Thứ Ba, 6 tháng 7, 2021

 

Bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng

của văn hóa Việt Nam hiện nay

 

Sự thống nhất trong đa dạng là đặc trưng, đồng thời là quy luật phát triển, là tiềm năng, sức mạnh nội sinh, tính hấp dẫn của nền văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, đặc trưng đó cùng bản sắc văn hóa dân tộc đang đối mặt với nhiều thách thức, có nguy cơ bị mai một, biến dạng. Vì thế, xử lý đúng đắn, hài hòa mối quan hệ giữa tính thống nhất và tính đa dạng của văn hóa Việt Nam là vấn đề cơ bản có ý nghĩa thực tiễn cấp bách.

1- Bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam là một nội dung cơ bản của xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Tính thống nhất và tính đa dạng phản ánh sâu sắc mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa dân tộc - quốc gia Việt Nam và sắc thái văn hóa dân tộc/tộc người, văn hóa địa phương. Về bản chất, theo quan điểm mác-xít, đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Bản sắc văn hóa là nét đẹp, tinh hoa, các giá trị tiêu biểu và đặc trưng của một nền văn hóa nhất định, được hình thành và phát triển dưới tác động của các yếu tố lịch sử, tự nhiên, xã hội... Các đặc trưng văn hóa ấy mang tính bền vững, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết bản sắc phải thông qua vô vàn biểu hiện sắc thái văn hóa. Bản sắc văn hóa là những nét đặc trưng, độc đáo và cơ bản nhất để nhận diện một nền văn hóa và để phân biệt nền văn hóa này với một nền văn hóa khác.

Bản sắc văn hóa kết tinh ở hệ giá trị văn hóa dân tộc, thấm sâu vào mọi hoạt động vật chất, tinh thần, phong tục, tập quán, sinh hoạt cá nhân, mang diện mạo, trí tuệ, tâm hồn, phong cách của các dân tộc hay cộng đồng quốc gia - dân tộc và được tiếp nối, phát huy, phát triển trong các thời kỳ lịch sử. Bản sắc văn hóa cũng chính là tài sản tinh thần chung, là nguồn sức mạnh giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách khắc nghiệt để vươn lên trong hành trình phát triển không ngừng.

Tuy nhiên, quá trình phát triển luôn diễn ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa. Nếu nền văn hóa của dân tộc - quốc gia nào có bản lĩnh và năng lực chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa ngoại sinh để chuyển hóa thành yếu tố nội sinh thì bản sắc văn hóa của dân tộc - quốc gia đó sẽ được bảo tồn, phát huy và không ngừng bồi đắp những giá trị mới; ngược lại, bản sắc văn hóa sẽ bị mai một, phai nhạt, thậm chí đứng trước các mối đe dọa an ninh văn hóa và nguy cơ bị “xâm lăng văn hóa”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc chung sống trên đất nước Việt Nam được vun đắp qua hàng nghìn nǎm lịch sử. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống...

Sắc thái văn hóa là hình thức biểu hiện riêng có của một nền văn hóa nhất định. Nếu như bản sắc văn hóa (cái chung) là cái tương đồng, đồng quy, thì sắc thái văn hóa (cái riêng) là cái khác biệt, cái đa dạng. Các sắc thái văn hóa tuy khác nhau nhưng đều xoay quanh một trục nhất định là bản sắc văn hóa, cùng tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó người Kinh chiếm đa số (chiếm 85,3% dân số cả nước); 53 dân tộc còn lại có 14,123 triệu người (chiếm 14,7% dân số cả nước). Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú và sinh sống thành cộng đồng, chủ yếu ở miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Hình thái cư trú giữa các dân tộc là phân tán và xen kẽ với sắc thái văn hóa rất phong phú, đa dạng.

Các dân tộc trên lãnh thổ nước ta dù tiếng nói, phong tục, tập quán khác nhau, nhưng đều là những bộ phận của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam, cùng chung lưng đấu cật, đoàn kết đấu tranh chống thiên tai, địch họa để dựng nước và giữ nước. Trên cơ sở “mẫu số chung” đó, những sắc thái văn hóa riêng có của từng dân tộc được định hình, phát triển và bổ sung cho nhau, tạo nên tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

2- Xử lý mối quan hệ giữa củng cố, nâng cao ý thức quốc gia - dân tộc và tôn trọng ý thức dân tộc/tộc người là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam.

Ý thức quốc gia - dân tộc là tổng hòa những tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí của mọi cộng đồng dân cư cùng cư trú trên lãnh thổ một quốc gia - dân tộc, cùng chung lợi ích, lịch sử, bản sắc văn hóa và các biểu tượng của quốc gia - dân tộc (lãnh tụ, quốc kỳ, quốc ca...). Ý thức quốc gia - dân tộc là một bộ phận cấu thành ý thức xã hội, được hình thành, bồi đắp gắn với quá trình dựng nước và giữ nước; là một động lực tinh thần cơ bản cho đoàn kết các dân tộc, các giai cấp, tầng lớp, thực hiện các sứ mệnh của quốc gia - dân tộc; là nhân tố có ý nghĩa hàng đầu bảo đảm sự sinh tồn và phát triển của đất nước.

Ý thức quốc gia - dân tộc Việt Nam được hình thành, vun đắp và phát triển bởi các thế hệ người dân Việt Nam và là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là khi phải ứng phó với thiên tai, địch họa, hay những cuộc khủng hoảng quy mô toàn cầu... Ý thức quốc gia - dân tộc Việt Nam thể hiện ở tình yêu nước; lòng tự hào, tự tôn dân tộc; tinh thần xả thân, sẵn sàng hy sinh cho độc lập, tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; ý thức về cội nguồn, về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao tiềm lực và khẳng định vị thế của đất nước.

Trong quản lý đất nước, giai cấp cầm quyền tiến bộ luôn tìm sự thống nhất giữa ý thức hệ giai cấp với ý thức quốc gia - dân tộc, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên lợi ích cục bộ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; luôn ý thức rõ trách nhiệm, sứ mệnh lịch sử của chính mình, đặt lợi ích quốc gia  - dân tộc lên trên hết, trước hết, lợi ích giai cấp phải phục tùng lợi ích quốc gia  - dân tộc. Nhờ đó mà Đảng đã quy tụ, đoàn kết, tập hợp được mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và ngày nay là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hạnh phúc.

Ý thức dân tộc/tộc người là những tình cảm, tâm lý tộc người, thể hiện đặc điểm văn hóa của các dân tộc/tộc người khác nhau. Trong lịch sử hình thành và phát triển, mỗi cá nhân vừa là thành viên của một quốc gia  - dân tộc, vừa là thành viên của cộng đồng dân tộc/tộc người nhất định. Tính dân tộc/tộc người chi phối ý thức, tình cảm, tâm lý của mỗi cá nhân và khi giao tiếp, quan hệ với một thành viên dân tộc/tộc người khác, thường biểu hiện bột phát, trực tiếp, rõ rệt. Ý thức dân tộc/tộc người thể hiện ở ý thức về tên tự gọi, về tiếng mẹ đẻ và các đặc trưng văn hóa tương đối bền vững. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, văn hóa dân tộc/tộc người là nền tảng từ đó nảy sinh ý thức dân tộc/tộc người. Khi văn hóa dân tộc/tộc người mai một thì ý thức dân tộc/tộc người mất đi và chính dân tộc/tộc người đó cũng bị tàn lụi. Ý thức dân tộc/tộc người chân chính góp phần hình thành ý thức quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa ý thức dân tộc/tộc người dễ đẩy tới bệnh hẹp hòi, vị kỷ, thậm chí khi bị các thế lực xấu lợi dụng, kích động dễ chuyển hóa thành chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đi ngược lại lợi ích chung của quốc gia - dân tộc và gây tổn hại đến chính lợi ích từng dân tộc/tộc người.

Các dân tộc cư trú trên lãnh thổ nước ta luôn đoàn kết, tương trợ, liên hiệp, giúp đỡ nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ đất nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia-rai hay Ê-đê, Xơ-đăng hay Ba-na... đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Như vậy, dù mang những ý thức dân tộc/tộc người riêng, nhưng cộng đồng 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam đều chung một ý thức quốc gia - dân tộc, đều chung sức, đồng lòng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ý thức về quốc gia - dân tộc, tình cảm yêu nước, trách nhiệm công dân là mẫu số chung để đoàn kết mọi người dân Việt Nam, dù khác nhau về thành phần dân tộc, giai cấp, tôn giáo.

Trong sinh hoạt đời thường vốn chịu nhiều ràng buộc của phong tục, tập quán, văn hóa địa phương,... thì ý thức dân tộc/tộc người bao giờ cũng thể hiện rõ nét với những sắc thái văn hóa đa dạng. Khi đất nước phải đối mặt với các nguy cơ, mối đe dọa mất - còn thì ý thức quốc gia - dân tộc thể hiện nổi bật, tạo sức mạnh to lớn để liên kết cộng đồng các dân tộc/tộc người. Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mà thực tiễn gần nhất là cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 đã chứng minh ý thức quốc gia - dân tộc Việt Nam luôn được đặt lên trên hết, trước hết, trở thành cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh nội sinh giúp dân tộc ta vượt qua khó khăn, thử thách.

