Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021
Toàn dân làm công tác cán bộ
Trong cuộc họp giao ban định kỳ hằng tuần, đồng chí Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy X, đứng lên phát biểu: “Thời gian gần đây, rất nhiều vụ việc liên quan đến công tác cán bộ được phanh phui nhờ báo chí chứ không hẳn là từ cơ quan ủy ban kiểm tra. Điều này làm tôi thấy rất ái ngại, phải chăng chúng ta - những người làm công tác chuyên môn, lĩnh lương từ tiền thuế của dân đóng góp mà chưa hết lòng, hết sức với công việc nên không phát hiện ra? Có lẽ, chúng ta phải học hỏi các cơ quan báo chí!”.
Một đồng chí ủy viên ban thường vụ huyện ủy than thở: “Tỉnh mình cũng như nhiều tỉnh khác, có vụ việc gì là báo chí vào cuộc ngay, đưa tin chi tiết luôn. Chẳng hiểu sao báo chí họ nắm tình hình nhanh thế, hơn hẳn nhiều cơ quan chuyên môn trong hệ thống chính trị của chúng ta”. Một đồng chí khác có ý kiến: “Theo tôi, chẳng phải băn khoăn, báo chí hay bất kỳ cơ quan điều tra nào cũng đều từ dân mà ra. Dân người ta biết hết đấy. Cán bộ nào có nhà đẹp, xe đẹp, con cái học trường nào, làm gì, kinh doanh ra sao… hỏi dân là ra hết. Toàn dân làm công tác cán bộ là đây chứ đâu xa xôi gì”.
Mọi người đều gật gù, thấy đúng quá, trúng quá. Nhà nào khác lạ, hôm nay có ai đến chơi, đi xe gì, mặc thế nào, quan hệ với ai… hàng xóm đọc ra vanh vách. Vì thế, nếu muốn biết rõ về cán bộ, cứ hỏi dân là ra hết.
Đồng chí ngồi bên cạnh tôi thì thào: “Ngay như vụ thi tuyển công chức vừa rồi ở tỉnh, mọi chuyện vỡ ra khi báo chí vào cuộc, ông có biết do đâu không? “Con gà tức nhau tiếng gáy” thôi. Hai thí sinh cùng đi thi, con ông nông dân bằng đẹp hơn, học giỏi có tiếng thì lại không đỗ mà con một ông giám đốc giàu nhất, nhì tỉnh lại đỗ. Ông giám đốc không biết giữ mồm giữ miệng, liên hoan linh đình, rượu vào lời ra, khoe với bà con xóm giềng trong bữa rượu là đã phải chuẩn bị “mười mấy nghìn” cho cán bộ để con mình được vào “nhà nước”. Mười mấy nghìn “đô”, một món lớn đấy ông ạ. Ôi! Cái tư tưởng vào “nhà nước” danh giá sao vẫn tồn tại trong suy nghĩ của bà con? Suy nghĩ vào “nhà nước” là phải lo lót, chạy chọt, tốn kém cũng không sao, rồi sẽ thu lại được hết, vẫn tồn tại trong nhiều người, không biết đến khi nào mới hết. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta vừa qua đã phải ban hành rất nhiều văn bản liên quan đến công tác cán bộ. Những chiếc vòng “kim cô”, những hành lang pháp lý chặt chẽ giúp công tác cán bộ dần đi vào nền nếp hơn, người tài được trọng dụng, lấy lại được lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước”.
Trước thềm đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, biết bao đơn thư, nặc danh cũng có, đầy đủ tên họ, địa chỉ cũng có, tích cực cũng có, tiêu cực cũng có. Trong đó, ít nhiều có những ý kiến đúng, nhưng đúng đến đâu lại là vấn đề mà các cơ quan chức năng cần xem xét, giải quyết. Thông tin đều từ dân mà ra, mà dân thường là những người biết một nói một, biết mười nói mười. Vì thế, không hẳn là các nhà báo giỏi hơn cán bộ, mà bởi họ đã biết dựa vào dân, biết lắng nghe dân để phản ánh những điều tồn tại trong xã hội./.
Cuộc bầu cử đặc biệt
Bầu cử Quốc hội là sự kiện chính trị trọng đại của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự thành công trong tổ chức bầu cử Quốc hội thể hiện năng lực của nhà nước trên mọi phương diện. Trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2015, Việt Nam đã thực hiện cuộc bầu cử rất thành công và để lại nhiều bài học sâu sắc.
Toàn dân làm công tác cán bộ
Trong cuộc họp giao ban định kỳ hằng tuần, đồng chí Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy X, đứng lên phát biểu: “Thời gian gần đây, rất nhiều vụ việc liên quan đến công tác cán bộ được phanh phui nhờ báo chí chứ không hẳn là từ cơ quan ủy ban kiểm tra. Điều này làm tôi thấy rất ái ngại, phải chăng chúng ta - những người làm công tác chuyên môn, lĩnh lương từ tiền thuế của dân đóng góp mà chưa hết lòng, hết sức với công việc nên không phát hiện ra? Có lẽ, chúng ta phải học hỏi các cơ quan báo chí!”.
Một đồng chí ủy viên ban thường vụ huyện ủy than thở: “Tỉnh mình cũng như nhiều tỉnh khác, có vụ việc gì là báo chí vào cuộc ngay, đưa tin chi tiết luôn. Chẳng hiểu sao báo chí họ nắm tình hình nhanh thế, hơn hẳn nhiều cơ quan chuyên môn trong hệ thống chính trị của chúng ta”. Một đồng chí khác có ý kiến: “Theo tôi, chẳng phải băn khoăn, báo chí hay bất kỳ cơ quan điều tra nào cũng đều từ dân mà ra. Dân người ta biết hết đấy. Cán bộ nào có nhà đẹp, xe đẹp, con cái học trường nào, làm gì, kinh doanh ra sao… hỏi dân là ra hết. Toàn dân làm công tác cán bộ là đây chứ đâu xa xôi gì”.
Mọi người đều gật gù, thấy đúng quá, trúng quá. Nhà nào khác lạ, hôm nay có ai đến chơi, đi xe gì, mặc thế nào, quan hệ với ai… hàng xóm đọc ra vanh vách. Vì thế, nếu muốn biết rõ về cán bộ, cứ hỏi dân là ra hết.
