Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

Phát hiện 5 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 trong cộng đồng tại Thái Bình

    Hiện nay tình hình dịch SARS-CoV-2 đang diễn biến hết sức phức tạp và đã nan ra nhiều tỉnh thành; trong đó có Thái Bình. Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình, đến sáng ngày 6/5, Thái Bình đã ghi nhận có 5 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 ở các huyện Vũ Thư, Thái Thụy, Kiến Xương.Cụ thể, tại huyện Vũ Thư ghi nhận có 1 trường hợp nữ là T.T.H (SN 1977), trú xã Tam Quang, trước đó bệnh nhân có chăm sóc người nhà ở Bệnh viện Bệnh viện Nhiệt đới trung ương cơ sở 2. Tại Thái Thụy có 3 trường hợp là N.T.N (SN 1951); P.T.D (SN 1983) và C.T.V ở các xã Hồng Dũng, Thụy Quỳnh và 1 trường hợp ở xã Bình Minh, huyện Kiến Xương là N.T.A. Các trường hợp trên đều có liên quan đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương cơ sở 2.

    Ngay sau khi Thái Bình xuất hiện 5 ca dương tính với SARS-CoV-2, các cơ quan chức năng tỉnh Thái Bình đã rà soát, truy vết, cách ly các trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, F1, F2, F3, lấy mẫu xét nghiệm đồng thời thực hiện các biện phòng, chống dịch cần thiết.

    Ngoài các trường hợp dương tính trên, Thái Bình cũng ghi nhận có 2 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 quê Vũ Đông, thành phố Thái Bình và xã Văn Lang, Hưng Hà đang điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trung ương.

Muốn có văn hóa nhận lỗi phải có văn hóa nêu gương

 

Lời xin lỗi, dù thể hiện ở phạm vi, cấp độ và hoàn cảnh nào, tuyệt đối không thể là thứ trang sức để công bộc làm màu, mà đòi hỏi phải xuất phát từ tâm. Nhận thức rõ vai trò của văn hóa công bộc, những năm qua, Đảng ta đã triển khai nhiều giải pháp xây dựng, nâng tầm văn hóa nêu gương của CB, ĐV. Một trong những dòng chủ lưu của công tác giáo dục, rèn luyện CB, ĐV chính là không ngừng đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Dù đã có sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ trong toàn Đảng, nhưng hành trình đi đến sự thực tâm trong thái độ nhận lỗi và văn hóa nêu gương của đội ngũ công bộc vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ, một trong những yếu kém trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đó là: “Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm, khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Những yếu kém này có ở cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, từ Trung ương đến cơ sở với những mức độ, phạm vi khác nhau. Nguyên nhân cũng đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là do một bộ phận không nhỏ CB, ĐV trong cấp ủy, tổ chức đảng các cấp duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình, không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác; cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình; háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích...

 

Có thể nói, chưa bao giờ việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ta chú trọng đẩy mạnh, tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ như hiện nay. Với quan điểm nhất quán không có vùng cấm, không phân biệt người đó là ai, tất cả đều bình đẳng trước kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, hàng loạt những vụ án lớn đã được xét xử, nhiều cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, bị xử lý nghiêm minh. Theo dõi, nghiên cứu thông tin từ những vụ việc, vụ án được dư luận quan tâm, chúng ta thấy rõ, một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến sai phạm nghiêm trọng của những cán bộ này đó chính là duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, làm theo ý mình, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích... như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Trong môi trường, hoàn cảnh, điều kiện dẫn đến những khuyết điểm, sai phạm ấy, lời xin lỗi, thái độ nhận lỗi, ý chí sửa chữa sai lầm... đã bị bỏ quên, thậm chí là bị thủ tiêu. Văn hóa xin lỗi không có cơ hội, môi trường để thể hiện. Ở đó, chỉ còn cái bóng của chủ nghĩa cá nhân bao trùm hành vi, tư duy công bộc. Đến khi tất cả bị đưa ra ánh sáng, đứng trước tòa án và tòa lương tâm, dư luận, người ta mới đưa tay ôm mặt mà rằng: Biết thế này thì tôi đã thế nọ, tôi đã thế kia...

 

Nhắc lại những chuyện ấy để thấy, để có văn hóa xin lỗi, phải bắt đầu bằng văn hóa nêu gương. Cán bộ không nêu gương, cấp ủy, tổ chức đảng không xây dựng văn hóa nêu gương thì lời xin lỗi, nếu có chỉ là sự giả tạo, thái độ nhận lỗi chỉ là hành vi đối phó. Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về trách nhiệm nêu gương, đã chỉ rõ: “Nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công đổ lỗi, dũng cảm nhận khuyết điểm và trách nhiệm”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu phải thực hiện cho bằng được, đó là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để có được một đội ngũ công bộc ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường thì nội hàm của phẩm chất, năng lực công bộc bắt buộc phải có văn hóa xin lỗi, văn hóa nêu gương. Thiếu hoặc coi nhẹ phẩm chất ấy, cán bộ rất dễ sa vào suy thoái đạo đức, lối sống và đây là một trong những nguồn cơn của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.


Kiên quyết lên án, bài trừ luận điệu xuyên tạc, phản động

 

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm “Dân là gốc”. Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu... Đây là sự khẳng định mang tính chân lý, thể hiện bước phát triển mới về lý luận của Đảng trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những đánh giá, đúc kết bài học kinh nghiệm lãnh đạo đất nước trong 35 năm đổi mới của Đảng, kế thừa tinh hoa từ lịch sử dân tộc, kinh nghiệm của tổ tiên, ông cha. Quan điểm “Dân là gốc”, “Nhân dân là trung tâm” cũng chính là sự thể hiện sinh động tính hài hòa, thống nhất của giá trị văn hóa Đảng và mùa xuân dân tộc ở đất nước ta. Đây cũng là cơ sở, niềm tự hào chính đáng để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân đất nước và đông đảo kiều bào yêu nước đề cao tinh thần dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại các âm mưu kiểu “ngụy tư tưởng”, “ngụy lý luận”, “ngụy phản biện”... của các thế lực thù địch, phản động.

