Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2021
Bỏ thi có được không?
Thứ trưởng Y tế: Tranh thủ từng phút truy vết Covid-19 ở Bắc Ninh
Bốn cựu thanh tra giao thông bị cáo buộc bảo kê sắp ra toà
Campuchia bỏ tù người cố ý lây nCoV cho cộng đồng
Thứ trưởng Campuchia mất chức vì tung tin giả Covid-19
Học sinh cuối cấp vừa ôn thi vừa lo Covid-19
'Bệnh nhân 3051' ở Hải Dương nhập cảnh trái phép
Ca nghi nhiễm nCoV tiếp xúc nhiều người khi đi làm căn cước
Việt Nam ghi nhận thêm 78 ca COVID-19, có 65 ca lây nhiễm cộng đồng
BỞI CHIẾN TRANH ĐÂU PHẢI TRÒ ĐÙA ...
Tấm bản đồ toàn màu xám đen này do người Mỹ cung cấp, vùng xám đen, thể hiện những nơi bom, đạn, mìn người Mỹ thả xuống tại VN, qua đây, để người dân VN và thế giới thấy rằng, Bom, mìn, đạn của kẻ xâm lược, đã tàn phá tan hoang đất nước này.
Tổng số bom, đạn, mìn mà Mỹ ném xuống toàn Đông Dương là 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima. hàng triệu người dân nước Việt bị chết oan uổng bởi bom đạn của kẻ xâm lăng, có thể nói, máu chảy thành sông, xương chất thành núi, tội ác man rợ của quân xâm lược và bè lũ tay sai của chúng là, trời không dung, đất không tha. ...Tuy nhiên, sau chiến tranh, máu của người dân vẫn đổ xuống mảnh đất đau thương này, bởi hàng vạn quả bom mìn vẫn nằm rải rác đâu đó trên dải đất hình chữ S, phát nổ bất kỳ lúc nào, lại gây thảm cảnh đau thương, tang tóc ... vậy mà, mấy ông lật sử lại muốn rửa mặt cho ngoại bang, không dám gọi chúng là quân xâm lược mà kêu chúng là "bên thứ ba", họ còn chạy tội cho đám tay sai bán nước ngụy quyền Sài Gòn là "chính quyền", hay "một Quốc gia hợp pháp", Có "Thủ đô" là Sài Gòn, trái với lời Bác dạy "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi".
Tấm bản đồ do người Mỹ cung cấp đã nói lên tất cả tội ác dã man của chúng......và tội lỗi của những kẻ ngụy sử có âm mưu lật sử dân tộc
Nguồn: Tìm hiểu lịch sử
Cảnh giác cao và kiên quyết đấu tranh với phong trào “không biết không bầu” của các thế lực thù địch, phản động.
Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do.
Thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị
trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức
cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà
chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các
bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu. Phong trào kêu gọi “không
biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện
và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn
liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được
khẳng định.
Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn
xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục
tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về
nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân
dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống
nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt
đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng
và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời
bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện
hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp
đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc
hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.
Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho
phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến
pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy
định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố,
công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có
quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND
các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì
tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin
nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến,
công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa;
chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền,
lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập
ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu
cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào
ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc
hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do
và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội
và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính
trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn
thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được
cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện
phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”,
tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri.
Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều
người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng
dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc
bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng
cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh
cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót
chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử
tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp
trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp
cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền
làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể
điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này
chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước.
Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các
thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định
chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy
tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài
đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc
làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực
tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường...
Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân
nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp
xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản
chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công
chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những
kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời
là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và
những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong
ngày hội lớn của đất nước.
