Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021
Hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch
"Nhọc nhằn" bất động sản phát mãi
130 quốc gia ủng hộ đề xuất của Mỹ về mức thuế tối thiểu toàn cầu
Tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe cơ giới có nghĩa vụ gì?
Những điểm mới về bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 01/7/2021
Một số lưu ý về quỹ đóng trên thị trường chứng khoán
Tổ chức của Công giáo
Giáo hội Công giáo có 3 cấp hành chính đạo
gồm:
- Tòa
thánh Vatican (còn gọi là Giáo hội hoàn vũ) là cơ quan điều hành Giáo hội toàn
thế giới, do Giáo hoàng đứng đầu.
- Giáo
phận (còn gọi là Giáo hội địa phương) do Giám mục cai quản.
- Giáo
xứ (còn gọi là Giáo hội cơ sở) do Linh mục coi sóc.
- Ngoài
ra, Giáo hội Công giáo còn có các tồ chức mang tính liên kết như: Giáo hội khu
vực (Liên Hội đồng Giám mục châu Á, Liên Hội đồng Giám mục châu Âu, Liên Hội
đồng Giám mục châu phi-
Giáo hội
ở một quốc gia như Giáo hội Công giáo Việt Nam (Hội đồng Giám mục Việt Nam),
Giáo
tỉnh (còn gọi là Tổng Giáo phận) liên kết các giáo phận gần nhau do Tổng Giám
mục đứng đầu, Giáo hạt liên kết các giáo xứ ở cạnh nhau do Linh mục Hạt trưởng
phụ trách.
- Giáo triều Vatican là một tổ chức đặc biệt, có vai
trò kép: một quốc gia độc lập và trung tâm điều hành hoạt động của Công giáo
toàn cầu. Giáo hoàng vừa là thủ lĩnh tối cao của Giáo hội Công giáo toàn cầu
vừa là nguyên thủ quốc gia - Nhà nước Vatican.
+ Hệ thống tổ chức của Nhà nước Vatican gồm: Phủ Quốc
vụ khanh với 2 bộ phận là Thường vụ và Ngoại vụ (ngoại giao), 11 bộ là cơ quan
điều hành, 12 hội đồng Giáo hoàng, 3 tòa án là cơ quan tư pháp, 3 văn phòng là
cơ quan chuyên môn (Quản lý Tông tòa, Quản trị Tài sản và Kinh tế Tòa Thánh).
Nhà nước Vatican có quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, dân số khoảng 1.000 người; có
quan hệ ngoại giao với 177 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
+ Ngoài những tổ chức mang tính chất hành chính, Giáo
hội Công giáo còn có rất nhiều dòng tu và hội đoàn.
- Hệ thống giáo phẩm:
+ Giáo sĩ Công giáo gồm: Giám mục (còn gọi là Đức
Cha), Linh mục (còn gọi là tòa,
Giám quản tông tòa, Linh mục chính xứ, Linh mục phó xứ, Bề trên tổng quyền, Bề
trên giám tỉnh các dòng Tòa Thánh. Công giáo áp dụng luật độc thân đối với hàng
giáo phẩm.
Cảnh báo hình thức lừa đảo mời vay vốn
Bảo đảm nguồn ngân sách để thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động
Thực trạng tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam hiện nay
- Thời kỳ
đổi mới, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ
Thành hoàng cũng có sự phục hồi và khởi sắc. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng có xu
hướng được khôi phục trở lại trên phạm vi cả nước. Nhiều đình làng được phục
dựng, tu bổ khang trang hơn, nhiều lễ hội Thành hoàng làng được khôi phục và tổ
chức quy mô, thu hút ngày càng nhiều khách thập phương tham dự.
- Thực
trạng sinh hoạt tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước ta trong thời gian qua cho
thấy có cả hai mặt tích cực và hạn chế.
+ Về mặt
tích cực, tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã góp phần đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu tinh
thần của người dân trên địa bàn và vẫn là nhân tố quan trọng để gắn kết, đoàn
kết cộng đồng; góp phần duy trì và
bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, cũng như tiếp biến những giá trị
văn hóa mới và cũng đã tích cực góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu
nước cho các thế hệ người dân địa phương.