Hiện nay, có thể thấy, giữa các dân tộc, niềm tin vào sự nghiệp đổi mới đất nước và con đường lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng không có sự khác biệt; song do năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ còn bất cập, trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, rào cản của địa lý, ngôn ngữ, sự chống phá của các thế lực thù địch..., làm cho việc tiếp nhận và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không đồng đều, có sự phân hóa theo mức độ nhanh - chậm, nông - sâu, rộng - hẹp. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển... Chú trọng tính đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc”; qua đó, tạo động lực phát triển các vùng dân tộc thiểu số trên cả nước; tăng cường tính thống nhất giữa ý thức quốc gia  - dân tộc với ý thức dân tộc - tộc người. Đây là yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trên cơ sở quán triệt và thực hiện đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm công dân.

3- Tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam gắn chặt giữa bảo đảm sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tăng cường vị thế, sức mạnh tổng hợp quốc gia với phát huy lợi thế của tính đa dạng về mặt địa lý, văn hóa, xã hội và nhân văn của từng vùng, địa phương, địa vực.

Lãnh thổ quốc gia không chỉ chứa đựng các cấu trúc vật lý, mà còn là một cấu phần của nền văn hóa quốc gia - dân tộc, bởi quá trình hình thành lãnh thổ luôn in đậm dấu ấn lịch sử - văn hóa của cả dân tộc, của cộng đồng cư dân, kết tinh thành quả lao động, chiến đấu của con người, nhiều khi phải trả giá bằng cả xương máu của nhiều thế hệ.

Địa vực là nơi con người hằng ngày cư trú, lao động, sản xuất, sinh hoạt, hình thành nên những khối cộng cư, cộng lợi, cộng cảm và cộng mệnh, mang tính địa phương rất đa dạng. Các địa vực hình thành nên những không gian văn hóa gắn với cuộc sống lao động, sản xuất, chiến đấu, sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần của con người, thường được thiêng hóa và được dân gian gọi là Đất Mẹ.

Lãnh thổ quốc gia - dân tộc Việt Nam định hình với cấu trúc và hình thái như ngày nay là kết quả của hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước. Từ những nhà nước đầu tiên gắn với các nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo đến Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay là một tiến trình lịch sử  - tự nhiên với nhiều thăng trầm để định hình nên không gian lãnh thổ thống nhất, toàn vẹn, gắn với xương máu, trí tuệ, công sức từ thế hệ này đến thế hệ khác. Trong không gian lãnh thổ đó, cộng đồng 54 dân tộc, dù đến sớm hay muộn, đều coi nhau là anh em của đại gia đình Việt Nam, có cùng chung một cội nguồn, đoàn kết, chung lưng đấu cật để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được quản lý bởi một nhà nước thống nhất, thay mặt nhân dân thực thi chủ quyền quốc gia.

Lãnh thổ quốc gia bao gồm lãnh thổ đất liền, hải đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời, được xác định bằng biên giới quốc gia. Bảo vệ sự thống nhất, toàn vẹn, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong đường lối đối nội và đối ngoại, là lợi ích cơ bản của cộng đồng 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Lãnh thổ quốc gia có miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển và hải đảo gắn với tính đa dạng của điều kiện địa lý, hệ sinh thái, hình thái cư trú, mô hình sinh kế. Trong xã hội truyền thống, nhóm cư dân ở đồng bằng gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, phần nào khai thác và nuôi trồng thủy sản; nhóm cư dân miền núi, trung du gắn với nền nông nghiệp nương rẫy, phần nào khai thác, tận dụng tài nguyên rừng; nhóm cư dân miền biển gắn với đánh bắt và nuôi trồng hải sản, khai thác các nguồn lợi từ biển. Ngay kể cả nhóm cư dân miền núi, nơi tập trung phần lớn các dân tộc thiểu số, tính đa dạng vẫn thể hiện ở sự khác nhau giữa địa vực cư trú gắn với phương thức canh tác của cư dân rẻo thấp, rẻo giữa và rẻo cao. Cư trú và sinh kế dựa vào điều kiện tự nhiên đa dạng góp phần hình thành nên sắc thái văn hóa đa dạng từng tiểu vùng địa lý, từng dân tộc, từng cộng đồng dân cư, thể hiện trong cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, như ăn, mặc, ở, sinh hoạt, sản xuất, giao thông, liên lạc...

Trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, khi bị ngoại bang xâm lược, nhìn chung, lãnh tụ của các cuộc khởi nghĩa đều lấy địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa làm căn cứ địa, dấy nghiệp khôi phục nền độc lập dân tộc và lãnh thổ quốc gia, quy tụ xung quanh đồng bào các dân tộc, hợp thành lực lượng rộng lớn, đoàn kết vững chắc. Khi độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia được khôi phục thì các dân tộc đều ý thức sâu sắc về tinh thần đoàn kết, hợp lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, sẵn sàng đánh bại mọi thế lực xâm lược để bảo vệ, củng cố nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc.

Tính đa dạng của tiểu vùng, địa vực cư trú, địa bàn sản xuất củng cố tính thống nhất của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Lợi thế của từng vùng, miền được bổ sung cho nhau tạo nên một chỉnh thể tương hỗ. Ngược lại, tính thống nhất của lãnh thổ quốc gia - dân tộc bảo đảm cho tính đa dạng của mỗi địa vực, địa bàn được khai thác, phát huy đầy đủ, nhất là các lợi thế so sánh về tiềm năng, sức mạnh để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4- Bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa bao hàm cả tăng cường giáo dục tình cảm, niềm tin, lòng tự hào đối với lãnh tụ của quốc gia - dân tộc, của chế độ chính trị, đi đôi với chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đa dạng ở các cấp, nhất là cán bộ địa phương thuộc các dân tộc (cả đa số và thiểu số) và phát huy vai trò của già làng, trưởng bản.

Lãnh tụ quốc gia - dân tộc không chỉ là người đứng đầu đất nước, mà còn là biểu tượng tầm cao của tư tưởng, trí tuệ, kết tinh tinh hoa văn hóa, phản ánh ý chí và đại diện cho lợi ích của toàn thể quốc gia - dân tộc, luôn vượt lên tính cục bộ địa phương hay tính dân tộc/tộc người, trở thành hạt nhân quy tụ, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thống nhất lòng người, dẫn dắt quốc dân.

Vào thời kỳ tiền hiện đại, lãnh tụ quốc gia - dân tộc chính là các bậc minh quân với cả tài năng, đạo đức, có tinh thần chăm lo cho muôn dân, tập hợp xung quanh mình thủ lĩnh và đồng bào các dân tộc để dựng nước và giữ nước.

Vào thời kỳ hiện đại, từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, dựng xây chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta tôn vinh là lãnh tụ vĩ đại. Chính dân tộc Việt Nam anh hùng đã sản sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta - như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại lễ truy điệu Người đã khẳng định. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu, là ngọn cờ bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dẫn dắt cộng đồng các dân tộc Việt Nam đi tới phồn vinh, hạnh phúc.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, mà cụ thể là vai trò lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, gắn với vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; ở đó luôn dung nạp tinh thần, ý chí của toàn thể dân tộc; tiêu biểu cho trí tuệ, ý chí, bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cán bộ địa phương, già làng, trưởng bản các dân tộc, dù mang trong mình sắc thái địa phương đa dạng, nhưng luôn quán triệt tư tưởng của Đảng, thực hiện luật pháp quốc gia thống nhất. Nếu như ở lãnh tụ phản ánh tính thống nhất của quốc gia - dân tộc, thì cán bộ địa phương, già làng, trưởng bản lại thể hiện tính đa dạng. Đặc điểm này trước hết phản ánh ở cơ cấu cán bộ phù hợp với cơ cấu dân cư, cơ cấu dân tộc đa dạng ở từng tỉnh, huyện, xã gắn với trách nhiệm chăm lo xây dựng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Tính đa dạng còn thể hiện ở văn hóa các dân tộc, văn hóa vùng, văn hóa địa phương của đội ngũ cán bộ. Chính tính đa dạng giúp cho cán bộ địa phương, cơ sở khi thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật thống nhất luôn biết cách vận dụng, cụ thể hóa để triển khai có hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên, bản sắc, phong tục, tập quán. Mặt khác, tính đa dạng của điều kiện địa lý - tự nhiên, bản sắc văn hóa, mô hình sinh kế,... của từng địa phương chính là thực tiễn sinh động kiểm nghiệm tính phù hợp của các chủ trương, chính sách, pháp luật; sàng lọc và loại bỏ những chính sách xa rời thực tiễn, không đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, tình cảm của từng cộng đồng; phản hồi để sửa đổi, bổ sung, hiệu chỉnh những chính sách bất cập. Phân cấp, phân quyền trong quản lý khiến cho tính đa dạng được dung nạp đầy đủ vào hệ thống quản lý; khi ban hành chính sách luôn bám sát thực tiễn và khi thực hiện có tính khả thi hơn, khắc phục độ vênh giữa chính sách với thực tiễn.

Tại đơn vị dân cư, già làng, trưởng bản có vai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng. Già làng, trưởng bản từng dân tộc có những nét riêng, nhưng điểm chung là có uy tín đối với cộng đồng dân cư nhờ tri thức địa phương được trao truyền từ đời này qua đời khác, nhờ nắm vững luật tục và phong tục, tập quán, có đạo đức và khả năng thuyết phục để dân tin và làm theo. Vì vậy, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản chính là tôn trọng tính đa dạng của văn hóa, làm cho luật pháp khi đi vào cuộc sống kết hợp nhuần nhuyễn với luật tục, tri thức địa phương kết hợp chặt chẽ với tri thức khoa học. Hiện nay, ở nhiều vùng nước ta (nhất là ở Tây Nguyên), luật tục vẫn giữ vị trí rất quan trọng, kết hợp với luật pháp để quản lý xã hội và bảo đảm an ninh, trật tự tại cộng đồng. Tri thức địa phương là nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong khai thác và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh, trật tự, chăm sóc sức khỏe, lao động, sản xuất... Do đó, tôn trọng tính đa dạng văn hóa dân tộc phải gắn liền với phát huy tri thức địa phương để phục vụ cho quản lý và phát triển kinh tế - xã hội.

