Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

MỘT LUẬN ĐIỆU CỦA KẺ THÙ ĐỊCH VỚI VIỆT NAM CẦN BÁC BỎ

 


Thế lực thù địch cho rằng Việt Nam cần từ bỏ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ và trong đối ngoại quốc phòng từ bỏ nguyên tắc “ba không” trong quan hệ quốc tế.

Gần đây, không ít cá nhân, nhóm cá nhân cố ra vẻ là “người yêu nước”, “tâm huyết” với “vận mệnh quốc gia dân tộc” viết bài phát tán trên internet, mạng xã hội với những giọng điệu xuyên tạc. Chúng lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quốc gia dân tộc có mối quan hệ, lợi ích ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “ba không” (không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia) là “tự trói buộc mình”, và đó là chính sách “không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi”, nếu không thì không bảo vệ được độc lập, chủ quyền, nhất là chủ quyền, nhất là ở Biển Đông… Cốt lõi của những luận điệu này là dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Đúng là bối cảnh tình hình thế giới, khu vực hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực. Nhưng không phải vì thế mà chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam đã trở nên “lạc hậu”, phải “từ bỏ”. Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài, đứng ngoài lề hội nhập quốc tế, “tự mình cô lập mình” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà đó chính là chúng ta thể hiện chủ quyền, quyền tự lựa chọn, quyền tự quyết định con đường, mô hình phát triển của quốc gia - dân tộc.

Không thể nói rằng, thực hiện chính sách quốc phòng "ba không" là “tự trói buộc mình”, “cần phải thay đổi”, nếu không thì không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền đất nước. Đây thực sự là dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị trong mưu đồ “hướng lái” chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; thực chất là nhằm “kích động”, “thúc đẩy” chúng ta phải liên minh với một nước lớn nhất định nào đó, để “bảo vệ độc lập, chủ quyền”! Đó là sự “hướng lái” nhằm đẩy nước ta rơi vào sự lệ thuộc, phụ thuộc mới.

Những kẻ có luận điệu nêu trên cần thấy rằng, từ trước đến nay trong lịch sử cũng như thời hiện đại, nhân dân Việt Nam bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc là luôn dựa trên tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, tinh thần tự lực cánh sinh, phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đó là đường lối độc lập, tự chủ.

Đặc biệt trước những âm mưu thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch hòng lợi dụng những chính sách ưu việt của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động và "thổi lửa" vào những nhận thức sai lệch trong nhận thức về chủ quyền biển đảo, để hòng gây rối... Nhưng chúng đã nhầm không có gì quý hơn độc lập tự do, cuộc sống ấm no hạnh phúc của chính nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã làm tất cả vì Hạnh phúc của nhân dân, vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Chúng ta sớm biết và kiên quyết đập tan những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch để Việt Nam ta mãi mãi phát triển và thịnh vượng, đó là những mong ước của Đảng và nhân dân ta với tinh thần chính nghĩa, đập tan mọi âm mưu của các thế lực thù địch...

Chính sách quốc phòng "ba không" là biểu hiện đặc thù của đường lối, chính sách độc lập, tự chủ trên lĩnh vực quốc phòng trong bối cảnh lịch sử mới, là hoàn toàn đúng đắn... Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách quốc phòng "ba không", chúng ta mới có thể kết hợp và phát huy tốt nhất các nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền. Nghiêng về bên này hay ngả về bên kia, tức là phụ thuộc vào một nước nào đó, thì cũng có nghĩa là chúng ta bị mất độc lập, tự chủ. Bị phụ thuộc, mất độc lập, tự chủ thì vấn đề bảo vệ độc lập, chủ quyền cũng không còn ý nghĩa. Luận điệu xuyên tạc chính sách đối ngoại độc lập tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam không đánh lừa được ai... Với tinh thần ấy, nhân dân ta mãi mãi theo Đảng và tất cả vì một Việt Nam phát triển, sánh vai cùng bạn bè năm châu, xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thịnh vượng ./.

 

 

 

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LUẬT AN NINH MẠNG

 


Luật An ninh mạng được thông qua và có hiệu lực, Việt Nam sẽ có hành lang pháp lý chuẩn mực để bảo vệ chủ quyền, độc lập, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trên không gian mạng.

Núp dưới chiêu trò “tự do ngôn luận”, lợi dụng chủ trương của  Đảng về “Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội”[1], những kẻ cơ hội và các thế lực thù địch ở trong nước, ở nước ngoài có những thủ đoạn xuyên tạc Luật An ninh mạng nhằm mục đích gây hỗn loạn thông tin, tạo ra sự ngờ vực và dư luận xấu trong xã hội; từ đó, xuyên tạc chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về ban hành các luật. Vì vậy, tiếp tục nhận diện và đấu tranh với luận điệu xuyên tạc Luật An ninh mạng hiện nay là rất cấp bách.

Luận điệu xuyên tạc Luật An ninh mạng hiện nay

Một là, những kẻ cơ hội và các thế lực thù địch cho rằng, việc Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng là biện pháp tình thế của Đảng và Nhà nước nhằm đối phó những người bất đồng chính kiến. 

Không khó để nhận ra những luận điệu sai trái, lạc lõng đó của các hãng thông tấn, báo chí nước ngoài và những kẻ cơ hội chính trị trong nước “như nấm độc sau cơn mưa” của đài BBC, RFA, VOA, RFI,… Điển hình VOA Tiếng Việt với hàng loạt bài đầy tính xuyên tạc như: “Xuất hiện phong trào Bất tuân Luật An ninh mạng”… và trên internet, mạng xã hội, lại có một số thông tin cho rằng Luật An ninh mạng “xâm phạm quyền riêng tư”; “xâm phạm quyền tự do ngôn luận, quyền công dân”; “cướp đi quyền sử dụng internet của người dân” và hạn chế các quan hệ quốc tế, kiềm chế sự phát triển của Việt Nam? Những điều này có phải là sự thật hay không?

Sự thật không đúng như vậy! Phải khẳng định rằng, xây dựng, thực hiện Luật An ninh mạng là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới. Ngay trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng”[1], nhất là trong điều kiện “Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới”[2]; trong khi đó,“An ninh, trật tự và an toàn xã hội trên một số địa bàn còn phức tạp. Bảo vệ bí mật quốc gia còn nhiều yếu kém. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng còn nhiều bất cập”. Vì vậy, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật An ninh mạng để tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng với tất cả vì mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân, vì sự phát triển ổn định Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Do đó, luận điệu sai trái trên chẳng những mơ hồ về mặt lý luận, mà còn phản động về mặt thực tiễn.