+ Về
những bất cập, hạn chế
Khi có
không ít địa phương tiến hành trùng tu, xây dựng lại đình, nghè, miếu thờ Thành
hoàng không chỉ gây tốn kém, mà còn làm mất đi nét kiến trúc cổ xưa;
Có những
nội dung văn hóa truyền thống của lễ hội tín ngưỡng thờ Thành hoàng bị mai một,
biến tướng, quá coi trọng phần lễ rườm rà, tốn kém, phần hội lại mờ nhạt. Thậm
chí ở một số địa phương, khi tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng này đã xảy ra các
hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh và các vấn đề phức tạp khác, rất
phản cảm, gây ra những khó khăn cho việc quản lý từ phương diện an ninh trật tự, an toàn xã hội.
- Cần có
sự nghiên cứu để xâydựng các giải pháp phát huy mặt
tích cực, khắc phục mặt hạn chế của tín ngưỡng này sao cho đúng với các quy
định pháp luật hiện hành và phù hợp với tình hình các địa phương.
Kinh tế thị trường và các vấn đề xã hội
Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay
Một là, quản lý nhà
nước về công tác dân tộc phải hướng tới phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp phát triển
với các vùng khác.
Bởi vì:
+ Xuất phát từ vị trí, tầm quan
trọng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn có vị trí chiến
lược quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quôc phòng, đối ngoại
và bảo vệ môi trường sinh thái.
+ Xuất phát từ thực trạng KT-XH
vùng đồng bào DTTS&MN là vùng có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn
nhân lực thấp nhất, KT-XH phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất.
Hai là, Đa dạng hóa
nguồn lực phục vụ phát triển vùng DTTS (NSNN, ODA, hỗ trợ doanh nghiệp, xã hội
hóa…)
Do vậy, cần
huy động đa dạng nguồn lực để đầu tư cho phát triển.
Ba là, Phân cấp cho địa phương và phát huy vai trò làm chủ của địa phương
trong thực hiện nhiệm vụ quản lý về công tác dân tộc và thực hiện và giám sát
thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật về công tác dân tộc.
Bốn là, Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Dân tộc và hệ thống các cơ quan làm
công tác quản lý
nhà nước về dân tộc ở các địa phương trong tham mưu hoạch định, thực hiện chính sách
đối với đồng bào DTTS; giám sát, điều phối, đánh giá kết quả thực hiện chủ
trương, chính sách, pháp luật về DTTS
Năm là, Nâng cao
năng lực đội ngũ cán bộ người DTTS trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đánh giá thực hiện chính sách dân tộc
Công tác thanh tra, kiểm tra: Ủy ban
Dân tộc đã tập trung thanh tra, kiểm tra thực hiện những chính sách do ủy ban
Dân tộc trực tiếp quản lý, thông qua đó đã phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những
sai lệch trong thực hiện ở các địa phương và những hạn chế của từng chính sách
làm cơ sở để sửa đổi phù hợp với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước
về vấn đề dân tộc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với nhu cầu và
nguyện vọng chính đáng của đồng bào DTTS và miền núi.
Công tác giám sát, đánh giá thực hiện chính sách
dân tộc: hoạt động giám sát được triển khai thực hiện khá mạnh
và đạt được nhiều kết quả quan trọng thông qua vai trò giám sát bởi Hội đồng
dân tộc của Quốc hội và Hội đồng nhân dân của các địa phương đối với các bộ,
ngành và địa phương.
Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Thành hoàng
- Các đối
tượng được tôn thờ trong tín ngưởng thờ Thành hoàng ở Việt Nam rất đa dạng
+ Các vị
thần đều
có nguồn gốc nhân thần hay nhiên
thần, nhưng được mở rộng, trở thành thần bản mệnh có vai
trò bảo trợ thành trì, thần dân ở đô, phủ và trải rộng đến nơi thôn dã, ngự tại
thôn làng.
