Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch

Ngày 01/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Tại Nghị quyết này, Chính phủ quyết nghị thực hiện 12 nhóm chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động phục hồi sản xuất, sinh hoạt, cụ thể: 1. Chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Người sử dụng lao động được áp dụng mức đóng bằng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong 12 tháng (từ ngày 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022) cho người lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (trừ cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, người lao động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách nhà nước). Người sử dụng lao động hỗ trợ toàn bộ số tiền có được từ việc giảm đóng Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động phòng chống đại dịch Covid-19. 2. Chính sách tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất Người sử dụng lao động đã đóng đủ bảo hiểm xã hội hoặc đang tạm dừng đóng vào Quỹ hưu trí và tử tuất đến hết tháng 4/2021 mà bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến phải giảm từ 15% lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm tháng 4/2021 (kể cả lao động ngừng việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, thỏa thuận nghỉ không hưởng lương) thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất 6 tháng kể từ thời điểm nộp hồ sơ đề nghị. Đối với trường hợp đã được giải quyết tạm dừng đóng theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 9/4/2020 và Nghị quyết số 154/NQ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, nếu đủ điều kiện thì vẫn được giải quyết nhưng tổng thời gian tạm dừng đóng không quá 12 tháng. 3. Chính sách hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động Người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp khi đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ; thay đổi cơ cấu công nghệ theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật Lao động; có doanh thu của quý liền kề trước thời điểm đề nghị hỗ trợ giảm từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm 2019 hoặc năm 2020; có phương án hoặc phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo quy định. Mức hỗ trợ tối đa là 1,5 triệu đồng/người lao động/tháng và thời gian hỗ trợ tối đa 06 tháng. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ được nộp trong thời gian từ ngày 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022. 4. Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương Chính sách này áp dụng đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên; cơ sở giáo dục dân lập, tư thục ở cấp giáo dục mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp bị tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 có thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương trong thời hạn của hợp đồng lao động từ 15 ngày liên tục trở lên; người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương. Mức hỗ trợ một lần như sau: từ 15 ngày liên tục trở lên đến dưới 1 tháng được hỗ trợ 1,855 triệu đồng/người; từ 1 tháng trở lên được hỗ trợ mức 3,710 triệu đồng/người. Thời gian được áp dụng tính từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 và thời điểm bắt đầu tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021. 5. Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động bị ngừng việc theo khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động và thuộc đối tượng phải cách ly y tế hoặc trong các khu vực bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ 14 ngày trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021; đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi ngừng việc được hỗ trợ một lần 1 triệu đồng/người. 6. Chính sách hỗ trợ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động Hỗ trợ một lần 3,710 triệu đồng/người đối với người lao động làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên hoặc chi đầu tư và chi thường xuyên, cơ sở giáo dục dân lập, tư thục ở cấp giáo dục mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động do phải dừng hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021; đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. 7. Chính sách hỗ trợ bổ sung và trẻ em Đối với người lao động đang tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương, ngừng việc, chấm dứt hợp đồng lao động đang mang thai được hỗ trợ thêm 1triệu đồng/người; đang nuôi con hoặc chăm sóc thay thế trẻ em chưa đủ 6 tuổi được hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/trẻ em chưa đủ 6 tuổi và chỉ hỗ trợ cho 1 người là mẹ hoặc cha. Đối với trẻ em phải điều trị do nhiễm Covid-19 hoặc cách ly y tế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ngân sách nhà nước đảm bảo các chi phí điều trị và đã được Chính phủ hỗ trợ 80.000 đồng/người/ngày sẽ được ngân sách nhà nước hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/trẻ em trong thời gian điều trị, cách ly từ ngày 27/4/2021 đến hết ngày 31/12/2021. 8. Hỗ trợ tiền ăn đối với người phải điều trị nhiễm Covid-19 Đối với các trường hợp là F0 điều trị từ ngày 27/4/2021 đến hết ngày 31/12/2021, Chính phủ hỗ trợ 80.000 đồng/người/ngày với thời gian hỗ trợ theo thời gian điều trị thực tế nhưng tối đa 45 ngày. Đối với các trường hợp là F1 phải thực hiện cách ly y tế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ ngày 27/4/2021 đến hết ngày 31/12/2021, Chính phủ hỗ trợ tiền ăn mức 80.000 đồng/người/ngày với thời gian hỗ trợ tối đa 21 ngày. 9. Hỗ trợ một lần Chính phủ hỗ trợ một lần 3,710 triệu đồng/người đối với các đối tượng: đạo diễn nghệ thuật, diễn viên, họa sĩ giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV đang hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động nghệ thuật biểu diễn (không bao gồm các đơn vị nghệ thuật lực lượng vũ trang), phải dừng hoạt động từ 15 ngày trở lên để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021; hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ hành nghề hướng dẫn du lịch bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021. 10. Chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh Hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, có đăng ký thuế và phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một lần 3 triệu đồng/hộ. 11. Chính sách cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất Thứ nhất, với trường hợp người sử dụng lao động trả lương ngừng việc: Người sử dụng lao động được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương ngừng việc đối với người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc phải ngừng việc từ 15 ngày liên tục trở lên theo quy định khoản 3 Điều 99 Bộ luật Lao động, trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022. Thứ hai, trường hợp người sử dụng lao động trả phục hồi sản xuất: Người sử dụng lao động phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022 khi quay trở lại sản xuất kinh doanh và người sử dụng lao động hoạt động trong lĩnh vực vận tải, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/3/2022 được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương cho người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người sử dụng lao động được áp dụng chính cho vay khi không có nợ xấu tại tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm đề nghị vay vốn. Mức cho vay tối đa bằng mức lương tối thiểu vùng đối với số người lao động đang làm việc theo hợp đồng lao động theo thời gian trả lương thực tế tối đa 3 tháng. Thời hạn vay vốn dưới 12 tháng. 12. Đối với lao động không có giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) và một số đối tượng đặc thù khác Căn cứ điều kiện cụ thể và khả năng ngân sách của địa phương, các tỉnh, thành phố xây dựng tiêu chí, xác định đối tượng, mức tiền hỗ trợ nhưng mức hỗ trợ không thấp hơn 1.500.000 đồng/người/lần hoặc 50.000 đồng/người/ngày căn cứ theo thực tế số ngày tạm dừng hoạt động theo yêu cầu của địa phương.

"Nhọc nhằn" bất động sản phát mãi

Ngay cả trong thời điểm giá bất động sản không ngừng tăng ở các phân khúc, các bất động sản (BĐS) phát mãi dù được "đại hạ giá" vẫn chẳng thể hấp dẫn người mua. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, các ngân hàng đã liên tục rao bán các tài sản thế chấp với giá khởi điểm từ vài tỷ đến hàng nghìn tỷ đồng. Trong đó, mới đây, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã rao bán một khoản nợ ngàn tỉ đồng của Công ty CP Tập đoàn Khải Vy. Khoản nợ này có tổng dư nợ trên 1.035 tỷ đồng. Đáng chú ý, trong danh sách tài sản thế chấp có Trung tâm hội nghị tiệc cưới Crystal Palace tại đường Nguyễn Lương Bằng (Q.7, TP. Hồ Chí Minh), công trình được xây dựng với tổng vốn đầu tư hơn 580 tỷ đồng, hiện giá rao bán còn 356 tỷ đồng. Đây được xem là mức giá chỉ bằng 60% so với giá đất cùng khu vực, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có ai mua. Tương tự, BIDV cũng rao bán khoản nợ của Công ty Thuận Thảo Nam Sài Gòn, với giá rao bán dưới 800 tỷ đồng. Trong khi đó, theo tìm hiểu của phóng viên, các lô đất được giao bán trên thị trường ước tính đã gần 2.000 tỷ đồng, gấp 2,5 lần tổng giá trị rao bán nhưng vẫn chẳng ai ngó ngàng. Theo ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hội Môi giới BĐS Việt Nam, BĐS phát mại, thanh lý khá hấp dẫn do mức giá “mềm”. Tuy nhiên, với những người mua nhà để ở thì họ lại không mặn mà, khi quan niệm của đa số người dân Việt Nam khi mua nhà là tránh những ngôi nhà mà chủ cũ làm ăn “bết bát”. Bên cạnh đó, việc mua các BĐS thanh lý có thể đi kèm nhiều rắc rối về pháp lý cũng như sự đồng thuận của chủ tài sản. Ngoài ra, không ít tài sản bảo đảm đã được định giá cao hơn giá trị thực tế khi phê duyệt khoản vay. Do đó, khi thanh lý, các ngân hàng thường có xu hướng định giá theo giá trị khoản nợ mà không sát với giá thị trường. Đồng quan điểm, Luật sư Triệu Trung Dũng - Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng, bất động sản phát mãi phải đối mặt với các rủi ro như tài sản phát mại bị vướng tranh chấp do gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác hoặc nằm trong diện quy hoạch… khiến người mua tài sản phát mại không thể sử dụng được. Người mua cũng có khả năng gặp phải các vấn đề phức tạp trong mối quan hệ 3 bên gồm chủ sở hữu tài sản, ngân hàng và người mua. Do đó, bất động sản phát mãi không hấp dẫn người mua dù đã giảm giá khá nhiều.