Đồng chí ngồi bên cạnh tôi thì thào: “Ngay như vụ thi tuyển công chức vừa rồi ở tỉnh, mọi chuyện vỡ ra khi báo chí vào cuộc, ông có biết do đâu không? “Con gà tức nhau tiếng gáy” thôi. Hai thí sinh cùng đi thi, con ông nông dân bằng đẹp hơn, học giỏi có tiếng thì lại không đỗ mà con một ông giám đốc giàu nhất, nhì tỉnh lại đỗ. Ông giám đốc không biết giữ mồm giữ miệng, liên hoan linh đình, rượu vào lời ra, khoe với bà con xóm giềng trong bữa rượu là đã phải chuẩn bị “mười mấy nghìn” cho cán bộ để con mình được vào “nhà nước”. Mười mấy nghìn “đô”, một món lớn đấy ông ạ. Ôi! Cái tư tưởng vào “nhà nước” danh giá sao vẫn tồn tại trong suy nghĩ của bà con? Suy nghĩ vào “nhà nước” là phải lo lót, chạy chọt, tốn kém cũng không sao, rồi sẽ thu lại được hết, vẫn tồn tại trong nhiều người, không biết đến khi nào mới hết. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta vừa qua đã phải ban hành rất nhiều văn bản liên quan đến công tác cán bộ. Những chiếc vòng “kim cô”, những hành lang pháp lý chặt chẽ giúp công tác cán bộ dần đi vào nền nếp hơn, người tài được trọng dụng, lấy lại được lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước”.
Trước thềm đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, biết bao đơn thư, nặc danh cũng có, đầy đủ tên họ, địa chỉ cũng có, tích cực cũng có, tiêu cực cũng có. Trong đó, ít nhiều có những ý kiến đúng, nhưng đúng đến đâu lại là vấn đề mà các cơ quan chức năng cần xem xét, giải quyết. Thông tin đều từ dân mà ra, mà dân thường là những người biết một nói một, biết mười nói mười. Vì thế, không hẳn là các nhà báo giỏi hơn cán bộ, mà bởi họ đã biết dựa vào dân, biết lắng nghe dân để phản ánh những điều tồn tại trong xã hội./.
Tự trọng và biết xấu hổ
Đạo đức của đảng cách mạng, của người cách mạng, nói khái quát lại cũng chính là những phẩm chất, những đức tính, những hành động của những chiến sĩ trên mặt trận chống lại sự bất công, tàn bạo đối với con người, chống lại những gì hạ thấp phẩm giá của con người, mà trước tiên là chống lại “cái mất nhân tính” từ trong chính bản thân mình. Những chướng ngại, kẻ thù lớn nhất không đâu xa, mà ở bên trong chính mỗi chúng ta, là chủ nghĩa cá nhân.
Muốn làm cách mạng thì trước hết phải cải tạo tâm tính của bản thân mình. “Những chướng ngại của chính mình” rất dễ làm ta bị dừng bước, thậm chí thất bại. Lịch sử phát triển theo đường xoáy ốc, nó sẽ lặp lại ở một trình độ cao hơn, tinh vi và phức tạp hơn. Những chướng ngại mới lại xuất hiện trên suốt lộ trình muôn dặm để đi tới thắng lợi cuối cùng và cái quyết định vẫn là phải chiến thắng những cám dỗ và ham muốn của chính mình.
Nhận ra chính mình, tự biết mình là cực kỳ quan trọng, nhưng biết rồi thì phải dũng cảm và hăng hái trong hành động. Muốn vậy, bất cứ ai cũng phải có nhiệt tình cách mạng. Nhiệt tình tựa như ngọn lửa bùng cháy, nhưng không thể là sự hăng say mù quáng, ngược lại nó phải được chỉ dẫn bởi sự hiểu biết, có suy xét, cân nhắc, có kế hoạch, có bước đi, có kiểm tra. Đó là sự hòa quyện giữa nhiệt tình của trái tim nóng và sự trầm tĩnh của trí tuệ. Thực tiễn đã cho ta những bài học đắt giá về sự hăng hái ấu trĩ, nóng vội, chủ quan duy ý chí.
Người đảng viên của đảng cách mạng chân chính phải có lòng tự trọng và biết xấu hổ. “Tự trọng” và “xấu hổ” là hai khái niệm gần như đồng nghĩa. Nó đều là loại tự ý thức về nhân cách của mình, về danh dự, phẩm giá của mình. Nó là cái tiềm ẩn ở trong mỗi con người cũng như mỗi dân tộc. Tự trọng làm cho người ta tự biết những giá trị tốt đẹp đích thực của mình để giữ gìn, trân trọng và phát huy. Tự trọng bao giờ cũng đi liền với sự khiêm nhường, có chừng mực, biết đánh giá đúng mình và đúng người, biết nhận ra những cái lố bịch, xấu xa, hèn kém của bản thân, làm cho người ta tự hào đúng mực về cái mình có, tự hổ thẹn về sự thấp hèn, yếu kém của chính mình. Và, chính vì thế mà từ sâu thẳm trong tâm hồn toát ra một sức mạnh, một ý chí vươn lên.
Tự trọng khác tự hào. Tự hào thể hiện ở sự hãnh diện, mãn nguyện về cái mình đã làm được, cái mình đang có. Tự hào đúng mực đòi hỏi một sự tự trọng; nếu tự hào quá mức hoặc không đúng thì lại là sự hợm hĩnh, phô trương, kiêu ngạo và lố bịch, lại là tự hạ thấp mình mà không biết xấu hổ. Tự hào bao giờ cũng đi liền với sự khiêm nhường.
Một con người cũng như một dân tộc cần phải biết tự hào và tự trọng, lại càng cần đề phòng “thừa lòng tự hào” và “thiếu lòng tự trọng”. Vì cả hai đều có thể trở nên kệch cỡm, đáng xấu hổ, cản trở sự phát triển.
Nếu như mỗi người chúng ta ai cũng đều biết tự trọng và biết xấu hổ khi làm những việc mất nhân tính như tham nhũng tiền bạc, tham nhũng quyền lực, tranh giành chức vị, bổng lộc, lãng phí, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... thì ắt hẳn xã hội ta sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.
C.Mác viết: “Xấu hổ là một loại cách mạng… xấu hổ là một loại nổi giận nhưng chỉ hướng vào bên trong. Và nếu như cả một dân tộc thực sự cảm thấy xấu hổ thì nó sẽ giống như một con sư tử thu mình lại để chuẩn bị nhảy”(1).