Hai là, chúng cho rằng những nội dung Luật an ninh mạng là hết sức mơ hồ và không có quốc gia nào có luật này. 

Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam: “An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu đe dọa sự tồn tại, phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoặc của toàn xã hội… Duy trì an ninh toàn diện là điều kiện để phát triển toàn diện”[3]. Tại Điều 2, khoản 1 của Luật An ninh mạng khẳng định: “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Như vậy, an ninh mạng - về nội hàm của nó đã chỉ ra tính tất yếu phải ban hành và thực hiện luật này.

Việc họ cho rằng “không có quốc gia nào có luật này”! Đây lại là một sự bịa đặt nữa dựa trên sự đánh tráo khái niệm. Đến nay, 138 quốc gia đã có luật An ninh mạng bao gồm cả luật chuyên đề và các quy định pháp quy nằm rải rác ở các luật khác và không ít các luật đó còn gắt gao hơn nhiều so với Việt Nam. Ngày 07-12-2015, các nghị sĩ và các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã đạt thỏa thuận về Luật An ninh mạng đầu tiên áp dụng cho toàn khối: “Theo luật trên, các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng như: Google và Amazon sẽ phải báo cáo mọi vi phạm có tính chất nghiêm trọng cho các cơ quan chức năng quốc gia nếu không sẽ bị phạt. Luật mới mang tên “Chỉ dẫn an ninh mạng và thông tin”, đặt ra những quy định nghiêm ngặt về an ninh và trình báo bắt buộc đối với các công ty hoạt động trong những lĩnh vực trọng yếu, như: Giao thông, năng lượng, y tế và tài chính. Các công ty hoạt động trên mạng như: Google, Amazon, eBay và Cisco sẽ phải trình báo những vi phạm nghiêm trọng với cơ quan chức năng quốc gia nếu không sẽ phải chịu những biện pháp xử phạt từ các cơ quan này”[4]. Tại Đức, Bộ Tư pháp rất xem trọng việc an ninh mạng. Họ ra chỉ thị rõ ràng cho Facebook nếu quản lý không tốt để người dân kích động bạo lực, chửi bới trên mạng, xuyên tạc sẽ bị phạt thẳng tay từ những người quản lý Facebook đến những người phát biểu phát biểu. Đạo luật Netzwerkdurchsetzungsgesetz (NetzDG) được thông qua giữa năm ngoái nhưng chính thức có hiệu lực vào 1-1-2018 vừa qua sau 2 tháng gia hạn để các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phát triển các công cụ ngăn chặn phát ngôn kích động thù hận[5].

Hay tại Hàn Quốc, việc dùng mạng xã hội để tung ra những lời xúc phạm một “thần tượng” nào đó thì bạn sẽ sớm nhận được đơn kiện từ công ty chủ quản của nhân vật nổi tiếng ấy. Như vậy, luận điểm cho rằng, “những nội dung Luật An ninh mạng là hết sức mơ hồ và không có quốc gia nào có luật này” là sự bịa đặt, hoàn toàn trái với những gì trên thực tế.

Ba là, họ cho rằng các công ty mạng của nước ngoài sẽ không cung cấp thông tin người dùng theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam - chơi “luật riêng”. 

Đây cũng là điều bịa đặt bởi hàng năm, Facebook đều có báo cáo về cơ sở dữ liệu cho các chính quyền các nước là thị trường của họ. Tổng cộng có tất cả 103 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam[6]. Và sau khi Luật An ninh mạng được Quốc hội chính thức thông qua, đại diện Facebook tại Việt Nam cho biết, hoạt động của Facebook không hề bị ảnh hưởng tại Việt Nam. Hơn thế nữa, Facebook đang hoàn tất các thủ tục pháp lý để chuẩn bị thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam; giúp Facebook hoạt động tốt hơn, cũng như phối hợp tốt hơn với Chính phủ Việt Nam trong tương lai. Và cho đến nay, các nhà mạng Google, Facebook và một số nhà mạng khác vẫn hoạt động bình thường tại Việt Nam cũng như không có ý định rút khỏi thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam. Như vậy, luận điệu trên hoàn toàn không có cơ sở.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 34-35

[2]. Sđd,tr.72.

[3]. Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, “Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.25

 

[4].//www.tapchicongsan.org.vn/Home/Thoi_su/2015/36570/Luat-An-ninh-mang-dau-tien-ap-dung-cho-toan-Lien-minh.aspx.

[5].//www.heise.de/newsticker/meldung/Alltag-im-Facebook-Loeschteam-Nach-der-ersten-Enthauptung-geheult-3768497.html

 

[6]. https://transparency.facebook.com/government-data-requests.

Link bài viết : www.dangcongsan.vn/tieu-diem/nhan-dien-va-dap-tan-nhung-luan-dieu-xuyen-tac-luat-an-ninh-mang-489084.html.