130 quốc gia ủng hộ đề xuất của Mỹ về mức thuế tối thiểu toàn cầu

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen thông báo hôm thứ Năm rằng nhóm 130 quốc gia đã đồng ý mức thuế tối thiểu toàn cầu đối với các doanh nghiệp, đây là một phần của thỏa thuận rộng hơn nhằm sửa đổi các quy tắc thuế quốc tế. "Trong nhiều thập kỷ, Mỹ đã tham gia vào một cuộc cạnh tranh thuế quốc tế, hạ mức thuế doanh nghiệp chỉ để nhìn các quốc gia khác giảm thuế của họ để đáp trả. Kết quả là một cuộc chạy đua thuế suất toàn cầu đến đáy. Ai có thể hạ thấp thuế suất doanh nghiệp của họ hơn nữa và nhanh hơn? Không có quốc gia nào đã chiến thắng trong cuộc đua này", bà Yellen nói trong một tuyên bố về hiệp định. Bộ trưởng Tài chính Mỹ cho rằng: "Thỏa thuận ngày nay của 130 quốc gia đại diện cho hơn 90% GDP toàn cầu là một dấu hiệu rõ ràng: cuộc đua thuế suất xuống đáy còn một bước nữa là kết thúc". Thỏa thuận cũng được cho là bao gồm một khuôn khổ để loại bỏ thuế dịch vụ kỹ thuật số, nhằm vào các công ty công nghệ lớn nhất của Mỹ. Bên cạnh đó, các quan chức đã đồng ý với một kế hoạch thuế mới sẽ liên kết với những nơi mà các công ty đa quốc gia đang thực sự kinh doanh, thay vì nơi họ đặt trụ sở chính. Phần lớn cơ sở để áp dụng GMT đã được đặt ra bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tổ chức đã phát hành bản kế hoạch chi tiết vào mùa thu năm ngoái phác thảo cách tiếp cận hai yếu tố chính đối với thuế quốc tế. Khuôn khổ bao trùm của OECD về Xói mòn cơ sở và Dịch chuyển lợi nhuận, được gọi là BEPS, là sản phẩm của các cuộc đàm phán với 137 quốc gia thành viên và khu vực pháp lý. Thông báo của bà Yellen không bao gồm thuế suất thực tế thuế tối thiểu toàn cầu sẽ được đặt ở mức bao nhiêu, nhưng chính quyền ông Biden mong muốn thúc đẩy nó đạt ít nhất 15%. Các bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương G-20 dự kiến ​​sẽ gặp nhau tại Venice, Ý vào cuối tháng này và kế hoạch thuế quốc tế dự kiến ​​sẽ nhận được sự chấp thuận cao trong chương trình nghị sự. Thỏa thuận GMT thể hiện một phần quan trọng trong điều mà Tổng thống Joe Biden đã gọi là "chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu". Chiến lược này cũng nhấn mạnh cách chính sách đối ngoại và chính sách đối nội có thể được tích hợp vào một nền tảng trung gian mới giữa cách tiếp cận truyền thống bảo thủ và tự do đối với các vấn đề toàn cầu. "Chính sách đối ngoại đối với tầng lớp trung lưu" nhằm đảm bảo rằng toàn cầu hóa, thương mại, nhân quyền và quân đội đều có thể được khai thác vì lợi ích của những người Mỹ đang làm việc, không chỉ cho các tỷ phú và các tập đoàn đa quốc gia, nhưng cũng không phải vì những lý do liên quan tới chủ nghĩa duy tâm.

Tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe cơ giới có nghĩa vụ gì?

Nghị định số 03/2021/NĐ-CP ngày 15/1/2021 của Chính phủ quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới quy định, ngoài các nghĩa vụ quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm xem xét tình trạng xe trước khi cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ kịp thời thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm để áp dụng phí bảo hiểm phù hợp cho thời gian còn lại của hợp đồng Bảo hiểm trong trường hợp có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được Bảo hiểm. Đặc biệt, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm phải luôn mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn hiệu lực (bản cứng hoặc bản điện tử) khi tham gia giao thông, xuất trình giấy tờ này khi có yêu cầu của lực lượng Cảnh sát giao thông và cơ quan chức năng có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ. Phối hợp giải quyết khi xảy ra tai nạn giao thông Khi tai nạn giao thông xảy ra, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa vụ phải có trách nhiệm thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm để phối hợp giải quyết, tích cực cứu chữa, hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn; thông báo ngay cho cơ quan Công an hoặc chính quyền địa phương nơi gần nhất để phối hợp giải quyết vụ tai nạn giao thông theo quy định và phối hợp với cơ quan chức năng trong việc điều tra, xác minh nguyên nhân vụ tai nạn giao thông. \Đồng thời, không được di chuyển, tháo gỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm; trừ trường hợp cần thiết để đảm bảo an toàn, đề phòng hạn chế thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Chủ động thu thập và cung cấp các tài liệu quy định trong hồ sơ bồi thường bảo hiểm thuộc trách nhiệm của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Bảo hiểm trong quá trình xác minh các tài liệu do mình cung cấp. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm phải thông báo và trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc người thừa kế hoặc đại diện của người bị thiệt hại biết số tiền họ được doanh nghiệp bảo hiểm trả đối với từng trường hợp thiệt hại về sức khỏe, tính mạng theo quy định; thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, việc sở hữu bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự là vô cùng hữu ích. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự sẽ giảm bớt phần nào gánh nặng đối với các chủ xe cơ giới nếu không may có tai nạn xảy ra.

Những điểm mới về bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 01/7/2021