Chúng ta vì có lòng tự hào dân tộc, tự trọng về danh dự và phẩm giá của mình và biết xấu hổ vì bị mất nước, bị làm nô lệ, bị nghèo nàn, lạc hậu mà vùng đứng lên làm cách mạng. Chúng ta đã biết “thu mình lại” và cũng đã biết “vùng dậy”. Chúng ta đã “nhảy” và sẽ còn có những bước “nhảy” mạnh hơn, tiến xa hơn để mau tới đích: Xây dựng đất nước cường thịnh, nhân dân hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Biết tự trọng và biết xấu hổ chính là một biểu hiện đáng quý của đạo đức cách mạng!./.
Quy hoạch “trên giấy”!
Trong cuộc họp lớp cấp ba của tôi gần đây, mọi người gặp nhau, ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi, tay bắt, mặt mừng. Bởi lẽ, cũng dễ chừng đã mấy năm, ban liên lạc mới tổ chức được cuộc họp lớp vào ngày 20-11 để chúc mừng cô chủ nhiệm.
Trong buổi tiệc liên hoan, tôi để ý thấy N. nét mặt trầm ngâm, tỏ ra không mấy vui vẻ. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên nhất đó là khi anh nói với tôi rằng, đã xin chuyển công tác sang đơn vị khác.
N. làm lớp trưởng lớp tôi suốt 3 năm phổ thông trung học, là nam sinh xuất sắc, toàn diện, đạt nhiều giải cao trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp thành phố. Ngoài ra, N. còn là bí thư đoàn trường năng nổ và rất tích cực tham gia các phong trào đoàn thể. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, N. luôn được các thầy, cô rất yêu mến, các bạn cùng lớp rất ngưỡng mộ tài năng cũng như tinh thần luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác của N. và chúng tôi đều dự báo, với những phẩm chất này, N. sẽ rất thành đạt trong tương lai!
Quả đúng vậy, sau khi tốt nghiệp đại học, N. thi tuyển và đỗ đầu trong kỳ thi tuyển giảng viên của một trường đại học danh tiếng tại Hà Nội; sau đó, anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở độ tuổi mới ngoài 30. Với những nỗ lực không mệt mỏi và phẩm chất nổi bật của mình, anh sớm được quy hoạch vào chức danh phó trưởng khoa. Một thời gian sau, do có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác, N. được bổ nhiệm làm phó trưởng khoa và được quy hoạch vào vị trí trưởng khoa cùng với 2 người nữa, trong đó có “em kết nghĩa” của sếp. Cũng phải nói ngay rằng, ngay từ đầu, với bản tính ngay thẳng, không biết xu nịnh của mình, N. đã không được lòng sếp - vị trưởng khoa, vốn là một PGS, TS nhưng mắc bệnh “sao” rất nặng và đặc biệt là luôn thích được mọi người ca ngợi, tâng bốc lên tận “mây xanh”! Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là ngay từ đầu, sếp đã quy hoạch “trong bụng” ông “em kết nghĩa” - vốn chẳng có tài cán gì nổi trội nhưng lại rất biết cách nịnh nọt sếp, “chăm sóc”, biếu xén quà cáp “chị nhà” - vào vị trí trưởng khoa để tiếp tục thay sếp làm lãnh đạo khoa, còn sếp thì ôm mộng sẽ làm… “Thái Thượng hoàng” của khoa sau khi nghỉ quản lý, “buông rèm chấp chính” trong thời gian kéo dài tới 7 năm làm chuyên môn với chức danh PGS, theo quy định của Nhà nước.
Trên các diễn đàn, vị sếp kia luôn miệng nói làu làu như… “thánh sống” về quan điểm khách quan, toàn diện, công tâm, dân chủ, minh bạch trong công tác cán bộ, rồi nào là phải quán triệt phương châm quy hoạch cần “mở” và “động”, nhưng hóa ra đó chỉ là trên… “chót lưỡi, đầu môi”, còn thực tế thì “trong bụng” sếp chỉ quy hoạch mỗi “ông em kết nghĩa” mà trong khoa ai cũng biết cả, nên hệ lụy là sếp và đồ đệ luôn tìm cách “dìm hàng”, tung tin xuyên tạc về N., khiến cho những người có đức, có tài như N. phải nản chí, ngậm ngùi mà biết điều… xin chuyển công tác cho sớm!
Quy hoạch… “trên giấy” quả là vô cùng lợi hại và tinh vi, nó khiến cho những người tài năng, đức độ được “quy hoạch”, nhưng không được sếp “yêu mến” như N., chỉ còn biết ngửa mặt kêu… trời! Quả đúng như thiên hạ hay nói vui rằng, những trường hợp như N. không phải là được “quy hoạch” thực, chỉ là… “quy tập” mà thôi!
Qua câu chuyện trên, mong rằng, Đảng ta sẽ có quy định riêng, chặt chẽ hơn nữa để kiểm tra, giám sát, thực hiện nghiêm khâu quy hoạch cán bộ, tẩy trừ tận gốc những hành vi đi ngược lại với quy định, chỉ thị, hướng dẫn của Trung ương về công tác cán bộ, trong đó có một “mẹo mực” hết sức tinh vi: Trên danh nghĩa, “trên giấy” thì cũng tiến hành quy hoạch đủ số người lãnh đạo, quản lý cho có lệ, nhưng thực tế thì chỉ quy hoạch… người của “phe nhóm” mình vì lợi ích cá nhân chứ không vì lợi ích chung; rồi sau đó, còn tìm mọi cách để bổ nhiệm “đồ đệ, đàn em” thân tín của mình vào vị trí người đứng đầu, cho dù biết rõ là họ không đủ phẩm chất, uy tín và năng lực; đồng nghĩa với việc không tạo ra cơ hội bình đẳng cho những người có đủ tài, đức được tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị./.
Để lời nói thực sự là “gói vàng”!
Người xưa đã dạy: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, nhằm nhắc nhở nhau và khuyên nhủ thế hệ sau rằng, lời nói có thể chuyển tải thông tin, kéo mọi người đến gần nhau, nhưng cũng có thể làm xa cách nhau nếu không cân nhắc kỹ khi phát ngôn. Câu tục ngữ trên khuyên rằng, nên nói đúng, nói đủ, khi nói cần thể hiện sự tôn trọng người nghe, nhưng cũng là tôn trọng chính bản thân mình, quả thật có ý nghĩa vô cùng!