Trước Đại hội XIII của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tuyên truyền, kích động, xuyên tạc về văn kiện và công tác nhân sự của Đảng. Tại Hội thảo về nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch do Học viện An ninh Nhân dân (Bộ Công an) tổ chức ngày 29-12-2020, dẫn số liệu từ Bộ Công an cho biết: Từ đầu năm 2020 đến nay, các đối tượng phản động lưu vong đã lập gần 150 hội, nhóm với hàng trăm nghìn thành viên, lập nhiều trang mạng, kênh youtube, tài khoản facebook, hơn 500 cuốn sách và khoảng 6.000 tài liệu để phát tán các thông tin xấu độc, xuyên tạc công tác chuẩn bị văn kiện và công tác nhân sự của Đại hội XIII. Việc chúng ta tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng cũng chính là bằng chứng thất bại của các thế lực thù địch. Ngay sau khi đại hội công bố kết quả bầu cử BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư..., lập tức, nhiều kênh truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại thông qua một số đối tượng được khoác cái mác “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”... đã thực hiện các hình thức “bàn tròn”, “tọa đàm”, “phỏng vấn” bình luận về “tương lai của Việt Nam sau Đại hội XIII”. Một trong những luận điệu chúng tập trung xuyên tạc là coi Đảng Cộng sản Việt Nam như một đảng phái, nhằm tách rời Đảng với dân tộc, chia tách Đảng với nhân dân Việt Nam và kiều bào yêu nước. Những luận điệu này không mới, nhưng đặt trong không khí mừng xuân, mừng Đảng đang bừng lên trong cả nước, chúng ta cần có thái độ kiên quyết phản bác, đấu tranh để bảo vệ uy tín của Đảng, bảo vệ thành quả Đại hội XIII và môi trường văn hóa của toàn Đảng, toàn dân đón chào năm mới Tân Sửu 2021 với niềm tin mới, khát vọng mới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hãy nhuộm đỏ trang cá nhân của mình bằng màu cờ Tổ quốc, màu cờ Đảng cùng sắc đào, mai rực rỡ; ngăn chặn âm mưu lôi kéo, kích động của các phần tử cực đoan, các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng lợi dụng tình hình khó khăn của nền kinh tế do ảnh hưởng của dịch Covid-19 để “ký sinh” tư tưởng cực đoan nhằm phá hoại bầu không khí ấm áp, lạc quan của mùa xuân Tân Sửu, mùa xuân dân tộc mừng Đại hội Đảng thành công, mừng đất nước đổi mới, hội nhập.

Hành trình cùng mùa xuân dân tộc, chúng ta kiên định đường lối đổi mới của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước đều cần phải nghiêm trị.

VẠCH TRẦN ÂM MƯU PHÁ HOẠI

            Tháng Tư lịch sử, khi cả dân tộc Việt Nam hân hoan chào mừng kỷ niệm ngày thống nhất non sông thì những kẻ có tư tưởng thù địch lại giở luận điệu lèo lái dư luận, bóp méo lịch sử nhằm kích động thù hận, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; một số người còn kêu gọi: “Việt Nam không nên kỷ niệm 30-4 nếu muốn hòa hợp dân tộc”

Song, tất cả những lời lẽ phản động và rất bông phèng đó chẳng có nghĩa gì trước một chân lý mà mỗi người Việt Nam yêu nước đều nằm lòng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Điều đó không chỉ được minh chứng bằng lịch sử chung tay dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc mà còn là ý chí quyết tâm từ Bắc vào Nam xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hùng cường.

Lịch sử đã chứng minh, sau khi không thực hiện được dã tâm xâm lược, biến cả nước Việt Nam thành thuộc địa, từ giữa thế kỷ 20, thực dân, đế quốc đã chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam-Bắc và thành lập bộ máy tay sai tại miền Nam để dễ bề cai trị. Song trước ý chí quật cường không để đất nước bị chia cắt của toàn dân tộc Việt Nam, âm mưu của chúng bị phá sản. Dấu mốc lớn nhất là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30-4-1975, đập tan ngụy quân, ngụy quyền tay sai và âm mưu của quân xâm lược, non sông Việt Nam thu về một mối. Từ đó, cả nước Việt Nam ta đã coi ngày 30-4 là Ngày chiến thắng, ngày hội thống nhất non sông. Nhân dân Việt Nam không kể người Kinh hay người dân tộc thiểu số, miền núi hay miền biển, trong Nam hay ngoài Bắc đều phấn khởi, đoàn kết, chung sức khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, chung tay dựng xây đất nước, Việt Nam đã và đang có sự phát triển về mọi mặt; "đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay". Các nước trên thế giới cũng hướng về đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, hữu nghị với sự nể phục và yêu mến. Việt Nam với tinh thần nhân văn cao cả, sẵn sàng gác lại quá khứ, hướng tới tương lai tươi sáng, ngay cả những quốc gia từng ở “bên kia chiến tuyến” cũng đã quay lại thiết lập mối quan hệ ngoại giao gắn bó, hợp tác với Việt Nam từ nhiều năm qua.