Ngày 13/11/2020, Quốc hội đã thông qua Luật Cư trú năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/7/2021. Luật này sửa đổi, bổ sung nội dung một số Luật khác liên quan, trong đó có Luật BHYT. Cụ thể, tại Khoản 2 Điều 38 Luật Cư trú sửa đổi Khoản 7 Điều 2 Luật BHYT như sau: Hộ gia đình tham gia BHYT là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Trong khi đó, Luật BHYT hiện đang quy định: Hộ gia đình tham gia BHYT bao gồm toàn bộ người có tên trong Sổ hộ khẩu hoặc Sổ tạm trú. Như vậy, theo quy định mới, những người thuộc diện tham gia BHYT hộ gia đình phải là những người cùng đăng ký thường trú hoặc cùng đăng ký tạm trú tại một chỗ ở hợp pháp, thay vì cùng Sổ hộ khẩu hoặc Sổ tạm trú như trước đây. Sở dĩ có sự điều chỉnh này là do Luật Cư trú năm 2020 quy định, từ ngày 01/01/2023, chính thức bãi bỏ Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú, thay bằng việc quản lý trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đồng thời, từ ngày 01/7/2021, cơ quan đăng ký cư trú cũng sẽ không cấp mới, cấp lại Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú mà thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin của công dân trên Cơ sở dữ liệu về cư trú. Bổ sung đối tượng được ngân sách nhà nước (NSNN) mua thẻ BHYT Tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. So với quy định hiện hành tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013, Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP đã bổ sung thêm đối tượng: “Người thuộc diện hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (người con này đang được hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội)” được NSNN mua thẻ BHYT. Theo quy định trước đây, nhóm đối tượng này chỉ được NSNN hỗ trợ mua thẻ BHYT tối thiểu 70%. Người có công và thân nhân được hưởng chính sách BHYT Từ ngày 01/7/2021, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 chính thức có hiệu lực. Theo Pháp lệnh mới, thì “Vợ hoặc chồng liệt sỹ lấy chồng hoặc vợ khác mà nuôi con liệt sỹ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc cha đẻ, mẹ đẻ liệt sỹ khi còn sống hoặc vì hoạt động cách mạng mà không có điều kiện chăm sóc cha đẻ, mẹ đẻ liệt sỹ khi còn sống” sẽ được NSNN mua thẻ BHYT, trước đây không có quy định này. Thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất Thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất là phương thức thanh toán giữa cơ quan BHXH và cơ sở khám chữa bệnh BHYT theo mức phí được xác định trước theo phạm vi dịch vụ cho một đầu thẻ đăng ký tại cơ sở cung ứng dịch vụ y tế trong một khoảng thời gian nhất định. Ngày 29/4/2021, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 04/2021/TT-BYT hướng dẫn thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2021. Theo đó, Thông tư xác định Quỹ định suất là số tiền được xác định trước, giao cho cơ sở KCB BHYT để khám chữa bệnh ngoại trú cho người bệnh có thẻ BHYT trong phạm vi định suất, trong khoảng thời gian nhất định. Tại các cơ sở y tế từ tuyến huyện trở xuống sẽ áp dụng phương thức thanh toán theo định suất đối với toàn bộ chi phí khám chữa bệnh ngoại trú trong phạm vi hưởng của người tham gia BHYT. Tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh, tuyến Trung ương sẽ áp dụng tại các cơ sở có ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT ban đầu và chỉ áp dụng thanh toán theo định suất đối với phần chi phí KCB ngoại trú của người đăng ký khám chữa bệnh ban đầu phát sinh tại chính cơ sở khám chữa bệnh ban đầu đó. Tuy nhiên, phạm vi định suất không bao gồm các chi phí khám chữa bệnh của đối tượng, bệnh, nhóm bệnh sau: Chi phí của các đối tượng có mã thẻ quân nhân (QN), cơ yếu (CY), công an (CA); Chi phí vận chuyển người bệnh có thẻ BHYT; Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng dịch vụ kỹ thuật thận nhân tạo chu kỳ hoặc dịch vụ kỹ thuật lọc màng bụng hoặc dịch lọc màng bụng. Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc chống ung thư hoặc dịch vụ can thiệp điều trị bệnh ung thư đối với người bệnh được chẩn đoán bệnh ung thư gồm các mã chẩn đoán từ C00 đến 297 và các mã chẩn đoán từ D00 đến D09 thuộc bộ mã Phân loại bệnh quốc tế lần thứ X (ICD-10). Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc điều trị Hemophilia hoặc máu hoặc chế phẩm của máu đối với người bệnh được chẩn đoán bệnh Hemophilia gồm các mã D60, D67, D68 thuộc bộ mã ICD-10. Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc chống thải ghép đối với người bệnh ghép tạng; Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc điều trị viêm gan C của người bệnh bị bệnh viên gan C; Toàn bộ chi phí của lần khám chữa bệnh BHYT có sử dụng thuốc kháng HIV hoặc dịch vụ xét nghiệm tải lượng HIV của người bệnh có thẻ BHYT được chẩn đoán bệnh HIV. Công khai giá thu dịch vụ khám chữa bênh BHYT đối với người bệnh Thông tư số 05/2021/TT-BYT ngày 5/5/2021 của Bộ Y tế quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ sở khám chữa bệnh bệnh công lập. Trong đó, quy định, cơ sở khám chữa bệnh phải thông tin kịp thời và công khai với người bệnh và người đại diện hợp pháp của người bệnh giá thu dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm: Giá thu dịch vụ khám chữa bệnh đối với người bệnh có thẻ BHYT, giá thu dịch vụ khám chữa bệnh không theo yêu cầu đối với người bệnh không có thẻ BHYT; giá dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu của người bệnh; giá các loại dịch vụ khác tại đơn vị. Ngoài ra, còn quy định cơ sở y tế phải công khai các chế độ miễn, giảm giá dịch vụ khám chữa bệnh và thực hiện chính sách BHYT, thanh toán giá và chi phí khám chữa bệnh BHYT theo quy định của pháp luật. Có các hình thức công khai thông tin như sau: - Niêm yết công khai, chạy thông tin trên băng thông tin điện tử. - Các văn bản, bản vẽ, sơ đồ chỉ dẫn, dấu chỉ đường đến các khu vực, khoa, phòng và đơn vị trực thuộc trong đơn vị; các bản nội quy, quy định, giá các loại dịch vụ khám chữa bệnh và giá các loại dịch vụ phục vụ người bệnh tại các địa điểm thuận lợi có nhiều người bệnh qua lại. - Việc niêm yết công khai phải thường xuyên, liên tục và kịp thời. - Tổ chức thông tin, truyền thông, tư vấn về chế độ chính sách, những vấn đề có liên quan đến việc khám chữa bệnh kể từ khi người bệnh mới đến phòng khám bệnh, phòng cấp cứu, buồng bệnh. - Thông báo trực tiếp với người bệnh, người đại diện hợp pháp của người bệnh; tổ chức sinh hoạt hội đồng người bệnh của khoa, phòng và đơn vị. Phụ nữ mang thai xét nghiệm HIV được hưởng chế độ BHYT Đây là nội dung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), có hiệu lực từ ngày 01/7/2021. Theo Luật này, phụ nữ mang thai xét nghiệm HIV theo chỉ định chuyên môn được quỹ BHYT, NSNN chi trả chi phí xét nghiệm như sau: Quỹ BHYT chi trả cho người có thẻ BHYT theo mức hưởng quy định của pháp luật về BHYT; NSNN chi trả phần chi phí Quỹ BHYT không chi trả nêu trên và chi trả cho người không có thẻ BHYT theo mức giá dịch vụ khám chữa bệnh BHYT. Tuy nhiên, từ trước ngày 01/7/2021, Quỹ BHYT đã thực hiện thanh toán chi phí xét nghiệm HIV trong khám chữa bệnh đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sinh con theo yêu cầu chuyên môn theo quy định tại Thông tư số 27/2018/TT-BYT ngày 26/10/2018 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện BHYT và khám chữa bệnh liên quan đến HIV/AIDS. Quy định này đã được luật hóa tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.