Xây dựng đạo đức công vụ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã ghi nhận ý tưởng sâu sắc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về thiết lập một nền công vụ mạnh mẽ, sáng suốt của dân, hoạt động vì
nhân dân và chịu sự kiểm soát, bãi miễn của nhân dân; một nền công vụ hiện đại,
dân chủ, có hiệu lực từ Trung ương đến cơ sở. Tư tưởng đó tiếp tục được thể hiện
nhất quán trong Hiến pháp 1959, trong những sắc lệnh và luật được Nhà nước ban
hành. Ngay từ khi ra đời, nền công vụ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được
xây dựng theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một nền công vụ dân chủ,
thân dân, trọng dân, quý dân. Nền công vụ ấy đã quản lý có hiệu quả mọi hoạt động
trong vùng tự do thời chống Pháp, trên phạm vi miền Bắc sau năm 1954, ở vùng
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những năm đầu khi cả nước bước vào thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức công vụ được thể hiện trong những
nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực cơ bản: Một là, cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư; Hai là, phải có tinh thần trách nhiệm cao với công việc; Ba là, chấp
hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng tạo trong thi hành công vụ; Bốn là, có
ý chí cầu tiến bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc; Năm là, có tinh thần
thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong thực hiện công việc.
Người căn dặn chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng
ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và
phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người
có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp
họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi
phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải
có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải
“Trung với nước, hiếu với dân” “luôn yêu thương con người”. Đó chính là phẩm chất
đạo đức cộng sản của người cán bộ chân chính.
Cho đến hôm nay, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển, hội
nhập quốc tế thì những lời dạy của Hồ Chí Minh về một nền công vụ vì dân vẫn
còn nguyên giá trị. Để xây dựng được nền công vụ đó, đội ngũ cán bộ, công chức
cần có những chuẩn mực đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ thể hiện trong các hành
vi cụ thể qua công việc của mỗi cán bộ, công chức. Đạo đức công vụ được bao hàm
trong đạo đức cách mạng. Đạo đức công vụ cần có những quy tắc, chuẩn mực,
nguyên tắc đạo đức bắt buộc mỗi cán bộ, công chức phải tuân thủ. Những chuẩn mực
đạo đức công vụ có sự quan hệ, tác động lẫn nhau trong một hệ thống chuẩn mực
thống nhất. Có lòng trung với nước hiếu với dân, có lòng yêu thương con
người thì mới hết lòng, hết sức đem tài đức của mình phục vụ nhân dân. Có
như vậy mới thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy
vì công việc chung. Nhờ vậy mới giữ được kỷ luật của cơ quan, tổ chức,
mới rèn được tinh thần trách nhiệm cao với công việc và ý chí phấn đấu
vươn lên không ngừng. Khi giữ được phẩm chất trong sạch, không tham địa vị,
danh vọng, tiền tài, có lòng chính trực thì chắc chắn sẽ có tình thân ái,
hợp tác với đồng nghiệp trong công việc. Đạo đức công vụ không phải tự
thân nó có. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện
theo các chuẩn mực đạo đức công vụ, chắc chắn chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ
“vừa hồng vừa chuyên” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nghiêm minh nhưng vị tha: Xét xử vụ án Nguyễn Thị Cẩm Thúy và đồng phạm chống phá Nhà nước
Ngày 30-3, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã xét xử sơ thẩm vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. 3 bị cáo: Nguyễn Thị Cẩm Thúy (sinh năm - SN 1976), Ngô Thị Hà Phương (SN 1996), Lê Viết Hòa (SN 1962), cùng trú xã Cam Thành Bắc, huyện Cam Lâm, đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Thừa nhận các hành vi chống Nhà nước Tại phiên tòa, bị cáo Thúy thừa nhận, cáo trạng truy tố đúng hành vi phạm tội của mình. Theo đó, từ giữa năm 2018, Thúy sử dụng tài khoản Facebook và tài khoản Youtube cá nhân để đăng tải các video có nội dung bôi nhọ, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước và lịch sử dân tộc Việt Nam. Thúy thường xuyên livestream trên mạng xã hội để tuyên truyền nội dung phản động, xúc phạm, kích động chống phá Đảng và Nhà nước. Thúy đã đến nhiều tỉnh; gặp nhiều cá nhân; theo dõi trên mạng Internet để thu thập, tích lũy thông tin thất thiệt, phiến diện về tiểu sử, sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Hồ, về các vụ việc tiêu cực, tham nhũng và kết quả xử lý của cơ quan chức năng, lấy đó làm nội dung thể hiện quan điểm