Lo ngại dịch lây lan ở các khu công nghiệp

Ngày 12/5, Bộ Y tế ghi nhận thêm 82 ca nhiễm trong nước với nhiều ca là công nhân khiến cơ quan chức năng lo ngại nguy cơ dịch lây lan ở các khu công nghiệp. Với số lượng công nhân tập trung đông, các nhà máy, xí nghiệp và các khu công nghiệp được đánh giá là nơi dễ bùng phát dịch, chỉ sau các bệnh viện. Nhất là trong bối cảnh chủng virus mới từ Ấn Độ tốc độ lây lan nhanh hơn. "Xung yếu nhất trong phòng chống dịch bệnh là bệnh viện, sau đó đến các nhà máy, xí nghiệp, đặc biệt trong khu công nghiệp", Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng ban chỉ đạo chống Coivid-19 quốc gia nói tại cuộc họp trực tuyến với Đà Nẵng, Bắc Ninh, Bắc Giang, ngày 12/5. Trong đợt bùng phát dịch thứ tư tính từ ngày 27/4, các địa phương ghi nhận một số ca nhiễm ở khu công nghiệp. Cụ thể, hôm qua tỉnh Bắc Ninh phải cách ly ký túc xá 1.200 công nhân sau khi phát hiện 2 công nhân ở Công ty Canon (huyện Quế Võ) nhiễm nCoV. Hôm 11/5, tỉnh này ghi nhận hai trường hợp dương tính ở Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (SEV) ở huyện Yên Phong. Cũng trong ngày 11/5, chính quyền Đà Nẵng đã phải phong toả Khu công nghiệp An Đồn, quận Sơn Trà, sau khi cơ quan chức năng ghi nhận hơn 30 ca dương tính nCoV liên quan chuỗi lây nhiễm mới. Cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang hôm 9/5 cũng đã phong toả, khoanh vùng, dừng hoạt động 3 ngày đối với Công ty Shin young Việt Nam (Khu công nghiệp Vân Trung, huyện Việt Yên). Việc này để lập danh sách và lấy mẫu xét nghiệm hơn 3.000 công nhân sau khi phát hiện "bệnh nhân 3243" làm việc tại công ty này. Trước đó, hồi tháng 1 năm nay, đợt dịch thứ ba bùng phát ở Hải Dương cũng bắt nguồn từ một nữ công nhân làm việc tại Công ty TNHH Poyun, trong khu công nghiệp Cộng Hoà, TP Chí Linh. Sau bệnh nhân này, tỉnh phát hiện 72 ca khác, hầu hết là công nhân làm việc cùng. Cả đợt dịch, Hải Dương ghi nhận 503 ca nhiễm. "Để xảy ra dịch bệnh trong các khu công nghiệp có thể làm đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng, nền kinh tế của đất nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng", Phó thủ tướng Vũ Đức Đam nói và yêu cầu ngay trong tuần này, Bộ trưởng Công Thương chủ trì, phối hợp Bộ Y tế, tổ chức tập huấn trực tuyến toàn quốc về đảm bảo an toàn trong sản xuất công nghiệp, đặc biệt trong các khu công nghiệp. Theo thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn, xét nghiệm là chiến thuật quan trọng, nhất là xét nghiệm nhanh để khoanh vùng dập dịch hiệu quả. "Công tác xét nghiệm cần đẩy nhanh hơn, nhất là khi phát hiện các ca nhiễm trong khu công nghiệp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Nẵng", ông Thuấn nói và cho biết từng địa phương nên xét nghiệm sàng lọc nơi có nguy cơ cao như bệnh viện, nhà máy, khu công nghiệp để chủ động phòng dịch. Trong khi đó, ông Trần Đắc Phu, chuyên gia cố vấn Trung tâm đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, nhấn mạnh Việt Nam ghi nhận nhiều ổ dịch lớn. Nhiều bệnh nhân nhiễm biến chủng Ấn Độ với tốc độ lây lan nhanh; F1, F2 nhanh chóng trở thành ca F0. "Do đó, việc xét nghiệm sàng lọc nhiều vẫn rẻ hơn giãn cách xã hội một cách vô lý, nhằm cắt đứt chuỗi lây nhiễm cộng đồng", ông Phu nhận định. Trong ngày 12/5, Bộ Y tế ghi nhận thêm 82 ca nhiễm trong nước, nâng tổng số bệnh nhân Covid-19 trong đợt bùng phát dịch từ ngày 27/4 lên 611 tại 26 tỉnh thành, vượt số ca nhiễm của đợt dịch trước bùng phát ở Hải Dương (555 ca). Các địa phương tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt. Chính quyền Hà Nội chiều 12/5 dựng barie cách ly tòa nhà số 89 - 91 phố Đinh Tiên Hoàng (quận Hoàn Kiếm) và chung cư 187 Nguyễn Lương Bằng (quận Đống Đa). Đây là địa chỉ của ca nghi nhiễm nam, có yếu tố dịch tễ liên quan Đà Nẵng vừa được phát hiện. Từ 0h ngày 13/5, UBND tỉnh Quảng Nam dừng hoạt động xe khách liên tỉnh, xe hợp đồng, taxi đến các địa phương có dịch, trừ trường hợp xe công vụ, chở bệnh nhân. Cũng theo quyết định này, xe khách liên tỉnh, xe hợp đồng, du lịch, taxi, buýt ngoại tỉnh có hành trình qua các tỉnh, vùng dịch không được dừng, đỗ ở Quảng Nam đón, trả khách. Để phòng dịch, Thừa Thiên Huế dừng hoạt động các công viên và yêu cầu không tập trung quá 10 người ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện từ 12/5. Các di tích lịch sử, văn hóa; khu du lịch; nơi biểu diễn nghệ thuật; thể dục, thể thao ngoài trời; đào tạo, sát hạch lái xe ôtô, môtô... phải dừng hoạt động. Trước tình hình nguy cơ dịch bệnh xâm nhập rất cao, chính quyền TP HCM quyết định cho lập 12 chốt kiểm soát ở các cửa ngõ để phòng chống Covid-19 từ 0h ngày 15/5 tới.