Một số lưu ý về quỹ đóng trên thị trường chứng khoán

Theo Điều 112, Luật Chứng khoán, việc tăng vốn của quỹ đóng phải được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và đáp ứng các điều kiện sau đây: Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán có quy định việc tăng vốn của quỹ; Lợi nhuận của quỹ trong năm liền trước năm đề nghị tăng vốn phải là số dương; Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán trong thời hạn 02 năm, tính đến thời điểm đề nghị tăng vốn; Phương án phát hành thêm chứng chỉ quỹ đóng phải được Đại hội nhà đầu tư thông qua. Chứng chỉ quỹ đóng chỉ được phát hành cho nhà đầu tư hiện hữu của quỹ thông qua phát hành quyền mua chứng chỉ quỹ đóng được chuyển nhượng. Trường hợp nhà đầu tư hiện hữu không mua hết quyền mua thì được phát hành cho nhà đầu tư bên ngoài. Cần lưu ý rằng, kể từ ngày 1/1//2021, việc thay đổi thời hạn hoạt động của quỹ đóng phải được sự chấp thuận của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và đáp ứng các điều kiện sau đây: Việc thay đổi thời hạn hoạt động của quỹ đã được Đại hội nhà đầu tư thông qua; Trường hợp gia hạn thời hạn hoạt động, giá trị tài sản ròng của quỹ tại kỳ định giá gần nhất trước thời điểm nộp hồ sơ gia hạn không thấp hơn 50 tỷ đồng. Liên quan đến các quy định của quỹ đóng, theo Điều 24, Thông tư số 98/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thì danh mục đầu tư của quỹ phải phù hợp với mục tiêu và chính sách đầu tư đã được quy định tại Điều lệ quỹ và công bố tại Bản cáo bạch. Quỹ được phép đầu tư vào các loại tài sản sau đây: Tiền gửi các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật ngân hàng; Công cụ thị trường tiền tệ bao gồm giấy tờ có giá, công cụ chuyển nhượng theo quy định của pháp luật; Công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương; Cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu đăng ký giao dịch, trái phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, chứng chỉ quỹ đại chúng; Trái phiếu chưa niêm yết của các tổ chức phát hành hoạt động theo pháp luật Việt Nam; cổ phiếu của công ty cổ phần, phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn; Quyền phát sinh gắn liền với chứng khoán mà quỹ đang nắm giữ; Bất động sản đáp ứng điều kiện đưa vào kinh doanh theo quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản. Bên cạnh đó, cơ cấu danh mục đầu tư của quỹ phải phù hợp với các quy định tại Điều lệ quỹ và phải bảo đảm: Không đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá 10% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó, trừ công cụ nợ của Chính phủ; Không đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán đang lưu hành và các tài sản (nếu có) quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 24 của một tổ chức phát hành, trừ công cụ nợ của Chính phủ; Không đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các tài sản quy định tại điểm đ và g khoản 2 Điều 24 Thông tư số 98/2020/TT-BTC. Đồng thời, không đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các tài sản quy định tại điểm a, b, d, đ khoản 2 Điều 24 Thông tư số 98/2020/TT-BTC phát hành bởi các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau thuộc các trường hợp sau đây: công ty mẹ, công ty con; các công ty sở hữu trên 35% cổ phần, phần vốn góp của nhau; nhóm công ty con có cùng một công ty mẹ; Không đầu tư vào chứng chỉ của chính quỹ đó. Ngoài ra, chỉ được đầu tư vào chứng chỉ quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng do công ty quản lý quỹ khác quản lý và bảo đảm các hạn mức sau: Không đầu tư vào quá 10% tổng số chứng chỉ quỹ đang lưu hành của một quỹ đại chúng, cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; Không đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng chỉ quỹ của một quỹ đại chúng, cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; Không đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ vào các chứng chỉ quỹ đại chúng, cổ phiếu công ty đầu tư chứng khoán đại chúng.

Tổ chức của Công giáo

 


 Giáo hội Công giáo có 3 cấp hành chính đạo gồm:

- Tòa thánh Vatican (còn gọi là Giáo hội hoàn vũ) là cơ quan điều hành Giáo hội toàn thế giới, do Giáo hoàng đứng đầu.

- Giáo phận (còn gọi là Giáo hội địa phương) do Giám mục cai quản.

- Giáo xứ (còn gọi là Giáo hội cơ sở) do Linh mục coi sóc.

- Ngoài ra, Giáo hội Công giáo còn có các tồ chức mang tính liên kết như: Giáo hội khu vực (Liên Hội đồng Giám mục châu Á, Liên Hội đồng Giám mục châu Âu, Liên Hội đồng Giám mục châu phi-

Giáo hội ở một quốc gia như Giáo hội Công giáo Việt Nam (Hội đồng Giám mục Việt Nam),

Giáo tỉnh (còn gọi là Tổng Giáo phận) liên kết các giáo phận gần nhau do Tổng Giám mục đứng đầu, Giáo hạt liên kết các giáo xứ ở cạnh nhau do Linh mục Hạt trưởng phụ trách.

- Giáo triều Vatican là một tổ chức đặc biệt, có vai trò kép: một quốc gia độc lập và trung tâm điều hành hoạt động của Công giáo toàn cầu. Giáo hoàng vừa là thủ lĩnh tối cao của Giáo hội Công giáo toàn cầu vừa là nguyên thủ quốc gia - Nhà nước Vatican.

+ Hệ thống tổ chức của Nhà nước Vatican gồm: Phủ Quốc vụ khanh với 2 bộ phận là Thường vụ và Ngoại vụ (ngoại giao), 11 bộ là cơ quan điều hành, 12 hội đồng Giáo hoàng, 3 tòa án là cơ quan tư pháp, 3 văn phòng là cơ quan chuyên môn (Quản lý Tông tòa, Quản trị Tài sản và Kinh tế Tòa Thánh). Nhà nước Vatican có quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, dân số khoảng 1.000 người; có quan hệ ngoại giao với 177 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

+ Ngoài những tổ chức mang tính chất hành chính, Giáo hội Công giáo còn có rất nhiều dòng tu và hội đoàn.

- Hệ thống giáo phẩm:

+ Giáo sĩ Công giáo gồm: Giám mục (còn gọi là Đức Cha), Linh mục (còn gọi là    tòa, Giám quản tông tòa, Linh mục chính xứ, Linh mục phó xứ, Bề trên tổng quyền, Bề trên giám tỉnh các dòng Tòa Thánh. Công giáo áp dụng luật độc thân đối với hàng giáo phẩm.

Cảnh báo hình thức lừa đảo mời vay vốn

Thời gian gần đây một số đối tượng đã mạo danh Công ty tài chính Bưu điện PTF mời khách hàng vay vốn và sử dụng ứng dụng Auto Cash để giải ngân khoản tiền ảo với con dấu giả, chữ ký giả của người có thẩm quyền để dụ dỗ khách hàng chuyển khoản và chiếm đoạt. Bộ Công Thương cảnh báo chiêu trò lừa đảo trúng thưởng qua điện thoại, mạng xã hội Theo cảnh báo của Công ty tài chính Bưu điện PTF, thủ đoạn của đối tượng như sau: Bước 1: Đối tượng gọi điện tới khách hàng mời vay và hướng dẫn khách hàng cài đặt ứng dụng “Auto Cash” giải ngân nhanh. Bước 2: Tài khoản Zalo có tên “Phê duyệt PTF “ sẽ kết bạn với khách hàng để dụ dỗ, thuyết phục khách hàng vay vốn, chuyển tiền đặt cọc cho đối tượng. Bước 3: Sau khi cài đặt ứng dụng và nhập các thông tin cá nhân như: Số điện thoại, chứng minh nhân dân... khách hàng sẽ được ứng dụng Auto Cash giải ngân một khoản tiền ảo kèm theo một hợp đồng tín dụng với con dấu giả mạo Công Ty Tài chính Bưu điện PTF. Bước 4: Để nhận được số tiền giải ngân khách hàng phải gửi mật khẩu để xác nhận. Để có mật khẩu này khách hàng phải tạm ứng và chuyển khoản đặt cọc một số tiền. Sau khi khách hàng chuyển tiền cọc thì đối tượng lừa đảo cắt liên lạc hoàn toàn với khách hàng. “Đây là hành vi lừa đảo, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho người dân và ảnh hưởng đến hình ảnh và thương hiệu của PTF”, đại diện lãnh đạo Công ty khẳng định. Do đó, Công ty Tài chính Bưu điện PTF khuyến cáo người dân lưu ý: Công ty PTF không áp dụng đăng ký khoản vay, giải ngân và yêu cầu đặt cọc, tạm ứng.… qua ứng dụng Auto Cash cũng như bất kỳ ứng dụng online nào khác. Với tất cả các khoản vay của PTF, khách hàng đều phải làm thủ tục và ký hồ sơ trực tiếp tại các điểm giao dịch của công ty. Người dân, khách hàng cần cảnh giác với các ứng dụng cho vay trực tuyến với điều kiện quá dễ dàng. Đồng thời, tuyệt đối không thực hiện chuyển tiền, đưa tiền mặt cũng như cung cấp thông tin cá nhân cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có biểu hiện nghi ngờ cũng như có các dấu hiệu lừa đảo đã được nêu trên đây.