cá nhân, đả kích, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xúc phạm hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Các video do Thúy tự làm, đăng tải, phát tán, lan truyền trên mạng Internet nhằm tuyên truyền, kích động, gây mất lòng tin trong người dân, kêu gọi sự ủng hộ vật chất, tinh thần của mọi người đối với hành động của Thúy, tập hợp lực lượng tiến tới thành lập tổ chức chính trị đối lập mang tên “Quốc hội tự xưng”, mục đích xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đặc biệt, ngày 28 và 29-4-2020, Thúy còn đốt cờ Tổ quốc, cờ Đảng. Đồng phạm giúp sức Một số đối tượng đã giúp sức cho Thúy thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể, Phương dùng điện thoại di động quay video khi Thúy livestream tuyên truyền chống Nhà nước; chia sẻ các video từ tài khoản của Thúy sang tài khoản của Phương; đăng tải một số video quay Thúy đang livestream lên tài khoản Youtube của Phương; làm cờ vàng có 3 sọc đỏ ngang cho Thúy sử dụng khi livestream; tham gia cùng Thúy đốt cờ Tổ quốc; cho Thúy sử dụng tài khoản mà mẹ Phương cho mượn để Thúy nhận tiền giúp sức hoạt động chống Nhà nước từ các đối tượng và cũng là người chuyển, rút các khoản tiền này. Còn Hòa cùng Thúy đến nhiều địa phương, gặp gỡ, nhận tài liệu, thông tin từ các đối tượng. Khi Thúy livestream, Hòa cảnh giới để ngăn cản công an, chính quyền địa phương vào làm việc. Hòa còn cho Thúy sử dụng tài khoản của mình để nhận tiền giúp sức hoạt động chống Nhà nước. Với Vũ Tiến Chi, sau khi xem Thúy livestream đã liên hệ, thường xuyên đến chơi, ở lại nhà Thúy, dùng tài khoản cá nhân chia sẻ các video mà Thúy đã đăng. Nguyễn Khang Duy (cháu Thúy) khai, khoảng tháng 3-2020, khi Duy tới ở nhờ nhà Thúy để học cùng con của Thúy, Thúy nhờ Duy tải các video mình đã livestream chống Nhà nước rồi cắt ghép, chỉnh sửa, đăng lên tài khoản Youtube của Thúy. Thanh minh và hối hận Bị cáo Thúy thanh minh, trước đó, những khiếu nại, tố cáo, yêu cầu của bị cáo về giáo dục (bị cáo nguyên là giáo viên), đất đai không được cấp có thẩm quyền đáp ứng vì không đủ căn cứ, điều kiện giải quyết. Từ đó, bị cáo nảy sinh oán hận, bất mãn, cho rằng bản thân gặp khó khăn trong công việc, cuộc sống do lỗi của chính quyền; do các cơ quan nhà nước tại địa phương cản trở hành vi của mình, nên quyết định chống đối Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên sau khi được giải thích, bị cáo đã thay đổi nhận thức, thành khẩn khai báo. Bị cáo Phương và Hòa cũng hối hận về hành vi của mình và lý giải do nhận thức hạn chế. Hội đồng xét xử nhận định, công an đã phát hiện điện thoại của Thúy lưu trữ 31 video; 30 video đăng tải trên tài khoản Facebook và 50 video đăng trên tài khoản Youtube của Thúy; đồng thời thu giữ 5 tờ giấy nền vàng có 3 sọc đỏ ngang, 1 ảnh Bác Hồ bị dán bẩn, nhiều máy tính, điện thoại di động, tài liệu, hàng trăm lít xăng dầu, nhiều loại vũ khí... Điện thoại của Phương lưu trữ 12 video; 2 video trong tài khoản Facebook chia sẻ từ tài khoản của Thúy; 5 video đăng trên tài khoản Youtube của Phương. Kết luận giám định cho thấy, các video này đều có nội dung bôi nhọ, xúc phạm Bác Hồ và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền chống Nhà nước. Các video của Thúy đã có hàng ngàn lượt người xem, bình luận. Một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã liên hệ giúp sức tinh thần, vật chất để Thúy có điều kiện hoạt động chống Nhà nước. Trong vụ án này, Thúy là người trực tiếp thu thập, tích lũy các thông tin thất thiệt, làm, đăng tải, phát tán, lan truyền các video trên mạng Internet nhằm tuyên truyền, kích động, tạo tâm lý hoang mang trong người dân, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân... Tuy đã được vận động, giải thích nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện các hành vi chống Nhà nước. Các bị cáo Phương, Hòa đã giúp sức cho Thúy thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Riêng đối tượng Chi đã bị Công an Lâm Đồng khởi tố, điều tra cùng tội danh với 3 bị cáo nêu trên nên không xem xét trong vụ án này. Duy chưa đủ 15 tuổi nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh nêu trên. Hà Thị Xuân ở tại nhà Thúy từ tháng 4 đến tháng 5-2020, chứng kiến Thúy livestream, tham gia đốt cờ Tổ quốc, cờ Đảng, nhưng quá trình điều tra chưa xác định Xuân ở đâu nên công an đang tiếp tục điều tra. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Thúy 9 năm tù; Phương 7 năm tù; Hòa 5 năm tù cùng về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tòa cũng phạt bổ sung 2 bị cáo Thúy và Phương, mỗi bị cáo phải chịu quản chế 3 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù. |
Tích cực đấu tranh chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh
Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những di sản Người để lại không chỉ là tài sản tinh thần to lớn của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta mà còn luôn tiếp tục đồng hành, soi đường cho nhân dân Việt Nam vững bước trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình”, các thế lực phản
động, thù địch, cơ hội đã dùng danh nghĩa "phi chính phủ", “từ thiện”
để lập một số quỹ hỗ trợ cho các tổ chức phản động chống phá, xuyên tạc về Hồ
Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh, thường xuyên đăng tải các thông tin, bài viết,
phỏng vấn để bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo tiểu sử, sự nghiệp,
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thông qua các trang mạng xã hội, những kẻ tự xưng là yêu nước, dân chủ
và cả những người “có tiếng nói phản biện" ở trong và ngoài nước đã không
chỉ bịa đặt, bôi đen một số thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người
thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người nhằm hạ bệ thần
tượng mà còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng tư tưởng Hồ
Chí Minh là sự du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; Hồ Chí Minh là
nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản; Hồ Chí Minh đi trên cỗ
xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý
thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, đã bị
xóa bỏ nên không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay…
Thâm độc hơn, là họ đã không từ một thủ đoạn nào để bôi xấu và tìm cách
đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tách rời mối quan hệ biện
chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, để khi thì đề cao,
tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thì lại cho rằng Hồ Chí Minh không có
tư tưởng vì đó là một nhà hoạt động thực tiễn.
Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả lịch sử và lôgíc từ sự kết hợp
tự nhiên truyền thống yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin; là sự vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam và cả các nước thuộc địa của
chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
không chỉ trung thành với những nguyên lý của học thuyết cách mạng, khoa học và
hiện đại này; không giáo điều mà chính là nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học,
cách mạng của nó để bổ sung, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin trong thời đại mới bằng thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
Hơn thế nữa, không phải tự nhiên Hồ Chí Minh lại nói chủ nghĩa Mác -
Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi
sáng” con đường cho nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột tàn bạo dưới ách thống
trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; trong đó, có nhân dân Việt Nam đi đến thắng
lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Bởi, Nguyễn Ái Quốc
- Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi được đọc Sơ thảo
lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đăng
trên báo L’Humanité, ngày 16 và 17/7/1920 và Người nhận thấy: “Luận
cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết
bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to
lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ!
Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ
đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Bởi, chủ nghĩa Mác -
Lênin chính là nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành và phát triển
tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong 3 nguồn gốc hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh (chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; tinh hoa văn hoá phương Đông
và phương Tây; chủ nghĩa Mác - Lênin) và là thành tố quan trọng nhất. Chủ nghĩa
Mác - Lênin không chỉ cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận
khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử mà còn là hòn đá tảng, là cơ sở để Người vận dụng sáng tạo và
phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề ra con
đường cách mạng Việt Nam phù hợp với yêu cầu của dân tộc và xu thế của thời đại.
Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học
và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa
Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí
Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ
Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại.
Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng Việt Nam
là không thể phủ nhận, bởi đó là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt
Nam trong hơn 90 năm qua: "Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường
cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam".
Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính chặt chẽ, liên tục, nhất quán,
bao quát và toàn diện đúng như Đại hội IX (4/2001) của Đảng khẳng định: “Tư tưởng
Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh
soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh
thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân
tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra
cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân” .
Điều này tiếp tục được nhấn mạnh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định:
"Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh"
Trong tình hình hiện nay, khi các thế lực thù địch ngày càng tăng cường
và đẩy mạnh hơn các chiến dịch, các thủ đoạn, các hình thức từ bên ngoài, câu kết
và phối hợp với các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa" ở trong nước để chuyển tải, truyền bá các thông tin
sai lệch, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt
Nam, công khai tấn công vào những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam nói
chung, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, việc chủ động
phòng và chống sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng trở nên bức thiết
hơn bao giờ hết. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần phải tỉnh táo, cảnh giác
cao trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Có
thái độ kiên quyết đấu tranh tích cực để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Chiến thắng Điện Biên Phủ - Bản hùng ca bất diệt
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong 56 ngày đêm, các trận đánh không diễn ra liên tục mà được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1, từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh. Pi rốt - Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát; Giai đoạn 2, từ ngày 30/3 đến 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm; thắt chặt vòng vây, chia cắt, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho Tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt, tại đồi C1, ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày và đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ; Giai đoạn 3, từ ngày 01 đến 7/5/1954, ta đánh dứt điểm dãy đồi phía Đông và tổng tiến công tiêu diệt các vị trí còn lại, bắt sống Tướng De Castries. Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng.
“56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm,
mưa dầm, cơm vắt”, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập
tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn
rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của
địch. Điện Biên Phủ đã trở thành bản anh hùng ca về nghệ thuật quân sự tài tình
và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; đặc biệt,
đó còn là âm hưởng ngân vang về sự đoàn kết, chiến đấu, hy sinh anh dũng của
quân và dân ta. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng ngoại xâm của toàn dân tộc kết
tinh sức mạnh vô địch làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Có thể thấy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung, chiến dịch
Điện Biên Phủ nói riêng, nhờ có đường lối đúng, chủ trương, chính sách phù hợp,
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên được sức mạnh của cả nước
vào kháng chiến. Cả nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với
khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Các đơn vị bộ đội chủ
lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng
trận địa, sẵn sàng tiến công địch. Hơn 260.000 dân công, thanh niên xung phong
bất chấp bom đạn hướng về Điện Biên để bảo đảm hậu cần phục vụ kể từ khi Bộ
Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ đến khi toàn thắng.
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập
quốc tế diễn ra sâu rộng, mạnh mẽ, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đã và đang đặt
ra những yêu cầu mới và đứng trước không ít khó khăn, thách thức. Đó chính là
minh chứng thuyết phục nhất cho việc Đảng ta huy động và phát huy được sức mạnh
của khối đại đoàn kết toàn dân. Mặc dù, xu thế chủ đạo của thế giới là hòa
bình, hợp tác và phát triển nhưng vẫn còn tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn, diễn biến
phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; các thách
thức như khan hiếm nguồn nước, ô nhiễm và suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu,
thiên tai, dịch bệnh… gia tăng. Bối cảnh đó càng yêu cầu toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta tiếp tục đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi
khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh theo các nghị quyết
của Đảng, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững hơn
trong những năm tiếp theo.
Các Mác - Nhà tư tưởng thiên tài, nhà cách mạng vĩ đại
Các Mác (1818-1883) là nhà tư tưởng thiên tài, nhà cách mạng vĩ đại, lãnh tụ kiệt xuất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Ngay từ nhỏ Các Mác đã sớm bộc lộ tư chất thông minh. Càng lớn, ông càng thể hiện rõ thiên hướng nghiên cứu đầy sáng tạo và khát vọng cống hiến cho nhân loại. Năm 17 tuổi, trong luận văn tốt nghiệp trung học với tựa đề “Suy nghĩ của một thanh niên khi chọn nghề”, Các Mác đã viết: “Lịch sử gọi những con người tự làm cho mình trở nên cao quý bằng việc cống hiến cho sự nghiệp chung, là những con người vĩ đại; kinh nghiệm ca ngợi con người đem lại hạnh phúc cho hầu hết mọi người, là con người hạnh phúc nhất”.