Thực tế đó đã làm lu mờ “luận điệu tháng Tư” của các thế lực thù địch, năm nào cũng phát lại những "cuốn băng phản động" cũ rích, lỗi thời. Luận điệu của chúng sẽ không bao giờ làm lay chuyển được ý chí hòa bình, thống nhất đất nước của người dân đất Việt bởi đồng bào cả nước đều hiểu rõ giá trị của Chiến thắng 30-4-1975, hiểu rõ nỗi đau chiến tranh và sự chia cắt đất nước. Với dân tộc Việt Nam, kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30-4 là dịp ôn lại lịch sử truyền thống hào hùng của toàn dân tộc, thấm hơn giá trị của đất nước thống nhất, hòa bình, từ đó phát huy tinh thần đại đoàn kết để nỗ lực phấn đấu, tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải là dịp để kích động hận thù, chia rẽ đoàn kết. Cho nên, luận điệu đòi “Việt Nam không nên kỷ niệm 30-4 nếu muốn hòa hợp dân tộc” nêu trên chính là sự kích động hận thù-âm mưu đen tối của các thế lực thù địch mà mỗi người cần cảnh giác nhận diện để không mắc phải mưu hèn, kế bẩn của những kẻ muốn chia rẽ khối đại đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc Việt Nam.

Philippines phản ứng mạnh Trung Quốc

 

Philippines phản ứng mạnh Trung Quốc

Giới chuyên gia cho rằng biển Đông đang đối mặt cuộc khủng hoảng khai thác thủy sản quá mức với sự hiện diện của đội tàu cá khổng lồ của Trung Quốc

Philippines hôm 4-5 phản đối lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc trên biển Đông giữa lúc quan hệ Manila - Bắc Kinh leo thang căng thẳng.

Khẳng định lệnh cấm của Bắc Kinh không có hiệu lực đối với các khu vực thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Manila, Lực lượng Đặc nhiệm của Philippines về biển Đông (PSCST) khuyến khích ngư dân tiếp tục ra khơi và đánh bắt tại các vùng biển của nước này.

PSCST cũng nhấn mạnh Philippines sẽ tiếp tục tuần tra để thực thi pháp luật và tập trận hàng hải tại các vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ. Lực lượng này còn chỉ trích hải cảnh Trung Quốc vì những hành vi nguy hiểm đối với hải cảnh Philippines ở khu vực bãi cạn Scarborough hồi cuối tháng 4.

Trong khi đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân nhấn mạnh bãi cạn Scarborough là một phần của lãnh thổ Trung Quốc và hối thúc Philippines ngừng thực hiện những bước đi có thể làm phức tạp tình hình. "Chúng tôi hy vọng một số cá nhân tại Philippines sẽ để tâm đến phép xử sự cơ bản và hành xử phù hợp với vai trò của mình" - ông Uông nói thêm, dường như ám chỉ Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Teodoro Locsin.

Ông Locsin hôm 3-5 có những lời lẽ mạnh mẽ trên mạng xã hội Twitter, yêu cầu tàu Trung Quốc rời khỏi vùng biển không thuộc về nước này ở biển Đông. Theo báo Philippine Daily Inquirer, Bộ trưởng Locsin đã xin lỗi người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị vì sử dụng ngôn từ không phù hợp và giải thích rằng ông "bị khiêu khích bởi hành vi xâm phạm lãnh thổ nghiêm trọng gần đây nhất".

Trước đó, vào ngày 29-4, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Đoàn Khắc Việt cũng phản đối và bác bỏ lệnh cấm đánh bắt cá nêu trên của Trung Quốc, nhấn mạnh rằng: "Quy chế này đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982, đi ngược lại tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), trái với thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc".

Việt Nam cho rằng việc tiến hành các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật cần được tiến hành phù hợp với quy định UNCLOS 1982 và không được làm phương hại đến quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán trên biển của các quốc gia liên quan khác.

Theo Reuters, Bắc Kinh đơn phương áp lệnh cấm đánh bắt cá kể từ năm 1999 ở các khu vực thuộc biển Đông và vùng biển ngoài khơi Trung Quốc với lập luận "bảo vệ nguồn lợi thủy sản". Lệnh cấm năm nay kéo dài từ ngày 1-5 đến 16-8.

Theo trang Inquirer.net, giới chuyên gia cho rằng biển Đông đang đối mặt cuộc khủng hoảng khai thác thủy sản quá mức với sự hiện diện của nhiều tàu cá lớn của Trung Quốc. Chưa hết, vùng biển này còn hứng chịu những tổn thất nặng nề về môi trường do hoạt động xây đảo nhân tạo trái phép của Bắc Kinh khiến hệ sinh thái san hô bị hủy hoại. Vì vậy, các quốc gia, các tổ chức quốc tế có trách nhiệm cần lên án và có chế tài để ngăn chặn có hiệu quả các hành động trên vì lợi ích chung.

 

Giá trị lý luận của học thuyết giá trị thặng dư


Từ khi ra đời cho đến nay, học thuyết giá trị thặng dư bị các thế lực thù địch và những kẻ biện hộ cho sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản tập trung xuyên tạc, bóp méo nhiều nhất. Họ cho rằng, “học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác đã lỗi thời, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”, “học thuyết giá trị thặng dư không còn mang tính cách mạng và khoa học”,...


Để trả lời cho câu hỏi: học thuyết giá trị thặng dư (GTTD) của C. Mác có lỗi thời hay không, trước hết, cần nắm vững bản chất tư tưởng cốt lõi của học thuyết GTTD.

Học thuyết GTTD được hình thành trên cơ sở học thuyết giá trị - lao động mà trực tiếp là việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận, nó đem đến cho lý thuyết giá trị - lao động một cơ sở khoa học thực sự.

Trước C. Mác, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc của trường phái tư sản cổ điển, như A-đam Xmít và Đa-vít Ri-các-đô đã không giải thích nổi vì sao các nhà tư bản trao đổi hàng hóa đúng giá trị mà vẫn thu được GTTD. C. Mác đã khắc phục được những nhầm lẫn, hạn chế của trường phái cổ điển và làm cho học thuyết giá trị - lao động đạt tới sự hoàn bị. Sử dụng phương pháp đặc thù trong nghiên cứu kinh tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học, C. Mác đã tách GTTD ra khỏi những hình thái đặc thù của nó, xây dựng nên học thuyết GTTD của mình.