Bảo đảm nguồn ngân sách để thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động

Tại Nghị quyết số 68/NQ-CP vừa được ban hành ngày 01/7/2021, Chính phủ giao Bộ Tài chính bảo đảm nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Chính phủ yêu cầu nguyên tắc hỗ trợ phải bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để lợi dụng, trục lợi chính sách; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của các chính sách và nguồn lực để thực hiện. Mỗi đối tượng chỉ được hưởng một lần trong một chính sách hỗ trợ. Người lao động được hỗ trợ một lần bằng tiền chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ; không hỗ trợ đối tượng tự nguyện không tham gia; trừ các đối tượng hưởng chính sách bổ sung đã được quy định tại Nghị quyết. Việc hỗ trợ ngân sách nhà nước thực hiện đối với các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách Trung ương trên 60% tự bảo đảm kinh phí thực hiện. Ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương còn lại theo nguyên tắc: 80% mức thực chi theo quy định tại Nghị quyết này đối với các tỉnh miền núi, Tây Nguyên; 60% mức thực chi theo quy định tại Nghị quyết này đối với các tỉnh chưa tự cân đối ngân sách còn lại (ngoài các tỉnh miền núi, Tây Nguyên); 40% mức thực chi theo quy định tại Nghị quyết này đối với các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách Trung ương còn lại. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động sử dụng 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương (bao gồm cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) và 70% quỹ dự trữ tài chính địa phương, nguồn cải cách tiền lương còn dư để thực hiện theo các nguyên tắc, chế độ hỗ trợ quy định tại Nghị quyết này. Tại Nghị quyết, Chính phủ cũng khuyến khích tính chủ động của các cấp, các ngành, địa phương, căn cứ vào điều kiện cụ thể để điều hành linh hoạt triển khai, đảm bảo mục tiêu, nguyên tắc và kịp thời các chính sách hỗ trợ. Đồng thời, Chính phủ giao Bộ Tài chính bảo đảm nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động do Covid-19. Cùng với đó, căn cứ quy định pháp luật hiện hành và số thực chi của các địa phương (có xác nhận của Kho bạc Nhà nước) để xem xét, hỗ trợ kịp thời từ ngân sách trung ương cho từng địa phương; định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và cơ quan liên quan ban hành Thông tư hướng dẫn theo trình tự, thủ tục rút gọn và cho Ngân hàng Chính sách xã hội vay tái cấp vốn tối đa 7.500 tỷ đồng với lãi suất 0%/năm, thời hạn tái cấp vốn dưới 12 tháng và không có tài sản đảm bảo để cho người sử dụng lao động quy định tại Nghị quyết này vay trả lương cho người lao động. Thời hạn giải ngân tái cấp vốn đến hết ngày 31/3/2022 hoặc khi giải ngân hết số tiền tái cấp vốn tùy theo điều kiện nào đến trước...

Thực trạng tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam hiện nay

 


- Thời kỳ đổi mới, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ Thành hoàng cũng có sự phục hồi và khởi sắc. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng có xu hướng được khôi phục trở lại trên phạm vi cả nước. Nhiều đình làng được phục dựng, tu bổ khang trang hơn, nhiều lễ hội Thành hoàng làng được khôi phục và tổ chức quy mô, thu hút ngày càng nhiều khách thập phương tham dự.

- Thực trạng sinh hoạt tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước ta trong thời gian qua cho thấy có cả hai mặt tích cực và hạn chế.

+ Vmặt tích cực, tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã góp phần đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu tinh thần của người dân trên địa bàn và vẫn là nhân tố quan trọng để gắn kết, đoàn kết cộng đồng; góp phần duy trì và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, cũng như tiếp biến những giá trị văn hóa mới và cũng đã tích cực góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ người dân địa phương.

+ Về những bất cập, hạn chế

Khi có không ít địa phương tiến hành trùng tu, xây dựng lại đình, nghè, miếu thờ Thành hoàng không chỉ gây tốn kém, mà còn làm mất đi nét kiến trúc cổ xưa;

Có những nội dung văn hóa truyền thống của lễ hội tín ngưỡng thờ Thành hoàng bị mai một, biến tướng, quá coi trọng phần lễ rườm rà, tốn kém, phần hội lại mờ nhạt. Thậm chí ở một số địa phương, khi tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng này đã xảy ra các hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh và các vấn đề phức tạp khác, rất phản cảm, gây ra những khó khăn cho việc quản lý từ phương diện an ninh trật tự, an toàn xã hội.

- Cần có sự nghiên cứu để xâydựng các giải pháp phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của tín ngưỡng này sao cho đúng với các quy định pháp luật hiện hành và phù hợp với tình hình các địa phương.

Kinh tế thị trường và các vấn đề xã hội

Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một văn kiện vừa có tính chất đúc kết thực tiễn, vừa là một bước đột phá nâng tầm lý luận về chủ nghĩa xã hội. Trong đó, một vấn đề rất đặc biệt được đề cập trong Bài viết là kinh tế thị trường và các vấn đề xã hội. Cách đây gần 30 năm, Tổng Bí thư và các nhà khoa học kinh tế đã vạch rõ tính chất hai mặt (ưu thế và khuyết tật) của nền kinh tế thị trường(1). Mặt ưu thế bao gồm: Tính mềm dẻo, tính tự điều chỉnh cao nên dễ thích nghi khi có những biến cố, biến động. Tính năng động cao, luôn luôn có sự đổi mới kỹ thuật, công nghệ nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhu cầu xã hội rất đa dạng, do đó các loại hàng hóa, các loại dịch vụ cũng được đa dạng hóa và phải rất phong phú để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác nhau. Mức độ hoạt động hiệu quả (cao hay thấp, hay không có hiệu quả) của từng doanh nghiệp được thể hiện rất rõ ràng. Người lao động buộc phải năng động, phải chủ động nâng cao trình độ mọi mặt và phải nghiêm túc trong lao động để không bị đào thải. Mặt khuyết tật bao gồm: Kinh tế thị trường chỉ chú ý đầy đủ đến lợi nhuận, lợi ích cá nhân, khá nhiều trường hợp gây thiệt hại chung cho xã hội, hủy hoại môi trường sinh thái. Tính tự phát, cạnh tranh tự nó không bảo đảm được tính hợp lý về cơ cấu sản phẩm, gây lãng phí nghiêm trọng. Kinh tế thị trường không bảo đảm được cơ cấu kinh tế hợp lý, nói cách khác là, cơ cấu kinh tế hình thành tự phát. Đặc biệt là các mục tiêu xã hội không được giải quyết hợp lý, thấu đáo, vì kinh tế thị trường chỉ chú ý đến các nhu cầu có khả năng thanh toán, rất lạnh lùng với các nhu cầu không có khả năng thanh toán (của người nghèo, tầng lớp yếu thế trong xã hội). Kinh tế thị trường gây ra phân cực xã hội, phân hóa giàu nghèo với mức độ lớn. Quan hệ xã hội trong nhiều trường hợp lấy đồng tiền và địa vị cá nhân làm thước đo lẫn nhau. Các tệ nạn xã hội nảy sinh và phát triển rất nghiêm trọng. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư đã nói rõ, kinh tế thị trường là thành tựu, là giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được qua các thời kỳ phát triển. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu đó phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát huy và phát triển. Điểm lại những ưu thế và khuyết tật của kinh tế thị trường là để chúng ta chọn lọc, kế thừa, phát huy và phát triển một cách đúng đắn những ưu thế của nó. Đồng thời phải ngăn ngừa, khắc phục, hạn chế tối đa những tiêu cực, những khuyết tật, những khiếm khuyết mang trên cơ thể nó. Từ đó mà hình thành một nền kinh tế thị trường Việt Nam - nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư, đó là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Lý luận đã được thực chứng Từ thực thi đường lối của Đảng qua thực tiễn 35 năm công cuộc đổi mới, Tổng Bí thư đã nêu lên một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường của Việt Nam là phải “gắn kết kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Như đã nói, vì mục tiêu tối thượng là lợi nhuận tối đa nên khuyết tật “bẩm sinh” của kinh tế thị trường là không giải quyết được các vấn đề xã hội một cách hợp lý, thấu đáo; thậm chí rất thờ ơ, lạnh nhạt đối với các nhu cầu không có khả năng thanh toán. Ngược lại, kinh tế thị trường của Việt Nam lại coi mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội đúng đắn, hợp lý, hài hòa là vấn đề quan trọng hàng đầu của định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang phục vụ đắc lực cho mục tiêu này. Trên phương diện lập pháp, song song với việc xây dựng một hệ thống luật pháp kinh tế ngày càng hoàn chỉnh, Quốc hội đã cố gắng với mức cao nhất để có một hệ thống pháp luật xã hội đầy đủ nhất, nhằm điều chỉnh, áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Từ Hiến pháp đến tất cả các đạo luật, pháp lệnh đều đã hội tụ, quán triệt đầy đủ các quan điểm, đường lối, chính sách xã hội của Đảng. Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xã hội nói riêng được hình thành một cách dân chủ, chứa đựng các giá trị của quốc gia, dân tộc và quốc tế; hệ thống pháp luật đó nhằm mục tiêu bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng và lẽ phải, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Có thể nói, đến nay hệ thống pháp luật về xã hội đã bao phủ được toàn bộ cuộc đời của mỗi con người ở từng giai đoạn của cuộc sống với tất cả các đối tượng. Khi mới sinh ra và trong giai đoạn niên thiếu thì có Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Lớn lên thì có Luật Thanh niên. Trong thời gian học hành thì có Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học. Ra làm việc thì có Bộ luật Lao động, Luật Việc làm; trong khi làm việc thì có Luật An toàn vệ sinh lao động, Luật Bảo hiểm xã hội. Khi về già, bước ra khỏi quá trình lao động thì có Luật Người cao tuổi cùng chế độ hưu trí của Luật Bảo hiểm xã hội. Nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho người dân thì có Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược. Để bảo đảm quan hệ xã hội hài hòa giữa hai giới thì có Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Đối với một số người có khiếm khuyết hình thể thì có Luật Người khuyết tật. Đối với những người có công trạng đối với đất nước thì có Pháp lệnh Người có công... Toàn bộ hệ thống pháp luật về xã hội đã và đang phát huy tác dụng tốt, tích cực trong đời sống xã hội. Trên phương diện hành pháp thì ngay trong bài viết, Tổng Bí thư đã dẫn ra một số tình hình và số liệu rất cơ bản mà Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện. Đó là: “Hiện dân số Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của Nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại”. Theo báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XIV tháng 10.2020, Chính phủ đã gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, chính sách bảo trợ xã hội; phát triển hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, bền vững; bảo vệ nhóm yếu thế trong xã hội... Gần 1,4 triệu người có công đang hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng; diện bao phủ bảo hiểm xã hội được mở rộng, tăng hơn 1,3 lần so với năm 2015, chiếm 33% lực lượng lao động năm 2020. Số bác sĩ trên 1 vạn dân tăng từ 8 bác sĩ giai đoạn 2011 - 2015 lên 9 bác sĩ giai đoạn 2016 - 2020; tương tự như vậy, số giường bệnh trên 1 vạn dân tăng từ 24 lên 28 giường; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 76,5% lên 90,7%; xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn 2 năm... Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư đều có những bước cải thiện nhất định. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam năm 2020 đã tăng 39 bậc so với năm 2016, xếp thứ 49/166 quốc gia và vùng lãnh thổ... Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và giải quyết các vấn đề xã hội luôn song song với nhau như hình với bóng, đó là vấn đề mà Tổng Bí thư nhấn đậm, “điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trên thực tế, toàn bộ lý luận trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói chung, lý luận về đường lối giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam nói riêng, từ lý luận đã được thực chứng và đang trở lại chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong giai đoạn mới của cách mạng.

Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay

 


Một là, quản lý nhà nước về công tác dân tộc phải hướng tới phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp phát triển với các vùng khác.

Bởi vì:

+ Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quôc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái.

+ Xuất phát từ thực trạng KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN là vùng có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, KT-XH phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất.

Hai là, Đa dạng hóa nguồn lực phục vụ phát triển vùng DTTS (NSNN, ODA, hỗ trợ doanh nghiệp, xã hội hóa…)

Do vậy, cần huy động đa dạng nguồn lực để đầu tư cho phát triển.

Ba là, Phân cấp cho địa phương và phát huy vai trò làm chủ của địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quản lý về công tác dân tộc và thực hiện và giám sát thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật về công tác dân tộc.

Bốn là, Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Dân tộc và hệ thống các cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về dân tộc ở các địa phương trong tham mưu hoạch định, thực hiện chính sách đối với đồng bào DTTS; giám sát, điều phối, đánh giá kết quả thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về DTTS

Năm là, Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ người DTTS trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đánh giá thực hiện chính sách dân tộc

 


 Công tác thanh tra, kiểm tra: Ủy ban Dân tộc đã tập trung thanh tra, kiểm tra thực hiện những chính sách do ủy ban Dân tộc trực tiếp quản lý, thông qua đó đã phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sai lệch trong thực hiện ở các địa phương và những hạn chế của từng chính sách làm cơ sở để sửa đổi phù hợp với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của đồng bào DTTS và miền núi.

 Công tác giám sát, đánh giá thực hiện chính sách dân tộc: hoạt động giám sát được triển khai thực hiện khá mạnh và đạt được nhiều kết quả quan trọng thông qua vai trò giám sát bởi Hội đồng dân tộc của Quốc hội và Hội đồng nhân dân của các địa phương đối với các bộ, ngành và địa phương.

Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Thành hoàng

 


- Các đi tượng được tôn thờ trong tín ngưởng thờ Thành hoàng ở Việt Nam rất đa dạng

+ Các vị thần đều có nguồn gốc nhân thần hay nhiên thần, nhưng được mở rộng, trở thành thần bản mệnh có vai trò bảo trợ thành trì, thần dân ở đô, phủ và trải rộng đến nơi thôn dã, ngự tại thôn làng.

+ V nguồn gốc xuất thân ca Thành hoàng ở Việt Nam nhiều khi có gốc tích là tiện dân, như ăn mày, ăn trộm, tà dâm. Các Thành hoàng này không được thế lực quan phương thừa nhận song vẫn được người dân thờ phụng. Ngoài ra, các Thành hoàng của người Việt không chỉ có công hộ quốc mà còn có công giúp dân. Họ có thể là người có công khai khẩn đất đai, mở mang xóm làng; là người mang lại kế sinh nhai cho dân chúng và được tôn làm tổ sư, tổ nghề, được suy tôn làm Thành hoàng làng.

+ Nguyên nhân của đặc điểm trên, suy cho cùng do ảnh hưởng của tâm thức văn hóa của các cộng đồng cư dân Việt; do cơ tầng văn hóa của Việt Nam được hình thành lâu dài, lại trải qua quá trình mưu sinh đầy gian nan, vất vả; do cuộc đấu tranh dai dẳng, khốc liệt chống các thế lực ngoại xâm quy định.

- Thành hoàng ở Việt Nam gần gũi, gắn bỏ với cuộc sống thường nhật của nhân dân

Thần linh của người Việt không phải là những đấng siêu nhiên, tồn tại đâu đó trong vũ trụ, mà là sống bên cạnh con người, có khi hóa thân thành con người, để cưu mang giúp đỡ phù hộ, độ trì cho người lương thiện, trừng phạt kẻ bất lương. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm trên đây trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trong tín ngưỡng thờ mẫu, thờ anh hùng dân tộc và đương nhiên trong cả tín ngưỡng thờ Thành hoàng. Khi cuộc sống gặp khó khăn, các vị vua thường lập đàn cầu đảo sự trợ giúp của thần linh; còn người dân cũng thực hiện các nghi thức thờ phụng để cậy nhờ cầu khấn các vị thần Thành hoàng, các vị gia tiên.

+ Nhiều người được tôn làm Thành hoàng là những người mà khi sống có quan hệ đặc biệt với xóm làng. Họ có thể là người có công giúp dân làng trong sản xuất, chống thiên tai, dịch bệnh hay giặc dã. Có người mặc dù không được giới cầm quyền thừa nhận thậm chí gọi là “tà thần”, song họ vẫn được dân chúng ngưỡng mộ, tôn sùng. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam do đó trở thành tín ngưỡng của các tầng lớp dân cư, tồn tại và trải rộng tới khắp các miền quê.

- Tin ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam tồn tại đan xen với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng đan xen với tín ngưỡng thờ thần rất phổ biến ở Việt Nam.

+ Sự đan xen này thể hiện rõ tại các cơ sở thờ tự. Trước kia thần Thành hoàng được thờ trong đền, miếu, cũng có thần được thờ cả trong chùa của Phật giáo, theo quan niệm “Tam giáo đồng nguyên”. Sang thế kỷ thứ XV, nhà nước phong kiến với những ảnh hưởng mạnh của Nho giáo, đã kéo theo sự ra đời của ngôi đình. Một số đình không chi là công sở của nhà nước mà còn thờ cả Thành hoàng; là trung tâm diễn ra các lễ hội của dân địa phương.

