Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

 


Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện, các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện.

Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh vùng dân tộc thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa các dân tộc.

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN CÁC LĨNH VỰC TRONG CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 


Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh.

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và  phía tây các tỉnh Miền Trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.

CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM BÌNG ĐẲNG, ĐOÀN KẾT

 


Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

 

Hà Nội chủ động phát hiện, xử lý người nước ngoài nhập cảnh trái phép

Công an xác định thủ đoạn của các đối tượng là đưa một người vào trước theo diện doanh nghiệp đề xuất nhập cảnh và xin visa tương đối dài, sau đó thuê nhà và lần lượt đưa từng người vào Việt Nam. Xác định hoạt động nhập cảnh trái phép là một trong những nguy cơ lớn lây lan dịch bệnh và ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an, Thành ủy, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội đã quyết liệt chỉ đạo, triển khai các chủ trương, biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý hoạt động này. Theo Đại tá Trần Ngọc Dương - Phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, lực lượng Công an Thủ đô quyết liệt thực hiện chỉ đạo của thành phố trong ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp người nước ngoài nhập cảnh trái phép. Từ năm 2020 đến nay, Công an thành phố đã ban hành 5 kế hoạch, 23 công văn chỉ đạo trực tiếp công tác phòng, chống người nước ngoài nhập cảnh trái phép; 13 báo cáo chuyên đề có các nội dung chỉ đạo liên quan đến nội dung này. Căn cứ tài liệu thu thập được và lời khai của các đối tượng, bước đầu Công an thành phố Hà Nội xác định thủ đoạn của các đối tượng là đưa một người vào trước theo diện doanh nghiệp đề xuất nhập cảnh và xin visa tương đối dài, sau đó thuê nhà và lần lượt đưa từng người ở nước ngoài nhập cảnh sang Việt Nam. Các đối tượng thường chọn thuê các chung cư mới đưa vào hoạt động, vì chưa có ban quản trị hoặc có nhưng còn yếu, đồng thời chỉ tập trung ở trong căn hộ, ít ra ngoài nên rất khó phát hiện. Trước tình hình đó, Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với các phòng nghiệp vụ và Công an các quận, huyện thị xã triển khai thực hiện các biện pháp nghiệp vụ nắm tình hình, tăng cường công tác rà soát với tinh thần "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người" để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vụ việc người nước ngoài nhập cảnh trái phép. Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Công an cấp quận, huyện, thị xã tổng rà soát toàn bộ các chung cư, tập trung vào các chung cư mới để kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp người nước ngoài nhập cảnh trái phép. Điển hình vào tối 4/5, trên địa bàn quận Hà Đông, lực lượng chức năng phát hiện 12 đối tượng người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Nhờ công tác nắm địa bàn và các biện pháp nghiệp vụ, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp cùng Công an phường Yết Kiêu (Công an quận Hà Đông) đã phát hiện tại phòng số 3017 tòa A chung cư Samsora (số 105 đường Chu Văn An, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông) có nhiều dấu hiệu nghi vấn về việc có người nước ngoài nhập cảnh trái phép đang ở tại đây. Tiến hành kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trong phòng có 11 đối tượng quốc tịch Trung Quốc, không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ và một đối tượng đang ở sảnh chung cư cũng không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ. Tổng số đối tượng bị phát hiện là 12 người (7 nam, 5 nữ). Đáng chú ý, khi được yêu cầu phối hợp làm việc, các đối tượng đã "cố thủ" ở trong phòng, buộc lực lượng chức năng phải phá khóa căn phòng. Cơ quan công an đang tiếp tục đấu tranh, xác minh, xử lý số đối tượng này theo quy định pháp luật. Trước đó, trong đêm 2/5 và rạng sáng 3/5, lực lượng chức năng quận Nam Từ Liêm bắt quả tang 46 người (quốc tịch Trung Quốc) thuê 9 phòng tại chung cư Florence có địa chỉ tại 28 Trần Hữu Dực (phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm. Cùng ngày 2/5, Công an quận Cầu Giấy phối hợp Ủy ban Nhân dân