+ Về nguồn gốc xuất thân của Thành hoàng ở Việt Nam nhiều khi có gốc tích là tiện dân, như ăn mày, ăn trộm, tà
dâm. Các Thành hoàng này không được thế lực quan phương thừa nhận song vẫn được
người dân thờ phụng. Ngoài ra, các Thành hoàng của người Việt không chỉ có công
hộ quốc mà còn có công giúp dân. Họ có thể
là người có công khai khẩn đất đai, mở mang xóm làng; là người mang lại kế sinh
nhai cho dân chúng và được tôn làm tổ sư, tổ nghề, được suy tôn làm Thành hoàng
làng.
+ Nguyên
nhân của đặc điểm trên, suy cho cùng do ảnh hưởng của tâm thức văn hóa của các
cộng đồng cư dân Việt; do cơ tầng văn hóa của Việt Nam được hình thành lâu dài,
lại trải qua quá trình mưu sinh đầy gian nan, vất vả; do cuộc đấu tranh dai
dẳng, khốc liệt chống các thế lực ngoại xâm quy định.
- Thành
hoàng ở Việt Nam gần gũi, gắn bỏ với cuộc sống thường nhật của nhân dân
Thần linh
của người Việt không phải là những đấng siêu nhiên, tồn tại đâu đó trong vũ
trụ, mà là sống bên cạnh con người, có khi hóa thân thành con người, để cưu
mang giúp đỡ phù hộ, độ trì cho người lương thiện, trừng phạt kẻ bất lương. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm trên đây
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trong tín ngưỡng thờ mẫu, thờ anh hùng dân
tộc và đương nhiên trong cả tín ngưỡng thờ Thành hoàng. Khi cuộc sống gặp khó
khăn, các vị vua thường lập đàn cầu đảo sự trợ giúp của thần linh; còn người
dân cũng thực hiện các nghi thức thờ phụng để cậy nhờ cầu khấn các vị thần
Thành hoàng, các vị gia tiên.
+ Nhiều
người được tôn làm Thành hoàng là những
người mà khi sống có quan hệ đặc biệt với xóm làng. Họ có thể là người có công
giúp dân làng trong sản xuất, chống thiên tai, dịch bệnh hay giặc dã. Có người
mặc dù không được giới cầm quyền thừa nhận thậm chí gọi là “tà thần”, song họ
vẫn được dân chúng ngưỡng mộ, tôn sùng. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam
do đó trở thành tín ngưỡng của các tầng lớp dân cư, tồn tại và trải rộng tới
khắp các miền quê.
- Tin
ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam tồn tại đan xen với các loại hình tín ngưỡng,
tôn giáo khác
Tín
ngưỡng thờ Thành hoàng đan xen với tín ngưỡng thờ thần rất phổ biến ở Việt Nam.
+ Sự đan
xen này thể hiện rõ tại các cơ sở thờ tự. Trước kia thần Thành hoàng được thờ
trong đền, miếu, cũng có thần được thờ cả trong chùa của Phật giáo, theo quan
niệm “Tam giáo đồng nguyên”. Sang thế kỷ thứ XV, nhà nước phong kiến với những ảnh
hưởng mạnh của Nho giáo, đã kéo theo sự ra đời của ngôi đình. Một số đình không chi là công sở của nhà nước
mà còn thờ cả Thành hoàng; là trung tâm diễn ra các lễ hội của dân địa phương.
+ Đối
tượng thờ phụng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng rất đa dạng, hay bắt gặp nhất
là Sơn thần, Thủy thần, Nhiên thần, Nhân thần. Tuy nhiên, nhân thần vẫn là
loại Thành hoàng có số lượng nhiều nhất. Đáng chú ý là thần linh trong tín
ngưỡng thờ Thành hoàng được vua phong và phân cấp quản lý, có định ra các định
chế cụ thể cho việc tế lễ. Đó là cái lõi của Thành hoàng theo kiểu Trung Hoa
nhằm thể hiện uy quyền tuyệt đối của nhà vua - Thiên tử - không chỉ đối với con
người, sông núi mà cả với bách thần. Như vậy, ngay cả niềm tin tín ngưỡng cũng
bị chế định bởi lợi ích của tập đoàn cầm quyền và có tính giai cấp.