Các nhà kinh tế trước C. Mác thấy được lao động tạo ra giá trị, nhưng không tách ra được lao động nào (cụ thể hay trừu tượng) tạo ra giá trị. C. Mác cho thấy, chỉ có lao động trừu tượng mới tạo ra giá trị của hàng hóa. Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa cùng với một loạt những kết quả nghiên cứu khác: Về lượng giá trị, cấu thành lượng giá trị; nguồn gốc, bản chất, chức năng tiền tệ; quy luật giá trị và tác động của nó; mâu thuẫn công thức chung của tư bản và đặc biệt là nhờ phát hiện ra giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hóa sức lao động có thuộc tính hết sức đặc biệt là sản sinh ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó và nhờ phân biệt được quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị (quá trình sản xuất GTTD), C. Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN), thực chất của quá trình sản xuất GTTD. Qua đó, C. Mác làm rõ GTTD được tạo ra trong sản xuất chứ không phải là trong lĩnh vực lưu thông; lưu thông rất cần cho quá trình sản xuất và thực hiện GTTD.

Tất cả thành quả đó, tạo nên cơ sở khoa học vững chắc giúp C. Mác giải thích được nguồn gốc thực sự và quá trình vận động, biến tướng của GTTD thành lợi nhuận, lợi tức, địa tô trong sản xuất, lưu thông, phân phối; phân tích được bản chất của tư bản bất biến và tư bản khả biến... xây dựng nên học thuyết khoa học về GTTD, về tích lũy, về tái sản xuất và khủng hoảng kinh tế... Với học thuyết GTTD, C. Mác đã giải phẫu toàn bộ hệ thống kinh tế TBCN, bóc trần bản chất và nguồn gốc của cái gọi là hình thức “thu nhập” là lợi nhuận, lợi tức và địa tô.

Học thuyết GTTD cho thấy rõ bản chất và đặc điểm bóc lột của TBCN. Kinh tế hàng hóa TBCN là sự phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn. Nhưng, kinh tế hàng hóa TBCN khác với kinh tế hàng hóa giản đơn không chỉ về lượng (tức là không phải chỉ khác ở số lượng lớn sản phẩm bị thu hút vào chu chuyển hàng hóa và hình thái hàng hóa của sản phẩm trở thành hình thái thống trị) mà còn khác về chất. Trên vũ đài hàng hóa xuất hiện một loại hàng hóa mới là sức lao động, do đó, thị trường hàng hóa (nói chung) được bổ sung bằng một bộ phận đặc biệt là thị trường sức lao động. Tất nhiên, thị trường sức lao động không phải do C. Mác khám phá ra, vì ai cũng biết đến sự tồn tại của lao động làm thuê trong các xã hội trước TBCN. Nhưng điểm nhấn là ở chỗ, chỉ có C. Mác mới nhìn thấy lao động làm thuê (hàng hóa sức lao động và chỉ trên cơ sở sản xuất hàng hóa, lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất (TLSX) mới trở thành lao động làm thuê) là một nhân tố cơ bản làm cho tiền chuyển hóa thành tư bản và kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển hóa thành kinh tế hàng hóa TBCN - thời đại mới của quá trình sản xuất xã hội, thời đại của tư bản công nghiệp.

Phương thức sản xuất TBCN được xây dựng trên cơ sở của một hình thức bóc lột đặc biệt, tức là hình thức chiếm đoạt lao động của người khác (lao động thặng dư) dưới hình thái GTTD. Khác với phạm trù “lợi nhuận” vốn được nhà tư bản yêu thích, GTTD biểu hiện một cách chính xác như sau: 1- Là giá trị, tức lao động vật hóa; 2- Là lao động thặng dư vật hóa, là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động và bị nhà tư bản chiếm dụng. Từ đó, đặc điểm bóc lột của CNTB không phải là ở sự tồn tại lao động thặng dư, mặc dù dưới sự thống trị của tư bản, trình độ bóc lột được nâng lên rất cao, mà đặc điểm của nó là lao động thặng dư đã hao phí mang hình thái GTTD, còn tỷ lệ giữa thời gian lao động thặng dư và thời gian lao động tất yếu thì mang hình thái tỷ lệ giữa GTTD và tư bản khả biến. Quan hệ bóc lột bị vật hóa, bị che lấp đằng sau quan hệ giữa vật với vật. Vì thế, sự bóc lột trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) là rất tinh vi và không có giới hạn.

Như vậy, điểm mấu chốt của học thuyết GTTD là:

Thứ nhất, chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra GTTD. Nguồn gốc tạo ra GTTD là sức lao động của công nhân làm thuê, chỉ có lao động sống (sức lao động đang hoạt động) mới tạo ra giá trị, trong đó có GTTD, nguồn gốc của GTTD là sự tiêu dùng sức lao động kéo dài ngoài thời gian tái sản xuất ra giá trị của nó;

Thứ hai, GTTD là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất TBCN, không có sản xuất GTTD thì không có CNTB, GTTD là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản, nội tại của xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân), mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu CNTB bằng một xã hội cao hơn.

Thứ ba, chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX, còn hàng hóa sức lao động, chừng nào mà người lao động còn phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống mình một số thời gian lao động dôi ra để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu TLSX, chừng đó, học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị.   

Học thuyết GTTD của C. Mác với những nội dung cốt lõi nêu trên, ngay từ khi mới ra đời đã vấp phải sự phủ nhận từ phía những người biện hộ và bảo vệ CNTB.

Còn nguyên giá trị trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

Ngày nay, CNTB đương đại tuy đã có những bước phát triển mới, có sự điều chỉnh ở mức độ nào đó về chế độ sở hữu, quản lý và phân phối, về kiến trúc thượng tầng, nhất là về hệ thống pháp luật và sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản độc quyền,... để tồn tại và thích nghi với bối cảnh mới. Nhưng học thuyết GTTD của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị, bởi bản chất bóc lột của CNTB vẫn hiện hữu, không hề thay đổi.