Trong 65 năm cuộc đời, Các Mác đã
trải qua rất nhiều gian nan, thử thách trên hành trình đi tìm chân lý và khẳng định
những giá trị khoa học vĩ đại. Ông may mắn có một gia đình tuyệt vời với người
mẹ tảo tần và người cha là một nhà luật học có tài; một người bạn đời thủy
chung và một tình bạn, đồng chí vĩ đại với Ph.Ăngghen...
Trọn đời cống hiến vì lý tưởng giải
phóng giai cấp, giải phóng loài người, Các Mác đã để lại cho nhân loại những di
sản tư tưởng có giá trị trường tồn. Trong đó, có 3 thành tựu như đánh giá của
Ph.Ăngghen là 3 phát minh vĩ đại, đó là: Tìm ra quy luật phát triển của lịch sử
loài người; tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa hiện đại và của xã hội tư sản do phương thức đó đẻ ra - quy luật giá trị
thặng dư; tìm ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.
Triết học duy vật biện chứng của
Các Mác đã đập tan mọi thứ triết học duy tâm, siêu hình, coi thế giới là do thần
linh sáng tạo ra, vĩnh viễn không thay đổi... Vận dụng triết học duy vật biện
chứng vào việc xem xét xã hội, Các Mác đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử,
vạch ra quy luật phát triển của xã hội loài người. Bằng cách vận dụng chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa, học thuyết kinh tế của Các Mác đã chỉ ra những quy luật kinh
tế của xã hội tư bản chủ nghĩa, quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của
nó. Với hai phát kiến khoa học vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết
giá trị thặng dư, Các Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, học
thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi
mọi hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa...
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác chấm
dứt thời kỳ mò mẫm như trong đêm tối của hàng triệu nhân dân lao động sống dưới
ách áp bức và bóc lột, tìm đường giải phóng cho mình. Sau này, V.I.Lênin đã kế
thừa sự nghiệp của Các Mác và Ph.Ăngghen, dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác, đã phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại
cách mạng vô sản trở thành chủ nghĩa Mác - Lênin. Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác
- Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga đã thành công mở ra thời đại mới trong lịch sử
phát triển của loài người.
Trên hành trình tìm đường cứu nước,
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã tìm đến với
chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày
3-2-1930), bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho hành động của mình. Luôn kiên định, vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, kết hợp
nhuần nhuyễn giữa giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng
ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm
1945, khai sinh ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; thắng lợi vẻ vang
trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành
cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội.
Cũng với tinh thần đó, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. 35 năm qua, chúng ta
đã giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử; khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị
thế và uy tín đất nước trên tầm cao mới. Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra
trong tình hình mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng
ta tiếp tục khẳng định, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội... Có thể nói, đối với dân tộc Việt Nam, cuộc đời, sự nghiệp và những cống
hiến vĩ đại của Các Mác luôn được trân trọng nhất; là di sản quý báu, gắn liền
với con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta.
Kỷ niệm Ngày sinh của Các Mác chính
là dịp để chúng ta cùng nhận thức rõ hơn và biết ơn những cống hiến vĩ đại của
Các Mác, đặc biệt là nhận thức sâu sắc giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin để luôn
kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với từng điều kiện, từng hoàn
cảnh. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, Đảng
ta mà mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần.
Không có chuyện Việt Nam “đàn áp mạng xã hội”?