5- Tăng cường vai trò của quốc ngữ (tiếng Việt) đi đôi với tôn trọng, phát huy tiếng mẹ đẻ các dân tộc/tộc người trong chính sách ngôn ngữ quốc gia - một nhân tố quan trọng bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa.

Ngôn ngữ là linh hồn của mỗi dân tộc, là tiêu chí cơ bản để phân biệt các dân tộc khác nhau. Ngôn ngữ cũng chính là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nhưng cũng là “vách ngăn” giữa dân tộc này với dân tộc khác.

Ở nước ta, tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia (quốc ngữ) và các dân tộc nhìn chung đều có ngôn ngữ của mình (tiếng mẹ đẻ). Ngoài chữ quốc ngữ (dạng viết của tiếng Việt), nước ta có 26 dân tộc thiểu số có chữ viết riêng (như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai, Chăm, Khmer, Tày, Nùng, Thái, Mông...). Mọi công dân trên đất nước Việt Nam, dù thuộc dân tộc nào, cũng có trách nhiệm và quyền lợi sử dụng quốc ngữ trong các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Chỉ trên cơ sở sử dụng thông thạo quốc ngữ mới giúp nâng cao dân trí, mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, xây dựng ý thức quốc gia - dân tộc thống nhất. Về tiếng mẹ đẻ của các dân tộc, Điều 42, Chương II của Hiến pháp năm 2013 khẳng định, công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp. Như vậy, tôn trọng tiếng mẹ đẻ góp phần bảo vệ tính đa dạng của văn hóa các dân tộc.

Thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự mở rộng các hoạt động giao lưu văn hóa, việc học tập, sử dụng quốc ngữ ở các dân tộc thiểu số ở nước ta ngày càng phát triển, tình trạng mù chữ dần được khắc phục. Cùng với đó, ngôn ngữ của các dân tộc cũng được tôn trọng, sử dụng, bảo tồn thông qua việc dạy trong một số trường với chính sách song ngữ (dạy cả quốc ngữ và tiếng mẹ đẻ của một số dân tộc). Một số phương tiện thông tin đại chúng, như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, đài phát thanh - truyền hình của một số tỉnh đã có kênh, có chương trình dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số; qua đó vừa tuyên truyền kịp thời những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới đồng bào các dân tộc thiểu số, vừa góp phần nâng cao nhận thức của đồng bào, xóa dần khoảng cách và sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc; vừa bảo tồn, phát huy ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Hiện nay, ở vùng Tây Bắc, một số nơi đã tổ chức dạy và thực hành chữ cổ của người Tày, người Dao, người Thái, người Sán Dìu,... Các câu lạc bộ học chữ của một số dân tộc phát triển khá mạnh ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình... Nhiều địa phương trên cả nước đã sáng tạo trong việc thành lập các câu lạc bộ giữ gìn tiếng nói gắn liền với nhu cầu thực hành tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống, không chỉ thu hút thành viên các dân tộc thiểu số, mà cả thành viên là người Kinh tham gia; qua đó củng cố tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc.

Tuy nhiên, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tác động mạnh mẽ đến việc giữ gìn di sản ngôn ngữ các dân tộc, chữ quốc ngữ. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, chưa hợp lý về nội dung, hình thức giảng dạy; đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc còn hạn chế về số lượng và chất lượng, dẫn đến việc dạy và học chưa hiệu quả. Nhiều dân tộc thiểu số hiện nay ngày càng ít sử dụng tiếng mẹ đẻ. Chữ quốc ngữ có hiện tượng bị biến dạng, bị làm cho méo mó, lai căng (việc sử dụng “tiếng lóng”, ngôn ngữ quảng cáo sử dụng không đúng quy cách...).

Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay trong chính sách ngôn ngữ ở nước ta là cần phân loại để có hướng bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cho phù hợp với thực tiễn. Việc triển khai và hoàn thiện chính sách ngôn ngữ cần gắn với quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó có việc nâng cao hiệu quả công tác phổ cập tiếng Việt, chống tái mù chữ ở tất cả các dân tộc thiểu số, đổi mới chương trình dạy học song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số), phát triển hệ thống đào tạo giáo viên giảng dạy song ngữ... Việc bảo tồn và phát huy giá trị của ngôn ngữ, đời sống văn hóa, phong tục, tập quán, di sản văn hóa các dân tộc thiểu số cần được thực hiện trong mối quan hệ biện chứng với ngôn ngữ quốc gia, đời sống văn hóa, phong tục, tập quán, di sản văn hóa của toàn dân tộc Việt Nam. Cần có cơ chế, chính sách đổi mới nội dung và hình thức phát sóng các chương trình giáo dục văn hóa truyền thống đặc sắc trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như nâng cao năng lực cho các phóng viên, biên tập viên các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số. Nâng cao trách nhiệm, ý thức của toàn dân trong việc giữ gìn sự trong sáng và làm giàu tiếng Việt trên cơ sở nói và viết đúng chuẩn mực về phát âm, chính tả, chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp và phong cách ngôn ngữ. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các dân tộc nước ta cần vừa bảo tồn, phát huy tiếng mẹ đẻ, không ngừng học tập tiếng Việt, vừa biết ít nhất một ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu nâng cao trình độ, tiếp thu khoa học - công nghệ, tinh hoa văn hóa nhân loại.

6- Đẩy mạnh giáo dục, nâng cao hiểu biết, tạo ảnh hưởng lan tỏa về những giá trị có tính biểu tượng quốc gia - dân tộc đi đôi với tôn trọng, phát huy các loại hình văn hóa đa dạng của từng cộng đồng dân tộc, địa phương.

Bất kỳ một quốc gia - dân tộc nào cũng có những biểu tượng riêng, như quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, quốc lễ, quốc phục, quốc hoa, quốc tửu, quốc yến... Những biểu tượng này kết tinh giá trị văn hóa, lịch sử, chính trị của mỗi quốc gia, có ý nghĩa cao quý và thiêng liêng, là niềm tự hào, tự tôn dân tộc của mỗi công dân. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là ngay trong các sinh hoạt hằng ngày cũng như trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao..., chúng ta cần làm sao cho bất cứ người dân của bất cứ dân tộc nào trên đất nước ta cũng thấy đó là biểu tượng chung có ý nghĩa thiêng liêng để có ý thức trân trọng, giữ gìn và phát huy. Từ các hoạt động chào cờ gắn với thực hành nghi lễ quốc gia hay nghi lễ chào cờ hằng tuần trong các trường học, các cơ quan, đơn vị, đến hoạt động treo quốc kỳ vào các ngày đại lễ hay trên những tàu, thuyền vươn khơi, bám biển, trên những tuyến biên giới, trên những giàn khoan ngoài đại dương để khẳng định chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, từ giai điệu đến lời ca của bài quốc ca được vang lên trong các kỳ khai mạc đại hội... với hàng triệu trái tim Việt Nam cùng chung nhịp đập Tổ quốc - tất cả đã khơi dậy và lan tỏa những tình cảm thiêng liêng nhất về quốc gia - dân tộc, củng cố tình yêu Tổ quốc, khát vọng dân tộc.

Bên cạnh đó, ý thức quốc gia - dân tộc cũng được bồi đắp thông qua các hoạt động tôn vinh quốc phục (áo dài), quốc hoa (hoa sen) trong các lễ hội, tuần lễ du lịch, tuần lễ thời trang có sự tham gia của đông đảo bạn bè quốc tế, các tuần lễ văn hóa Việt Nam ở nước ngoài... Qua đó, mỗi con người Việt Nam thêm tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc và có ý thức giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế.

Việc tôn trọng và phát huy các loại hình văn hóa đa dạng của từng cộng đồng dân tộc, địa phương có ý nghĩa quan trọng bảo đảm tính đa dạng của văn hóa Việt Nam. Các dân tộc thiểu số nước ta có hệ thống lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa rất phong phú và đặc sắc. Thực tiễn cho thấy, công tác tổ chức cũng như phục dựng các lễ hội truyền thống, di tích lịch sử - văn hóa thời gian qua ở nhiều địa phương trên cả nước chưa đạt hiệu quả cao, chưa phát huy được vai trò chủ thể của người dân, chưa thực sự tạo được sự cộng cảm trong cộng đồng. Nhiều lễ hội xuất hiện một số biến tướng hoặc bị kẻ xấu lợi dụng để kích động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngoài ra, âm nhạc, vũ đạo, trang phục mang bản sắc văn hóa của một số dân tộc đã và đang bị mai một, thậm chí có nguy cơ thất truyền. Thực trạng trên đòi hỏi cần tăng cường công tác bảo tồn và phát huy giá trị các lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế, dần loại bỏ các yếu tố lạc hậu; cần tổ chức hiệu quả công tác kiểm kê, chọn lọc, hướng dẫn đồng bào các dân tộc thiểu số phục dựng các lễ hội truyền thống phù hợp với thuần phong mỹ tục và điều kiện tự nhiên - xã hội, bảo đảm tính dân gian và tính sáng tạo của cộng đồng với tư cách chủ thể văn hóa; phân loại quy mô tổ chức các lễ hội (theo cấp quốc gia hoặc cấp địa phương), tránh tổ chức tràn lan, lãng phí. Hoàn thiện cơ chế bảo tồn, khôi phục và truyền bá các loại hình văn hóa, nghệ thuật, sinh hoạt diễn xướng dân gian, ca múa nhạc dân gian, các trò chơi dân gian gắn với không gian sinh hoạt văn hóa và môi trường lao động của cộng đồng.