Khi xâm
nhập vào Việt Nam, trong thời kỳ chính quyền phong kiến chưa đủ sức vươn tới
kiểm soát một cách chặt chẽ các chốn thôn quê, thì việc nhà vua sắc phong Thành
hoàng chỉ rất hãn hữu. Nhưng bắt đầu từ thời Hậu Lê, khi Nho giáo được đề cao,
khi sức mạnh của chính quyền nhà nước phong kiến đã vươn tới khắp các vùng miền
quê, thôn dã thì sắc phong thần trở nên phổ biến, thường xuyên. Vì vậy kể từ
thời Hậu Lê đến triều Nguyễn, tín ngưỡng thờ Thành hoàng có cơ sở, điều kiện
hơn để phát triển.
Hàng năm
trong các làng xã, các hội lễ được tổ chức, quy tụ mọi tầng lớp dân cư mà đối
tượng thiêng trong lễ hội có liên quan trực tiếp đến các Thành hoàng làng.
Những lễ hội đó thực sự đã trở thành một mô thức văn
hóa của cộng đồng cư dân nông nghiệp, góp phần làm mờ nhạt sự phân chia đẳng
cấp trong xã hội và khoảng cách giữa thần và người.
ĐỪNG VÌ NGHE LẠI MẤY CÂU CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH MÀ ĐÁNH GIÁ BẢN CHẤT CỦA QUÂN ĐỘI!
“Quân đội là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhận dân, không phải để đem ra bàn luận đi hay không đi, dám hay không dám”
Sự việc quân nhân Trần Đức Đô tử vong là vô cùng đáng tiếc đối với gia đình và đơn vị. Hiện cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, sau khi sự việc xảy ra, đã có rất nhiều luồng thông tin, hình ảnh, video clip, tin, bài viết chưa chính xác được đăng tải, lan truyền trên Internet, mạng xã hội... làm phức tạp tình hình, gây mất ổn định tại địa phương. Vì vậy, mỗi chúng ta những người dùng mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo, có nhận thức, thái độ đúng đắn, không để các đối tượng xấu xúi giục, kích động dẫn tới hành vi trái quy định. Nên nhớ rằng mọi vụ án phải dựa vào chứng cứ, kết quả khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, không thể “PHÁ ÁN ONLINE” được. Hãy thật bình tĩnh phán xét, đừng bị hiệu ứng đám đông dẫn dắt để rồi chính mình lại phải gánh hậu quả từ sự cả tin của mình.
Riêng tôi là một người đã từng thực hiện nghĩa vụ quân sự xin chia sẻ một số cảm nhận của bản thân. Có thể thấy thời gian 2 năm trong quân ngũ không quá dài, nhưng nếu ai đã từng đi lính thì chắc hẳn đó là những ngày tháng khó quên nhất trong đời, đó thật sự là những ngày tháng đầy ắp kỷ niệm. Trên mạng xã hội và đâu đó thỉnh thoảng lại có câu “Lính cũ bắt nạt lính mới”, “rồi mất đoàn kết này nọ”, “vào lính kinh khủng lắm”… Tự dưng tôi thấy chảnh lòng vì những lời nói, những nhận xét mang tính phiến diện, không đúng sự thật, thậm chí mang hàm ý xúc phạm, hạ bệ cá nhân, tổ chức… được phát ra từ miệng những người chưa một ngày đứng trong hàng ngũ quân đội, thậm chí những người mà gia đình “Ba đời không ai đi lính”, đáng buồn hơn là những lời phát ra từ những nguồn phản động như “BBC, RFA, Việt Tân…” mà cộng đồng mạng nhiều người vẫn tin sái cổ, phải công nhận nhiều người nhẹ dạ thế.