Các thế lực thù địch rêu rao rằng, ở Việt Nam, mạng xã hội bị kiểm duyệt gắt gao, không có tự do thông tin, tự do Internet, các “bất đồng chính kiến ôn hòa” trên mạng xã hội đang bị gia tăng “đàn áp”.Ở Việt Nam, hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động. Một số mạng xã hội phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram... Trong đó, Facebook là trang mạng xã hội phổ biến nhất với hơn 65 triệu người sử dụng. Với cơ chế hoạt động có tính chất tương tác cao, nhiều tính năng như chat, Email, chia sẻ file, hình ảnh, nhạc, listream, tin nhắn, trò chuyện nhóm, viết blog, chơi game, diễn đàn trực tuyến..., mạng xã hội ngày càng thu hút nhiều người tham gia. Mạng xã hội mang lại nhiều giá trị tích cực, cho phép tìm kiếm thông tin dễ dàng, gặp gỡ, giao lưu, gắn kết cộng đồng, trao nhận, chia sẻ tình cảm; tìm kiếm việc làm, quảng cáo, kinh doanh và giải trí. Sự xuất hiện của mạng xã hội đã tạo ra những giá trị mới, đem lại hiệu quả kinh tế, thúc đẩy giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thông tin, tự do Internet và mạng xã hội. Cách nhìn phiến diện Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây, các thế lực thù địch cho rằng, ở Việt Nam mạng xã hội bị “đàn áp”, kiểm duyệt gắt gao, không có tự do thông tin, người dùng mạng xã hội không được bày tỏ suy nghĩ, chính kiến của mình. Thậm chí chúng còn cho rằng, Việt Nam sử dụng mạng xã hội như một vũ khí để chống lại những ai bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa, vi phạm tự do ngôn luận. Các thế lực thù địch còn cho rằng, Luật An ninh mạng của Việt Nam có tính đàn áp, cho phép Chính phủ có quyền hạn rất rộng, có thể hạn chế quyền tự do trên mạng, buộc các công ty công nghệ phải giao nộp một lượng lớn dữ liệu và kiểm duyệt nội dung của người dùng.
Đây là thông tin hoàn toàn bịa đặt và sai trái, bởi vì Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do thông tin, tự do Internet và mạng xã hội. Những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, một phần nhờ tận dụng tốt cơ hội từ Internet và mạng xã hội. Chính điều kiện tự do Internet và mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước. Trên thực tế, thông qua các trang mạng xã hội, mọi người dân có thể bày tỏ thông tin và chính kiến của mình. Nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã sử dụng mạng phục vụ cho công việc như giải quyết thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân. Các hội, nhóm được lập ra trên mạng xã hội có thể trao đổi, chia sẻ thông tin, cảm xúc hay tổ chức diễn đàn… Những việc đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ ở Việt Nam đã chứng minh rằng Việt Nam không hề “đàn áp mạng xã hội” như cáo buộc của các thế lực thù địch, mà trái lại còn được Đảng, Nhà nước bảo đảm phát triển tự do. Mọi người dân đều được thực hiện quyền tự do Internet và mạng xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Nhờ đó, an ninh mạng được đảm bảo, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, Internet để vi phạm pháp luật Việt Nam. Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến Internet và mạng xã hội như Bộ luật Hình sự 2015, Luật An ninh mạng 2018, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn; đã triển khai công tác phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng có hoạt động lợi dụng Internet, mạng xã hội để vi phạm pháp luật. Điều đó hoàn toàn phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế, trên thế giới nhiều quốc gia cũng làm như vậy. Ngay ở Mỹ, Quốc hội nước này cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm ngăn chặn, xử lý việc lợi dụng Internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động bạo lực… Có thể khẳng định, ở Việt Nam không hề có chuyện đàn áp mạng xã hội hay bắt người trái pháp luật đối với bất kỳ Facebooker, Blogger nào. Rõ ràng đằng sau những thông tin bịa đặt đó là âm mưu chính trị của các thế lực thù địch nhằm kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Giải pháp hiệu quả Nhận rõ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch và đưa ra các luận cứ khoa học để bác bỏ các quan điểm sai trái là việc làm cần thiết và có ý nghĩa. Đồng thời, qua đó từng bước hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. Để góp phần phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mạng xã hội, cần quán triệt đầy đủ Luật An ninh mạng 2018, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 09/2014/BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về sử dụng Internet và mạng xã hội, đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng và minh bạch, tạo ra khung pháp lý nhằm răn đe, xử lý cá nhân, tổ chức đưa tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá. Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng. Kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá. Phân rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị trong cơ chế, quy chế phối hợp thống nhất. Phát huy tính chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo. Người tham gia mạng xã hội cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch, nâng cao ý thức tự phòng vệ. Khi phát hiện thông tin xấu độc có thể báo đến đường dây nóng của cơ quan công an hoặc các cơ quan chức năng để phối hợp xử lý; tích cực tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch./. |


