Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2021
Một quân nhân nghi mắc Covid-19
Hơn 10.000 người Hà Nội về từ Đà Nẵng âm tính nCoV
Thêm 2 F1 của cựu giám đốc Hacinco nghi Covid-19
Bệnh nhân Covid-19 34 tuổi tử vong
Tuyên truyền bầu cử
Sáng suốt lựa chọn những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân bầu vào Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021- 2026!
Thủ tướng khen sáng kiến lấy mẫu gộp của Đà Nẵng
Nêu cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là người dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nếu Đảng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì sẽ dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, vấn đề cấp bách hiện nay là phải tăng cường các giải pháp hữu hiệu để đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để góp phần đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây.
Một là, phát huy
vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”.
Giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước và xã hội. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần giữ vững và phát
huy vai trò lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... Hoạt động lãnh đạo của tổ
chức đảng cần được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm giáo dục, tạo sự
chuyển biến sâu sắc về mọi mặt đối với nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Kịp thời phát hiện
những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của cán bộ,
đảng viên và nhân dân, đặc biệt là nhu cầu về lợi ích kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội của từng đối tượng để xác định đúng, trúng những nội dung, biện
pháp lãnh đạo, chỉ đạo cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của từng cơ
quan, đơn vị.
Hai là, nâng cao
chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên về đấu tranh
phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên
truyền, giáo dục chính trị về đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ; tạo sự hấp dẫn và nhu cầu tự tìm hiểu, nhận thức về những
chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh
phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, tăng cường
công tác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tốt công tác bảo vệ nội bộ.
Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng,
phong cách Hồ Chí Minh đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ
lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Cần kết hợp chặt chẽ
giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong Đảng với tinh thần tự tu dưỡng, rèn
luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Tăng cường kỷ luật, pháp luật, công khai, minh
bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ; tạo môi
trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh để cán bộ, công chức không
có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức. Chủ động tiến hành công
tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham
nhũng, lãng phí.
Bốn là, kiên quyết
vạch trần, đấu tranh loại bỏ những kẻ cơ hội về chính trị, tham vọng về quyền
lực trong nội bộ Đảng.
Tổ chức đảng các cấp phải đấu tranh với những kẻ cơ
hội về chính trị, tham vọng về quyền lực, độc đoán, phe cánh, “lợi ích nhóm”,
mị dân và kiên quyết loại trừ những đối tượng này ra khỏi hàng ngũ của Đảng.
Chủ động phát hiện và kiên quyết không để lọt vào tổ chức đảng những người có
biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc
của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng
cục bộ, phe cánh, “lợi ích nhóm”, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải; vi phạm
nguyên tắc tập trung dân chủ; độc đoán, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê
bình; mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng; tham nhũng, tiêu cực; không chịu nghiên
cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói không đi đôi với làm,
nói một đằng làm một nẻo; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động,
phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu
nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được
nguồn gốc, bản thân và người thân trong gia đình có lối sống thiếu gương mẫu,
lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính.
Năm là, đẩy mạnh
đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong phòng, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng
viên về tác hại của các quan điểm sai trái, thù địch, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ. Đổi mới hình thức đấu tranh phòng, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” sao cho đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ làm, dễ thực
hiện. Tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học trong nước và quốc tế, viết các bài
chuyên luận sắc bén, thuyết phục để phản bác các quan điểm sai trái trên các
phương tiện truyền thông và internet.
Sáu là, phát huy
vai trò của cán bộ, đảng viên trong học tập nâng cao trình độ, xây dựng bản
lĩnh chính trị và tự rèn luyện đạo đức, lối sống.
Một số giải pháp về phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay
Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho Quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang ít nhiều có ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của Quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, chiến sĩ.
Để
phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta hiện nay, cần làm
tốt những giải pháp cơ bản sau:
Một là: Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị,
củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ là yếu tố
cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và từng đơn vị; đồng
thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của bộ đội,
V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ
thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó,
sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta đều bắt nguồn từ một
niềm tin vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào
con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin
tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ
đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Quân đội và Nhân
dân ta.
Hai
là: Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành
thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra.
Xây
dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, luyện tập và thành thạo các phương án chiến
đấu là một trong những nhân tố bảo đảm cho các đơn vị trong quân đội đủ sức
hoàn thành mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, đây còn là giải pháp
trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ
chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân
đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ
trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây
dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng về
chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn
vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn
nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Ba là: Thường
xuyên củng cố và phát huy vai trò các tổ chức, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi
mặt thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”.
Phòng
chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là
ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn
sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp
tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng,
đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán
bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch
thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị
có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó
phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng hơn.
Bốn
là: Phối hợp với địa phương và các đơn vị bạn xây
dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan khi có tình
huống bạo loạn xảy ra.
Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến
lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân và cả hệ thống chính trị. Để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” của địch có hiệu quả, thì một
trong những biện pháp quan trọng là phải không ngừng tăng cường đẩy mạnh các
hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, nhằm tạo cơ sở chính trị, tinh
thần cho quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi
lực lượng, mọi người trong và ngoài đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
được giao.
Trong
tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào
bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô
cùng tinh vi, xảo quyệt. Do đó, thực hiện đồng bộ những giải pháp trên sẽ góp
phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ
vững trận địa chính trị, tư tưởng trong Quân đội ta, góp phần xây dựng Quân đội
vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của
Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./. T3.
Phòng ngừa, đấu tranh với lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá mạng cách mạng Việt Nam
Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, qua đó, đề xuất các biện pháp chủ động phòng ngừa, đấu tranh, góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.
Trong thời gian tới, để chủ động phòng ngừa, đấu
tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian
mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, lực lượng
Công an nhân dân cần làm tốt công tác nắm tình hình từ xa, ngay tại cơ sở và
trên không gian mạng, tập trung đấu tranh ngăn chặn và hạn chế thấp nhất tác
động ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động lợi dụng không gian mạng để đưa thông tin
xấu độc, giả mạo. Đồng thời, chủ động tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước,
Chính phủ, Bộ Công an có nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh
hiệu quả với các thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, trong đó tập
trung làm tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, cấp ủy
đảng, chính quyền các cấp, trong đó Công an nhân dân là nòng cốt, cần chủ động,
chủ trì, tích cực tham mưu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao
nhận thức chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trước
những hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước.
Hai
là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình
thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa
thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm
chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng
viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết
trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật.
Ba là, tiếp tục tổ
chức quán triệt, thực hiện nghiêm công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, tăng
cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và
các biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; đồng thời, tổ
chức tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân trong đấu tranh với hoạt động lợi dụng không gian mạng để đưa thông tin xấu
độc, giả mạo, các thông tin tuyên truyền phản động, xuyên tạc, vu cáo, nói xấu
Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.
Bốn
là, thường xuyên cập nhật thông tin, hướng dẫn kỹ thuật
trên báo, đài, mạng xã hội để cán bộ, đảng viên, nhân dân biết và sử dụng các
chức năng an toàn, những khuyến cáo của nhà sản xuất để nâng cao khả năng phòng
chống phát tán phần mềm gián điệp, thông tin xấu độc, giả mạo, vô hiệu hóa các
tính năng, ứng dụng trên máy tính, điện thoại di động thông minh... không cần
thiết.
Năm là, các
đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các nhà mạng
viễn thông trong nước và nước ngoài cần chủ động phối hợp để triển khai có hiệu
quả các nghị định thư, thoả thuận hợp tác về phòng, chống tội phạm mạng xuyên
biên giới.
Một số giải pháp ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay
Hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên không giữ được phẩm chất, bản
lĩnh của người đảng viên cộng sản, suy thoái về đạo đức, lối sống. Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi,
có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn… Trong khi đó, sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường”.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái
về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và phòng, chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần
nắm vững và thực hiện tốt các giải pháp sau:
Một là, tăng
cường giáo dục chính trị, nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị của
đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp cơ bản, giữ vai trò nền
tảng trong nâng cao hiệu quả đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái
về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và phòng, chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức Đảng.
Cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới toàn diện, mạnh mẽ về nội dung,
phương thức công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ
biến sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cho cán bộ, đảng viên thấm
nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu rõ cơ sở lý luận, thực
tiễn của đường lối đổi mới. Nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, tính
chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt các cấp; giữ vững bản chất cách mạng của Đảng, vai trò
tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Đổi mới hình thức, phương pháp học
tập, nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của Đảng, kết hợp chặt chẽ hình thức phổ
biến, quán triệt làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn với gợi mở những vấn đề thực
tế đang đặt ra với các hình thức tọa đàm, trao đổi, phát huy tìm tòi, sáng tạo
của mỗi cá nhân; đồng thời, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, các công trình,
đề tài nghiên cứu khoa học để làm rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng.
Hai
là, xác định rõ vai trò, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,
đơn vị. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền và
trách nhiệm cao nhất trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị, nên có vai trò
quan trọng đối với việc phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên.
Ba là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ chủ
trì. Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt
nhân chính trị ở cơ sở; nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng
viên. Đảng viên dù giữ cương vị, trọng trách nào cũng tham gia sinh hoạt và
chịu sự quản lý, giáo dục, rèn luyện của chi bộ. Cấp ủy cơ sở là hạt nhân lãnh
đạo, trung tâm đoàn kết, đại biểu cho trí tuệ, ý chí của tổ chức cơ sở đảng;
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng phụ thuộc trước hết và
chủ yếu vào số lượng, cơ cấu của cấp ủy, phẩm chất, năng lực của các cấp ủy
viên.