Thêm 35 ca Covid-19

Bộ Y tế sáng 13/5 ghi nhận 35 ca dương tính nCoV, gồm 33 ca trong nước được phát hiện tại các khu đã cách ly, giãn cách. Các ca nhiễm mới được ghi nhận từ số 3624-3658, trong đó 33 ca trong nước gồm Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 1, Đà Nẵng 22, Bắc Ninh 3, Hà Nội 3, Vĩnh Phúc 2, Bắc Giang 2. Như vậy, tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay là 644, ghi nhận ở 26 tỉnh thành. Cụ thể, địa bàn Hà Nội 166 ca (trong đó Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 87 ca, 13 ca ở Bệnh viện K), Bắc Ninh 127, Đà Nẵng 102, Bắc Giang 83, Vĩnh Phúc 75, Hưng Yên 20, Hà Nam 17, Thái Bình 9, Hải Dương 7, Lạng Sơn 6, Hòa Bình 5, Thừa Thiên Huế 4, Quảng Nam 3, Quảng Trị 3, Nam Định 3, Đăk Lăk 2, Điện Biên 2, Phú Thọ 2, Đồng Nai, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Thanh Hóa, TP HCM, Yên Bái mỗi nơi một ca. Tại Bắc Ninh: Ca 3625-3627 là F1 liên quan tới ổ dịch cũ, đã được cách ly. Kết quả xét nghiệm ngày 11/5, các bệnh nhân dương tính với nCoV. Tại Vĩnh Phúc: Ca 3628-3629 đều liên quan đến ổ dịch tại Vĩnh Phúc, cách ly từ trước. Kết quả xét nghiệm ngày 10/5 các bệnh nhân dương tính với nCoV. Tại Hà Nội: Ca 3630, nữ, 56 tuổi, địa chỉ tại huyện Mỹ Đức, đang tiếp tục điều tra dịch tễ. Ca 3633, nữ, 42 tuổi, địa chỉ tại quận Thanh Xuân, có tiền sử đi về từ Đà Nẵng. Ca 3634, nam, 44 tuổi, địa chỉ tại quận Thanh Xuân, có tiền sử đi về từ Đà Nẵng. Kết quả xét nghiệm ngày 10-12/5 dương tính với nCoV, các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở 2. Ca 3635 ghi nhận tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cơ sở 2, là người nhà bệnh nhân đã được cách ly trong bệnh viện. Tại Bắc Giang: Ca 3631-3632 đều liên quan đến ổ dịch công ty SJ Tech, đã được cách ly từ trước. Kết quả xét nghiệm ngày 12/5 các bệnh nhân dương tính với nCoV, điều trị tại Bệnh viện dã chiến Bắc Giang. Tại Đà Nẵng: Ca 3636-3657 là F1 liên quan tới ổ dịch cũ, đã được cách ly, kết quả xét nghiệm ngày 9/5 dương tính với nCoV. Hiện các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Phổi Đà Nẵng và Trung tâm Y tế Hòa Vang. Hai ca nhập cảnh cách ly ngay, gồm: Ca 3624 cách ly tại tỉnh Long An, nữ, 37 tuổi, địa chỉ huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 27/4, cô từ Ba Lan nhập cảnh sân bay Tân Sơn Nhất trên chuyến bay QH9059, kết quả xét nghiệm ngày 12/5 dương tính với nCoV. Hiện bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Long An. Ca 3658 cách ly tại tỉnh An Giang, nam, 40 tuổi, địa chỉ tại huyện An Phú, tỉnh An Giang. Ngày 11/5, anh từ nước ngoài nhập cảnh, kết quả xét nghiệm ngày 12/5 dương tính với nCoV. Hiện bệnh nhân điều trị tại Trung tâm y tế huyện An Phú. So sánh hai đợt dịch 27/4 và 28/1 Tổng số ca Nhiễm theo ngày Xu hướng Số tỉnh thành có dịch Đợt dịch 27/4 Đợt dịch 28/1 Tích lũy từ đầu dịch vào năm 2020 đến nay, tổng số ca nhiễm cả nước lên 3.658, số khỏi lên 2.636. Số lượng mẫu xét nghiệm từ ngày 27/4 đến nay là 306.138 mẫu. Theo chương trình tiêm chủng quốc gia, ngày 12/5 thêm 26.182 người tiêm vaccine Covid-19. Đến nay cả nước tổng cộng đã tiêm đợt 1 và 2 cho 942.030 người. Bộ Y tế Việt Nam cảnh báo nguy cơ lây nhiễm từ bên ngoài vào nước ta rất cao nếu không kiểm soát chặt đường biên giới. Người dân được khuyến cáo thực hiện nghiêm quy tắc 5K. Theo Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, thế giới ghi nhận hơn 160 triệu ca Covid-19, trong đó hơn 3,3 triệu người đã tử vong. Đứng thứ nhất về số ca mắc là Mỹ, sau đó là Ấn Độ và Brazil.

Chiêu trò "lộng giả thành chân", lợi dụng văn học để xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử

 

Thời gian qua, dưới đủ thứ "nhân danh" này nọ, một số người có tư tưởng cơ hội chính trị, bất mãn, cực đoan đã có những thái độ, hành vi “Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử” và “hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng”. Đây là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ ra.

Thông tin giả, nguy cơ thật

 

Mấy ngày qua, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Do phải hạn chế đi lại và tiếp xúc với những người xung quanh để phòng, chống dịch (PCD) nên ông Thanh cũng ít ra đồng, không đến chơi với con cháu vào ngày cuối tuần được. Vì thế, ngày nào ông cũng vào mạng internet để xem thông tin, gọi điện cho con cháu nhắc nhở phải thực hiện đúng quy định phòng dịch, tránh bị lây nhiễm Covid-19.

 

Nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ Đại hội II của Đảng đến công cuộc đổi mới đất nước - Giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) là mốc son đánh dấu sự trưởng thành của Đảng về mọi mặt, đặc biệt là sự phát triển mới trong tư duy lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, về Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, thể hiện ý chí và khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của toàn Đảng, dân tộc Việt Nam về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ sau Đại hội II đến tiến trình 35 năm đổi mới đất nước, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc, sáng tỏ hơn vấn đề cốt yếu này.

Nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tại Đại hội II của Đảng 

Đầu năm 1951, những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc của tình hình trong nước và quốc tế đặt ra yêu cầu mới đối với cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng phải bổ sung và phát triển đường lối cách mạng và chính sách đối ngoại. Trước yêu cầu của thời kỳ cách mạng mới, Đảng triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ II diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Đại hội đã quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng Đảng, đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, thảo luận và thông qua Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng; đề ra đường lối, chủ trương đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.

Tại Đại hội II, nhận thức của Đảng về mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) tiếp tục được khẳng định, bổ sung, phát triển, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là con đường mà Đảng và nhân dân Việt Nam lựa chọn từ năm 1930, con đường phát triển theo quy luật khách quan của lịch sử xã hội loài người nói chung.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp; yêu cầu bức bách của dân tộc Việt Nam lúc này là phải tìm ra con đường giải quyết một cách triệt để đồng thời hai mâu thuẫn đó nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm cho CNXH từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi thế giới. Vào thời điểm lịch sử ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, thấm nhuần tri thức lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (1). Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2) được hoạch định tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930) xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(3). Cương lĩnh khẳng định sự lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, gắn kết độc lập dân tộc và CNXH, đưa cách mạng Việt Nam hòa vào dòng chảy chung của cách mạng thế giớiĐường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam được tiếp tục phát triển trong Luận cương chính trị của Đảng (tháng 10-1930).

Con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH phản ánh sự lựa chọn khách quan của chính thực tiễn, mang tính đặc thù Việt Nam, đã được Đảng ta khẳng định. Chủ trương chiến lược cách mạng đó được tiếp tục phát triển thêm một bước tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Độc lập dân tộc là điều kiện, là tiền đề giải phóng giai cấp, xã hội và con người để đi tới CNXH. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, được vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người trong thời đại mới. Ngay sau khi giành được độc lập, bắt tay vào xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, Đảng đã đồng thời lãnh đạo toàn dân tộc tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước. Trước sự trở lại xâm lược của thực dân Pháp (ngày 23-9-1945), Việt Nam chưa có điều kiện trực tiếp tiến lên CNXH. Củng cố và giữ vững nền độc lập dân tộc vừa giành lại được là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của toàn dân tộc.

Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” (4). Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội II thông qua, xác định: “Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”(5). Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. “Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc”(6). Cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến, do nhân dân làm động lực và giai cấp công nhân lãnh đạo, là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chứa đựng cả mục tiêu, lực lượng thực hiện và chế độ chính trị phù hợp để xây dựng CNXH. Đại hội khẳng định con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam: “Con đường tất yếu của nó tiến tới chủ nghĩa xã hội, quyết không thể có một con đường nào khác” (7).

Như vậy, nhận thức luận về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam lần đầu tiên được Đảng ta nêu ra tại Đại hội này. Con đường cách mạng Việt Nam với 3 nhiệm vụ như trên, trải qua ba giai đoạn: 1 - Giai đoạn tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân; 2 - Giai đoạn xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, triệt để thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; 3 - Giai đoạn làm xong nhiệm vụ dân chủ nhân dân, tạo đầy đủ điều kiện để tiến lên CNXH. Trong đó, giai đoạn thứ ba là thời kỳ quá độ với nhiệm vụ xây dựng, củng cố và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân.

Đại hội phân tích, với điều kiện Việt Nam, con đường tiến lên CNXH là một sự nghiệp khó khăn, lâu dài. “Không thể giạng chân ra mà bước một bước khổng lồ để đến ngay chủ nghĩa xã hội. Phải bước nhiều bước, chia thành nhiều độ mà đi” (8). Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trọng tâm, trung tâm. Giải phóng dân tộc, người cày có ruộng, xây dựng cơ sở cho CNXH, ba nhiệm vụ đó không thể cùng làm một lúc. Đại hội chỉ rõ, trong mỗi giai đoạn, kẻ thù và đồng minh của cách mạng có thay đổi,... đường lối cách mạng vì thế mà phải tiếp tục hoàn thiện. Quan niệm giản đơn và “vượt bỏ giai đoạn” cũng như khuynh hướng “từ từ từng bước” đều sai (9).

Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội (Luận cương cách mạng Việt Nam) nêu rõ những cơ sở, tiền đề chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tiền đề tư tưởng, lý luận là Đảng phải nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin về cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và những luận điểm về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu nói riêng. Tiền đề kinh tế được xác định là: “Kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội” (10). Tiền đề xã hội là sự đoàn kết của các giai cấp, tầng lớp trong Mặt trận dân tộc thống nhất phấn đấu theo mục tiêu cách mạng do Đảng đề ra. Tiền đề văn hóa tinh thần là xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng. Những tiền đề, điều kiện cho sự chuyển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa được Đại hội II của Đảng phân tích sâu sắc, định hướng nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân phải thực hiện ngay trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, để tạo dựng cơ sở vững chắc cho giai đoạn kế tiếp.

Đường lối đúng đắn mà Đại hội II đề ra chính là sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng; đặc biệt là nhận thức lý luận về lộ trình, bước đi trong giai đoạn quá độ lên CNXH phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam đã được Đảng nêu cụ thể, rõ nét ngay trong hoàn cảnh kháng chiến đang diễn ra ác liệt.

Nhận thức về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn trong tiến trình cách mạng sau đó

Trong thời kỳ 1954 - 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân đồng thời thực hiện hai chiến lược: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Độc lập dân tộc và CNXH được thể hiện sinh động và mạnh mẽ trên cả 2 miền Bắc - Nam, tác động, thúc đẩy nhau tạo nguồn xung lực để đưa sự nghiệp thống nhất đất nước đến thành công. Trong suốt cuộc kháng chiến, CNXH không chỉ là phương hướng mà đã trở thành phong trào cách mạng hiện thực trên toàn miền Bắc, đóng vai trò quan trọng quyết định bảo đảm thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong công cuộc giải phóng dân tộc. Cách mạng giải phóng dân tộc tiếp tục có nguồn động lực từ ý chí, khát vọng độc lập, tự do, lòng yêu nước của mỗi người Việt Nam, từ mâu thuẫn nội tại cơ bản vẫn chưa được xóa bỏ là chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam; được bổ sung nguồn động lực từ xã hội xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng trên miền Bắc.

Cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi, Tổ quốc thống nhất, nhiều tiền đề cho thời kỳ quá độ đã được tạo dựng, các nguồn lực tự nhiên, xã hội, tiềm năng, thế mạnh của các vùng, miền trên cả nước được phát huy; sức mạnh ý chí, tinh thần dân tộc, vị thế, uy tín quốc tế của dân tộc được nâng cao. Các yếu tố đó mở ra điều kiện, tiền đề to lớn cho sự nghiệp xây dựng CNXH trên cả nước, gắn với bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Đó là thắng lợi của chiến lược cách mạng được Đại hội II của Đảng vạch ra. Trong đó, cốt lõi là quan điểm, tiến trình về độc lập dân tộc và CNXH.

Trong giai đoạn 1975 - 1986, sự nghiệp xây dựng CNXH đạt được những thành tựu nhất định; tuy nhiên, những sai lầm trong chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện do chủ quan duy ý chí, nóng vội, thiếu kinh nghiệm, đã làm cho đất nước lâm vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội. Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đã thẳng thắn đánh giá những sai lầm và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để; đặc biệt là, đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng đắn về CNXH và những đặc trưng, những quy luật khách quan, những hình thức, bước đi của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đã mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng trên con đường đi lên CNXH.

Đại hội VII của Đảng (năm 1991), diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, mô hình CNXH hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng và thoái trào; đất nước sau 15 năm thống nhất, xây dựng CNXH, sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới với nhiều khó khăn, nguy cơ, thách thức. Trước tình hình đó, Đảng ta tiếp tục kiên định con đường cách mạng đã lựa chọn, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991). Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã đúc kết: Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH là bài học xuyên suốt của cách mạng nước ta và khẳng định, đối với nước ta, không còn con đường nào khác ngoài con đường duy nhất đúng đắn là đi lên CNXH để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng (11).

Tại Đại hội VII, nhiều nội dung lý luận và thực tiễn mới được Đảng nêu ra, trong đó đã xác định những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việtt Nam xây dựng. Đây là một bước phát triển lý luận mới mang tính đột phá. Từ 6 đặc trưng được nêu tại Cương lĩnh năm 1991, Đại hội X của Đảng đã bổ sung, nêu 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam phấn đấu xây dựng. Đây là những phác thảo quan trọng làm cơ sở để Đại hội XI của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng gồm 8 đặc trưng: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Tám đặc trưng được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phản ánh quan niệm tổng quát về CNXH ở Việt Nam. Đó là thành quả của đổi mới nhận thức về CNXH phù hợp với thực tiễn Việt Nam, là kết hợp hài hòa giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù”, mang sắc thái riêng, được từng bước hiện thực hóa trong cuộc sống.