+ Đối tượng thờ phụng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng rất đa dạng, hay bắt gặp nhất là Sơn thần, Thủy thần, Nhiên thần, Nhân thần. Tuy nhiên, nhân thần vẫn là loại Thành hoàng có số lượng nhiều nhất. Đáng chú ý là thần linh trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng được vua phong và phân cấp quản lý, có định ra các định chế cụ thể cho việc tế lễ. Đó là cái lõi của Thành hoàng theo kiểu Trung Hoa nhằm thể hiện uy quyền tuyệt đối của nhà vua - Thiên tử - không chỉ đối với con người, sông núi mà cả với bách thần. Như vậy, ngay cả niềm tin tín ngưỡng cũng bị chế định bởi lợi ích của tập đoàn cầm quyền và có tính giai cấp.

Khi xâm nhập vào Việt Nam, trong thời kỳ chính quyền phong kiến chưa đủ sức vươn tới kiểm soát một cách chặt chẽ các chốn thôn quê, thì việc nhà vua sắc phong Thành hoàng chỉ rất hãn hữu. Nhưng bắt đầu từ thời Hậu Lê, khi Nho giáo được đề cao, khi sức mạnh của chính quyền nhà nước phong kiến đã vươn tới khắp các vùng miền quê, thôn dã thì sắc phong thần trở nên phổ biến, thường xuyên. Vì vậy kể từ thời Hậu Lê đến triều Nguyễn, tín ngưỡng thờ Thành hoàng có cơ sở, điều kiện hơn để phát triển.

Hàng năm trong các làng xã, các hội lễ được tổ chức, quy tụ mọi tầng lớp dân cư mà đối tượng thiêng trong lễ hội có liên quan trực tiếp đến các Thành hoàng làng. Những lễ hội đó thực sự đã trở thành một mô thức văn hóa của cộng đồng cư dân nông nghiệp, góp phần làm mờ nhạt sự phân chia đẳng cấp trong xã hội và khoảng cách giữa thần và người.

ĐỪNG VÌ NGHE LẠI MẤY CÂU CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH MÀ ĐÁNH GIÁ BẢN CHẤT CỦA QUÂN ĐỘI!

 “Quân đội là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhận dân, không phải để đem ra bàn luận đi hay không đi, dám hay không dám”


Sự việc quân nhân Trần Đức Đô tử vong là vô cùng đáng tiếc đối với gia đình và đơn vị. Hiện cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, sau khi sự việc xảy ra, đã có rất nhiều luồng thông tin, hình ảnh, video clip, tin, bài viết chưa chính xác được đăng tải, lan truyền trên Internet, mạng xã hội... làm phức tạp tình hình, gây mất ổn định tại địa phương. Vì vậy, mỗi chúng ta những người dùng mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo, có nhận thức, thái độ đúng đắn, không để các đối tượng xấu xúi giục, kích động dẫn tới hành vi trái quy định. Nên nhớ rằng mọi vụ án phải dựa vào chứng cứ, kết quả khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, không thể “PHÁ ÁN ONLINE” được. Hãy thật bình tĩnh phán xét, đừng bị hiệu ứng đám đông dẫn dắt để rồi chính mình lại phải gánh hậu quả từ sự cả tin của mình.

Riêng tôi là một người đã từng thực hiện nghĩa vụ quân sự xin chia sẻ một số cảm nhận của bản thân. Có thể thấy thời gian 2 năm trong quân ngũ không quá dài, nhưng nếu ai đã từng đi lính thì chắc hẳn đó là những ngày tháng khó quên nhất trong đời, đó thật sự là những ngày tháng đầy ắp kỷ niệm. Trên mạng xã hội và đâu đó thỉnh thoảng lại có câu “Lính cũ bắt nạt lính mới”, “rồi mất đoàn kết này nọ”, “vào lính kinh khủng lắm”… Tự dưng tôi thấy chảnh lòng vì những lời nói, những nhận xét mang tính phiến diện, không đúng sự thật, thậm chí mang hàm ý xúc phạm, hạ bệ cá nhân, tổ chức… được phát ra từ miệng những người chưa một ngày đứng trong hàng ngũ quân đội, thậm chí những người mà gia đình “Ba đời không ai đi lính”, đáng buồn hơn là những lời phát ra từ những nguồn phản động như “BBC, RFA, Việt Tân…” mà cộng đồng mạng nhiều người vẫn tin sái cổ, phải công nhận nhiều người nhẹ dạ thế. 

Với tôi những ngày trong quân ngũ là những ngày rất đặc biệt, với những tình cảm rất đặc biệt và thiêng liêng nữa; tôi còn nhớ ngày mới nhập ngũ chân ướt, chân ráo vào đơn vị vừa đặt ba lô xuống là các anh chỉ huy đơn vị hỏi han, bày vẽ chu đáo, tận tình từng cái nhỏ nhất; các anh quan tâm, chăm lo từng bữa cơm, giấc ngủ, thậm chí có đêm khi anh em đã ngủ vẫn thấy chỉ huy đơn vị đi kiểm tra vén màn, để lại dép vào đúng vị trí; những lúc trái gió, trở trời có đồng chí bị cảm là các anh lại lo lắng như những người bố, người mẹ trong gia đình vậy, cho quân y kiểm tra, tự tay nấu từng bát cháo để anh em ăn cho chóng khỏi. Nhớ nhất là những tháng cuối cùng trong đời quân ngũ, những ngày hành quân diễn tập đầy vất vả, khó khăn, hành quân xa, mang vác nặng, lúc đó thật sự thấm thía về tình cảm thiêng liêng, tình đồng chí đồng đội; có những lúc vì hành quân xa mệt mỏi, chân rộp, lưng đau, những hễ có ai trong tiểu đội đau hơn là anh em trong tiểu đội, không ai bảo ai người cầm giúp khẩu súng, người xách hộ ba lô, người chia ngụm nước, miếng lương khô, động viên nhau cố gắng để chiến thắng bản thân, đi bằng ý chí không để ai bị tụt lại phía sau… đó là những tình cảm thiêng liêng, không chút so đo tính toán, thứ tình cảm mà có lúc hơn cả tình ruột thịt, để rồi khi mỗi nhiệm vụ hoàn thành anh em đồng chí, đồng đội lại vui mừng, hãnh diện; lại nhớ những đêm sinh nhật đồng đội cả đơn vị chung nhau câu hát “chúc mừng sinh nhật”, cùng chia nhau niềm vui, nỗi buồn, chung nhau khúc quân hành người lính.

Rồi ngày tháng dần trôi tôi và đồng đội cùng xuất ngũ, trở lại cuộc sống thường nhật, với bao lo toan bộ bề cuộc sống, người nam, kẻ bắc để mưu sinh với trăm nghề. Mỗi năm, thậm chí 2,3 năm anh em đồng ngũ mới có cơ hội gặp lại nhau. Cảm xúc ngày xưa lại ùa về, mừng mừng, tủi tủi, ôm lấy nhau trong tình thương yêu, một tình thương yêu đặc biệt “Tình đồng chí”. 

Thật sự 2 năm quân ngũ ngẫm lại thật sự quá nhanh, với bao kỷ niệm được ghi lại, yêu thương nhau còn không hết, thời gian đâu mà đánh với đập nhau như lời một số trang mạng hay nói… mà nếu có thì cũng chỉ là một vài lời cãi vã qua lại, đó là chuyện dễ hiểu bởi vì các bạn biết đấy trong gia đình có 3,4 người mà đi ra, đi vào còn xảy ra bất hòa, có những gia đình có mỗi người con mà còn không bảo ban được, còn hư hỏng; huống hồ quân đội mỗi đơn vị quản lý hàng trăm, thậm chí hàng nghìn thanh niên, mỗi người một tính, nên xảy ra va chạm, cãi vã cũng là dễ hiểu, chỉ là sau khi chỉ huy phân tích, giảng giải rồi hiểu ra và thêm yêu thương nhau hơn. Vậy mà đâu đó những lời bịa chuyện, những câu chuyện không có thật, được một số người không một ngày trong quân ngũ thêu dệt, hư cấu lên lại được rất nhiều người hùa theo để nói thế này thế khác, mặc dù bản thân chẳng hiểu đó là vấn đề gì và xuất phát từ đâu. Hãy học cách đặt mình vào vị trí của người khác để biết trân trọng và quý mến những gì họ đang hàng ngày, hàng giờ để đóng góp cho tổ quốc, cho xã hội, không thể tránh được câu chuyện “con sâu làm rầu nồi canh” lúc này, lúc khác sẽ có, nhưng nếu có thì những con sâu đó sớm muộn rồi cũng sẽ bị loại bỏ ra khỏi hàng ngũ; nhưng đừng bao giờ quy chụp đó là bản chất, đó là cái chung của một tổ chức, một tập thể “Quân đội là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không phải để đem ra bàn luận đi hay không đi, dám hay không dám”./.