Từ nửa sau thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ nhanh, với trình độ ngày càng cao. Bước tiến phi thường của cuộc cách mạng này dẫn tới việc xây dựng nhiều ngành công nghệ cao, như công nghệ hạt nhân, công nghệ điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và nhiên liệu mới, công nghệ vũ trụ, công nghệ thông tin,... đặc biệt là thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông tin và sự ra đời của thời đại tin học.

Trong thời đại “hậu công nghiệp” hay “xã hội thông tin” ngày nay, lý lẽ đưa ra để bác bỏ lý luận GTTD có vẻ “thuyết phục” hơn. Ở các nước tư bản phát triển, mức sống của đại đa số công nhân được nâng cao hơn trước rất nhiều, một số công nhân đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty tư bản, xuất hiện tầng lớp trung lưu đông đảo. Vì thế, nảy sinh luận điệu không còn có sự “phân biệt tư bản và lao động”, “không ai bóc lột ai”, CNTB nếu còn bóc lột thì chỉ bóc lột “người máy”. Vì trong các xí nghiệp hiện đại, tự động hóa, quá trình sản xuất ra sản phẩm không cần hoặc cần rất ít lao động sống, nhưng giá trị do các xí nghiệp này tạo ra tăng gấp bội so với các xí nghiệp cổ điển dùng rất nhiều công nhân,...

Những luận điểm “mới mẻ” ấy quả thật cũng có sự hấp dẫn, nhưng chúng không bác bỏ được sự thật. Chủ nghĩa tư bản mặc dù có những bước phát triển mới, biến đổi về lượng và chất cục bộ, nhưng bản chất bóc lột không hề thay đổi.

Ngày nay, CNTB tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của CNTB tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của nó vẫn không hề thay đổi. Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế - xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Những khái niệm và luận điểm phản ánh, đề cập những sự kiện, quan hệ kinh tế - xã hội mới nhất bao giờ cũng hấp dẫn người ta. Nhưng chúng không bác bỏ được thực tế là: không phải lao động quá khứ như máy móc, thiết bị kỹ thuật làm ra giá trị mới, mà lao động sống mới làm ra giá trị mới, lao động sống mới tạo ra GTTD trong thời đại kinh tế công nghiệp trước đây đã như vậy, trong kinh tế tri thức hiện đại cũng vậy.

Tuy nhiên, do trình độ đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột GTTD. Chỉ có điều khác biệt ở chỗ, quy luật GTTD ngày càng phát huy tác dụng mạnh mẽ trong điều kiện toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, song, cơ chế tác động của quy luật này phức tạp hơn, hình thức bóc lột GTTD tinh vi hơn nhiều so với trước đây. Trong điều kiện hiện nay, sản xuất GTTD có những đặc điểm mới:

Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi, nên khối lượng GTTD được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn. Hơn nữa, nhà tư bản thông qua sử dụng ồ ạt các thiết bị tự động hóa, đem khoa học  - kỹ thuật hiện đại ứng dụng với quy mô lớn vào sản xuất, đã nâng cao rất nhiều lần năng suất lao động. Vì thế, họ thuê ít công nhân hoặc không thuê công nhân điều khiển máy móc mà vẫn có thể giành được GTTD nhiều hơn. Sự thực đó cũng không thể phủ định lý luận giá trị lao động và nguyên lý cơ bản của lý luận GTTD, tức là giá trị và GTTD đều do lao động sống của người lao động sáng tạo ra, lao động sống là nguồn gốc duy nhất của giá trị và GTTD. Các yếu tố sản xuất khác (máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ,... kể cả người máy) đều không tạo ra giá trị và GTTD.

Trong nền kinh tế công nghiệp trước đây đã như thế thì ngày nay, trong điều kiện kinh tế tri thức cũng như vậy. Ai cũng biết, khoa học - kỹ thuật và thiết bị tự động hóa, cùng yếu tố sản xuất khác đều là sản phẩm lao động và có giá trị, đều thuộc về TLSX và điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất TBCN. C. Mác chưa bao giờ phủ định “tác dụng quan trọng” của tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Khi trình bày sự hình thành giá trị và làm tăng thêm giá trị, C. Mác khẳng định tiền đề của nó là TLSX (nguyên liệu và tư liệu lao động) không thể thiếu của sản xuất GTTD.

Dù máy móc tự động hóa đã thay thế lao động trực tiếp và một bộ phận lao động trí óc của con người, nhưng không thay thế được địa vị lao động của con người, càng không thể thay đổi địa vị chủ thể của con người trong quá trình sản xuất.

Do đó, bất cứ lao động nào, dù là lao động giản đơn hay lao động trí tuệ mà không được trả công tương xứng với giá trị mà lao động đó sáng tạo ra (sau khi trừ các khoản chi phí cần thiết) trong TBCN đều bị bóc lột GTTD.

Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự biến đổi lớn. Hàm lượng chất xám (sự đầu tư trí tuệ của công nhân, trí thức, kỹ thuật lập trình, nhà khoa học phát minh, sáng chế, nhà quản trị và công nghệ hiện đại), nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp, dẫn đến lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra GTTD. Thu nhập chủ yếu của nhà tư bản trong điều kiện kinh tế tri thức cũng không phải công quản lý mà từ phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ, nhà tư bản chiếm lấy. Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động này mà tỷ suất và khối lượng GTTD đã tăng lên rất nhiều.

Sự điều chỉnh của CNTB độc quyền nhà nước và của CNTB độc quyền nhà nước quốc tế đã làm cho sự bóc lột GTTD mang tính hai mặt: vừa tăng cường, vừa hạn chế. Tăng cường vì có môi trường đầu tư thuận lợi: cung cấp TLSX, chỉ dẫn và định hướng quá trình sản xuất GTTD; điều chỉnh dòng chảy GTTD tư bản hóa,... Hạn chế vì sử dụng các luật lệ, chính sách để điều chỉnh khi sự bóc lột của các công ty tư bản “quá ngưỡng” có thể xảy ra nguy cơ xung đột về chính trị và xã hội. Ngày nay, sự điều tiết phân phối GTTD của các nhà tư bản qua thuế, quỹ phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,... cũng tạo nên một số thu nhập nào đó cho người lao động.