Với tôi những ngày trong quân ngũ là những ngày rất đặc biệt, với những tình cảm rất đặc biệt và thiêng liêng nữa; tôi còn nhớ ngày mới nhập ngũ chân ướt, chân ráo vào đơn vị vừa đặt ba lô xuống là các anh chỉ huy đơn vị hỏi han, bày vẽ chu đáo, tận tình từng cái nhỏ nhất; các anh quan tâm, chăm lo từng bữa cơm, giấc ngủ, thậm chí có đêm khi anh em đã ngủ vẫn thấy chỉ huy đơn vị đi kiểm tra vén màn, để lại dép vào đúng vị trí; những lúc trái gió, trở trời có đồng chí bị cảm là các anh lại lo lắng như những người bố, người mẹ trong gia đình vậy, cho quân y kiểm tra, tự tay nấu từng bát cháo để anh em ăn cho chóng khỏi. Nhớ nhất là những tháng cuối cùng trong đời quân ngũ, những ngày hành quân diễn tập đầy vất vả, khó khăn, hành quân xa, mang vác nặng, lúc đó thật sự thấm thía về tình cảm thiêng liêng, tình đồng chí đồng đội; có những lúc vì hành quân xa mệt mỏi, chân rộp, lưng đau, những hễ có ai trong tiểu đội đau hơn là anh em trong tiểu đội, không ai bảo ai người cầm giúp khẩu súng, người xách hộ ba lô, người chia ngụm nước, miếng lương khô, động viên nhau cố gắng để chiến thắng bản thân, đi bằng ý chí không để ai bị tụt lại phía sau… đó là những tình cảm thiêng liêng, không chút so đo tính toán, thứ tình cảm mà có lúc hơn cả tình ruột thịt, để rồi khi mỗi nhiệm vụ hoàn thành anh em đồng chí, đồng đội lại vui mừng, hãnh diện; lại nhớ những đêm sinh nhật đồng đội cả đơn vị chung nhau câu hát “chúc mừng sinh nhật”, cùng chia nhau niềm vui, nỗi buồn, chung nhau khúc quân hành người lính.
Rồi ngày tháng dần trôi tôi và đồng đội cùng xuất ngũ, trở lại cuộc sống thường nhật, với bao lo toan bộ bề cuộc sống, người nam, kẻ bắc để mưu sinh với trăm nghề. Mỗi năm, thậm chí 2,3 năm anh em đồng ngũ mới có cơ hội gặp lại nhau. Cảm xúc ngày xưa lại ùa về, mừng mừng, tủi tủi, ôm lấy nhau trong tình thương yêu, một tình thương yêu đặc biệt “Tình đồng chí”.
Thật sự 2 năm quân ngũ ngẫm lại thật sự quá nhanh, với bao kỷ niệm được ghi lại, yêu thương nhau còn không hết, thời gian đâu mà đánh với đập nhau như lời một số trang mạng hay nói… mà nếu có thì cũng chỉ là một vài lời cãi vã qua lại, đó là chuyện dễ hiểu bởi vì các bạn biết đấy trong gia đình có 3,4 người mà đi ra, đi vào còn xảy ra bất hòa, có những gia đình có mỗi người con mà còn không bảo ban được, còn hư hỏng; huống hồ quân đội mỗi đơn vị quản lý hàng trăm, thậm chí hàng nghìn thanh niên, mỗi người một tính, nên xảy ra va chạm, cãi vã cũng là dễ hiểu, chỉ là sau khi chỉ huy phân tích, giảng giải rồi hiểu ra và thêm yêu thương nhau hơn. Vậy mà đâu đó những lời bịa chuyện, những câu chuyện không có thật, được một số người không một ngày trong quân ngũ thêu dệt, hư cấu lên lại được rất nhiều người hùa theo để nói thế này thế khác, mặc dù bản thân chẳng hiểu đó là vấn đề gì và xuất phát từ đâu. Hãy học cách đặt mình vào vị trí của người khác để biết trân trọng và quý mến những gì họ đang hàng ngày, hàng giờ để đóng góp cho tổ quốc, cho xã hội, không thể tránh được câu chuyện “con sâu làm rầu nồi canh” lúc này, lúc khác sẽ có, nhưng nếu có thì những con sâu đó sớm muộn rồi cũng sẽ bị loại bỏ ra khỏi hàng ngũ; nhưng đừng bao giờ quy chụp đó là bản chất, đó là cái chung của một tổ chức, một tập thể “Quân đội là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không phải để đem ra bàn luận đi hay không đi, dám hay không dám”./.
Yêu nước ST.