Như vậy, có thể khẳng định, văn hóa Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng sắc thái văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc. Tính thống nhất không triệt tiêu tính đa dạng, mà là cơ sở để tính đa dạng được thể hiện phong phú hơn, có môi trường bộc lộ tốt hơn thông qua giao thoa văn hóa, sự học hỏi và tiếp thu lẫn nhau giữa các dân tộc. Tính đa dạng bổ sung, làm phong phú, tăng cường tính thống nhất, làm cho cái riêng luôn được chắt lọc, lựa chọn được phần tinh túy để bồi đắp vào cái chung. Mọi biểu hiện tuyệt đối hóa tính đa dạng mà phủ nhận tính thống nhất, hoặc tuyệt đối hóa tính thống nhất mà phủ nhận tính đa dạng đều dẫn tới sai lầm. Chính vì vậy, bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam đòi hỏi phải được nhận thức thống nhất, phải được thao tác hóa thành những tiêu chí cụ thể để thuận lợi khi nhận thức, giáo dục, hoạch định chính sách cũng như thực hành văn hóa trong đời sống hằng ngày; góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

 

Top of Form

Bottom of Form

 

Đảng viên-

Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bên cạnh việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng cần có các biện pháp quyết liệt đấu tranh với tình trạng gia tăng số lượng các đảng viên- (đảng viên trừ). Đảng viên- là khái niệm quần chúng đặt cho những đảng viên, có vẻ cũng đầy đủ các tiêu chuẩn của người đảng viên nhưng lại không thể hiện được những phẩm chất đó trong cuộc sống. Thông thường, dấu (-) đặt sau danh từ hàm ý rằng còn thiếu tý chút thì đạt. Ví dụ, chấm điểm cho học sinh chẳng hạn. Giáo viên chấm bài cho điểm 5- nghĩa là bài làm về cơ bản đạt được 5 điểm nhưng còn “non non” một chút. Cho điểm 4 thì thiệt thòi cho học sinh nhưng cho 5 thì giáo viên thấy chưa thỏa đáng lắm. Thôi thì cho 5- với mục đích động viên, khuyến khích học sinh phấn đấu trong các bài lần sau. Các tổ chức đánh giá tín nhiệm quốc tế cũng hay dùng dấu (+), (-) trong các bảng xếp hạng của mình. Ví dụ, đánh giá mức độ an toàn tài chính của nước A đạt loại B+ hay B-. Nếu chỉ “non non” một chút so với tiêu chuẩn đạt loại B thì xếp là B- nhưng nếu “non quá” thì xếp B- - hoặc B- - -, “non quá nữa” thì xếp xuống C,… Thế nhưng dấu (-) được đặt sau danh từ đảng viên thì quả thực rất mới lạ và đáng quan tâm. Đấy là trong một lần về quê, gặp lại anh bạn cùng học phổ thông, giờ đã là bí thư chi bộ thôn, sau khi thăm hỏi tình hình quê hương, tôi hỏi: Chi bộ thôn ta bây giờ có tới mấy chục đảng viên thì công tác lãnh đạo, tổ chức hoạt động chắc là thuận lợi? Sau một thoáng do dự, bạn tôi trả lời: Cũng chưa hẳn là thuận lợi, đông thì có đông nhưng không mạnh, còn nhiều đảng viên- (đảng viên trừ) lắm. Tôi ngạc nhiên hỏi: Sao lại đảng viên-? Thôn ta lại sáng tạo ra một danh hiệu nữa cho đảng viên à? Bạn tôi cười, nói: À, đấy là cách gọi nôm na của bà con với những đồng chí mà tiêu chuẩn, điều kiện của người đảng viên thì dường như có đủ, nhưng đó chỉ là hình thức. Còn trong thực tiễn, trong sinh hoạt cũng như trong cuộc sống thì họ lại không thể hiện rõ phẩm chất của người đảng viên. Thấy tôi còn ngơ ngác, bạn tôi tiếp tục: Trong công việc, nhất là việc khó khăn, vất vả, họ né tránh, đùn đẩy. Khi cần tinh thần cống hiến, hy sinh thì họ im lặng, lẫn vào số đông. Trong cuộc sống, họ không thể hiện được tính gương mẫu, tinh thần nêu gương lôi kéo quần chúng như lời Bác dạy: Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Bạn tôi bức xúc nói tiếp: Mới đây thôi, thôn tổ chức họp dân làm đường liên thôn. Nhà nước cho xi măng, cát, sỏi, người dân đóng góp công sức để làm đường. Ai cũng phấn khởi, hăng hái tham gia. Một số người còn tự nguyện hiến đất hay đổi đất để con đường không bị cong. Riêng nhà đồng chí B, chỉ cần xây lùi cái cổng vào một chút, hiến cho thôn vài mét đất là đẹp cả nhà cả xóm nhưng vận động mãi không xong. Con đường đang phẳng phiu, thẳng tắp thế này tự nhiên bị cái cổng chòi ra một chút, trông có tức mắt không? Mà quan trọng hơn, lần sau làm sao mà vận động được nhân dân! Câu chuyện của đồng chí bí thư về những đảng viên- đáng để chúng ta phải suy ngẫm. Nghĩ đi, nghĩ lại thì thấy đảng viên- không phải chỉ có ở nông thôn mà còn cả ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp,… Nơi nhiều, nơi ít nhưng cũng là một bộ phận đáng kể. Bộ phận này không những không làm cho Đảng mạnh lên mà trái lại, chỉ làm xói mòn uy tín của Đảng trong lòng nhân dân. Xem ra, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bên cạnh việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra, cũng cần có các biện pháp quyết liệt đấu tranh với tình trạng gia tăng của các đảng viên-, bởi lẽ, chỉ cần một bước nữa thôi thì những đảng viên- này sẽ trở thành những kẻ cơ hội trong Đảng hoặc gia nhập “bộ phận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,…”. Hiện tượng này gia tăng rất nguy hại, sẽ làm xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng./.

