Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2021

Hãy để người dân Việt Nam tự "chấm điểm" cho cuộc sống của mình

     Theo kết quả công bố trên Đài Á châu Tự do (RFA) thì năm 2020 này, Tổ chức Freedom House đã chấm Việt Nam được 19 trên thang điểm 100, tụt đi 1 điểm so với năm 2019 về mức độ "Tự do".

        Chả biết đánh giá "Tự do" của Freedom House được xây dựng trên những tiêu chí cụ thể ra sao nhưng năm 2020, khi cả thế giới biến động và thay đổi vì ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 thì ở Việt Nam, người dân được sống trong một môi trường có thể nói là "đáng mơ ước" với rất nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia tiên tiến.

        Rất nhiều người Việt Nam sinh sống, học tập tại nước ngoài, kể cả nhiều công dân nước ngoài mong muốn được nhập cảnh vào Việt Nam nhằm "trốn dịch". Một số người nước ngoài thì tận dụng sự ngưng trệ về giao thông hàng không để tránh phải về nước. Các tờ báo, các Chính phủ nước ngoài cũng ca ngợi mô hình chống dịch hiệu quả của Việt Nam.

        Vậy thì tại sao một đất nước như họ nói là "mất tự do" lại thu hút, níu kéo nhiều người đến như vậy? Những người đang sống ở Việt Nam đã đành, những người Việt Nam sinh sống, học tập ở nước ngoài và người nước ngoài chọn Việt Nam để sống và làm việc, tại sao họ lại muốn trở về, muốn gắn bó với mảnh đất hình chữ S này để đổi lại họ bị mất "tự do", bị kìm hãm trong một đất nước "tù túng"? Tổ chức "Ngôi nhà tự do" (Freedom House) khi chấm điểm có trả lời được sự nghịch lý này không?

        Thực ra, họ đã biết và thậm chí biết rất rõ những thành tựu của Việt Nam trên mọi lĩnh vực, trong đó có quyền con người, quyền tự do của công dân trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Nhưng họ vẫn làm ngơ vì mục đích của họ là chống phá, là giật dây, hà hơi, tiếp sức cho các phần tử chống đối, nên Freedom House không trừ một thủ đoạn "ăn không nói có" nào để xuyên tạc, vu khống tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

        Nhìn lại lịch sử của Freedom House cho thấy rõ điều đó: Được sáng lập từ năm 1941, tổ chức phi chính phủ này được tài trợ nhằm thúc đẩy đấu tranh dân chủ cực đoan tại các quốc gia trên thế giới, trong đó tập trung chủ yếu vào những quốc gia XHCN. Trong thập niên 40 của thế kỷ trước, Freedom House ủng hộ kế hoạch phát xít hoa á và có chủ trương chống Cộng cao. Trong thập niên 50, 60, họ ủng hộ Phong trào Dân tộc cực đoan ở Hoa Kỳ.

        Trong thập niên 80, họ giúp đỡ phong trào Công đoàn cực đoan ở Ba Lan và phe đối lập dân chủ ở Philippines. Gần đây, Freedom House can dự vào việc lật đổ chính quyền ở Serbia, Ukraina và Kyrgyzstan, Iraq, Syria. Như vậy, động cơ chính trị của Freedom House là rõ ràng khi hằng năm công bố mức điểm về "Tự do" của trên 200 quốc gia. Với động cơ chính trị như vậy thì làm sao Feedom House có thể khách quan khi nhìn nhận tình hình của mỗi nước, nhất là khi nước đó nằm trong "tầm ngắm" chống phá của họ.

        Năm 2019, chính Freedom House cũng công bố cái gọi là "Báo cáo về tự do Internet", trong đó, phần về Việt Nam, họ đánh giá chúng ta "không có tự do Internet". Việc đánh giá thiếu khách quan này trong thời điểm Nhà nước xây dựng và ban hành Luật An ninh mạng nhằm mục đích gây hoài nghi, kích động người dân phản đối việc xây dựng pháp luật trên lĩnh vực này.

        Thực tế, theo nghiên cứu của một tờ báo thuộc Nhật Bản thì Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất châu Á. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam liên tục đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng Internet lớn nhất thế giới. Chính từ việc có số lượng sử dụng mạng xã hội quá lớn, kéo theo nhiều vi phạm trong lĩnh vực này, từ việc bán hàng lừa đảo, đưa những clip trái với thuần phong mĩ tục lên mạng đến việc lợi dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật vì động cơ cá nhân v.v... nên Nhà nước phải xây dựng Luật An ninh mạng để kiểm soát, nhằm làm lành mạnh hóa không gian trên mạng xã hội chứ không hề cấm đoán, kiểm soát người dân sử dụng Internet như nhận định của Freedom House đưa ra.

        Trở lại việc chấm điểm của Freedom House: Năm 2020, Việt Nam bị tụt một điểm về chỉ số "Tự do". Khi thông tin này được công bố và được một số đài nước ngoài thông tin, kèm theo những bài phỏng vấn một vài phần tử phản động lưu vong, trong đó có Nguyễn Văn Đài, một đối tượng vi phạm pháp luật, ra tù và đang sinh sống tại nước ngoài. Theo Nguyễn Văn Đài, năm 2020, Nhà nước Việt Nam đã "đàn áp" 32 nhà hoạt động dân sự, trong đó có Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng - đó là lý do để Freedom House hạ điểm về quyền "Tự do" của người dân Việt Nam...

