư” để nhận diện giữa dân tộc này với dân tộc khác. Quá trình phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng, bên cạnh tiếp thu, hấp thụ những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại, nước ta đang phải đối mặt với một thách thức, nguy cơ không nhỏ. Những năm gần đây, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của ông cha bị đảo lộn, nhiều hành vi phản văn hóa mới xuất hiện với tần suất lớn, mật độ dày và nhất là môi trường văn hóa xã hội đang bị “ô nhiễm nặng nề” đã và đang trở thành nỗi bất an đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc và tương lai đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do cuộc “xâm lăng văn hóa” nhằm vào nước ta đang tấn công từ nhiều phía, từ nhiều con đường, thông qua nhiều hình thức, âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Tại sao trong thời gian qua, dư luận hết sức băn khoăn bởi một bộ phận giới trẻ sa đà vào lối sống “gấp”, sống “thử”, sống co ro vào cái tôi nhỏ nhoi của mình? Tại sao nhiều thanh, thiếu niên nghiện trò chơi điện tử, nghiện xem phim sex, phim bạo lực đến mức báo động đỏ? Tại sao các vụ ly hôn trong gia đình trẻ, các vụ vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành niên và thanh niên liên tục gia tăng? Tại sao rất nhiều người trẻ đã bị lôi kéo, mê hoặc đến mức “phát cuồng” một số ca sĩ, diễn viên, ngôi sao bóng đá từ nước ngoài mà họ coi là thần tượng? Tại sao một số bộ phim vừa ra đời đã bị công luận tiến bộ cảnh báo là nhảm nhí, thảm họa, làm “vẩn đục” môi trường điện ảnh Việt Nam? Tại sao xuất hiện một số bài báo theo kiểu “lượm lặt đó đây”, “sưu tầm bốn phương”, “thông tin đa chiều”, “thế giới nhìn từ nhiều góc cạnh”… với nguồn thông tin không được kiểm chứng, thậm chí là những thông tin vô bổ, có xuất xứ từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam? Tại sao một số nhà xuất bản đã dịch và in ấn những cuốn sách nước ngoài có nội dung xa lạ với nếp nghĩ, truyền thống của dân tộc ta? Tất cả những biểu hiện nêu trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó, căn nguyên vừa sâu xa, vừa trực tiếp là do chúng ta chưa chuẩn bị chu đáo về tâm thế, bản lĩnh trước khi bước vào sân chơi toàn cầu, chưa đủ kiến thức và sự tỉnh táo cần thiết nên đã bị choáng ngợp trước các những cuộc “xâm lăng mềm” về văn hóa. Trong khi đó, các thế lực thù địch, bá quyền đã tìm mọi cách, lợi dụng mọi sơ hở về chính sách, luật pháp của Việt Nam và lợi dụng tối đa những mặt trái của internet để cung cấp, truyền bá các tư tưởng lai căng, các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại vào nước ta. Với phương thức “mưa dầm thấm lâu”, thông qua sản phẩm văn hóa, thông tin xấu độc xuất hiện ngày càng nhiều, các thế lực thù địch muốn tiêm nhiễm vào tâm hồn, suy nghĩ công chúng, nhất là giới trẻ, qua đó làm dao động niềm tin, chao đảo nhận thức, từng bước thay đổi tư tưởng, lối sống, tâm lý, hành vi của họ. Đó cũng là mưu đồ mà các thế lực thù địch muốn “chuyển đổi hệ giá trị” ở Việt Nam, làm cho giới trẻ bị cuốn vào lối sống vị kỷ, thực dụng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ngày càng xa rời lý tưởng, lẽ sống, niềm tin mà các thế hệ ông cha đã phải đổ bao xương máu, mồ hôi, công sức mới vun đắp, tạo dựng nên. Cách đây gần 7 năm, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”, trong đó đã cảnh báo nghiêm khắc: “Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận công chúng. Tình trạng đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn, an ninh xã hội, dẫn đến khuynh hướng tự diễn biến về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến các thế hệ mai sau”. Văn kiện Đại hội XII cũng đã chỉ ra: “Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục… Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ”. Thông qua những cụm từ như: “Khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin”, “tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ”..., cũng đủ thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề mà Đảng ta đã chỉ ra. Những cảnh báo đó đến nay vẫn chưa hề mất tính thời sự, hơn thế, có vấn đề còn trở nên đáng báo động hơn. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói: Mất đất có thể chưa mất nước, nhưng mất văn hóa là mất tất cả. Điều mấu chốt này tưởng như ai cũng hiểu, cũng thấu, nhưng trên thực tế, không ít tổ chức, cá nhân, trong đó đáng nói nhất là một bộ phận thanh, thiếu niên đã bị cuốn theo những “cơn lốc mềm” từ các cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài mà không hề hay biết. Sự vô tình, thiếu hiểu biết đó cùng với những “tác động mềm” hết sức tinh vi của các thế lực thù địch đã làm cho bản sắc văn hóa truyền thống bị nhạt phai, có thể dẫn tới nguy cơ mất gốc và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta dễ bị lung lay, mọt ruỗng. Trước thực tế không thể coi nhẹ, xem thường đó, vấn đề cấp bách hiện nay là chúng ta phải thường xuyên, tích cực bồi tụ, vun đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho các cấp, các ngành và toàn xã hội. Sức đề kháng văn hóa chính là tăng cường khả năng phòng ngừa, bảo vệ, chống lại các sản phẩm văn hóa, thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta. Lịch sử đã minh chứng rằng, sức đề kháng văn hóa có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nếu sức đề kháng văn hóa non nớt, nhu nhược, yếu kém sẽ là mảnh đất màu mỡ cho các “vi rút văn hóa” độc hại có cơ hội nảy sinh, lây lan, làm xói mòn tâm hồn, cốt cách văn hóa dân tộc. Ngược lại, nếu sức đề kháng văn hóa mạnh mẽ, cường tráng sẽ góp phần làm cho văn hóa Việt Nam không những giữ gìn được gốc gác, cội nguồn, bản sắc của mình, mà còn có thể đẩy lùi, tiêu trừ, loại bỏ được các tạp chất gây hại cho môi trường văn hóa dân tộc. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, việc huy động các cấp, các ngành và toàn xã hội cùng chung tay góp sức bồi đắp, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho dân tộc chính là bảo đảm cho tư thế, bản lĩnh, sức sống và sức mạnh văn hóa Việt Nam luôn trường tồn, bền vững trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Đó cũng là giải pháp hữu hiệu bảo đảm cho những giá trị, tinh hoa của dân tộc không bị pha trộn, mất gốc hay đồng hóa trước các cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài./.