Con phải hơn cha để nhà có phúc

Người xưa có câu “Con hơn cha là nhà có phúc”. Đó là lời tổng kết, sự nhắn gửi đến hậu thế, mong muốn của cha ông. Nhưng hơn là hơn cái gì? Có chức tước cao hơn, có tiền bạc nhiều hơn, bằng bất cứ giá nào? Câu hỏi ấy chắc các bậc làm cha, làm mẹ và những người làm con đã tự mình có câu trả lời. Ở đây chỉ xin nêu ít ý kiến liên quan đến nước nhà, dân tộc. Trải qua mấy ngàn năm, nay xin phép cha ông cho nhìn lại, xem thử người Việt Nam ta mạnh yếu mặt nào, không phải để chê trách cha ông, mà để phát huy và bổ sung, điều chỉnh. Có lẽ mặt mạnh nhất thuộc về văn hóa (trong) giữ nước. Truyền thống yêu nước, tinh thần và bản lĩnh chiến đấu để giữ nước, không để dân tộc bị đồng hóa của cha ông ta là bất khuất, anh hùng. Các thế hệ hôm nay và mai sau muôn đời cần noi theo, học tập đến cùng, để tự hào, để kính trọng, để trung thành, để xứng đáng và nhất là để tiếp tục giữ nước lâu dài trong điều kiện và nguy cơ mới. Một dân tộc yêu hòa bình, nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc đã phải đương đầu nhiều lần với các thế lực mạnh hơn ta rất nhiều đến từ phương Bắc và phương Tây, trong đó, với phương Bắc hàng chục lần và họ đã có thời kỳ đô hộ ta gần nghìn năm, dùng mọi thủ đoạn để đồng hóa dân tộc Việt Nam ta. Một nghìn năm bị đô hộ trực tiếp mà không bị đồng hóa quả là một dân tộc phi thường, kỳ diệu và bất diệt. Văn hóa dân tộc, dòng máu yêu nước đã ngấm sâu vào từng thế hệ, từng con người Việt Nam, biến thành sức mạnh bất tử trong công cuộc giữ nước bền bỉ và can trường. Các đảng viên cộng sản ngày ấy, các sĩ quan và chiến sĩ quân đội, kể cả những người dân bình thường dũng cảm khác, đã bước lên pháp trường và bước ra chiến trường bằng sức mạnh của một nền văn hóa ẩn chứa sâu xa trong mỗi con người. Nhìn xa hơn về phía cội nguồn sẽ thấy Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đã làm cho lịch sử dân tộc rạng ngời, đầy hào khí non sông. Thời đại Hồ Chí Minh đã nối tiếp một cách xứng đáng với truyền thống giữ nước ngàn đời của dân tộc. Đã bổ sung vào lịch sử những chiến công lừng lẫy và tên tuổi của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... Chiến thắng của người Việt Nam trong các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, bảo vệ tồn vong của dân tộc và toàn vẹn non sông là chiến thắng của một nền văn hóa. Nói như vậy không có nghĩa là xem nhẹ vai trò của chính trị và quân sự, bởi trong chính trị, quân sự của Việt Nam đều có cái lõi văn hóa vô cùng quý giá và chắc chắn, nhờ nó mà bảo đảm tính chân chính của chính trị giữ nước và tinh thần thượng võ trong nghệ thuật chiến tranh. Nếu như không có những chiến công hiển hách và những người anh hùng ấy thì có lẽ lịch sử của dân tộc chỉ còn là những trang ảm đạm, tối tăm, buồn tủi. Ai nói gì thì nói, nhưng lịch sử sẽ mãi rạng ngời những sự tích oai hùng và những tấm gương nghĩa khí mà cha ông đã ghi tạc bằng xương máu và lòng dũng cảm được kính trọng muôn đời. Trong công cuộc giữ nước và trường tồn của dân tộc, làm theo cha ông, được như cha ông đã là rất giỏi, rất lớn lao, khó mà có thể hơn được, mặc dù phải luôn bổ sung, hoàn chỉnh chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình và điều kiện rất khác xưa, dân tộc ta còn phải vượt qua nhiều thử thách hiện tại và trong tương lai. Mặt khác, bên cạnh niềm tự hào to lớn ấy, cần phải thấy một điều nữa là, mãi cho đến nay, ta chưa có được một Việt Nam phát triển, dù lịch sử dân tộc không chỉ có chiến tranh (đừng đổ lỗi hết cho chiến tranh) mà còn có nhiều thời kỳ dài trong hòa bình xây dựng. Nói vậy không nhằm mục đích phê phán cha anh, vì mỗi giai đoạn đều có những hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể. Nhưng rất cần suy ngẫm, chiêm nghiệm, xem thử vì sao Việt Nam ta chưa thành một quốc gia phát triển, từ đó mà bổ sung, điều chỉnh cách nghĩ, cách làm khác với cha anh. Thực tế đã minh chứng cha ông giữ được nước và bảo tồn dân tộc qua muôn vàn thử thách, bàn giao lại cho hậu thế một quốc gia có vị thế như hôm nay; và đồng thời thực tế cũng minh chứng Việt Nam là một quốc gia phát triển trung bình. Nếu phân kỳ ra, thì trách nhiệm nặng hơn đang thuộc về chúng ta, thế hệ công dân sau 1975 đến nay, khi đất nước đã hòa bình thống nhất gần nửa thế kỷ rồi, khi nhiều nước đã tiến vượt bậc, còn chúng ta vẫn “lẹt đẹt”, chưa phát triển được như mong muốn. Chúng ta chưa xứng đáng với một dân tộc anh hùng và cũng chưa xứng đáng với truyền thống của Đảng ta, với hàng triệu người đã ngã xuống cho độc lập hòa bình và thống nhất. Lúc này, với tình hình như vậy, phải ra sức đổi mới và sáng tạo, đổi mới một cách căn bản, trong đó có nhiều việc phải nghĩ khác, làm khác cha anh, để tránh những sai lầm như đã có, thoát ra khỏi những nguy cơ, cản trở, giáo điều, lạc hậu, để phát triển vượt lên. Làm vậy là trung thành với cha anh, với mong muốn một Việt Nam phát triển, mong “con hơn cha” để nhà có phúc. Trung thành với lý tưởng một dân tộc và một đất nước Việt Nam phát triển cường thịnh, một xã hội thật sự tốt đẹp (chứ không phải trung thành là phải nghĩ, phải nói, phải viết, phải làm hệt y như cha anh, dù hoàn cảnh đã khác). Thế hệ người lớn hôm nay có ý định để lại gì cho lớp trẻ? Thông thường, nhiều người có trách nhiệm và tâm huyết vẫn nghĩ phải phấn đấu để lại cho lớp trẻ một quốc gia phát triển. Đó là mong muốn chính đáng, làm được như thế thì quá tốt. Nhưng làm sao mà để lại được cho lớp trẻ một đất nước phát triển khi mà ta chưa tạo ra được một đất nước như vậy? Ta không thể để lại cái mà ta chưa làm ra được. Có lẽ phải nghĩ cách khác, trước nhất, quan trọng nhất, là để lại cho lớp trẻ sự trưởng thành của chính họ, của cả cái sự họ suy nghĩ khác ta, để từ đó những con người Việt Nam (mới) ấy sẽ tạo ra một đất nước Việt Nam phát triển. Để lại con người mới là để lại tất cả. Còn để lại tất cả (nếu có) mà không để lại được con người thì tất cả cũng sẽ không còn. Sau việc quan trọng nhất ấy, làm được cái gì nữa để tạo tiền đề cho một Việt Nam phát triển thì tiếp tục làm, được càng nhiều càng tốt. Nhưng phải bám thật chắc, không lúc nào quên, là để lại cho lớp trẻ chính bản thân họ - những con người phát triển và sáng tạo. Sự phát triển của một quốc gia nhất thiết phải đạt được mục tiêu phát triển con người. Và khi có những con người phát triển thì không lo gì quốc gia không phát triển, bởi quốc gia là do con người xây đắp nên. Phải có một lớp trẻ hơn cha anh, bằng tầm nhìn thay thế cho kinh nghiệm, biết sử dụng thành thạo ngoại ngữ để hiểu và tiếp cận thường xuyên với nhân loại văn minh, biết quản trị đất nước theo cách hiện đại nhất, để từ đó mà làm nên một quốc gia phát triển. Cũng chính lớp người tương lai ấy, với tâm hồn trong sáng, với tinh thần hào hiệp, cao thượng và khoan dung, sẽ hóa giải những hận thù mà lớp trước chưa giải quyết xong, để cả dân tộc cùng nắm tay nhau bước tới. Muốn có một lớp trẻ như vậy thì người lớn hôm nay phải từ bỏ cách giáo dục theo kiểu bề trên áp đặt dạy dỗ bề dưới, phải tạo ra một nền giáo dục thật sự đổi mới, một nền giáo dục mở, thực học, tập trung phát triển năng lực Người thay cho việc truyền thụ kiến thức áp đặt một chiều, thực hiện tự chủ đại học và tự do học thuật. Ra sức tạo điều kiện tốt nhất, môi trường “thuận lợi” nhất, trong đó có sự gương mẫu về nhân cách và sự tận tụy của người lớn, để thế hệ trẻ trưởng thành lên từ chính nó, để nó giỏi dang hơn, hiểu biết hơn, năng lực hơn cha anh, vượt thầy và vượt sách, có thói quen phản biện khoa học (kể cả với những điều tưởng như thiêng liêng, như chân lý bất di bất dịch, và luôn phản biện với chính bản thân mình), biết tư duy độc lập, lật ngược lật xuôi vấn đề, không chấp nhận sự áp đặt hoặc bao cấp tư duy từ người khác, không thụ động, không phụ thuộc, không ỷ lại vào tư duy của người khác, không nói theo, làm theo một cách thụ động, tự do tư tưởng, tự do học thuật, biết tiếp cận mở để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và các thành tựu khoa học của thế giới, biết sống và ứng xử đúng trong đa dạng văn hóa, có chính kiến rõ ràng, có bản lĩnh và quyền thể hiện chính kiến, tự do ngôn luận, không sợ bị quy chụp trù dập, không phải nói dối vì sợ bị quy chụp, thành những con người trung thực và tự chủ hơn, tự do và tự tin hơn, tự do từ bên trong của mỗi người, tự do với chính mình, luôn năng động và sáng tạo. Lớp trẻ được bình đẳng đối thoại với người lớn, kể cả những người có chức vụ cao, kể cả cha anh và thầy giáo. Người lớn phải khai hóa văn minh, không làm cho lớp trẻ thụ động, phải tôn trọng lớp trẻ, dân chủ và bình đẳng với người trẻ, người lớn không độc quyền chân lý mà làm người bạn đồng hành với lớp trẻ trong quá trình đi tìm chân lý của cuộc sống, không áp đặt một chiều các tư tưởng giáo điều cũ kỹ cho lớp trẻ, luôn tìm cách tạo tự tin cho các em, khuyến khích các em có chính kiến riêng, dám “cãi lại”, tôn trọng cá tính của các em. Người lớn cần hiểu lớp trẻ không phải là cái bóng theo sau mình, chỉ biết gọi dạ bảo vâng và làm theo, phục tùng và cúc cung tận tụy, trung thành với mọi điều người lớn nghĩ, người lớn nói, người lớn đã viết, phải thuộc lòng không sai một chữ, kể cả sau này khi người lớn không còn sống. Suy nghĩ như vậy là lạc hậu, không phải minh triết. Nếu người lớn để lại một lớp sau giống mình, y như mình, bản sao chép của mình, thì cũng có nghĩa là một đất nước, một dân tộc không phát triển. Mỗi thế hệ đều có sứ mệnh lịch sử thiêng liêng của mình, lớp trước không thể quyết định thay, cũng không thể vô trách nhiệm đẩy hết mọi việc phải giải quyết về cho hậu thế. Người lớn không để nợ nần nhiều cho lớp trẻ phải nai lưng ra làm tối tăm mặt mũi để trả nợ, không ngóc lên được. Bằng đôi vai và bàn tay của mình, người lớn phải nâng lớp trẻ lên cao hơn mình để chúng có thể nhìn xa hơn mình, nhìn rõ năm châu bốn biển và nhìn thấy tận tương lai. Còn lớp trẻ thì phải hết sức khiêm tốn, chịu khó tự học không ngừng, học tập kinh nghiệm của cha ông và của thế giới, liên tục cập nhật những tri thức mới từ nhiều nguồn khác nhau. Và mặt khác, không được tự ti, phải tự tin vào chính mình, ý thức được vị trí chủ thể bình đẳng của mình, như người lớn, không phân biệt địa vị xã hội, không tự cho mình là nhỏ bé; luôn tự chủ và khát khao vươn tới những ước mơ, độc lập tư duy, dám đối thoại thẳng thắn, có chính kiến rõ ràng và dám bảo vệ chính kiến, biết phản biện, thấy đúng thì tiếp thu, biến thành của mình, thấy không đúng thì không nghe theo; luôn nâng cao sức đề kháng, thấy người lớn tha hóa đạo đức thì biết đấu tranh chống lại; trung thực và nhân ái, năng động và sáng tạo; không tham vọng quyền lực, không ỷ lại và dựa dẫm quyền lực của người thân, phải biết tự trọng, luôn nuôi dưỡng tinh thần tự lập nghiệp của bản thân, tâm huyết góp phần xây dựng đất nước… Điều quan trọng nhất là để lại một lớp trẻ như vậy - có nhân cách và năng lực, có những tư duy về văn hóa phát triển khác với cha anh - để lớp người ấy có thể nghĩ mới hơn, nghĩ khác và làm khác người lớn hôm nay, để Việt Nam có được một dân tộc và đất nước phát triển, có một xã hội thật sự tốt đẹp như Bác Hồ và nhân dân ta mong muốn, kế thừa và phát huy tinh thần bất diệt của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02-9 là “Dân tộc phát triển và dân chủ xã hội”. Dân tộc độc lập thì mới phát triển được, mà phát triển thì mới giữ vững độc lập lâu bền được. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Dân tộc phát triển cao và một xã hội có dân chủ thật sự thì mới là xã hội chủ nghĩa. Dân tộc, dân chủ là mục tiêu của Cánh mạng tháng Tám và vẫn còn là mục tiêu lâu dài phải tiếp tục phấn đấu, để có được một đất nước “dân chủ và giàu mạnh” như Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phấn đấu để lại cho được một lớp trẻ “con hơn cha” như vậy quả là một công việc lớn lao, trọng đại. Để có thể làm được việc này đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy đối với công tác tư tưởng, văn hóa, giáo dục và quản lý xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tập trung lãnh đạo tốt công việc này và đó sẽ là công lao to lớn đối với đất nước và hậu thế, từ đó mà năng lực lãnh đạo của Đảng sẽ nâng cao và vai trò lãnh đạo của Đảng cũng sẽ được bền lâu./.