Thực hiện độc lập dân tộc và CNXH là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, tất yếu phải trải qua những chặng đường trong thời kỳ quá độ lâu dài, trong đó nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản và trọng yếu được đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và giải quyết một cách thấu đáo. Quá trình nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNXH có sự phát triển mới: Để xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam với những đặc trưng nêu trên, Đảng chỉ ra các phương hướng cần thực hiện. Cương lĩnh năm 1991 xác định 7 phương hướng quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định 8 phương hướng với sự điều chỉnh, bổ sung về nội dung và 8 mối quan hệ lớn cần nắm vững và giải quyết.

Trên cơ sở tổng kết 25 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và đánh giá 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đã bổ sung mối quan hệ lớn thứ chín cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) bổ sung mối quan hệ lớn thứ mười là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là một bước tiến mới, quan trọng của Đảng trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển hệ thống quan điểm lý luận về CNXH ở Việt Nam, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới chính là thành quả từ việc hiện thực hóa lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đất nước ta đã vươn mình thoát khỏi vị trí một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển thấp trở thành một nước phát triển trung bình; tiềm lực kinh tế liên tục tăng cao; đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao rõ rệt; chính trị - xã hội ổn định; dân chủ ngày càng được mở rộng; chủ quyền quốc gia được bảo vệ vững chắc; vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao…

Thực hiện độc lập dân tộc và CNXH là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, tất yếu phải trải qua những chặng đường trong thời kỳ quá độ lâu dài, trong đó nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản và trọng yếu được đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và giải quyết một cách thấu đáo. Quá trình nhận thức của Đảng về con đường đi lên CNXH có sự phát triển mới: Để xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam với những đặc trưng nêu trên, Đảng chỉ ra các phương hướng cần thực hiện. Cương lĩnh năm 1991 xác định 7 phương hướng quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định 8 phương hướng với sự điều chỉnh, bổ sung về nội dung và 8 mối quan hệ lớn cần nắm vững và giải quyết.

Trên cơ sở tổng kết 25 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và đánh giá 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đã bổ sung mối quan hệ lớn thứ chín cần được nghiên cứu làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) bổ sung mối quan hệ lớn thứ mười là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là một bước tiến mới, quan trọng của Đảng trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phát triển hệ thống quan điểm lý luận về CNXH ở Việt Nam, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng ta.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 35 năm đổi mới chính là thành quả từ việc hiện thực hóa lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đất nước ta đã vươn mình thoát khỏi vị trí một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ phát triển thấp trở thành một nước phát triển trung bình; tiềm lực kinh tế liên tục tăng cao; đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao rõ rệt; chính trị - xã hội ổn định; dân chủ ngày càng được mở rộng; chủ quyền quốc gia được bảo vệ vững chắc; vị thế, uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao…

Trong tiến trình đổi mới, Đảng nhận diện ngày càng rõ hơn vấn đề độc lập dân tộc và CNXH trước bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Tiến trình đổi mới là sự tiếp tục vận động của những quan niệm mới về CNXH và con đường xây dựng CNXH của Đảng, được hình thành dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những nhận thức đúng đắn mà Đảng đã tích lũy được trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam (17).

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, là nội dung nổi bật, xuyên suốt và chủ đạo trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là một trong những nguyên nhân của mọi thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và mãi là ánh sáng soi đường cho sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng trong thế kỷ XXI của Đảng và nhân dân Việt Nam./.

PGS, TS. TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH - NGUYỄN THÀNH LONG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

 

 

TỰ HÀO VÀ TRÁCH NHIỆM

 Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo Nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng 1 nước Việt Nam phồn vinh, hòa bình và thịnh vượng.

Hà Nội tìm người đến quán phở, đi tàu SE4

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội sáng 12/5 thông báo tìm người tới quán phở Cường ở Gia Lâm và người đi tàu SE4 từ TP HCM, liên quan các ca nhiễm. CDC Hà Nội khuyến cáo, những người đã đến và liên quan các địa điểm này trong thời gian có ca Covid-19, tự cách ly tại nhà. Họ liên hệ với trạm y tế, trung tâm y tế địa bàn, gọi đường dây nóng của CDC là 0969.082.115/0949.396.115 để được hỗ trợ, tư vấn y tế. Cụ thể: - Quán phở Cường, 733 Nguyễn Đức Thuận, tổ dân phố số 3, Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội, khoảng 5-6h ngày 1/5. Quán ở mặt đường quốc lộ 5 cũ, gần nhà thi đấu huyện Gia Lâm, cách ngã tư Trâu Quỳ khoảng 1,5 km. - Chuyến tàu SE4 xuất phát từ TP HCM vào 19h25 tối 6/5, qua ga Đà Nẵng, Đông Hà - Quảng Trị, đến ga Hà Nội ngày 8/5. CDC Hà Nội thông báo tìm người sau khi truy vết dịch tễ bệnh nhân ở tỉnh khác đến thành phố có liên quan tới hai địa điểm nói trên. Trong đó, "bệnh nhân 3506", nữ, 23 tuổi, thường trú tại phường 3, TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, là F1 của "bệnh nhân 3222". Ngày 7/5, cô gái này đi trên đoàn tàu SE4 toa 3 giường 14, từ ga Đà Nẵng đi ga Đông Hà. Ngày 10/5, cô được cách ly và điều trị tại Bệnh viện Chuyên khoa Lao và Bệnh phổi tỉnh Quảng Trị. Đến sáng 12/5, trên địa bàn Hà Nội đã ghi nhận 153 ca nhiễm, trong đó Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương 84 ca, 13 ca ở Bệnh viện K, hơn 30 địa điểm phải cách ly do xuất hiện bệnh nhân Covid-19