Sự xuất hiện chế độ sở hữu hỗn hợp với sự hiện diện của các công ty cổ phần, trong đó đại bộ phận là sở hữu tư nhân tư bản với một bộ phận nhỏ cổ phần của người lao động đã làm giảm đi một phần nào tính gay gắt của mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất xã hội với chế độ sở hữu tư nhân TBCN về TLSX. Trong lĩnh vực quản lý và phân phối cũng có những điều chỉnh đáng kể. Việc cho người công nhân được mua cổ phiếu, tham dự hội nghị cổ đông, việc giảm thiểu thời gian lao động trong tuần,... dường như là chiếc van điều áp, giảm thiểu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động.

Nhưng đó là cách nhìn phiến diện, không thấy đằng sau, phía trước sự phát triển ấy là gì. Trước hết phải thấy rằng, CNTB đã có nhiều thế kỷ phát triển, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong máu và nước mắt của nhân dân lao động trên trái đất này. Tê-ry I-gơ-le-tơn - học giả người Anh đã nhận định: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”. Lật lại các trang lịch sử của nó là sẽ thấy những gì mà chế độ tư bản đã đối xử với đồng loại của mình. Vì chế độ thực dân xâm lược mà cuối thế kỷ XIX, hàng chục triệu người Ấn Độ, các nước châu Phi, Trung Quốc, Bra-xin, Triều Tiên, Nga, Việt Nam và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán, dịch bệnh. Và ngay trong lòng các nước tư bản giàu có hiện nay, ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp? Nếu khẳng định được thì tại sao ngay tại nước Mỹ hùng mạnh, phát triển, hiện đại, vẫn còn tồn tại các khu nhà ổ chuột của người da đen và người nhập cư?

Ba là, điểm cần lưu ý, xem xét quan hệ bóc lột của CNTB ngày nay không chỉ bó hẹp trong quan hệ giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê ở các nước TBCN, mà phải xem xét cả quan hệ thống trị, bóc lột của các nước phát triển với các nước kém và đang phát triển, thể hiện ở sự phân hóa hai cực: giàu, nghèo của thế giới. Bởi vì, sự bóc lột GTTD của CNTB đã mang “tính quốc tế”.

Ngày nay, trong điều kiện toàn cầu hóa, CNTB độc quyền nhà nước quốc tế, thông qua các hình thức, như xuất khẩu tư bản, di chuyển lao động từ nước này sang nước khác, việc bành trướng của các công ty xuyên quốc gia, tình trạng bất bình đẳng trong các quan hệ thương mại quốc tế, sự xuất hiện cái gọi là chủ nghĩa thực dân kinh tế, sự áp đặt chính sách giữa Đông và Tây, giữa các nước giàu với các nước nghèo,... khiến cho việc sản xuất GTTD mang tính quốc tế, được tư bản hóa, được xuất khẩu để quốc tế hóa tư bản với sự đa dạng của các hình thức sản xuất ra nó.

Bốn là, những sự “điều chỉnh” để thích ứng của CNTB tuy có tác động tới sự phát triển, song đưa lại hệ quả xấu là khoét sâu thêm khoảng cách giữa giàu và nghèo, làm cho các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu ngày càng giàu hơn. Tích tụ tư bản và bóc lột công nhân là hai quá trình thực tế không tách rời nhau. Điều đó được xác nhận qua sự thành lập các tập đoàn kinh tế khổng lồ trên cơ sở tăng cường bóc lột bằng những phương thức mới, qua nạn thất nghiệp phổ biến đang trở thành hiện tượng kinh niên. Mặt khác, điều đó cũng xác nhận cho học thuyết của C. Mác khi nói rằng đi kèm sự phát triển của CNTB là hiện tượng tăng tư bản bất biến (dùng để mua TLSX) và giảm tư bản khả biến (dùng để mua lao động). Vì thế “đội quân hậu bị” trở thành yếu tố thuộc về bản chất của CNTB. Sự phân cực trong vấn đề tài sản tự nó là biểu hiện của tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở mỗi nước và trên phạm vi thế giới. Cực tích tụ của cải và cực tích tụ đói nghèo là hai mặt của một đồng tiền tư bản ở từng nước và trên phạm vi thế giới. Theo báo cáo của Tổ chức phi chính phủ Oxfam được công bố trong bối cảnh các lãnh đạo chính trị và kinh tế thế giới tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới diễn ra tại Đa-vốt, Thụy Sĩ từ ngày 21-1 đến ngày 25-1-2019, 26 tỷ phú giàu nhất thế giới đang nắm lượng tài sản tương đương tổng tài sản của 3,8 tỷ người nghèo nhất thế giới trong năm 2018. Báo cáo trên còn cho biết, ước tính 1% người giàu nhất thế giới đang nắm giữ 42% tài sản của thế giới; trong khi đó, 99% dân số còn lại chỉ nắm giữ 58% tài sản thế giới.

Hiện nay, trong phạm vi quốc gia, CNTB hiện đại cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật đa dạng, phổ cập trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho quá trình “điều chỉnh” của CNTB tư nhân đối với các quá trình kinh tế. Để điều hòa các mâu thuẫn hiện tại của nó, CNTB tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Động thái này được tiến hành trong sự kết hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản xuất, giảm bớt chi phí xã hội, mở rộng môi trường cạnh tranh,... Vì thế, việc nhà nước tư sản ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hữu và phân phối từ 30%  - 60% thu nhập quốc dân và sử dụng một phần từ siêu lợi nhuận thu được để trả công cho người lao động dễ tạo ra trong người lao động một “ảo giác” về tình trạng không bị bóc lột.