 “Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn”.

Đây là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, đầu tháng 8 năm 1959.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy, nhà giáo dục vĩ đại. Cả cuộc đời Người đã đào tạo biết bao thế hệ cán bộ, những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng và dành nhiều tình cảm quan tâm đến với các thầy, cô giáo. Bác đặc biệt đề cao vai trò của người thầy, bởi người thầy không chỉ dạy chữ mà còn dạy người, không chỉ truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, khơi nguồn sáng tạo mà còn là tấm gương mẫu mực về đạo đức cho học sinh noi theo qua từng giờ lên lớp. Người thầy là những người “đạo cao”, “đức trọng”, người có uy tín được xã hội tôn kính. Có thể nói, ở bất cứ xã hội nào nghề dạy học luôn được coi là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo. Do vậy, người thầy phải có lập trường tư tưởng đúng, bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, có chuyên môn giỏi và không ngừng được phát triển, sáng tạo thì mới hoàn thành trọng trách vẻ vang mà xã hội tin tưởng trao gửi.

Thấu triệt lời Bác dạy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn khắc ghi tinh thần “chính trị là linh hồn” mà Bác đã huấn thị “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự” và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội; phù hợp với yêu cầu, nội dung của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.

Trong giai đoạn mới, nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải tập trung giáo dục, rèn luyện bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc.

Kiểm điểm trách nhiệm gây lãng phí

Kết thúc phiên họp Hội Người cao tuổi xã, các cụ quay sang bàn về một số thông tin chung quanh công tác phòng, chống lãng phí. Cụ Chủ tịch Hội nêu vấn đề trước: Văn kiện tại đại hội Đảng cấp cơ sở và cấp huyện không nói gì đến lãng phí, trong khi có rất nhiều công trình lãng phí. Chẳng hạn như cái sân vận động đang xây đằng kia chả biết để làm gì, trong khi huyện đã có một sân vận động lớn hàng nghìn chỗ ngồi, năm thì mười họa mới có hoạt động. Cụ Phó Chủ tịch Hội góp thêm: Hầu hết các báo cáo chính trị nêu chung chung, đánh giá, nhận định chung chung về lãng phí. Nội dung phòng, chống lãng phí chưa được đề cập đầy đủ và đúng mức, mặc dù trong nhiệm kỳ qua đã xảy ra những vụ việc, dự án gây lãng phí vô cùng nghiêm trọng. Thấy vấn đề hay, các cụ mỗi người một ý: Tôi thấy lãng phí nhất trong mấy năm qua là đầu tư cho dạy nghề. Nhiều tỉnh tuyên bố giải tán trường cao đẳng, trung cấp vì mấy năm liền không tuyển sinh được. Một huyện mà có đến ba, bốn cơ sở có chức năng dạy nghề. Mà đầu tư cho một cơ sở dạy nghề rất tốn kém, từ lớp học, xưởng thực hành, ký túc xá, máy móc, thiết bị, con người … Chả nói đâu xa, ngay ở xã ta cũng có khu tái định cư, lắp điện, lắp nước, làm đường bê - tông rồi mà sáu năm nay không hộ nào chịu ra ở vì xa khu dân cư, xa đồng ruộng, xa họ hàng. Ngành xây dựng thất thoát mới nhiều. Có những công trình tiền tỷ xây xong, hạ tầng hoàn chỉnh nhưng không sử dụng được. Có con đường, cây cầu hàng chục tỷ đồng chỉ phục vụ vài hộ dân. Chưa kể lãng phí trong việc xây dựng mới các trường đại học, xây dựng cảng biển, sân bay, xây dựng các công trình thủy lợi, lãng phí trong đào tạo cán bộ, đi công tác nước ngoài ... Đâu đâu cũng thấy lãng phí trong khi đất nước ta còn nghèo. Khó nhất là tìm ra người chịu trách nhiệm lãng phí, thất thoát của công. Quy trách nhiệm cho ai cũng là việc rất khó, người này đổ lỗi cho người kia, cuối cùng đổ lỗi cho chính sách, cho khủng hoảng kinh tế, thị trường không ổn định … Cụ Chủ tịch Hội suy ngẫm hồi lâu rồi nói như kết luận: Dù gì cũng phải tìm bằng được người chịu trách nhiệm về lãng phí. Cán bộ kém năng lực, gây ra lãng phí lớn cũng phải chịu trách nhiệm. Đầu tư cho dạy nghề, cho nông nghiệp rất lớn nhưng hiệu quả thấp, vì sao thì phải làm rõ nguyên nhân. Tôi cho rằng, đại hội Đảng cấp tỉnh và Đại hội toàn quốc phải đánh giá, phân tích rõ mức độ lãng phí, nguyên nhân gây ra lãng phí, trong lãng phí có tiêu cực không? Phải làm mạnh theo đúng tinh thần Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, vì tham nhũng, lãng phí là một trong những nguy cơ lớn cần loại bỏ trong nhiệm kỳ tới./.