Cách ly ký túc xá 1.200 công nhân

BẮC NINH Nhà chức trách tạm thời cách ly y tế ký túc xá 1.200 người sau khi ghi nhận hai công nhân nghi nhiễm Covid-19 ở Công ty Canon (huyện Quế Võ). Sáng 12/5, ông Nguyễn Văn Hoằng, chủ tịch UBND xã Nam Sơn (huyện Quế Võ), cho biết việc cách ly ký túc xá công nhân diễn ra vào tối qua. Hai trường hợp trên chưa được Bộ Y tế công bố, nên là ca nghi nhiễm. "Trước mắt chúng tôi cách ly những người tiếp xúc gần, phục vụ truy vết, còn cách ly đến bao lâu tùy theo diễn biến của dịch", ông Hoằng cho hay. Trong đêm 11/5, hàng chục nhân viên y tế đã đến ký túc xá Công ty Canon lấy mẫu truy vết. Các công nhân trong khu vực này được yêu cầu không ra ngoài. Chính quyền địa phương phối hợp với doanh nghiệp hỗ trợ hậu cần cho ký túc xá. Nhân viên y tế lấy mẫu cho hàng trăm công nhân ở ký túc xá Công ty Canon trong đêm 11/5. Hôm qua 11/5, tỉnh Bắc Ninh cũng ghi nhận hai trường hợp dương tính liên quan đến Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (SEV) ở huyện Yên Phong. Một công nhân 27 tuổi, cư trú ở thôn Nghĩa Xá, xã Nghĩa Đạo (huyện Thuận Thành), có chồng nấu ăn tại xã Mão Điền (ổ dịch ở huyện Thuận Thành). Từ ngày 29/4, công nhân này không tới Công ty nên ít có yếu tố tiếp xúc với nhân lực của nhà máy. Công nhân còn lại cư trú ở khu Ninh Chấp, phường Thái Học, thành phố Chí Linh (tỉnh Hải Dương), có tới nhà bố mẹ đẻ tại xã Mão Điền vào các ngày 1 đến 2/5; ngày 10/5 ghi nhận kết quả dương tính. Từ ngày 26/4, bệnh nhân tạm nghỉ nên không tiếp xúc với nhân lực nhà máy. Cơ quan chức năng xác định được 49 F và 1.160 F2. Đến sáng 12/5, kết quả test nhanh của 1.160 công nhân F2 cho kết quả âm tính.

Thuê villa tổ chức tiệc ma túy giữa "mùa dịch"

     Vào lúc 23h25 ngày 10/5, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Công an tỉnh Nghệ An) phát hiện tại căn Villa 8109 khu nghỉ dưỡng Vinpeal Cửa Hội, thuộc phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò đang tập trung nhiều đối tượng có biểu hiện nghi vấn nghi vấn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
    Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra căn biệt thự nói trên phát hiện và bắt quả tang 9 đối tượng (4 nam, 5 nữ) sinh năm từ 1997 đến 1988, đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có 4 đối tượng trú tại TP Vinh, 2 đối tượng trú tại huyện Thanh Chương và tỉnh Hà Tĩnh, 3 đối tượng trú tại thị xã Cửa Lò.
    Tại hiện trường, tổ công tác phát hiện, thu giữ 4 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy tổng hợp (Ketamine) và một số dụng cụ để sử dụng ma túy. Kết quả xét nghiệm cả 9 đối tượng đều dương tính với ma túy.
    Quá trình điều tra, bước đầu cơ quan Công an xác định, trong số 9 đối tượng trên có Phạm Thị Quỳnh Hương (SN 1997), trú tại phường Hà Huy Tập, TP Hà Tĩnh là người bán ma túy cho Phan Minh Cường (SN 1988), trú tại phường Lê Mao, TP Vinh để tổ chức cho các đối tượng còn lại cùng sử dụng.
    Hiện cơ quan Công an đang tiếp tục củng cố hồ sơ, tài liệu để xử lý các đối tượng theo đúng quy định pháp luật.

Tham lam và sợ hãi

Trong các chuyến thị sát gần đây, tôi chứng kiến tâm lý chủ quan ở một số khu cách ly và cả nhân viên đang thực thi nhiệm vụ chống dịch. Ví dụ, có người không đeo khẩu trang ở khu bắt buộc trong khu cách ly. Người đang cách ly cạnh phòng nhau giao tiếp tương đối thoải mái. Có người không nắm vững quy trình, quy phạm phòng dịch. Chúng tôi đã phải làm việc rất kỹ với họ, rằng lỗ nhỏ đắm thuyền to. Và sẽ thực sự nghiêm trọng nếu có lây nhiễm trong khu cách ly, lây nhiễm cho những người làm nhiệm vụ cách ly rồi lây ra ngoài cộng đồng. Sự thật đã diễn ra gần như vậy. Hậu quả rất nặng nề: thêm nhiều người mắc Covid-19, nhiều người phải thực hiện cách ly bắt buộc bị ảnh hưởng tới cuộc sống và công việc, chi phí của quốc gia cho phòng chống dịch bị tăng lên rất cao. Trong phòng dịch và y tế, có những việc rất nhỏ cũng có thể bị trả giá rất đắt. Không vệ sinh tay là một trong các nguyên nhân chính gây ra nhiễm khuẩn bệnh viện - làm tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng chi phí, công sức điều trị, kéo dài ngày nằm viện và tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Nếu một bác sĩ quên rửa tay, đôi khi có thể gây nhiễm khuẩn cho nhiều nơi trong bệnh viện. Trong nghề y, rửa tay đúng cách có thể mang lại tác động và ý nghĩa to lớn. Để cải thiện chất lượng bệnh viện, giải pháp quan trọng nhất lại là biện pháp dễ thực hiện nhất: sát khuẩn tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân. Khi tôi mới về một bệnh viện công cách đây hơn 20 năm, chỉ vài người trong đội ngũ y bác sĩ khoa tôi làm việc có thói quen vệ sinh bàn tay khi chăm sóc, điều trị người bệnh. Ai cũng hiểu tầm quan trọng của việc này, nhưng vì là hành động nhỏ, không thể giám sát hết nên bị xem thường và bỏ qua. Tôi phải nhắc đi nhắc lại nhân viên của mình rằng y khoa trước tiên không được gây hại đến người khác. Một virus, vi khuẩn được đem từ nơi này sang nơi kia nhờ bàn tay chưa diệt khuẩn, hậu quả có thể nguy hiểm cho cộng đồng. Việc nhỏ không làm nghiêm túc và triệt để thì không thể mong làm được việc lớn. Chúng tôi đã áp dụng các chế tài thưởng, phạt với rửa tay, huấn luyện ý thức phòng chống lây nhiễm chéo trong cả nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà. Sau khoảng một năm, chuyển biến đã rõ rệt. Thực hành rửa tay trở thành văn hoá, thói quen tập thể ở bệnh viện. Những cá nhân không chấp hành tự cảm thấy lạc lõng, xấu hổ. Chống nhiễm khuẩn là một trong những tiêu chí đầu tiên để đảm bảo chất lượng cơ sở y tế. Đây cũng là vấn đề mang tính toàn cầu. Bài học Ấn Độ hôm nay khiến ta không khỏi đau lòng và lo lắng. Chúng ta cũng là những con người như họ, có tham lam, có sợ hãi. Sợ hãi sẽ thành hiện thực nếu chúng ta hời hợt với các nguyên tắc chống dịch dù nghe qua có vẻ bình thường. Mỗi khi nhà nước ra các chỉ thị chống dịch, đa số người dân chấp hành nghiêm chỉnh. Nhưng không phải tất cả. Còn những người vẫn cố gắng nấn ná miễn được việc cho mình. Có người vẫn đưa người lậu qua biên giới chỉ vì vài triệu đồng, cố ra đường giải quyết công việc khi chưa hết thời hạn cách ly tại nhà; hay có những việc nhỏ như vứt bừa khẩu trang bẩn xuống vệ đường, nhổ nước bọt, kéo khẩu trang xuống cho dễ chịu... Có người còn không nỡ bỏ vài cuộc vui. 5K dán khắp mọi nơi, nhưng vẫn có người thiếu tự giác thực hiện. Hôm qua, chỉ vài trường hợp không tuân thủ cách ly tại nhà sau khi hoàn thành cách ly tập trung đã khiến hệ thống phòng chống dịch hôm nay phải kích hoạt ở mức cao nhất. Cả hệ thống chính trị và người dân đang phải gồng mình chống dịch trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn. Chỉ cần thay đổi nhỏ trong suy nghĩ, ta cũng có thể kiềm chế dịch bệnh trên diện rộng, cứu sinh mạng hàng trăm người, ngay cả khi Việt Nam chưa đủ vaccine. Ở chiều ngược lại, nếu còn những cá nhân xem thường dịch bệnh, thì thảm cảnh Ấn Độ có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào. Tham lam và sợ hãi là hai cảm xúc chi phối nhiều nhất đến hành vi của con người. Chúng ta tham chút việc riêng của mình, nhưng chúng ta cũng biết sợ khi nhìn cảnh tang thương ở nước bạn. Ban đầu, bi kịch cũng nhen nhóm từ những lơ là như thế. Mỗi người nghĩ xa hơn một chút, sự thất bại của một số cá nhân sẽ không biến thành thất bại tập thể. Y học có phát triển đến đâu mà hành vi của con người không tiến bộ theo, đất nước đó không thể văn minh.