        Nếu Freedom House chấm điểm dựa theo việc thực thi pháp luật của Nhà nước Việt Nam đối với những công dân vi phạm pháp luật (như Nguyễn Văn Đài đã trả lời phỏng vấn RFA), thì càng thể hiện việc Freedom House đã dùng những điểm số nhằm mục đích chính trị, can thiệp vào hoạt động tư pháp bình thường của Nhà nước Việt Nam.

        Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định: Ở Việt Nam không có "tù nhân lương tâm", không có việc đàn áp, bỏ tù những người bất đồng chính kiến, mà chỉ có việc điều tra, xét xử những công dân vi phạm pháp luật. Một tổ chức phi chính phủ hay một quốc gia dù lớn mạnh cỡ nào cũng không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét về tình hình tự do, nhân quyền một cách thiếu trách nhiệm.

        Nhân dân Việt Nam đã và đang được sống trong một đất nước tự do, trong đó, những quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật. Cho nên mọi sự xuyên tạc từ các tổ chức hay các thế lực từ bên ngoài không làm thay đổi được tình hình ở Việt Nam, bởi chỉ có người dân sống trên Tổ quốc này mới cảm nhận rõ những gì tốt đẹp mà họ đang thụ hưởng.

 

“CHỈ THỰC HÀNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, TAM QUYỀN PHÂN LẬP, XÃ HỘI DÂN SỰ THÌ VIỆT NAM MỚI PHÁT TRIỂN THEO DÒNG THỜI ĐẠI”??? (Phần 2)

         Đường lối đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đưa nước ta vào dòng chảy của thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội để phát triển đất nước là đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện của đất nước

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta phát triển là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vừa vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, việc phân bổ các nguồn lực kinh tế của nhà nước được thực hiện theo cơ chế thị trường, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đất nước. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, hoạt động ở mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Các quyền sở hữu tài sản, tự do kinh doanh, tự do lưu thông được bảo vệ; phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, tạo cơ sở cho các quy luật của kinh tế thị trường hoạt động, phát huy vai trò của mình; hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, phát triển ngày càng sâu rộng. Nhà nước quản lý đất nước bằng luật pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế; cung cấp các dịch vụ công thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp bằng mệnh lệnh hành chính. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong quyết định giá cả, huy động, phân bổ các nguồn lực, điều tiết lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân có chức năng phản biện, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; phản ánh nhu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích của các tầng lớp nhân dân, vận động nhân dân thực hiện các chính sách đúng đắn của nhà nước, tác động đến quan hệ cung - cầu lao động, hàng hóa trên thị trường...

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và cơ chế vận hành như vậy là nền kinh tế thị trường hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, kế thừa những thành tựu phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời, phát triển, có những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò nền tảng của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; thực hiện phân phối vừa theo kết quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, vừa theo mức đóng góp vốn, các yếu tố sản xuất khác, đồng thời phân phối qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; kết hợp phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân quản lý đất nước; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo. Giữa các cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ), tư pháp (Tòa án) có sự kiểm soát lẫn nhau, nhưng không phải là sự kiểm soát của những lực lượng đối lập nhau, mà quyền lực của các cơ quan này đều do nhân dân ủy quyền, phân công để thực hiện các chức năng khác nhau, đều do cùng một đảng cầm quyền lãnh đạo, nên còn có trách nhiệm phối hợp với nhau để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng, quan hệ phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; hoạt động của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền cũng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Cùng với sự kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước, Nhà nước còn chịu sự giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân theo quy định của pháp luật. Tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước như vậy phù hợp với các chuẩn mực phổ biến của nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nhưng điểm khác biệt lớn của Nhà nước ta so với nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản trên thế giới là pháp luật của Nhà nước ta là để phục vụ nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát triển đất nước nhanh, bền vững để nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước được sự đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện của nhân dân đã tạo nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế của đất nước như ngày nay. Không có lý do gì để Đại hội XIII của Đảng phải làm theo lời khuyên của những người muốn kéo lùi lịch sử, đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

 

“CHỈ THỰC HÀNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, TAM QUYỀN PHÂN LẬP, XÃ HỘI DÂN SỰ THÌ VIỆT NAM MỚI PHÁT TRIỂN THEO DÒNG THỜI ĐẠI”??? (Phần 1)

         Lịch sử cho thấy tổ chức và cơ chế vận hành của xã hội luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, nhất là trình độ phát triển của sản xuất, vào đặc điểm của thời đại ở từng giai đoạn cụ thể. Các xã hội trước chủ nghĩa tư bản chưa có kinh tế thị trường, chưa có tam quyền phân lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; chưa có xã hội dân sự và vai trò của xã hội dân sự. Kinh tế thị trường, tam quyền phân lập, xã hội dân sự là những yếu tố gắn liền với chủ nghĩa tư bản, được xem như là những yếu tố đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Nhưng khi khuyên nước ta phải thực hiện những điều này, họ không biết rằng ngay trong chủ nghĩa tư bản, những yếu tố này cũng không phải là bất biến mà có sự thay đổi, phát triển, sự tồn tại của chúng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản và trong chủ nghĩa tư bản hiện đại ngày nay có rất nhiều điểm khác nhau, nhiều yếu tố đặc trưng của chủ nghĩa tư bản đã bị vượt qua.