Tuy nhiên, tầng ý nghĩa khác của câu “Lời nói không mất tiền mua…” lại là, phải biết phát ngôn khi cần thiết, bởi chỉ khi đó thông tin được đưa ra mới mang ý nghĩa thiết thực. Khi nói, mỗi người nên cân nhắc về cách nói (như thế nào?), nội dung nói (nói cái gì?) và thời điểm cần nói (vào khi nào?). Có như vậy, lời nói mới trở nên có giá trị, thực sự là “gói vàng” khi mang lại điều hay, lẽ phải; chứ không phải là “lời nói, đọi máu”, do nói sai, không đúng lúc, đúng chỗ. Hiểu được ý nghĩa trên có lẽ không khó với mỗi người, nhưng cái khó chính là thực hiện được điều đó trong thực tiễn!
Trong thực tiễn cuộc sống có hiện tượng, nói một đằng, làm một nẻo hoặc ý nghĩa đằng sau của lời nói khác hẳn thông tin khi phát ngôn, như dân gian thường nói: “Nói vậy mà không phải vậy”! Có hiện tượng, trong cuộc họp, mọi thành viên tham dự đều không phát biểu; hoặc nếu có thì “hùa” theo ý kiến chung, theo sự gợi ý, định hướng. Kết cục là, cuộc họp bàn bạc về vấn đề phức tạp đáng lẽ sẽ kéo dài, bởi cần phải tranh luận, thuyết phục nhau, “trao đi, đổi lại” các ý kiến giữa những người tham gia, thì lại kết thúc rất nhanh, với sự nhất trí rất cao. Đây chính là biểu hiện của cái gọi là “nói xuôi chiều”, “nói đãi bôi”. Những người như thế cho rằng, mình nói cũng chẳng ai nghe, nói nhiều thì phải làm nhiều, nói nhiều sẽ bị “soi”; hoặc đơn giản là “chẳng biết nói gì”?!… Nhưng, khi một trong những quyết định nào đó của các cuộc họp đưa vào thực hiện không được suôn sẻ, hiệu quả không được như kỳ vọng, lại rộ lên những bình phẩm, thậm chí chê bai, dè bỉu, rằng quyết định đó “không đủ tầm, không xứng tầm!”. Thực chất của những phát ngôn kiểu này chỉ là cách “nói vuốt đuôi”.
Sau những cuộc họp như vậy, ở bên ngoài phòng họp, tại những nơi riêng tư là sự bùng nổ về ngôn từ và tâm trạng hoặc là sự thờ ơ, vô cảm, như đầm nước lạnh giá. Điều đó cho thấy, hóa ra mọi người đều có suy nghĩ riêng với vô số lập luận và nhận định, đánh giá. Thế nhưng, những tâm tư, nguyện vọng đó lại không biểu lộ ra, thể hiện ở những nơi cần thiết, khi cần thiết, mà lại bộc lộ ở những địa điểm không chính thức, thời điểm không cần thiết như vậy.
Tình trạng nói trên không phải hiếm. Nguyên nhân là do chưa tạo được môi trường, điều kiện để người có liên quan nói những điều cần nói; hoặc bởi mọi người chưa thấy được sự cần thiết phải nói; hoặc cố tình “mũ ni che tai” nên không nói đủ, nói đúng, nói kịp thời... Dù bởi nguyên nhân nào, tình trạng nói trên cũng gây ra những bất lợi cho sự phát triển của cơ quan, tập thể, đơn vị, khi lãng phí nhiều nguồn năng lượng, trí tuệ, tài nguyên tập thể; hoặc làm giảm tinh thần đấu tranh, phản biện xây dựng, tạo ra lối thỏa hiệp dễ dãi, những sự “đồng thuận hờ”, dẫn đến tâm trạng tiêu cực trong tập thể.
Ở góc độ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tư tưởng buông xuôi, lựa chiều nói trên sẽ không góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chung; đồng thời, không phê phán, ngăn chặn được những tư tưởng, suy nghĩ sai lầm có thể nảy sinh trong tập thể, do vậy, không có lợi cho sự nghiệp chung.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung một nội dung mới, đó là cần khuyến khích, bảo vệ người “dám nói”. Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm khuyến khích và bảo vệ những người dám nói, biết nói, dám làm và biết làm vì lợi ích chung. Để thực hiện điều đó, trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng cần mạnh dạn làm rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan của căn bệnh “không dám nói, không muốn nói; nói không đúng lúc, không đúng chỗ” để đề ra biện pháp thực hiện việc “dám nói” một cách phù hợp. Đó chính là sự quán triệt, học tập nghị quyết Đại hội Đảng một cách thiết thực và phù hợp nhất./.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và những nội dung mới về xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp, được thể hiện trên cả ba phương diện là văn kiện, nhân sự và công tác tổ chức, phục vụ Đại hội; trong đó, đáng chú ý là những nội dung mới về xây dựng Đảng.
So với Đại hội XII, số lượng các văn kiện được Đại hội XIII của Đảng thảo luận và thông qua nhiều hơn, phạm vi rộng hơn, nội dung phong phú, toàn diện, sâu sắc hơn. Đặc biệt, ngoài Báo cáo chính trị, Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII còn có Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII và xác định phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII mà rất ít nhiệm kỳ trước có báo cáo này.
Niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới
Trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện và sâu sắc về công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đại hội XIII khẳng định: “Công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ này đã đạt được kết quả toàn diện, trong đó nổi bật là: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị; đổi mới công tác cán bộ và ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay; Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới”(1).
Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực, thế giới và dự báo xu thế phát triển của thời đại, Đại hội XIII của Đảng đã xác định phương hướng công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ là: “Tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng. Phát huy sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; coi trọng hơn nữa công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí”(2).
Trên cơ sở kế thừa và đánh giá kết quả việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ về công tác xây dựng Đảng để thực hiện, trong đó có nhiều nội dung được bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới. Cụ thể như sau:
Đại hội tiếp tục nhấn mạnh phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng; chỉ rõ định hướng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, Đại hội XIII bổ sung, phát triển các nội dung mới là: Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, cơ chế, quy định và thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Coi trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, biến động của tình hình. Khi hoạch định chủ trương, giải pháp phải đánh giá tác động và cân đối, bố trí nguồn lực để tổ chức thực hiện có hiệu quả; hình thành cơ chế tổ chức thực hiện nghị quyết bài bản, nghiêm túc, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân.
Coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng
Tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng; tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, nói không đi đôi với làm trong cán bộ, đảng viên. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, các thông tin xấu, độc trên in-tơ-nét và mạng xã hội.
Thực hiện tốt việc quy hoạch các cơ quan báo chí phù hợp với tình hình mới; tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực, nghiệp vụ giỏi để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền; phát huy hơn nữa vai trò của văn học - nghệ thuật trên mặt trận tư tưởng; đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ để phục vụ cho công tác tuyên truyền, bảo đảm an ninh tư tưởng trên môi trường không gian mạng.
Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng. Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận mới, khó, phức tạp, nhạy cảm phát sinh từ thực tiễn hoặc tồn tại trong thời gian dài; những vấn đề chưa rõ về cơ sở lý luận, còn ý kiến khác nhau thì mạnh dạn thí điểm, tổng kết kịp thời để có kết luận nhằm thống nhất nhận thức trong Đảng; tạo cơ chế, môi trường thuận lợi và bố trí nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu lý luận. Có cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ các chuyên gia đầu ngành.
Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo và hiện đại. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn; khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên. Quan tâm chăm lo xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các trường chính trị; thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ giảng viên chính trị, báo cáo viên.
Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức
Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ; cấp ủy cấp trên chủ động gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân ở những nơi có vấn đề phức tạp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm.
Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên. Kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu các cấp; cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Nêu gương phải trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới. Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Hoàn thiện thể chế, bảo đảm đồng bộ, liên thông giữa pháp luật của Nhà nước với quy định của Đảng về tổ chức bộ máy. Đánh giá, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng theo ngành, lĩnh vực và những nơi có đặc điểm riêng.
Sơ kết, tổng kết, nhân rộng những mô hình thí điểm có hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và nghiên cứu triển khai thực hiện ở cấp tỉnh theo lộ trình phù hợp với quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính các cấp. Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm. Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lựa chọn, đánh giá và sàng lọc khách quan để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên
Tiếp tục kiện toàn tổ chức cơ sở đảng phù hợp với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; ban hành và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc của cấp ủy cơ sở. Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy. Thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng của cơ quan, đơn vị; cơ bản thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân cùng cấp; bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc trưởng ban công tác mặt trận.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng. Nâng cao chất lượng kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng nhân sinh quan cách mạng cho đảng viên; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đội ngũ đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp. Tăng cường công tác quản lý đảng viên; kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Thường xuyên rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đảng viên.
Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp. Coi trọng đánh giá chất lượng, hiệu quả thực tế theo chức trách, nhiệm vụ được giao và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Chú trọng cơ cấu hợp lý, sớm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhất là ở cơ sở.
Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ; đồng thời, có cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung.
Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị, chủ tịch ủy ban nhân dân. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chống chạy chức, chạy quyền; không để lọt vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài. Xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật của Nhà nước và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.
Đổi mới mạnh mẽ cơ chế phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng nhân tài và cơ chế đánh giá cán bộ. Mở rộng việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng trong hệ thống chính trị. Thí điểm chủ trương người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu với cấp có thẩm quyền để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của mình; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ và chịu trách nhiệm về việc giới thiệu; giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài; Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc lịch sử chính trị và chú trọng vào vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ. Chủ động đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, trung thành, trung thực, trong sáng, gương mẫu, tinh thông nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Đặc biệt, coi trọng lựa chọn và bố trí đúng người đứng đầu các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ các cấp. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học và phát triển lý luận về công tác tổ chức, cán bộ.
Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
Tiếp tục cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, bảo đảm khách quan, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, khả thi. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực, nơi người dân có nhiều bức xúc, dư luận xã hội quan tâm.
Đẩy mạnh tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của các cấp ủy, tổ chức đảng; coi trọng kiểm tra, giám sát việc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.
Nâng cao khả năng dự báo về những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ xa, từ sớm.
Mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, coi trọng giám sát theo chuyên đề. Chủ động nắm chắc tình hình hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị để sớm phát hiện dấu hiệu vi phạm ngay từ khi mới xuất hiện.
Kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tăng cường sự phối hợp giám sát của Đảng với giám sát của Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả, hiệu lực giám sát.
Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, cả hệ thống chính trị về công tác dân vận; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.
Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân vận. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, phù hợp với cơ cấu xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 giúp nhân dân làng Plei Trớ, xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai di chuyển, sắp xếp lại nhà cửa, thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới_Ảnh: Tư liệu
Kịp thời thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, phù hợp với thực tiễn. Tiếp tục cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tích cực đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận.
Đổi mới và đẩy mạnh công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của công dân; đồng thời, chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, mị dân. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định, quy chế về phát huy dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết những kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự xã hội.
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nhân dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và bảo vệ người tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xử lý nghiêm những người lợi dụng chống tham nhũng để vu khống, làm mất đoàn kết nội bộ. Kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; chuyển mạnh sang thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt. Từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng ngoài khu vực nhà nước; tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, địa phương, cơ quan, đơn vị.
TIẾP TỤC ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi, hiệu quả thấp và tình trạng bao biện, làm thay, hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng. Các tổ chức đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động theo hướng nâng cao tính giáo dục, thuyết phục, tính chiến đấu, tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động trong Đảng và trong nhân dân, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động của Đảng.
Cùng với việc triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác xây dựng Đảng nêu trên, Đại hội XIII của Đảng đã xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện là: 1- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương; 2- Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; 3- Tiếp tục đổi mới, kiện toàn và từng bước hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Để thực hiện phương hướng và 10 nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng, nhất là 3 nhiệm vụ trọng tâm, Đại hội XIII của Đảng xác định 3 giải pháp đột phá sau: 1- Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ; 2- Phát huy dân chủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường đổi mới sáng tạo trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; 3- Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực./.
Những điểm mới về cục diện thế giới và khu vực trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Nhận định đúng đắn tình hình thế giới, khu vực và hoạch định đường lối, chính sách phù hợp là bài học kinh nghiệm quý báu của Đảng ta. Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, thực tế cho thấy, bất cứ lúc nào bài học này được vận dụng đúng đắn, sáng tạo, cách mạng Việt Nam đều giành được thắng lợi to lớn. Mỗi mốc son lịch sử của đất nước từ khi có Đảng đều gắn với tầm nhìn chiến lược, sự nhận định đúng đắn, đầy đủ tình hình, cục diện và xu thế thế giới.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng và nhất là năm cuối nhiệm kỳ (năm 2020), tình hình thế giới có những biến động lớn, hết sức phức tạp. Do đó, trong suốt quá trình soạn thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng, nhận định về tình hình, cục diện thế giới, khu vực được cân nhắc hết sức kỹ lưỡng và được cập nhật kịp thời theo thực tiễn biến động rất nhanh của thời cuộc.
Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng luôn là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng. Trong lịch sử phát triển hơn 90 năm của Đảng ta, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã khẳng định được vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, tư tưởng, quan điểm, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ này theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị của nhiệm kỳ.
Trong các nhiệm kỳ gần đây, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật (KTGSKL) của Đảng đã góp phần từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; đồng thời, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, góp phần xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hành động nhằm thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp, công tác KTGSKL của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII đã có nhiều chuyển biến rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá tích cực, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, kỷ cương, thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đánh giá về công tác KTGSKL đảng nhiệm kỳ vừa qua, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, triển khai toàn diện, đồng bộ, hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng được củng cố vững mạnh”(1). Công tác KTGSKL trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đã có bước tiến mới với những kết quả rất quan trọng, mang tính đột phá, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao uy tín của Đảng, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền đặc lợi, bất kể người vi phạm là ai”. Thực tiễn công tác KTGSKL của nhiệm kỳ Đại hội XII đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm:
Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác KTGSKL ở địa phương, đơn vị một cách chủ động, thường xuyên, liên tục theo tinh thần “lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo”. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng là hết sức quan trọng, ở Trung ương có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, cụ thể, kiên quyết của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; ở địa phương, ở các ban, bộ, ngành, vai trò của đồng chí bí thư cấp ủy là nhân tố quyết định. Thực tiễn cho thấy, ở đâu và khi nào, người đứng đầu cấp ủy quan tâm, coi trọng và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc công tác KTGSKL, thì ở đó, vai trò của ủy ban kiểm tra (UBKT) được phát huy, hoạt động kiểm tra, giám sát được đẩy mạnh; nội bộ đoàn kết thống nhất; kỷ luật, kỷ cương được giữ vững, cán bộ, đảng viên ít vi phạm; tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; từ đó, tạo cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.
Thứ hai, việc xác định phương hướng nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát phải thiết thực, toàn diện, đồng bộ, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị trong từng thời kỳ và gắn chặt với giải quyết các vấn đề mà cán bộ, đảng viên và nhân dân đang quan tâm.
Thứ ba, thực hiện đồng bộ giữa kiểm tra và giám sát theo phương châm“giám sát phải mở rộng”, “kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm”; trong đó, coi trọng và tăng cường giám sát để nhắc nhở, cảnh báo, chủ động phòng ngừa những vi phạm. Trong kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, phải chủ động, kịp thời, chọn đúng thời điểm và đúng nội dung kiểm tra, tập trung vào những địa bàn, lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để kết luận rõ ràng, chính xác, khách quan, chứng cứ đến đâu kết luận xử lý đến đó. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh; song, cần phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”. Vi phạm của đảng viên, nhất là vi phạm có liên quan đến tham nhũng, cần phải được phát hiện trước hết trong nội bộ tổ chức đảng để sớm ngăn chặn ngay từ khi mới manh nha; tránh để vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm ít nghiêm trọng trở thành vi phạm nghiêm trọng.
Thứ tư, phải chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có bản lĩnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường việc đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và chỉ đạo của UBKT cấp trên đối với UBKT cấp dưới, đặc biệt là đối với các vụ, việc nghiêm trọng, phức tạp, lĩnh vực nhạy cảm và khi xử lý vi phạm về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Khi cần thiết, UBKT cấp trên tiến hành kiểm tra “cách cấp” hoặc trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ thể, khó khăn, trở ngại, phức tạp, vấn đề mới phát sinh.
Thứ năm, phải có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa UBKT các cấp với các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước, với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện công tác KTGSKL của Đảng trong việc phát hiện, xử lý và công khai kết quả xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Kết quả thanh tra, kiểm toán, điều tra từng bước được xác định là cơ sở, căn cứ quan trọng cho việc kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật của Đảng.
Bên cạnh việc đánh giá cao sự nỗ lực cố gắng của cấp ủy đảng, UBKT các cấp và kết quả đạt được khá toàn diện trong nhiệm kỳ, với tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế của công tác KTGSKL của Đảng: “công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới, chất lượng, hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Việc kiểm tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu; còn nhiều tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm nhưng chưa được phát hiện kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy chưa đi vào nền nếp. Công tác giám sát ở các cấp chưa thường xuyên, có nơi, có lúc chưa thực chất, phạm vi, đối tượng còn hẹp; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế. Việc thi hành kỷ luật đảng ở một số nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm. Giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, có nơi còn né tránh”(2).
Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thời gian tới
Kiểm tra, giám sát là công việc hệ trọng, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không tự thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được. Bước sang nhiệm kỳ khóa XIII, trong bối cảnh “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3), để góp phần tích cực hơn nữa vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần nhận thức đúng, đầy đủ và thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên các cấp về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
Ngay sau Đại hội, công tác KTGSKL của Đảng phải được triển khai thực hiện trên cơ sở bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn của từng địa phương, đơn vị; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng đối với công tác này. Tiếp tục khẳng định KTGSKL là những chức năng, phương thức lãnh đạo của Đảng, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói: “là thanh bảo kiếm của Đảng”, là bộ phận quan trọng trong chỉnh thể công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là của cấp ủy và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cấp ủy, UBKT các cấp.
Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác KTGSKL đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai để nhân dân biết, ủng hộ và tham gia giám sát. Phải kiên định, kiên quyết, kiên trì trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào.
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến công tác KTGSKL của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Thực hiện tốt cơ chế phối hợp trao đổi thông tin và tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật giữa UBKT với các cơ quan tư pháp, thanh tra, kiểm toán và các cơ quan báo chí.
Xây dựng và tổ chức thực hiện Quy định về chế độ tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên các cấp về công tác KTGSKL đảng để đội ngũ này nâng cao nhận thức và thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm được giao phó.
Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn thiện hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; xây dựng hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ và các ban đảng ở Trung ương chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác KTGSKL đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Cấp ủy các cấp quan tâm chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác KTGSKL đảng đồng bộ, thống nhất với quy định của Trung ương; cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác KTGSKL đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên. Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và thi hành kỷ luật của Đảng; kỷ luật hành chính, xử lý bằng pháp luật gắn với việc xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và “không cần tham nhũng”.