Bốn là, duy trì thực hiện nghiêm các nguyên tắc, chế
độ, quy định và tích cực đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ. Đây là giải pháp rất quan trọng để đấu tranh ngăn
chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
đảng viên hiện nay. Cấp ủy cơ sở và các chi bộ thường xuyên quán triệt, thực
hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, trước hết là các nguyên
tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, tự phê
bình và phê bình. Thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp ủy, ủy ban kiểm tra
và quy chế lãnh đạo các mặt công tác trọng yếu (công tác cán bộ, tài chính, kế
hoạch đầu tư, xây dựng cơ bản). Giải quyết tốt mối quan hệ tập thể lãnh đạo,
phân công cá nhân phụ trách, thực sự dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể cấp
ủy, chi bộ và phát huy vai trò trách nhiệm dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách
nhiệm của người đứng đầu; kiên quyết khắc phục các biểu hiện dân chủ hình thức,
độc đoán chuyên quyền, cá nhân chủ nghĩa, lợi dụng danh nghĩa tập thể để trục
lợi hoặc tranh công, đổ lỗi...
Năm là, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng,
lý luận làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống, phá của các thế lực
thù địch và các phần tử cơ hội về chính trị. Hiện nay,
các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với các phần tử cơ hội phản động trong
nước ráo riết đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá quyết liệt trên
lĩnh vực tư tưởng, chính trị, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên
trong. Mục đích của chúng là xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hướng lái đất nước đi
theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước
ta.
Sáu là, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám
sát và thi hành kỷ luật đảng ở tổ chức cơ sở đảng. Kiểm tra,
giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng và là nhiệm vụ thường
xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát
không những góp phần đảm bảo cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được
xác định đúng đắn, chính xác và được chấp hành triệt để, mà còn là biện pháp cơ
bản, quan trọng để quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng
thời là biện pháp hữu hiệu để khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, phòng
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./. T3.
Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam
Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".
Đây cũng là dịp bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021).
Dân trí trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhấn để phóng to ảnh
Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Ảnh: TTXVN).
Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học. Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?
Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác-Lênin trong thời đại ngày nay. Vậy thì chúng ta phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam?
Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?
Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển.
Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công.
Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc.
Những tình huống "phát triển xấu," những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế-tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý.
Cùng với khủng hoảng kinh tế-tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế-xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.
Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa.
Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào "99 chống lại 1" diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.
Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm.
Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi.
Như chúng ta đều biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do."
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.
Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.
Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: "Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa."
Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh."
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử."
Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...
Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.
Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.
Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.
Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ).
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao.
Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.
Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội.
Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.
Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội.
Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân.
Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo.
Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ.
Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa v.v... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước trong 35 năm qua.
Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái.
Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm ngàn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh.
Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ.
Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đôla Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.
Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện dân số của Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước).
Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại.
Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua.
Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020.
Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng.
Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ.
Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.
Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố.
Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được "những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử."
Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện.
Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế.
Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Mới đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: "Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa.
Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, trang 25-26).
Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước.
Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hóa, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đảng ta nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội (Văn kiện Đại hội XIII, tập 2, trang 337-338).
Về xã hội, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển.
Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại.
Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học.
Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.
Một số giải pháp đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng của đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay
Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường chống phá
sự nghiệp Cách mạng Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng sử dụng
không gian mạng mà thường xuyên, trực tiếp nhất là các trang mạng xã hội. Âm
mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là phủ nhận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, lái nước ta đi theo con đường tư bản
chủ nghĩa, phụ thuộc chúng. Trên không gian mạng, các thế lực thù địch thường
xuyên sử dụng những quan điểm sai trái để chống phá cách mạng Việt Nam.
Để góp phần đấu tranh phòng, chống
quan điểm sai trái trên không gian mạng của đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay đạt
hiệu quả tốt, các cơ quan, đơn vị cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản
sau:
Một
là,nâng cao nhận thức, trách nhiệm của sĩ quan trẻ hiện nay trong đấu tranh
phòng, chống quan điểm sai trái trên không gian mạng
Hai
là, nâng cao bản lĩnh chính trị, đổi mới phương pháp tiếp cận của sĩ
quan trẻ, bám sát tình hình, xử lý thông tin nhanh, gọn, hiệu quả.
Xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh
chính trị vững vàng, giỏi thao tác trên không gian mạng.
Ba
là, phát huy tính tích cực, chủ động của sĩ quan trẻ trong tự phòng, chống tác
động tiêu cực của việc sử dụng không gian mạng
Bốn
là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm
sai trái trên không gian mạng trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Năm là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng của sĩ quan trẻ hiện nay./. T3