Lễ nghi của Công giáo
Những ngày lễ của Công giáo (theo dương lịch)
gồm có:
- Lễ trọng: có 6 ngày trong năm
cụ thể là: 1. Lễ Noel (Giáng sinh), ngày 25/12; 2. Lễ phục sinh - Chúa sống lại
(từ 21/3 - 25/4); 3. Lễ Chúa Giêsu lên trời, sau lễ phục sinh 40 ngày; 4. Lễ
Chúa Thánh thần hiện xuống, sau lễ Chúa Giêsu lên trời 10 ngày; 5. Lễ Đức bà
Maria hồn và xác lên trời (15/8); 6. Lễ các Thánh (1/11).
- Lễ thông thường (những ngày lễ mà Giáo hội không buộc,
nhưng tín đồ vẫn tích cực tự nguyện tham gia để được hưởng nhiều ơn phúc): 1.
Lễ Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội, ngày 8/12; 2. Lễ Tro (đầu mùa chay), kỷ niệm
Chúa Giêsu chuẩn bị vào thành Jerusalem; 3. Lễ Lá (ngày chủ nhật đầu Tuần
Thánh), kỷ niệm Chúa Giêsu vào thành Ịerusalem được dân chúng rải lá trên đường
đón tiếp; 4. Lễ Tuần Thánh (từ chủ nhật lễ lá đến chủ nhật lễ phục sinh), kỷ
niệm Chúa Giêsu chịu khổ, chịu nạn, chết đi rồi sống lại; 5. Lễ Thánh tông đồ
Phêro và Phaolo (29/6); 6. Lễ cầu nguyện các linh hồn nơi luyện ngục (2/1l)..
Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong quá trình đổi mới
- Trong bối cảnh quốc tế và
khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng,
an ninh và trật tự, an toàn xã hội.
- Nhận thức về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ
quốc; về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; về quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát
triển.
- Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh
bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ
được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
- Chủ trương, giải pháp trong chiến lược quốc
phòng, quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục
được bổ sung, hoàn thiện. Thế trận quốc
phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được
tăng cường, củng cố, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng; sức
mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường.
- Kết
hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
- Đấu
tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động phá hoại,
gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả
với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội
phạm.
Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam
Tục thờ
Thành hoàng ở Trung Quốc đã có từ thời cổ đại và thần Thành hoàng được xem như
vị thần bảo hộ thành trì, tức là bảo vệ bộ máy quan liêu và cư dân trong thành.
Còn những thôn ấp ngoài thành thì có thần thổ địa bảo vệ và trong gia đình có
thần thổ công.
Tín
ngưỡng Thành hoàng ở nước ta có từ thời Bắc thuộc. Theo GS Nguyễn Duy Hinh: “Lý
Nguyên Gia xây dựng La Thành năm 823, dựng đền thờ Tô Lịch làm Thành hoàng. Năm
866 Cao Biền lại phong Tô Lịch làm Đô phủ Thành hoàng Thần quân. Năm 1010 Lý
Thái Tổ dời đô ra Thăng Long lại phong Tô Lịch làm Quốc Đô Thăng Long Thành
hoàng đại vương. Thời Trần phong thêm các mỹ
tự Bảo Quốc, Hiền Linh, Định Bang cho Thành hoàng Tô Lịch”[1].
Việt điện u lỉnh cho biết có 2 vị Thành hoàng khác: Đằng
Châu và Bạch Mã.
- Tín
ngưỡng thờ Thành hoàng có nguồn gốc ban đầu là thần bảo hộ thành trì của vua
quan, rồi sau đó được cải biến, mở rộng trong đời sống dân cư thành thần bảo hộ
xóm làng.
Tín
ngưỡng này trước hết xuất phát không phải vì lợi ích của “thứ dân”, mà nó chỉ
làm cho thiêng liêng hơn, thần bí hơn vị thế, quyền uy của tầng lóp trên của xã
hội. Từ ngày nước ta độc lập tự chủ, tín ngưỡng thờ Thành hoàng vẫn được các
vua chúa Việt Nam duy trì. Dân ta tin rằng, đất có thổ công, sông có hà bá,
cảnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, do vậy
phải thờ phụng để thần phù hộ, che chở cho dân, vì thế việc thờ cúng thần ngày
càng phát triển.