Phạt gần 2.000 trường hợp vi phạm quy định phòng chống dịch tại TP Hải Dương

     Trước diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid-19, TP Hải Dương đã chỉ đạo lực lượng chức năng siết chặt kiểm soát, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định phòng chống dịch. Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ phận người dân không tuân thủ nghiêm quy định, chỉ thị của cơ quan chức năng về phòng chống dịch.
    Chỉ tính từ ngày 28/1 đến 10/5, lực lượng chức năng đã xử phạt gần 2.000 trường hợp vi phạm quy định phòng chống dịch với tổng số tiền hơn 2 tỷ đồng. Trong đó, UBND TP Hải Dương đã ra quyết định xử phạt số tiền 490 triệu đồng; UBND 25 phường, xã ra quyết định xử phạt gần 1,6 tỷ đồng.  
    Tính từ ngày 7/5 đến 15h ngày 10/5, huyện Nam Sách đã lập biên bản, xử phạt 37 trường hợp cố tình không chấp hành quy định đeo khẩu trang để phòng chống dịch bệnh (35 người bị phạt với mức 1 triệu đồng/người, 2 người bị cảnh cáo); xử phạt 15 triệu đồng đối với 1 chủ cơ sở kinh doanh cà phê-karaoke và đang hoàn thiện hồ sơ xử phạt chủ quán cà phê Alex do không chấp hành quy định phòng chống dịch với mức đề xuất 10 triệu đồng.  
    Các trường hợp vi phạm đều được huyện Nam Sách thông báo công khai trên hệ thống phát thanh, truyền thanh, nhằm tuyên truyền, vận động người dân thực hiện nghiêm túc việc đeo khẩu trang ở nơi công cộng và dừng hoạt động kinh doanh các mặt hàng không thiết yếu trong phòng chống dịch Covid-19.
     Nam Sách đang tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định phòng chống dịch của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn, kiên quyết dừng hoạt động đối với các đơn vị không đáp ứng yêu cầu phòng chống dịch.

Bộ trưởng Y tế: 'Chúng ta không chùn bước'

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long gửi thư động viên y bác sĩ trong bối cảnh nhiều bệnh viện bị cách ly, nhân viên y tế đối mặt rủi ro, thậm chí nguy hiểm. Trong thư gửi hôm nay, Bộ trưởng Long nhấn mạnh trong chống Covid-19, vai trò của đội ngũ y tế rất nặng nề, chịu nhiều rủi ro. Nhiều thành trì chống dịch hai tuần qua bị cách ly y tế, như Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, Bệnh viện K... Trong số ca Covid-19 ghi nhận từ ngày 27/4 đến nay, có ít nhất 10 nhân viên y tế. Một nữ điều dưỡng ở An Giang đã tử vong do phản vệ sau tiêm vaccine Covid-19. "Trong cuộc chiến không tiếng súng này, có thể chúng ta phải chịu đựng những thiệt thòi, những rủi ro, nhưng không vì thế mà chúng ta chùn bước", ông Long viết. Bộ trưởng đánh giá Covid-19 đang diễn biến phức tạp trong nước, xuất hiện nhiều ổ dịch với nhiều biến chủng virus lây nhiễm nhanh và mạnh hơn. Do đó, công tác chống dịch "không được phép chậm trễ, không được phép ngơi tay". Với phương châm chuyển trạng thái phòng, chống dịch từ phòng ngự sang chủ động tấn công, Bộ trưởng kêu gọi nhân viên y tế tiếp tục chung sức. "Tôi biểu dương những cống hiến của các chiến sĩ áo trắng trên mọi miền Tổ quốc, đã không quản ngày đêm tận tâm hết mình, bất chấp vất vả, gian nan, hiểm nguy", Bộ trưởng viết. Kể từ ngày ghi nhận ca mắc Covid-19 do lây nhiễm cộng đồng ngày 27/4, dịch đã lan ra 26 tỉnh thành, ghi nhận 581 bệnh nhân, ít nhất 10 bệnh viện bị cách ly y tế do có lây nhiễm trong viện.