phường Trung Hòa và các đơn vị liên quan điều tra, phát hiện 4 trường hợp nhập cảnh trái phép lưu trú trên địa bàn. Hiện tất cả các trường hợp người nước ngoài nhập cảnh trái phép đều đã được đưa đi thực hiện quy định về phòng, chống dịch COVID-19 và lấy lời khai để điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm theo đúng quy định. Theo đại diện Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an thành phố Hà Nội), thời gian tới, dự báo số lượng người nước ngoài nhập cảnh trái phép để tìm kiếm việc làm, hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà Nội sẽ tiếp tục gia tăng. Điều này đặt ra thách thức không nhỏ đối với các lực lượng chức năng trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp. Công an thành phố Hà Nội đề nghị người dân, nhất là khu vực quanh các nhà nghỉ, khách sạn chủ động phát giác các trường hợp nhập cảnh trái phép, thông báo với lực lượng chức năng để chung tay phòng, chống dịch COVID-19 hiệu quả. Tăng cường kiểm tra phòng, chống dịch COVID-19 trên các tuyến đường sông Ngày 5/5, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội về việc tổ chức tuyên truyền, triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, các Đội Cảnh sát giao thông đường thủy thuộc Phòng Cảnh sát giao thông (Công an thành phố Hà Nội) đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền, hướng dẫn, phát khẩu trang miễn phí cho người dân lưu thông trên các tuyến đường sông và tại các bến đò trên địa bàn thành phố. Bên cạnh việc đảm bảo an toàn giao thông trên sông, lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy còn tuyên truyền nhắc nhở người dân sinh sống trên sông nước tuân thủ các quy định phòng, chống dịch COVID-19. Thiếu tá Hà Trọng Hoan, Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông đường thủy số 1 cho biết, do điều kiện người sinh sống trên sông nước nay đây mai đó nên việc nắm bắt thông tin về dịch bệnh rất sơ sài. Lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy đã thường xuyên phổ biến tin tức về tình hình dịch bệnh hiện tại để người dân cập nhật, nắm rõ để chủ động phòng tránh; đồng thời phát khẩu trang miễn phí cho người dân tại một số bến đò, nhằm đảm bảo hiệu quả công tác phòng, chống dịch COVID-19. Đồng quan điểm, Trung tá Đỗ Trọng Tuân, Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông đường thủy số 2 cho biết, đơn vị đã thành lập các tổ công tác, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền và xử lý nghiêm các hành vi, phương tiện cố tình vi phạm quy định an toàn giao thông đường thủy. Song song với việc đảm bảo tuyệt đối an toàn về tính mạng, tài sản của người dân tại các bến thủy nội địa còn phải tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch COVID-19. Trước đó, ngày 4/5, trong diễn biến liên quan đến việc đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa khi mùa mưa bão đang tới gần, Đội Cảnh sát giao thông đường thủy số 2 đã lập biên bản xử lý 7 chủ bến tập kết vật liệu xây dựng tại xã Thống Nhất (Thường Tín, Hà Nội) hoạt động không phép ven sông Hồng. Qua xác minh bước đầu, các bến trên chỉ được phép hoạt động từ 2-3 tháng (theo thời vụ) trong năm, tuy nhiên tại thời điểm kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy phát hiện các bến tập kết trên đều không có giấy phép hoạt động trong khoảng thời gian này. Ngay sau đó, Đội Cảnh sát đường thủy số 2 đã lập biên bản xử lý vi phạm và yêu cầu các chủ bến hoàn thiện thủ tục pháp lý mới được hoạt động. Những chủ bến này phải hoàn thiện hồ sơ, bổ sung các thủ tục pháp lý, trước khi tiếp tục hoạt động theo quy định. Trong trường hợp, các bến tập kết vật liệu không đủ các thủ tục pháp lý, Đội Cảnh sát đường thủy số 2 đề nghị Ủy ban Nhân dân xã Thống Nhất, Công an huyện và phòng, ban chức năng liên quan của Ủy ban Nhân dân huyện Thường Tín đình chỉ, rút giấy phép hoạt động của các bãi tập kết vật liệu nêu trên theo đúng quy định pháp luật./.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

 


Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI


Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.

 Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người. Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền con người được biểu hiện ở nhiều mối quan hệ như: quan hệ giữa cá nhân với nhà nước; con người với quyền lực xã hội. Quyền con người mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc. Quyền con người là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền.