Yêu nước ST.

Lễ nghi của Công giáo

 


Những ngày lễ của Công giáo (theo dương lịch) gồm có:

- Lễ trọng: có 6 ngày trong năm cụ thể là: 1. Lễ Noel (Giáng sinh), ngày 25/12; 2. Lễ phục sinh - Chúa sống lại (từ 21/3 - 25/4); 3. Lễ Chúa Giêsu lên trời, sau lễ phục sinh 40 ngày; 4. Lễ Chúa Thánh thần hiện xuống, sau lễ Chúa Giêsu lên trời 10 ngày; 5. Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời (15/8); 6. Lễ các Thánh (1/11).

- Lễ thông thường (những ngày lễ mà Giáo hội không buộc, nhưng tín đồ vẫn tích cực tự nguyện tham gia để được hưởng nhiều ơn phúc): 1. Lễ Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội, ngày 8/12; 2. Lễ Tro (đầu mùa chay), kỷ niệm Chúa Giêsu chuẩn bị vào thành Jerusalem; 3. Lễ Lá (ngày chủ nhật đầu Tuần Thánh), kỷ niệm Chúa Giêsu vào thành Ịerusalem được dân chúng rải lá trên đường đón tiếp; 4. Lễ Tuần Thánh (từ chủ nhật lễ lá đến chủ nhật lễ phục sinh), kỷ niệm Chúa Giêsu chịu khổ, chịu nạn, chết đi rồi sống lại; 5. Lễ Thánh tông đồ Phêro và Phaolo (29/6); 6. Lễ cầu nguyện các linh hồn nơi luyện ngục (2/1l)..

 

Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong quá trình đổi mới

 


- Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

- Nhận thức về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; về quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát triển.

- Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

- Chủ trương, giải pháp trong chiến lược quốc phòng, quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường.

 - Kết hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

 - Đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm.

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam

 


Tục thờ Thành hoàng ở Trung Quốc đã có từ thời cổ đại và thần Thành hoàng được xem như vị thần bảo hộ thành trì, tức là bảo vệ bộ máy quan liêu và cư dân trong thành. Còn những thôn ấp ngoài thành thì có thần thổ địa bảo vệ và trong gia đình có thần thổ công.

Tín ngưỡng Thành hoàng ở nước ta có từ thời Bắc thuộc. Theo GS Nguyễn Duy Hinh: “Lý Nguyên Gia xây dựng La Thành năm 823, dựng đền thờ Tô Lịch làm Thành hoàng. Năm 866 Cao Biền lại phong Tô Lịch làm Đô phủ Thành hoàng Thần quân. Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long lại phong Tô Lịch làm Quốc Đô Thăng Long Thành hoàng đại vương. Thi Trần phong thêm các mỹ tự Bảo Quốc, Hiền Linh, Định Bang cho Thành hoàng Tô Lịch”[1]. Việt điện u lỉnh cho biết có 2 vị Thành hoàng khác: Đằng Châu và Bạch Mã.

- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng có nguồn gốc ban đầu là thần bảo hộ thành trì của vua quan, rồi sau đó được cải biến, mở rộng trong đời sống dân cư thành thần bảo hộ xóm làng.

Tín ngưỡng này trước hết xuất phát không phải vì lợi ích của “thứ dân”, mà nó chỉ làm cho thiêng liêng hơn, thần bí hơn vị thế, quyền uy của tầng lóp trên của xã hội. Từ ngày nước ta độc lập tự chủ, tín ngưỡng thờ Thành hoàng vẫn được các vua chúa Việt Nam duy trì. Dân ta tin rằng, đất có thổ công, sông có hà bá, cảnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, do vậy phải thờ phụng để thần phù hộ, che chở cho dân, vì thế việc thờ cúng thần ngày càng phát triển.

Từ một thứ thần linh bảo hộ thành trì mang đậm nét Trung Hoa, ở xã thôn Việt Nam, tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã trở thành một tín ngưỡng mang tính cộng đồng chung của làng xã người Việt, một thứ thần linh không chỉ có công hộ quốc mà còn ”bảo dân". Đến trước triều Nguyễn, tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước ta đã trở nên phổ biến cả ở ngoài Bắc và cả ở trong Nam. Song trên thực tế, tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở phía Bắc và phía Nam cũng có những dị biệt. Cư dân ở phía Bắc đã có quá trình định cư lâu đài, ổn định, vì vậy, số lượng thần được thờ nhiều hơn và phần nhiều đều có thần tích. Nhưng càng xuống phía Nam, Thành hoàng làng rất ít có “ngọc phả”, nên phần nhiều những nơi thờ tự chỉ đề một chữ “Thần”.

- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam có hai dòng rõ rệt

+ Một dòng mang đậm nét Trung Hoa, đó là những vị thần huyền bí, tối linh, hành trang mờ mịt.

+ Một dòng được Việt hóa thành Thành hoàng làng, với cả hai ý nghĩa: Bảo quốc và hộ dân. Thần Thành hoàng Việt Nam có gốc tích gn bó, gần gũi, phù hộ độ trì cho dân chúng, không còn nguyên vẹn là các thần linh chi bảo vệ thành trì của vua chúa, chống lại các cuộc nổi dậy của nông dân và nhằm tỏ rõ uy quyền của nhà vua.



[1] Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1998, tr.31.

Xây dựng tốt hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc

 


- Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc, Ủy ban Dân tộc đã làm đầu mối, phối hợp hỗ trợ với ban/phòng dân tộc của các địa phương xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc như: dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam; về tình hình kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc thiểu số, tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số...

- Đây là cơ sở đữ liệu được thu thập, tổng hợp từ thực tiễn tình hình dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam. Các thông tin, dữ liệu này có công cụ phân tích dữ liệu theo khung đánh giá chính sách, có phân loại cụ thể chính sách theo tộc người, theo vùng và theo lĩnh vực. Vì vậy, hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu rất hữu hiệu trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Giáo luật công giáo

 


 Giáo luật, lễ nghi và thiết chế của Giáo hội Công giáo được ghi trong bộ Giáo luật năm 1983 bao gồm 1.752 điều (đề cập đến cả về hành đạo, quản đạo và truyền đạo). Trong đó, về giáo luật có một số vấn đề chủ yếu sau:

- Mười điều răn của Thiên Chúa: 1. Phải thờ kính Thiên Chúa trên hết mọi sự; 2. Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc làm phàm tục tầm thường; 3. Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; 4. Thảo kính cha mẹ; 5. Không được giết người; 6. Không được tà dâm; 7. Không được gian tham lấy của người khác; 8. Không được làm chứng dối, che giấu sự gian dối; 9. Không được ham muốn vợ (hoặc chồng) người khác; 10. Không được ham muốn của cải bất minh.

- Sáu điều răn của Giáo hội: (1) Xem lễ ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc; (2) Kiêng việc xác ngày chủ nhật; (3) Xưng tội mỗi năm một lần; (4) Chịu lễ mùa phục sinh; (5) Giữ chay những ngày quy định; (6) Kiêng ăn thịt những ngày quy định.

- Bảy phép Bí tích: (1) Bí tích rửa tội; (2) Bí tích thêm sức; (3) Bí tích giải tội; (4) Bí tích Thánh thể (Phép mình Thánh Chúa); (5) Bí tích xức dầu thánh (xức dầu bệnh nhân); (6) Bí tích Truyền chức (giám mục, linh mục, phó tế); (7) Bí tích hôn phối.