Cùng với các quy định, chính sách, pháp luật để xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm, cần có cơ chế để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, mạnh dạn đi đầu trong đổi mới vì sự phát triển của đất nước; việc đánh giá về các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tiêu cực để chia rẽ nội bộ, nói xấu lãnh đạo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và chế độ.
Ba là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động kiểm tra, giám sát
Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án; tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác KTGSKL đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo hướng có cơ quan được giao chủ trì điều phối, phối hợp.
Tăng cường sự phối hợp giữa công tác giám sát trong Đảng với công tác giám sát của Nhà nước (Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp) và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.
Coi trọng sơ kết, tổng kết việc phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát giữa UBKT với các cơ quan, tổ chức liên quan để rút kinh nghiệm và đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện đạt kết quả trong từng thời gian cụ thể.
Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Cấp ủy các cấp đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc ban hành đầy đủ, kịp thời các quy định của Đảng về xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức nghiên cứu, quán triệt triển khai thực hiện; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong thực tế.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp phải chủ động xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh và thực hiện có kết quả. Phân công thành viên cấp ủy, tổ chức đảng phụ trách và tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo chức trách, nhiệm vụ, huy động các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; khắc phục tình trạng chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh; tăng cường giám sát chuyên đề trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; trong đó, tập trung vào những nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa.
Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy tăng cường phối hợp với UBKT cùng cấp tham mưu giúp cấp ủy tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách. Chi bộ tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên, kịp thời phát hiện, uốn nắn, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên từ khi mới manh nha để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm trong nội bộ, ngay từ cơ sở.
Ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; chủ động, tích cực tham mưu, giúp cấp ủy về công tác KTGSKL đảng. Ủy ban kiểm tra cấp trên tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng có liên quan; phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử.
Ủy ban kiểm tra các cấp tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao; trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm với tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, chú trọng những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như về các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là công tác cán bộ. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị. Việc đánh giá, xử lý các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Công khai kết quả xử lý các vụ, việc trên các phương tiện thông tin đại chúng để phát huy tối đa hiệu quả, tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh các vi phạm có thể xảy ra, tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước.
Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả đối với việc tổ chức triển khai thực hiện các thông báo kết luận, kiến nghị qua công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng; bảo đảm các nội dung kết luận, kiến nghị được thực hiện đầy đủ, kịp thời.
Năm là, đổi mới, kiện toàn ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy và cơ quan ủy ban kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Thống nhất mô hình tổ chức bộ máy cơ quan UBKT từ Trung ương đến cấp huyện, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đánh giá hiệu quả của việc sáp nhập cơ quan UBKT với cơ quan thanh tra cùng cấp tại một số địa phương, đơn vị đã thực hiện.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra; có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ có chuyên môn giỏi và phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra.
Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác KTGSKL đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn.
Sáu là, đổi mới công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng
Quan tâm đầu tư nghiên cứu nâng cao khả năng dự báo về tình hình vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là những vi phạm mới do tác động bởi những mặt trái của toàn cầu hóa, cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ mới,... để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm.
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược và cán bộ, chuyên gia theo hướng nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát; liên kết với các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu vừa có kiến thức lý luận, vừa am hiểu thực tiễn; hoàn thiện hệ thống lý luận về kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực trong điều kiện một đảng cầm quyền.
Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, học tập, trao đổi kinh nghiệm về công tác KTGSKL đảng với các đảng cộng sản và với các nước trên thế giới trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực và phản biện xã hội./.
Tác động của đại dịch COVID-19 và một số giải pháp chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới
Đại dịch COVID-19 đang càn quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ lên nền kinh tế thế giới và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp để hạn chế rủi ro của dịch bệnh đối với nền kinh tế, bảo đảm tăng trưởng hợp lý, ổn định xã hội, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong những năm tới.
Cho đến nay, dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến rất phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, tác động tiêu cực đến các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu... Tại Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2020, COVID-19 tác động lên nền kinh tế và làm cho tăng trưởng kinh tế nước ta rơi xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua. Tưởng chừng, cơn bão đại dịch COVID-19 đã qua đi và nền kinh tế sẽ phục hồi sau giai đoạn đầy khó khăn đó, tuy nhiên sau 99 ngày không có ca lây nhiễm trong cộng đồng, những ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lại được phát hiện tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Nam và lan ra các tỉnh, thành phố khác trong cả nước (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đắk Lắk…), đe dọa đến tăng trưởng kinh tế, phát triển doanh nghiệp và thu nhập của người lao động.
Tính đến sáng ngày 23-9-2020, cả thế giới có gần 32 triệu ca nhiễm, trong đó có hơn 23,4 triệu ca đã được chữa trị khỏi, gần 1 triệu người tử vong(1). Mỹ là quốc gia có số ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lớn nhất, hơn 7,1 triệu người, tiếp đến là Ấn Độ, Brazil, Nga, Colombia, Peru… Số ca nhiễm và tử vong do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra chưa có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tiếp tục tăng từng ngày trên thế giới. Tại Việt Nam, sau hơn 3 tháng không phát hiện thêm ca lây nhiễm trong cộng đồng, thì những ngày cuối tháng 7-2020, những ca bệnh mới đã được phát hiện mà chưa tìm được nguồn lây bệnh. Tính cho đến ngày 23-9-2020, Việt Nam ghi nhận 1.069 ca mắc COVID-19.
Nghiên cứu và thử nghiệm vaccine chống COVID-19 tại một phòng thí nghiệm ở thành phố Saint Petersburg (Nga)_Ảnh: Reuters.
Sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và quay trở lại tại Việt Nam mà chưa có vắc-xin điều trị được sản xuất hàng loạt buộc các quốc gia phải sử dụng các biện pháp như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang nơi công cộng, rửa tay thường xuyên, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.
Đại dịch COVID-19 đang tác động mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu thông qua các trung tâm của chuỗi. Trong đại dịch COVID-19, các quốc gia chịu tác động nặng nề cũng là các trung tâm của mạng sản xuất toàn cầu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ. Khi đại dịch bùng nổ, các biện pháp giãn cách xã hội được thực hiện, nhiều hoạt động sản xuất tạm dừng lại. Chuỗi cung ứng bị đứt đoạn ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu, từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung và nhiều quốc gia, khu vực nói riêng.