Khí phách làm người

Khí phách, theo định nghĩa của từ điển, đó là “sức mạnh tinh thần được biểu hiện cụ thể thành hành động”. Con người, dù ở đâu và ở thời nào, cũng có một đời sống tinh thần và sự thể hiện sức mạnh tinh thần của mình trong những hoàn cảnh nhất định. Do đó, đã là người, ai cũng có khí phách, chỉ có điều khí phách của người này không giống khí phách của người khác; có người khí phách kiên cường, bất khuất, lại có người khí phách kém cỏi, bạc nhược. Những người có khí phách kiên cường, bất khuất là những người cương trực, khảng khái, sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa, vì lợi ích của xã hội và không chịu khuất phục trước những cái giả - ác - xấu. Những người có khí phách kém cỏi, bạc nhược thường là những người sợ khó, sợ khổ, sợ thiệt, sợ trách nhiệm và chỉ muốn “an phận thủ thường”, thậm chí là đầu hàng, phản bội khi phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết. Tất nhiên, với những kẻ vì thù hận, bất mãn cá nhân mà có những hành vi hung hãn, gây tổn hại cho người khác và cho xã hội thì thiên hạ không coi đó là những kẻ có khí phách. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do của dân tộc, khí phách kiên cường, bất khuất của những người con đất Việt đã làm cho các thế lực xâm lược phải run sợ, nể phục. Trần Bình Trọng - một danh tướng nhà Trần - trong lúc anh dũng chiến đấu, không may bị giặc Nguyên Mông bắt được; khi chúng dụ dỗ quy hàng, ông đã nói một câu đầy khí phách hiên ngang: “Ta thà làm quỷ đất Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan và nhiều sứ thần đất Việt khác cũng từng tỏ rõ tài năng, khí phách coi thường sống chết trước sự thử thách, mua chuộc, đe dọa của các triều thần phong kiến Trung Quốc. Vua Trần Nhân Tông dù đang ở phong độ quân vương, nhưng vốn là người có tư duy sâu sắc, tầm nhìn thông tuệ và đầy khí phách, Ngài đã nhường ngôi cho con để lên núi tu hành đắc đạo. Lê Thánh Tông đã thể hiện khí phách hiên ngang lẫm liệt của một vị vua tài đức song toàn khi Ngài ban hành Luật Hồng Đức để chấn chỉnh triều cương, trừng trị quan lại tham nhũng, bất tài vô đạo và “ngự giá thân chinh” cầm quân đánh giặc để bảo vệ từng tấc đất của cha ông. Khí phách của dân tộc Việt Nam không chỉ được thể hiện ở khí phách của những bậc anh hùng, danh nhân đất Việt như vậy, mà còn được thể hiện trong bài thơ bất hủ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, trong “Cáo bình ngô” của Nguyễn Trãi và trong “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở thời hiện đại, thế giới đã biết đến dân tộc Việt Nam nhỏ bé nhưng đầy khí phách, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một… Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Khí phách hào hùng đó của dân tộc Việt Nam đã biến thành hành động, thành sức mạnh đánh thắng các thế lực xâm lược, từ phong kiến phương Bắc cho đến thực dân, đế quốc phương Tây. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, khí phách của các thế hệ cha ông đã được các sĩ phu yêu nước, như Hoàng Diệu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…, cũng như các chiến sĩ cộng sản, như Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Võ Nguyên Giáp,… và vô vàn những anh hùng liệt sĩ khác tiếp nối, phát huy và tỏa sáng. Chính tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng của họ đã mang đến cho quần chúng nhân dân một niềm tin yêu, kính phục và đã trở thành hạt nhân đoàn kết, dẫn dắt dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước. Khí phách của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là như vậy, còn trong công cuộc xây dựng đất nước theo tinh thần Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thời kỳ hiện nay như thế nào? Đây là vấn đề mà không ít người Việt Nam, nhất là những bậc cách mạng lão thành, những lớp người cao tuổi ở nước ta suy tư, trăn trở. Phải chăng khí phách đó cần được thể hiện, chứng minh bằng kết quả, hiệu quả lao động, học tập, sáng tạo vì một mục tiêu: làm cho dân tộc Việt Nam ngang hàng, sánh vai với các dân tộc văn minh trên thế giới. Nói về sự thông minh (chỉ số IQ) thì người Việt Nam không thua kém người Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc hay Ấn Độ, nhưng tại sao kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật nước ta lại thua kém, đi sau họ đến mấy chục năm như vậy? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều đó, nhưng phải chăng trong đó có một nguyên nhân là do khí phách của không ít người Việt Nam ngày nay đã và đang sa sút, mờ nhạt nghiêm trọng bởi thứ “chủ nghĩa cá nhân” của người tiểu nông tác động, chi phối. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, trong đó Người chỉ ra những tác hại, nguy hại mà “chủ nghĩa cá nhân” gây ra đối với Đảng, Nhà nước và đối với sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới ở nước ta. Các nhà nho trước đây có sự phân biệt 2 hạng người là quân tử - tiểu nhân và cho rằng chỉ có người quân tử mới là người có khí phách cao thượng, mới là người sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa, coi trọng danh dự, liêm sỉ và không bao giờ lấy những cái gì của thiên hạ để làm cái riêng của mình. Còn những kẻ tiểu nhân - những kẻ “giá áo túi cơm”, thì thường có những thái độ, lời nói, hành vi bợ đỡ, luồn cúi, cầu cạnh, xin xỏ, mua danh, hám lợi và tham lam không biết đủ. Kẻ tiểu nhân còn hèn kém đến mức thấy đúng mà không bảo vệ, thấy sai mà không phê phán, không biết nhận lỗi về mình và vô trách nhiệm với xã hội. Nếu suy ngẫm và liên hệ với thực tế về những điều mà nho gia đã nói ở trên, có lẽ bây giờ ở nước ta người “quân tử” không có quá nhiều. “Chủ nghĩa cá nhân” là sản phẩm của xã hội tiểu nông, mà ở đó, người tiểu nông thường có những đặc tính, như vị kỷ, tư lợi, vun vén, cửa quyền, gia trưởng, tùy tiện, định kiến, sĩ diện, quan liêu, bảo thủ, giáo điều, ham danh, hám lợi, “sống chết mặc bay” không muốn người khác hơn mình... Tất cả những biểu hiện đối lập với xã hội dân chủ, văn minh, hiện đại và có tính chất tiêu cực, bất cập, lạc hậu đó của người tiểu nông, dù ở mức độ này hay mức độ khác, cũng đều hiện diện trong bộ máy nhà nước và trong cả hệ thống chính trị ở nước ta. Cách đây gần 100 năm, V.I. Lê-nin có nói đến những hạn chế, tiêu cực, bất cập của người tiểu nông trước xã hội công nghiệp và những thử thách, khó khăn lâu dài của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân chiếm đông đảo trong xã hội. Suy ngẫm và liên hệ với thực tế nước ta thì thấy V.I. Lê-nin nói rất đúng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế và xã hội, đến lúc nào đó mọi người đều đầy đủ về cái ăn, cái mặc, cái ở, và khi đó các giá trị văn hóa, đạo đức cũng như phẩm giá, khí phách làm người có lẽ sẽ được đề cao hơn. Nếu ai đó nghi ngờ về điều này, xin hãy nhìn vào các xã hội văn minh, thịnh vượng, nhất là xã hội Nhật Bản, sẽ thấy đa số người dân ở các xã hội đó đang sống như những người quân tử theo quan niệm của các nhà nho xưa. Làm người thì phải có khí phách làm người, bởi có khí phách làm người thì mới cảm nhận được ý nghĩa, giá trị làm người. Làm người mà không có khí phách, tức là không có đời sống tinh thần phong phú, mạnh mẽ, sẵn sàng hành động sáng tạo và xả thân vì đại nghĩa, vì tập thể, cộng đồng thì cuộc sống sẽ buồn chán, tẻ nhạt, vô vị biết bao - một cuộc sống như thế, rõ ràng là uổng phí, chẳng khác chi là một sự tồn tại và chờ đợi đến ngày trở về với cát bụi. Nhưng ngay bây giờ và sau này, các thế hệ hậu sinh muốn có được khí phách làm người hào hùng của con dân nước Việt, trước hết họ phải được học, được giáo dục một cách đầy đủ, cẩn thận, hết sức khoa học, bao gồm từ sự tự giáo dục bản thân, giáo dục gia đình cho đến giáo dục trong nhà trường, đoàn thể và xã hội; nhất là sự giáo dục làm gương của những người làm cha, làm mẹ và của những người có danh vị, địa vị cao trong xã hội. Khi cha, mẹ, thày, cô và những người có danh vị, địa vị cao trong xã hội là những người có khí phách, chắc chắn con cái, học trò và các thế hệ hậu sinh của họ cũng sẽ là những người có khí phách như họ./.

Lạc hậu, nhưng không rắc “sạn”

Mới đầu giờ sáng, khi trời vẫn còn rét buốt, ông Thường đã gõ cửa nhà ông bạn già cùng phố. Cả đêm ông mừng vui vì chuyện này nên cần phải gặp ông Ẩn sớm để thông báo. Số là đêm hôm qua, khi các con cháu chuẩn bị đi ngủ, ông Thường nhận được lời mời đi lễ hội ở Ninh Bình rất chí tình, chí nghĩa của người bạn từng cùng ông ra sống vào chết trong chiến tranh. Trên điện thoại, ông bạn khẩn khoản, đây là cơ hội để gặp nhau, là dịp để ôn lại kỷ niệm chiến trường. Ông ấy là trưởng ban tổ chức, nên dành tặng ông Thường hai suất đi lễ, vãn cảnh ngày xuân. Dù ông từ chối khéo, nhưng ông bạn lại ngỏ ý cho ông toàn quyền quyết định mời nhân sự đi cùng. Ông Thường nghĩ ngay đến người hàng xóm. Khi chén nước chè còn bốc khói, ông Thường đã kể hết với ông Ẩn lời mời tha thiết của ông bạn già ở quận bên. Ông Ẩn từ từ nói: “Cảm ơn bác đã quan tâm tới thân già này. Nhưng tôi không đi được đâu”. - Ông ở nhà cả ngày, có bận bịu gì đâu mà không đi. Hiếm khi có cơ hội như thế này. Mình cũng phải “đổi gió” cho thoáng cái đầu chứ. Ông không thấy, giờ người ta đang đua nhau trẩy hội du xuân, cầu tài, cầu lộc đấy à? - Đúng là chẳng có việc gì, đúng là đi tham quan không mất phí ai cũng thích, nhưng tôi thì không thể đi được, mong ông thông cảm! - Ô hay, ông cứ đi với tôi cho biết đây biết đó. Già rồi, sống được mấy nữa đâu. Tôi đã nhận lời với người ta và đăng ký cả tên của ông nữa đấy. Ông Thường vẫn ra sức thuyết phục thêm: Lễ hội đầu năm là một phần không thể thiếu trong văn hóa làng xã của người Việt bao đời nay. Đó là dịp để mỗi người cầu sức khỏe, bình an, hạnh phúc cho gia đình, người thân; để mọi người cùng được hưởng một năm mới may mắn, an lành. Lễ hội cũng là nơi lưu truyền giá trị văn hóa phi vật thể, lòng yêu nước, sức mạnh, tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm, phòng, chống thiên tai,… - Thú thật với ông, tôi có việc bận ở quê vào ngày hôm đó. Mong ông hết sức hiểu cho. Những tưởng chuyện dừng lại ở đấy, nào ngờ ba hôm sau ngày đi lễ và vãn cảnh ở Ninh Bình về, ông Thường bị ốm. Nghe tin, ông Ẩn mang theo cân hoa quả đến thăm. Nằm trên giường, ông Thường than thở: “Biết thế tôi ở nhà cho đỡ mệt. Đi lễ, du xuân kiểu này chẳng khác chạy loạn ông ạ”. Rồi ông Thường kể cảnh chen lấn, xô đẩy đến ngạt thở, cảnh ấn tiền vào tay phật và nhiều nhức nhối khác khi đến hành lễ. Ông than: “Không thể tưởng tượng được, lắm sạn quá ông ạ”. - Ông không theo dõi thông tin đấy thôi, mấy năm nay người ta đi lễ hội rất đông. Người đi lễ hội có đủ cả, dân thường, buôn bán và quan chức cũng có. Họ đến lễ không ngoài mục đích cầu may, cầu lợi. Nghĩ mà xót xa cho cảnh chen lấn, xô đẩy cướp lộc chẳng giống ai ở nước ta. - Ừ, ông nói cũng phải. Tôi thấy nhiều người ở ta làm ăn bất chấp lương tâm, bất chấp pháp luật, mua thật rẻ, bán thật đắt, dù biết là gây họa cho người khác trong xã hội nhưng vẫn cứ làm, rồi lại ra vẻ thành tâm đi lễ. - Đấy là hiện tượng cuồng tín ông ạ. Người ta tin rằng, có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Tâm người ta đến với Phật, nhưng lại sống với nhau bằng âm mưu, thủ đoạn, kiếm tiền trên sự đau khổ của người khác. Họ chẳng hiểu gì về Phật giáo cả. Theo tôi, tu tại gia là tốt nhất. Mình thờ cúng tổ tiên, sống trong sạch, không làm điều ác, không gây hại là để phúc đời đời cho con cháu! - Thế ông bảo, cái sự tranh cướp lộc ở lễ hội của ta bắt nguồn từ đâu? - Ông Thường hỏi. - Tôi không nghiên cứu sâu, nhưng tôi thấy chỉ tại do việc chấp hành pháp luật không nghiêm mà ra. Người nào giỏi chạy, giỏi luồn lách, giỏi quan hệ là có lợi. Họ cho thế là được lộc thánh. Có của, họ sinh ra lễ nghĩa một cách cuồng tín đấy mà. Xã hội cứ thế theo họ một cách mù quáng, chẳng biết lợi hại gì hết. - Ông nói có lý. Theo tôi còn do cả cán bộ thực thi công vụ không nghiêm nữa. Chắc họ cũng làm ngơ cho các đối tượng khác “tác yêu tác quái” để hưởng lợi. - Đúng như ông nói đấy. Các lễ hội văn hóa ở ta còn nhiều “sạn” lắm. Nguyên nhân là do quản lý xã hội không nghiêm. Thiết nghĩ, để không còn các hiện tượng phản cảm trong lễ hội, để lễ hội không bị lợi dụng, trở thành “cần câu cơm” cho một số cá nhân, tổ chức, mỗi cá nhân cần phải có cái nhìn đúng đắn hơn về ý nghĩa của lễ hội đầu năm, tự bố trí thời gian đi hành lễ phù hợp, vừa giải quyết được yếu tố tín ngưỡng, tâm linh truyền thống của người Việt, vừa không làm ảnh hưởng đến nét đẹp văn hóa truyền thống của lễ hội. Chính quyền địa phương và cơ quan chức năng cũng cần có giải pháp hữu hiệu hơn để tuyên truyền, thuyết phục người dân thụ hưởng văn hóa lành mạnh, đúng nghĩa. - Ông Ẩn bày tỏ suy nghĩ. - Tối nay tôi sẽ bảo con dâu và con trai ngừng ngay việc đi lễ hội vào tuần tới. Chưa biết lộc thánh ở đâu mà chen lấn gẫy tay, gẫy chân, phải bỏ việc cơ quan nằm viện thì khổ lắm. - Ông Thường đưa ra quyết định. Văn hóa vốn là “giấy thông hành” của