Những phân tích trên đây chưa thể nói lên tất cả những mâu thuẫn, xung đột ngày càng gay gắt trong lòng xã hội tư bản hiện nay, nhưng cũng đã phác họa được bức tranh khái quát về những hình thức biểu hiện mới của vấn đề bóc lột của tư bản đối với lao động trên toàn thế giới. Nhưng, dù những hình thức bóc lột có biến tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột GTTD - tức là bóc lột lao động sống của người lao động chứ không thể bóc lột lao động “chết” của máy móc được. Do vậy, nói một cách khác, học thuyết GTTD vẫn còn nguyên giá trị, CNTB vẫn giữ nguyên bản chất bóc lột của nó.

Luận điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về chế độ người bóc lột người trong xã hội tư bản vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Mặc dù đã có sự thay đổi và điều chỉnh, song có thể khẳng định: bản chất bóc lột của CNTB không thay đổi; khi nào những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản còn tồn tại thì khi ấy, học thuyết GTTD vẫn sẽ mãi là ánh sáng chỉ đường cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và loài người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột của CNTB./.

Đấu tranh với việc lợi dụng dân chủ để chống phá bầu cử

 Ngày 23-5-2021, cử tri cả nước sẽ bước vào Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Là ngày để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của chính mình trong cơ quan quyền lực Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Ổ dịch Vĩnh Phúc: Thêm 8 ca nghi dương tính với SARS-CoV-2

 Ban Chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 của tỉnh Vĩnh Phúc cho biết, đến 00h ngày 5/5, trong tổng số 2.845 mẫu mới xét nghiệm tại Vĩnh Phúc có thêm 8 mẫu nghi ngờ dương tính với virus SARS-CoV-2.

Lào Cai, Yên Bái khẩn tìm người đến quán bar, cafe liên quan ca bệnh COVID-19

 Sở Y tế Yên Bái khẩn tìm người có mặt tại quán cafe Đồng Tâm, TP Yên Bái, còn Lào Cai tìm người từng đến quán bar Face Club.

Chuyển trạng thái phòng chống dịch từ phòng ngự sang chủ động tấn công

 Trước tình hình dịch bệnh có diễn biến mới, Thủ tướng nêu rõ, chúng ta phải có cách tiếp cận mới, tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mới, “chuyển trạng thái phòng chống dịch từ phòng ngự sang chủ động tấn công, song phải hài hòa giữa phòng ngự và tấn công, bảo đảm hiệu quả cao nhất”.

Hà Nội: Người dân không ra khỏi nhà khi không có việc cần thiết

 

Ngày 5-5, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh đã ký ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND về tăng cường thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 trong tình hình mới.

Nâng cao nhận thức trong đấu tranh chống văn hóa độc hại hiện nay

 


Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 và những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, nét đẹp trong đời sống văn hóa truyền thống, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam đang dần bị xâm hại bởi những yếu tố tiêu cực. Một trong số đó phải kể đến là các loại văn hóa độc hại đang được tán phát, truyền bá bằng nhiều hình thức hết sức tinh vi, xảo quyệt như băng, đĩa và sách có nội dung tuyên truyền mê tín dị đoan; những ca khúc tâm lý chiến, phản động sáng tác từ thời chế độ cũ có nội dung kích động hằn thù, bôi nhọ và xuyên tạc lịch sử, đả kích lãnh tụ và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các sản phẩm trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, các loại phim, tài liệu đồi trụy, kích động nói xấu chế độ, chống phá nhà nước Việt Nam, vi phạm quy định về quản lý xuất nhập khẩu văn hóa phẩm của Chính phủ. Các sản phẩm này không chỉ tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên, làm huỷ hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà còn tạo cơ hội, điều kiện cho lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, thích hưởng lạc, sa đọa, cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt; môi trường đạo đức và văn hoá lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận công chúng. Tình trạng đó đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an ninh, an toàn xã hội, dẫn đến khuynh hướng tự diễn biến về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến các thế hệ mai sau.

Để đấu tranh ngăn chặn những văn hóa độc hai đó, mỗi cán bộ, đảng viên chiến sĩ trong quân đội nói riêng phải nâng cao nhận thức, rèn luyện đạo đức, phong cách, lối sống trong sáng, lành mạnh theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,

Chấp hành nghiêm kỉ luật, pháp luật, làm chủ bản thân trong khi tiếp xúc vói các trang mạng xã hội. Chấp hành nghiêm Chỉ thị số 46-CT/TW về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội. Góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, xây dựng nhân cách, đạo đức, lối sống của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, bảo vệ và phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, tạo môi trường xã hội lành mạnh, xâu dựng đơn vị có môi trường văn hóa sáng, xanh, sạch đẹp, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa../

 

Nâng cao nhận thức bảo vệ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh

 


          Hiện nay, ở Việt Nam đang tổ chức tiến hành Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", không chỉ phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc.

          Trong đó, chúng tuyên truyền hết sức sai trái, cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của Việt Nam”. Cần khẳng định rằng, về bản chất, luận điểm tuyên truyền sai trái nói trên nằm trong mưu toan phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc tư tưởng, lý luận chủ yếu, quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, từ đó làm suy yếu, tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu sai trái đó nhằm ba mục tiêu: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận, Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Từ đó, mưu toan làm tha hóa về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu làm suy yếu và đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do vậy, mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về tư tưởng Hồ Chí Minh đều không có cơ sở khoa học và không có giá trị.

          Để tăng cường củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ để nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong tình hình mới, cụ thể là:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Đặc biệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả.

Hai là, quán triệt sâu sắc và vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền.

Ba là, phải quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các mặt tiêu cực trong xã hội.