Từ một
thứ thần linh bảo hộ thành trì mang đậm nét Trung Hoa, ở xã thôn Việt Nam, tín
ngưỡng thờ Thành hoàng đã trở thành một tín ngưỡng mang tính cộng đồng chung
của làng xã người Việt, một thứ thần linh không chỉ có công hộ quốc mà còn ”bảo
dân". Đến trước triều Nguyễn, tín
ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước ta đã trở nên phổ biến cả ở ngoài Bắc và cả ở
trong Nam. Song trên thực tế, tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở phía Bắc và phía Nam
cũng có những dị biệt. Cư dân ở phía Bắc đã có quá trình định cư lâu đài, ổn
định, vì vậy, số lượng thần được thờ nhiều hơn và phần nhiều đều có thần tích.
Nhưng càng xuống phía Nam, Thành hoàng làng rất ít có “ngọc phả”, nên phần
nhiều những nơi thờ tự chỉ đề một chữ “Thần”.
- Tín
ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam có hai dòng rõ rệt
+ Một
dòng mang đậm nét Trung Hoa, đó là những vị thần huyền bí, tối linh, hành trang
mờ mịt.
+ Một
dòng được Việt hóa thành Thành hoàng làng, với cả hai ý nghĩa: Bảo quốc và hộ
dân. Thần Thành hoàng Việt Nam có gốc tích gắn bó, gần gũi, phù hộ độ trì cho dân chúng, không còn
nguyên vẹn là các thần linh chi bảo vệ thành trì của vua chúa, chống lại các
cuộc nổi dậy của nông dân và nhằm tỏ rõ uy quyền của nhà vua.
Xây dựng tốt hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc
- Thực
hiện chỉ đạo của Chính phủ, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thông tin
cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc, Ủy ban Dân tộc đã làm đầu mối, phối hợp hỗ
trợ với ban/phòng dân tộc của các địa phương xây dựng hệ thống thông tin cơ sở
dữ liệu về công tác dân tộc như: dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam; về
tình hình kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc thiểu số,
tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định
thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số;
xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát
triển văn hóa các dân tộc thiểu số...
-
Đây là cơ sở đữ liệu được thu thập, tổng hợp từ thực tiễn tình hình dân tộc và
thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam. Các thông tin, dữ liệu này có công cụ
phân tích dữ liệu theo khung đánh giá chính sách, có phân loại cụ thể chính
sách theo tộc người, theo vùng và theo lĩnh vực. Vì vậy, hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu rất hữu hiệu trong thực
hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
Giáo luật công giáo
Giáo luật, lễ nghi và thiết chế của Giáo hội Công giáo được ghi trong
bộ Giáo luật năm 1983 bao gồm 1.752 điều (đề cập đến cả về hành đạo, quản đạo
và truyền đạo). Trong đó, về giáo luật có một số vấn đề chủ yếu sau:
- Mười điều răn của
Thiên Chúa: 1. Phải thờ
kính Thiên Chúa trên hết mọi sự; 2. Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những
việc làm phàm tục tầm thường; 3. Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; 4.
Thảo kính cha mẹ; 5. Không được giết người; 6. Không được tà dâm; 7. Không được
gian tham lấy của người khác; 8. Không được làm chứng dối, che giấu sự gian
dối; 9. Không được ham muốn vợ (hoặc chồng) người khác; 10. Không được ham muốn
của cải bất minh.
- Sáu điều răn của
Giáo hội: (1) Xem lễ ngày
chủ nhật và các ngày lễ buộc; (2) Kiêng việc xác ngày chủ nhật; (3) Xưng tội
mỗi năm một lần; (4) Chịu lễ mùa phục sinh; (5) Giữ chay những ngày quy định;
(6) Kiêng ăn thịt những ngày quy định.
- Bảy phép Bí tích: (1) Bí tích rửa tội; (2) Bí tích thêm sức;
(3) Bí tích giải tội; (4) Bí tích Thánh thể (Phép mình Thánh Chúa); (5) Bí tích
xức dầu thánh (xức dầu bệnh nhân); (6) Bí tích Truyền chức (giám mục, linh mục,
phó tế); (7) Bí tích hôn phối.