Về mặt nhận thức

Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục.

Quyền con người được bảo đảm trên thực tế

Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường. Được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước.

Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…

Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.

  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người như: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba

Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Cuba được tổ chức thành công tốt đẹp. Ngày 5/5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc điện đàm với đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez (Mi-ghen Đi-át Ca-nên Bê-mu-đết), Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba. Tại cuộc điện đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt chúc mừng Đảng Cộng sản Cuba đã tổ chức rất thành công Đại hội toàn quốc lần thứ VIII, sự kiện chính trị trọng đại, sự tiếp nối lịch sử của Cách mạng Cuba; nồng nhiệt chúc mừng đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez được Trung ương Đảng Cộng sản Cuba tín nhiệm bầu làm Bí thư thứ nhất. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ sự tin tưởng Đảng Cộng sản Cuba quang vinh do đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez đứng đầu, sẽ tiếp tục lãnh đạo nhân dân Cuba anh em vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thành công các mục tiêu, đường lối do Đại hội VIII đề ra, xây dựng đất nước Cuba xã hội chủ nghĩa phồn vinh và bền vững. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng chuyển lời thăm hỏi thân thiết tới đồng chí Raul Castro, nguyên Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba; ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp to lớn của đồng chí Raul Castro đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Cuba cũng như mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Cuba. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn trân trọng và không bao giờ quên tình đoàn kết, sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa, cả về tinh thần và vật chất của Cuba dành cho Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong hơn 6 thập kỷ qua. Những tình cảm đặc biệt của Cuba đã, đang và luôn dành cho Việt Nam, được kết tinh trong câu nói bất hủ của Lãnh tụ Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez chân thành cảm ơn những tình cảm đồng chí anh em thân thiết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam dành cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba, cho cá nhân Đồng chí và đồng chí Raul Castro. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez khẳng định, việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng điện đàm chúc mừng thành công Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Cuba, chúc mừng cá nhân Đồng chí được bầu làm Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba thể hiện sinh động mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, gắn bó, tin cậy giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Cuba. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez khẳng định, Ban lãnh đạo mới của Cuba sẽ làm hết sức mình để tiếp tục củng cố, phát triển mối quan hệ Cuba - Việt Nam do lãnh tụ Fidel Castro và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công gây dựng. Đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez thông báo một số nét khái quát về kết quả Đại hội VIII, về những kết quả Cuba đã đạt được trong tiến trình cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, bất chấp khó khăn do cấm vận và đại dịch COVID-19 gây ra. Chúc mừng những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn dành cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Cuba. Đồng chí tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh do đồng chí Nguyễn Phú Trọng đứng đầu, nhân dân Việt Nam anh em sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, thực hiện thành công mục tiêu dân giầu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Việt Nam luôn luôn coi trọng và mong muốn tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Cuba; khẳng định lại tình đoàn kết trước sau như một của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với sự nghiệp chính nghĩa của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba; phản đối chính sách bao vây cấm vận, thù địch chống Cuba. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, quan hệ giữa hai Đảng là nền tảng chính trị, đóng vai trò định hướng quan trọng để thúc đẩy quan hệ giữa hai nước. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ với Cuba kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công trong quá trình đổi mới của mình. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị trong thời gian tới, hai bên cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao song phương, đưa quan hệ Việt Nam - Cuba đi vào chiều sâu, thực chất và bền vững. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng mời đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez và đồng chí Raul Castro sang thăm lại Việt Nam. Về phần mình, đồng chí Miguel Díaz-Canel Bermudez trân trọng chuyển lời của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cuba, mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm lại Cuba vào thời gian thích hợp./.

Việt Nam thực hiện tốt vấn đề dân chủ


Nhận thức về xây dựng và phát huy dân chủ của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân ngày càng sâu sắc hơn.

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực. Điều 6, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. 