Cần hiểu đúng về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

Cần hiểu đúng về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Nguồn gốc, nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, có âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Song, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở Việt Nam hiện nay không phải là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh địch-ta một mất, một còn như một số người đang rêu rao, mà là cuộc đấu tranh trong nội bộ tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội (CT-XH), trong các tầng lớp nhân dân và diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội để chống lại cái ác, cái xấu, cản trở công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, Đảng, Nhà nước, các tổ chức CT-XH, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta vừa là chủ thể đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đồng thời cũng là đối tượng của phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nội dung phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bao gồm toàn bộ các nội dung công tác “phòng” và nội dung đấu tranh “chống” trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, cụ thể như sau:

Thứ nhất, ngăn ngừa, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, phải hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

Thứ hai, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nội dung này, cần tiến hành đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện: Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai... thực chất là đấu tranh khắc phục 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng.

Thứ ba, ngăn ngừa, khắc phục tác hại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội. Đó là việc thực hiện các nội dung đấu tranh để ngăn ngừa, khắc phục tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi con người và tổ chức; làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mất khả năng gây tác hại, không còn lây lan trong đời sống xã hội, dần dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người và tổ chức.

Thứ tư, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học. Trong nội dung này, đặc biệt cần thực hiện tốt nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là xây dựng về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống, phong cách sống, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực đạo đức cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Điều đó không những tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mà còn tạo nên động lực to lớn, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Thứ sáu, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập, bất đồng, bất hòa, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa Đảng, Nhà nước, đoàn thể CT-XH với nhân dân; giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội ta.

Để cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay được đúng hướng và có hiệu quả, cần hiểu một cách đúng đắn và quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo của Đảng là: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Cụ thể bao gồm:

Một là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở Việt Nam hiện nay, thực chất là cuộc đấu tranh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Hai là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Ba là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành đồng bộ trên tất cả lĩnh vực với những nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, linh hoạt, hiệu quả.

Bốn là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài, có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các tổ chức và lực lượng.

Năm là, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “phòng”, “xây” là chính.

Hiểu, nhận thức đúng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cơ sở để tự xây dựng cho mỗi cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn./.

 

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2021

Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền

 

Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền

Ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Theo đó, Quy định gồm hai nội dung chính:

Thứ nhất, Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

Quy định nêu rõ, đi với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị phải:

- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những sai sót và chịu trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm được giao.

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định, quy chế về công tác cán bộ. Quy định cụ thể trách nhiệm của tập thể, cá nhân; quy trình, thủ tục, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch trong từng khâu về công tác cán bộ.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát các cơ quan tham mưu, giúp việc, các cơ quan cấp dưới và cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý trong thực hiện nhiệm vụ về công tác cán bộ. Chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ và Quy định này.

- Bảo vệ và khen thưởng kịp thời cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo vi phạm trong công tác cán bộ. Xử lý nghiêm những người lợi dụng việc này để tố cáo hoặc lan truyền các thông tin sai sự thật nhằm hạ uy tín người khác.

- Điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với những người được phân công làm công tác nhân sự hoặc theo dõi công tác cán bộ tại một địa bàn, lĩnh vực đã đảm nhiệm công việc 5 năm liên tiếp hoặc khi thấy cần thiết.

- Không bố trí những người có quan hệ gia đình (vợ, chồng, bố, mẹ của vợ hoặc chồng, con, anh chị em ruột) cùng đảm nhiệm các chức danh có liên quan như: Bí thư, phó bí thư, trưởng ban tổ chức, chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra cùng cấp uỷ; chủ tịch Ủy ban nhân dân và người đứng đầu cơ quan nội vụ, thanh tra cùng cấp ở một địa phương; thành viên trong cùng ban cán sự đảng, đảng đoàn; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong cùng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thứ hai là chống chạy chức, chạy quyền.

Quy định nêu rõ thế nào là hành vi chạy chức, chạy quyền; Hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Đồng thời, Quy định cũng nêu rõ về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong chống chạy chức, hạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền là:

- Cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: Phát hiện, tiếp nhận thông tin liên quan hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Cung cấp thông tin và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, xử lý hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền ở cơ quan, đơn vị mình. Bảo vệ và khen thưởng kịp thời những cá nhân phát hiện, phản ánh, tố cáo đúng các hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; đồng thời, xử lý nghiêm những người tố cáo sai sự thật làm ảnh hưởng uy tín người khác.

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan dân cử thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay chạy chức, chạy quyền thì kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiểm tra và xử lý, đồng thời giám sát việc thực hiện kiến nghị theo quy định.

- Cán bộ, đảng viên có trách nhiệm phát hiện và lắng nghe ý kiến của nhân dân để phản ánh, tố cáo, cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền về hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Về xử lý hành vi chạy chức, chạy quyền và bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền: Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có hành vi chạy chức, chạy quyền hoặc bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền thì bị xử lý kỷ luật theo quy định hiện hành. Ngoài ra, nếu là cán bộ đang công tác tùy theo hình thức bị kỷ luật còn bị áp dụng các biện pháp xử lý như sau: bị khiển trách thì đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch); sau thời hạn ít nhất 18 tháng kể từ ngày đưa ra khỏi quy hoạch mới được xem xét quy hoạch cán bộ; không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra. Bị cảnh cáo thì xem xét cho thôi tham gia cấp ủy, thôi giữ chức vụ đang đảm nhiệm; dưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch); sau thời hạn ít nhất 30 tháng kể từ ngày quyết định cho thôi cấp ủy, chức vụ mới được xem xét quy hoạch cán bộ; không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra. Bị cách chức thì đưa ra khỏi quy hoạch cán bộ (nếu đang có trong quy hoạch); sau thời hạn ít nhất 60 tháng kể từ ngày đưa ra khỏi quy hoạch mới được xem xét quy hoạch cán bộ, không bố trí làm công tác tham mưu, nghiệp vụ về tổ chức, cán bộ, kiểm tra, thanh tra. Bị khai trừ ra khỏi Đảng thì xem xét buộc thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động. Đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền, bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền liên quan đến việc đưa, nhận hối lộ hoặc các hành vi vi phạm khác đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ sang cơ quan chức năng để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm giữ lại để xử lý hành chính./.