Do tác động của COVID-19, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu năm 2020 được Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đánh giá sẽ thu hẹp “từ mức 1.540 tỷ USD năm 2019 xuống dưới 1.000 tỷ USD”. Theo dự báo của UNCTAD, năm 2021, dòng FDI sẽ giảm thêm từ 5% - 10% và có thể bắt đầu phục hồi từ năm 2022(2). Cho đến nay, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, khả năng dòng vốn FDI phục hồi là rất mịt mờ.
Thương mại toàn cầu - gắn kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng và dòng vốn FDI toàn cầu - cũng đang chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19. Vào ngày 4-8-2020, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự báo thương mại toàn cầu giảm 13% trong năm 2020. Cấu trúc sản xuất toàn cầu mang tính tập trung cao độ, một số trung tâm lớn trên thế giới cung ứng đầu vào, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu. Vì thế, cú sốc COVID-19 tác động đến các trung tâm sản xuất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, một số quốc gia chuyển sang “tự cung tự cấp” trong thời kỳ dịch bệnh như một biện pháp phản ứng trước đại dịch COVID-19 sẽ càng làm cho thương mại toàn cầu thêm tồi tệ(3).
Đại dịch COVID-19 tác động đến hai trụ cột trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu là thương mại và đầu tư, do đó cũng sẽ tác động làm suy giảm tăng trưởng sản lượng toàn cầu. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ngày 24-6-2020, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm ước giảm 4,9%. Dự báo của IMF cũng phản ánh tình hình kinh tế thế giới ngày càng tồi tệ hơn khi vào tháng 4-2020, IMF dự báo tăng trưởng thế giới giảm 3%. Dự báo của Ngân hàng Thế giới cho thấy, nền kinh tế toàn cầu thậm chí còn tồi tệ hơn, suy giảm ở mức 5,2% năm 2020. Tăng trưởng kinh tế Mỹ được IMF dự báo giảm 8%, tăng trưởng của khu vực đồng tiền chung châu Âu giảm 10,5%, Nhật Bản giảm 5,8% và Trung Quốc tăng trưởng ở mức thấp 1%. Tăng trưởng kinh tế thế giới và tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ là bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam suy giảm sẽ tác động trực tiếp đến thương mại, đầu tư của nền kinh tế nước ta.
Tác động của COVID-19 đến việc làm toàn cầu cũng rất mạnh mẽ. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (ILO), trong quý II năm 2020, tổng số giờ làm việc toàn cầu giảm 14%, tương đương 400 triệu lao động toàn thời gian. Mức giảm việc làm toàn cầu còn mạnh hơn so với dự báo trước đó của ILO. Suy giảm việc làm bên cạnh nguyên nhân sản xuất đi xuống, còn do việc nhiều quốc gia thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội để chống sự bùng phát của vi-rút SARS-CoV-2.
Đại dịch COVID-19 làm bộc lộ những điểm yếu của các tổ chức và hệ thống toàn cầu như hệ thống y tế thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được cho là phản ứng quá chậm chạp khi để dịch bệnh bùng phát.
Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 cũng đem đến những nhìn nhận mới, rõ nét hơn về cơ hội phát triển. Chẳng hạn, trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 và thực hiện giãn cách xã hội, các cuộc họp, học tập, hội thảo trực tuyến nở rộ ở các quy mô và cấp độ khác nhau cho thấy tiềm năng của mạng internet chưa được khai thác một cách đầy đủ từ trước đến nay. Chẳng hạn, Quốc hội Việt Nam đã có những phiên họp trực tuyến mang tính tiên phong; Đại hội đồng Liên hợp quốc tổ chức họp trực tuyến lần đầu tiên trong lịch sử vào những ngày tháng 6-2020 - thời điểm dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp khó lường; hay Đại hội đồng liên Nghị viện ASEAN họp trực tuyến trong tháng 9-2020. Nhiều trường học các cấp, nhiều cuộc họp trong và ngoài nước tiến hành trực tuyến. Điều này giúp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thời gian đi lại cho mọi người. Tuy nhiên, đi liền với đó, thể chế cũng cần có sự thay đổi để đáp ứng trước quá trình chuyển đổi số đó.
Tóm lại, đại dịch COVID-19 là cú sốc y tế mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt lên nền kinh tế thế giới. Tăng trưởng toàn cầu và của nhiều quốc gia, khu vực ở mức âm; đầu tư và thương mại toàn cầu suy giảm; người lao động mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Trong khó khăn do dịch bệnh mang lại, cũng có những cơ hội xuất hiện, nhất là các hoạt động kinh tế - xã hội trực tuyến như bán hàng trực tuyến, học trực tuyến, họp trực tuyến và thậm chí có những doanh nghiệp có kế hoạch dài hạn cho nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà. COVID-19 đang đẩy nhanh quá trình ứng dụng và cho ra đời những sản phẩm mới từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đại dịch đem đến cho thế giới những khó khăn, thách thức; nhưng đồng thời cũng đem đến cơ hội. Quốc gia nào biết tận dụng cơ hội sẽ có khả năng vươn lên mạnh mẽ sau đại dịch. Và ngược lại, quốc gia nào không tận dụng tốt cơ hội sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời kỳ “hậu COVID-19”.
Tác động của Đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế Việt Nam
Qua 35 năm đổi mới (1986 - 2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dương, có nhiều năm tăng trưởng đạt mức cao trên dưới 8%; tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 11,3% năm 2009 và chưa đến 4% vào năm 2019; thu nhập người dân được cải thiện rõ rệt, đời sống người dân nâng cao. Tuy nhiên, trong hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020. Khác với 2 cú sốc trước là về tài chính - tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tác động mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%). Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019. Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm.
Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% - đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội.
Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6% và khu vực FDI giảm 3,8%. Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7%. Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu.
Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7%. Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9%. Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020. Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta.
Nhìn chung, do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế. Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất.
Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động. Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động.
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút.
Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa. Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”.
COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. Tuy nhiên, đứng trước cú sốc này, Nhà nước nhanh chóng thực hiện các giải pháp mạnh, trước hết là để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, sau đó là để phát triển kinh tế. Các giải pháp đã chứng tỏ thành công bước đầu khi khống chế được dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng trong thời gian dài (trên 3 tháng) và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hoạt động du lịch cũng đang bắt đầu trên con đường khởi sắc trở lại trước khi dịch bệnh bùng phát lần nữa vào cuối tháng 7-2020.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)