Dân chủ ở Việt Nam được thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


Về chính trị, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của mình; động viên toàn dân xây dựng đường lói của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội với các hoạt động của hệ thống chính trị. Mọi người dân có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan quyền lực Nhà nước; quyền thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Về kinh tế, được thể hiện trong đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên nhiều hình thức sở hữu, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Dân giàu là mục tiêu của Nhà nước, của toàn xã hội. Mọi người dân có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt với các tư liệu sản xuất; tham gia vào các hoạt động quản lý nền kinh tế; tham gia quá trình phân phối và phân phối lại sản phẩm xã hội.

 Về văn hóa - xã hội, mọi người dân có quyền được thưởng thức và sáng tạo các giá trị văn hóa; quyền được học hành, phát triển, tự do đi lại, cư trú, tự do tôn giáo...; quyền được có việc làm, đảm bảo an sinh xã hội...

 Về quốc phòng, an ninh, mọi người dân có quyền được thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền được tham gia các hoạt động đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội và được đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản theo quy định của pháp luật.

Sự thật về cái gọi là liên minh ma quỷ trong vụ giết người rúng động ở Nghệ An



Gần đây, vụ án nổ súng tàn sát hai người tại Nghệ An đã trở thành “miếng bánh” béo bở cho các đối tượng, tổ chức chống phá lợi dụng.


Về bản chất, vụ án trên thuần túy là một vụ án hình sự. Tuy nhiên, lợi dụng tính chất nghiêm trọng của vụ án, thời gian diễn ra nhạy cảm (vào ngày lễ 30/4), nhận được sự quan tâm chú ý của dư luận, các đối tượng, tổ chức chống phá đã triệt để xuyên tạc, lợi dụng nó để công kích chính quyền. Như mới đây, đối tượng Đỗ Ngà đã nhanh chóng múa bút, tô vẽ màu sắc chính trị cho vụ án. Cùng với đó là nhiều bài viết đã được Đỗ Ngà tung ra như “Liên minh đỏ đen, hình ảnh từ nhóm lợi ích Nghệ An”, “Sự mâu thuẫn phơi bày bản chất”… Những bài viết này sau đó đã được các đối tượng, tổ chức chia sẻ, lan tuyền trên mạng xã hội.