          Hiện nay, giá trị lý luận và thực tiễn căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên sâu sắc. Mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân càng phải thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh; tự giác, rèn luyện, tu dưỡng, chủ động, kiên quyết phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, tiếp tục đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn./.

 

Chưa vội triển khai ''hộ chiếu vắc xin''

 Trả lời câu hỏi liệu có triển khai “hộ chiếu vắc xin” tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 4-2021 diễn ra tối 5-5, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn cho biết, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã giao Bộ Y tế chủ trì phối hợp xem xét các biện pháp phòng, chống dịch phù hợp khi triển khai "hộ chiếu vắc xin".

Bước nhảy trao gửi tình người

 Xuất phát từ nhu cầu rèn luyện sức khỏe, tạo môi trường gắn kết người khiếm thị trên địa bàn thành phố, Câu lạc bộ (CLB) khiêu vũ người khiếm thị Hà Nội (Solar Club) do thầy Tô Văn Hòa dạy miễn phí đã ra đời và tồn tại suốt 3 năm qua. Chính từ sự phát triển của CLB mà ngày 4-4 vừa qua, Hội Người mù thành phố, Hội Người mù quận Đống Đa và Solar Club đã phối hợp tổ chức cuộc thi khiêu vũ dành cho người khiếm thị mang tên “Bước nhảy xóa mọi khoảng cách” tại Học viện Múa Việt Nam.

Bộ Y tế kéo dài thời gian cách ly tập trung từ 14 lên 21 ngày

 Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, để đảm bảo an toàn cho cộng đồng tránh được sự lây nhiễm virus SARS-CoV-2 từ những người có tiếp xúc gần với các ca bệnh Covid-19, sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia về dịch tễ học và virus học, Bộ Y tế quyết định sẽ kéo dài thời gian cách ly tập trung đối với những người có tiếp xúc gần với các ca bệnh dương tính với virus SARS-CoV-2 và các trường hợp nhập cảnh vào Việt Nam.

Chưa xác định được nguồn lây của 14 ca dương tính với virus SARS-CoV-2 tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương

 Chiều 5-5, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh đã đi kiểm tra công tác phong tỏa, cách ly Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở Kim Chung tại Đông Anh, Bệnh viện dã chiến Mê Linh và một số điểm chống dịch khác trên địa bàn TP Hà Nội.

Phong tỏa Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở Đông Anh

 Ngày 5-5, Giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương Phạm Ngọc Thạch ra quyết định về việc cách ly tập trung đối với nhân viên, người lao động làm việc tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh để phục vụ cho công tác chống dịch. Thời gian cách ly từ 8 giờ ngày 5-5.

5 sự thật thú vị về cuộc đời và sự nghiệp của Karl Marx

 Karl Marx là nhà bác học, nhà triết học, nhà kinh tế và nhà chính luận trứ danh người Đức. Ông viết hàng loạt tác phẩm lớn mà ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục phân tích, chẳng hạn như: “Tư bản luận”, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. Trong các tác phẩm của mình, nhà tư tưởng người Đức đã chỉ ra những khuyết điểm của chế độ tư bản.

YÊU NƯỚC! HÃY CÙNG NHAU CHUNG TAY VƯỢT QUA ĐẠI DỊCH COVID-19!

 

Việt Nam ta có đường biên giới dài với Lào và Campuchia, biên giới chủ yếu là đồng ruộng và kênh rạch đi qua 20 tỉnh của Việt Nam, việc qua lại giữa 2 biên giới quá dễ dàng. Chắc chắn rằng cơ quan chức năng phải căng sức ra gồng mình để bảo vệ.
Nhìn thảm cảnh cơn đại dịch giết chết hàng ngàn người tại Ấn Độ, Brazil và các nước tiên tiến như Mỹ, Châu Âu thật kinh hoàng. Người bệnh nằm la liệt từ trong nhà ra ngoài đường, bệnh viện không những quá tải về máy thở mà quá tải luôn cả oxy, lò thiêu hoạt động hết công suất, người thân mất không được làm một đám ma đàng hoàng, người trước khi mất chỉ có thể gặp nhau qua online...
Với sự ra tay quyết liệt của Chính phủ và ý thức của đại đa số người dân, Việt Nam đã bỏ bao nhiêu công sức chống dịch để được an toàn như ngày nay, vì vậy trong lúc các quốc gia lân cận là Campuchia và Lào có số lượng ca nhiễm tăng lên mỗi ngày và có nguy cơ mất kiểm soát, thì chính lúc này Việt Nam cần tỉnh táo nhất, cần chung tay nhất của mọi người dân để giữ gìn thành quả, trước mắt là cho những người thân trong gia đình mình.
Với các Việt Kiều tại Lào, Campuchia:
+ Tuyệt đối không được nhập cảnh trái phép. Nhập cảnh chính ngạch sẽ luôn tốt cho cả đôi bên.
+ Chính phủ hãy phạt thật đủ mạnh để răn đe khi người vi phạm nhập cảnh trái phép.
Với người dân Việt Nam:
+ Tuân thủ chặt chẻ quy tắc 5K: Khẩu Trang, Khử Khuẩn, Khoảng Cách, Không Tập Trung, Khai Báo Y Tế
+ Hạn chế các chuyến du lịch/di chuyển về các tỉnh sát biên giới
-------------------------------
Danh sách các tỉnh VN giáp biên với Lào
1. Điện Biên
2. Sơn La
3. Thanh Hóa
4. Nghệ An
5. Hà Tĩnh
6. Quảng Bình
7. Quảng Trị
8. Huế
9. Quãng Nam
10. Kon Tum
Danh sách các tỉnh VN giáp biên với Campuchia
1. Kon Tum
2. Gia Lai
3. Đắc Lắc
4. Đắc Nông
5. Bình Phước
6. Tây Ninh
7. Long An
8. Đồng Tháp
9. An Giang
10. Kiên Giang
Mong mọi người cùng chia sẻ vì một Việt Nam bình yên, hạnh phúc!