Một số chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2021

Một số chính sách mới của Chính phủ có hiệu lực từ tháng 5/2021, đó là: Quy định mới về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; Quy định về xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng; Quản lý trong cơ sở giáo dục; Quản lý giống cây trồng lâm nghiệp; Sửa thủ tục cấp số định danh đối với công dân đã đăng ký khai sinh; Xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy… Quy định mới về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Nghị định 21/2021/NĐ-CP ban hành ngày 19/03/2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có hiệu lực từ ngày 15/5/2021. Nghị định này quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm tài sản bảo đảm; xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (biện pháp bảo đảm) và xử lý tài sản. Quy định về xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng Có hiệu lực từ ngày 5/5/2021, Nghị định số 22/2021/NĐ-CP ban hành ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định về xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng; tổ chức và quản lý hoạt động của Đoàn kinh tế - quốc phòng; cơ chế đầu tư, tài chính và chính sách đối với các đối tượng tham gia xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng… Nghị định nêu rõ, nhiệm vụ xây dựng Khu kinh tế - quốc phòng gồm: Xây dựng địa bàn vững mạnh về quốc phòng, an ninh; ổn định phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng thế trận phòng thủ trên các địa bàn chiến lược làm cơ sở vững chắc cho nhân dân, các lực lượng khác tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới đất liền, biển, vùng biển và hải đảo. Phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu để nhân dân ổn định sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội; tổ chức, bố trí sắp xếp các điểm dân cư, định canh, định cư trên địa bàn biên giới, các đảo, quần đảo xa bờ bảo đảm mục tiêu giảm nghèo bền vững và ổn định quốc phòng, an ninh. Xây dựng các mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và hỗ trợ phát triển sản xuất tạo yếu tố ban đầu cho phát triển kinh tế hàng hóa, dịch vụ; tổ chức dịch vụ cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ hai đầu); chuyển giao công nghệ sản xuất cho nhân dân; tổ chức sản xuất khai thác hiệu quả đất đai đối với những địa bàn biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn có vai trò quan trọng về quốc phòng, an ninh. Xây dựng cơ sở kinh tế ở những vùng biển, đảo khó khăn làm cầu nối giữa đất liền và đảo, quần đảo; tổ chức các hoạt động dịch vụ trên biển hỗ trợ ngư dân bám biển sản xuất để tăng cường hoạt động dân sự trên các vùng biển, đảo khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và tài phán trên biển… Quản lý trong cơ sở giáo dục Có hiệu lực từ ngày 15/5/2021, Nghị định số 24/2021/NĐ-CP ban hành ngày 23/3/2021 của Chính phủ quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập (cơ sở giáo dục). Nghị định trên quy định về: Quản lý các hoạt động giáo dục; thực hiện quy chế dân chủ trong quản lý các hoạt động giáo dục; trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục và người đứng đầu cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục. Quản lý giống cây trồng lâm nghiệp Nghị định số 27/2021/NĐ-CP ban hành ngày 25/3/2021 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp có hiệu lực từ ngày 15/05/2021. Nghị định này quy định về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, gồm bảo tồn nguồn gen; nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm giống; nhãn và tên giống cây trồng lâm nghiệp; quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp; sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, nhập khẩu giống cây trồng lâm nghiệp. Sửa thủ tục cấp số định danh đối với công dân đã đăng ký khai sinh Có hiệu lực từ ngày 14/05/2021, Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ban hành ngày 29/03/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 137/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân, trong đó sửa đổi, bổ sung Điều 15 quy định trình tự, thủ tục cấp số định danh cá nhân đối với công dân đã đăng ký khai sinh. Cụ thể, công dân đã đăng ký khai sinh nhưng chưa được cấp số định danh cá nhân thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập số định danh cá nhân cho công dân theo thông tin hiện có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngay sau khi xác lập được số định danh cá nhân cho công dân, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập và các thông tin của công dân hiện có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa đầy đủ thì trong văn bản thông báo cần yêu cầu công dân bổ sung thông tin cho Công an xã, phường, thị trấn nơi mình đang cư trú để thực hiện cập nhật, chỉnh sửa thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trường hợp công dân đã có số định danh cá nhân mà được xác định lại giới tính hoặc cải chính năm sinh thì cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập lại số định danh cá nhân cho công dân sau khi công dân đó đã thực hiện việc đăng ký hộ tịch liên quan đến thông tin về giới tính, năm sinh theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch. Cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có văn bản thông báo cho công dân về số định danh cá nhân đã được xác lập lại. Cơ quan cấp thẻ Căn cước công dân sử dụng số định danh cá nhân đã được cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác lập cho công dân để cấp thẻ Căn cước công dân theo quy định. Xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy Nghị định 42/2021/NĐ-CP ban hành ngày 31/03/2021 của Chính phủ quy định việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy có hiệu lực từ ngày 16/5/2021. Nghị định này quy định vị trí, thẩm quyền quyết định của tổ chức Công an xã, thị trấn chính quy (Công an xã chính quy); lộ trình thực hiện; quan hệ công tác, điều kiện bảo đảm hoạt động của Công an xã chính quy; trách nhiệm của các bộ, ngành; Ủy ban nhân dân các cấp trong xây dựng Công an xã chính quy. Trong đó, việc xây dựng Công an xã chính quy bảo đảm không tăng biên chế của Bộ Công an đến năm 2021, có lộ trình và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Về lộ trình xây dựng Công an xã chính quy, Nghị định nêu rõ: Hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy ở các xã, thị trấn trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự trước ngày 30/6/2021; các xã, thị trấn còn lại trong toàn quốc hoàn thành việc tổ chức Công an xã chính quy trước ngày 30/6/2022./.

DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM MANG BẢN CHẤT NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, là quyền tự do bình đẳng của nhân dân trong đời sống xã hội, gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định.

Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc như: quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng… để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

Bàn đến dân chủ là phải bàn đến bản chất, nội dung, hình thức, mức độ, tính chất của dân chủ; trong đó bản chất của dân chủ là yếu tố quyết định nhất quy định các yếu tố khác. Dân chủ mang bản chất giai cấp, bản chất của dân chủ do bản chất của chế độ xã hội, bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật quy định; ngoài ra dân chủ còn phụ thuộc vào truyền thống của dân tộc, phương thức sản xuất, phẩm chất năng lực của đội ngũ công chức nhà nước, ý thức thực hành dân chủ của công dân, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội hiện tại ở mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đó là dân chủ có bản chất tốt dẹp nhất trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam và tiến bộ xã hội của nhân loại cho đến nay; đồng thời đó là kết quả của quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân và toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; được đánh dấu bằng sự kiện lịch sử vĩ đại đó là cách mạng Tháng tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Trải qua hơn 60 năm dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không ngừng được xây dựng, hoàn thiện và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Ở Việt Nam mọi quyền sở hữu đều dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mọi tổ chức của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của giai cấp công nhân; mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ; mọi hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi dụng dân chủ làm tổn hại lợi ích của nhân dân và Tổ quốc đều phải được phê phán và nghiêm trị. Những tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và vô trách nhiệm, lạm quyền và xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân đều phải được ngăn ngừa và trừng trị. Pháp chế xã hội chủ nghĩa luôn được tăng cường, trách nhiệm công dân luôn được đề cao, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế và biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa, ngăn chặn và sử lý nghiêm những sai phạm làm suy thoái và biến chất quyền lực nhà nước của nhân dân.

Việt Nam thực hiện tốt công tác tôn giáo

 


Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ.

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an  ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang đậm nét cảm tính, tâm lý.

 


Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

“Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam" - Sự bịa đặt trắng trợn của HRW

Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.

Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện mà không hợp nhất.

 


Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.

VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA ĐA TÔN GIÁO

 


Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo.

Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội; vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ.

Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.

Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.

Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.

Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo lớn, có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.

Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Siêu lây nhiễm tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2

    Theo tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội, tính đến 12h ngày 6-5, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới trung ương cơ sở 2 đã ghi nhận 42 ca dương tính với vi rút SARS-CoV-2.Trong 42 ca này, có 33 ca tại 14 tỉnh, thành phố: Yên Bái, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Sơn La, Quảng Ninh, Phú Thọ, Nam Định, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn; và 9 ca tại Hà Nội, ghi nhận ở 5 quận, huyện, thị xã: Đông Anh, Sóc Sơn, Nam Từ Liêm, Sơn Tây và Ba Đình.

Hà Nội vận động người dân không ra khỏi nhà khi không cần thiết

Trước tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp và khó lường, ngày 5/5, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ban hành Chỉ thị số 11/CT-UBND yêu cầu tăng cường thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh yêu cầu toàn bộ hệ thống chính quyền các cấp của thành phố phải xác định nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, ưu tiên hàng đầu trong thời gian tới, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, phải huy động toàn bộ hệ thống chính quyền các cấp vào cuộc, đảm bảo kiểm soát hiệu quả, không để dịch lây lan ra diện rộng. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cũng yêu cầu các cấp chính quyền của thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nhanh hơn, hiệu quả hơn, quan tâm tuyên truyền trên loa truyền thanh xã, phường, tuyên truyền lưu động; phát huy vai trò của các tổ COVID-19 cộng đồng... nhằm nâng cao nhận thức và huy động cả hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân đối với công tác phòng, chống dịch COVID-19 với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”. Các địa phương cần tuyên truyền, vận động người dân không ra khỏi nhà khi không cần thiết và thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch: bắt buộc phải khai báo y tế theo quy định; bắt buộc đeo khẩu trang khi ra ngoài; không tập trung đông người tại nơi công cộng, ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện; giữ khoảng cách tối thiểu 1m khi tiếp xúc; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; khi có dấu hiệu ho, sốt, khó thở hoặc các triệu chứng nghi ngờ mắc COVID-19, phải đến ngay cơ sở y tế để được hướng dẫn, khám, điều trị kịp thời. Nội dung chỉ thị nêu rõ, các địa phương cần có phương án đảm bảo tuyệt đối an toàn phòng, chống dịch cho các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời thực hiện tốt công tác điều trị cho người mắc bệnh, hạn chế thấp nhất người tử vong. Đồng thời thần tốc truy vết đến cùng, lấy mẫu xét nghiệm và cách ly tuyệt đối các trường hợp F1, quản lý nghiêm ngặt các trường hợp F2 theo quy định; tổ chức khoanh vùng theo điều tra dịch tễ, đảm bảo đúng quy mô, mức độ, số lượng đối tượng hẹp nhưng chặt chẽ. Đối với các khu vực đã phong tỏa t hì cần kiểm soát chặt chẽ không cho người dân ra, vào theo đúng tinh thần “nội bất xuất - ngoại bất nhập”. Các hộ gia đình trong khu cách ly phải nghiêm túc thực hiện cách ly giữa nhà với nhà, người dân không được giao lưu. Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Chu Ngọc Anh yêu cầu các địa phương tổ chức xét nghiệm sàng lọc tại các khu vực có nguy cơ cao, trong đó lưu ý các khu vực có nhiều chuyên gia, khu công nghiệp… và các đối tượng có nguy cơ (người từ vùng dịch về, người có các biểu hiện ho, sốt, khó thở…) để đánh giá nguy cơ dịch bệnh và đưa ra các giải pháp phòng, chống kịp thời, hiệu quả. Các đơn vị từ thành phố đến quận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn phải rà soát lại các phương án phòng, chống dịch; nâng công suất, năng lực về truy vết, cách ly, xét nghiệm, điều trị… chuẩn bị sẵn sàng trong tình huống dịch bệnh lan rộng. Đối với công tác cách ly, UBND thành phố Hà Nội yêu cầu các địa phương chuẩn bị đủ cơ sở cách ly, nâng công suất cách ly đảm bảo đủ chỗ cách ly trong tình huống dịch bệnh lan rộng. siết chặt quản lý các khu cách ly tập trung, đặc biệt là các khu cách ly tại khách sạn, tuyệt đối không để lây chéo trong khu cách ly tập trung và lây từ khu cách ly ra cộng đồng. Nội dung chỉ thị cũng yêu cầu thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống dịch trong các cơ sở dịch vụ, sản xuất kinh doanh, vận chuyển hành khách và tại các khu chung cư cao tầng, các khu trung tâm dịch vụ, các quán ăn, uống đường phố, trà đá vỉa hè, cà phê vỉa hè, thực hiện việc hiếu, hỷ văn minh, hạn chế tối đa tập trung đông người... Đặc biệt, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội yêu cầu người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cơ sở chịu trách nhiệm thực hiện công tác phòng, chống dịch trong cơ quan, đơn vị. Đối với Sở Y tế Hà Nội, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội yêu cầu căn cứ vào đặc điểm, tính chất, cơ chế lây bệnh của chủng virus trên địa bàn thành phố để chỉ đạo phương án khoanh vùng, cách ly, xét nghiệm theo ưu tiên mức độ cấp thiết phù hợp với từng đối tượng, khu vực; hướng dẫn, phối hợp UBND các quận, huyện, thị xã chỉ đạo, kiểm tra, thực hiện kịp thời, có hiệu quả công tác phát hiện, cách ly, khoanh vùng triệt để khi phát hiện ca lây nhiễm, xuất hiện ổ dịch trên địa bàn. Khi phát hiện ca bệnh dương tính khẩn trương bao vây khoanh vùng, khử khuẩn những địa điểm liên quan theo quy định. Đồng thời, tổ chức truy vết “thần tốc”, xác định nhanh nhất những trường hợp liên quan đến tiếp xúc với ca bệnh để tiến hành lấy mẫu xét nghiệm và cách ly y tế theo quy định; cương quyết, dồn mọi nguồn lực, bằng mọi giải pháp xử lý triệt để các ổ dịch phát sinh. Các nhiệm vụ trong phòng, chống dịch COVID-19 cũng được UBND thành phố Hà Nội chỉ rõ đối với các sở, ngành của Hà Nội trên tinh thần chủ động ngăn chặn, kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh, ứng phó kịp thời với tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp và khó lường.

Việt Nam thực hiện tốt công tác dân tộc

 


Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo

 Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện

Với sự quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn dân, hiện nay đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Bộ mặt vùng dân tộc miền núi, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thay đổi rõ rệt.

Hệ thống chính trị vùng dân tộc ngày càng vững chắc

Hiện nay, có nhiều cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường ngày càng nâng cao, phát triển đảng người dân tộc được trú trọng. Hoạt động của cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi đạt hiệu quả.