Kinh tế thị trường trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản là kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Trong nền kinh tế đó, sự tác động tự phát của các quy luật của kinh tế thị trường đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng chu kỳ, sự phân cực xã hội sâu sắc, tạo nên những bất ổn, xung đột xã hội, do đó, đòi hỏi phải có vai trò điều tiết của nhà nước, khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường. Các nền kinh tế thị trường hiện đại ở các nước tư bản phát triển ngày nay đều là các nền kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của nhà nước. (kinh tế thị trường tự do ở Mỹ, kinh tế thị trường xã hội ở Đức, kinh tế thị trường phúc lợi xã hội ở các nước Bắc Âu, kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc).

Với sự điều tiết của nhà nước, chủ nghĩa tư bản đã phát triển trở thành chủ nghĩa tư bản nhà nước, một bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản. Cùng với sự can thiệp, điều tiết của nhà nước, trong nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, tổ chức công ty, một chủ thể chính trong nền kinh tế thị trường, cũng thay đổi; hầu như tất cả các công ty, tập đoàn kinh tế siêu quốc gia, xuyên quốc gia đều là công ty cổ phần, có sự tham gia của nhiều chủ sở hữu, thuộc nhiều thành phần xã hội, kể cả người lao động. Ngay từ thế kỷ XIX, khi các công ty cổ phần, hình thức sở hữu cổ phần mới xuất hiện, C.Mác đã cho rằng đây là sở hữu tư nhân được xã hội hóa, là sự phủ định đối với sở hữu tư nhân cá thể và điều này diễn ra ngay trong lòng chế độ tư bản.

Tam quyền phân lập là nguyên tắc tổ chức của nhà nước tư bản để không tập trung quá nhiều quyền lực nhà nước vào một cơ quan nhất định bằng sự phân chia quyền lực và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, tuy cũng dựa trên nền tảng của nguyên tắc tam quyền phân lập, nhưng ở các nước tư bản phát triển, do mỗi nước có truyền thống lịch sử, văn hóa, có những điều kiện đặc thù của mình, nên không có mô hình tổ chức nhà nước giống nhau, mà có nhiều mô hình tổ chức nhà nước khác nhau (Mô hình ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp đều có sự khác nhau...).

Đồng thời và quan trọng hơn là ngày nay, trong nền chính trị hiện đại ở các nước tư bản phát triển, đều phải thừa nhận rằng quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân. Nhân dân bằng lá phiếu của mình bầu nên Quốc hội, Tổng thống, phê chuẩn các thành viên chính phủ. Bởi vậy, mặc dù có sự phân chia quyền lực, sự độc lập, đối lập giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng tất cả đều phải tính đến phản ứng của nhân dân, của xã hội, phải sử dụng quyền lực trong phạm vi quy định của pháp luật. Các đảng chính trị ra đời, đề ra các chủ trương, chính sách quản lý, phát triển đất nước; tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ chủ trương, chính sách của mình, bỏ phiếu cho các ứng cử viên của đảng trong các cuộc bầu cử Quốc hội, bầu cử Tổng thống. Đảng giành được nhiều phiếu nhất trong Quốc hội được quyền thành lập chính phủ. Lãnh đạo của Đảng trở thành Tổng thống, Thủ tướng; đảng trở thành đảng cầm quyền, thông qua quyền lực nhà nước thực hiện chủ trương, chính sách của mình. Tổng thống và Quốc hội có quyền bổ nhiệm các thẩm phán của tòa án tối cao. Khi đảng cầm quyền có đa số trong Quốc hội, Tổng thống, Thủ tướng và nhiều thành viên chính phủ là người của đảng cầm quyền; Tổng thống, Quốc hội có quyền bổ nhiệm thẩm phán thì tam quyền phân lập giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp, sự kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan này, giữa các nhánh quyền lực nhà nước ở các nước tư bản phát triển đã không còn hoàn toàn như trước. Chẳng lẽ những người cổ vũ, tuyệt đối hóa nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức bộ máy nhà nước không thấy điều này?

TỰ DO, DÂN CHỦ TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT

         Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện một số người tự xưng là “người yêu tự do”, “nhóm yêu tự do”. Họ cho rằng quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam đang bị hạn chế. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của dân chủ, tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do, dân chủ“vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Tại Việt Nam, quyền tự do, dân chủ chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. 

Thực tế không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền, tự do, dân chủ của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp… Quyền tự do, dân chủ của mỗi con người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia đó.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Quyền tự do, dân chủ của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam. Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975) đến nay, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế.

Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do,dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng “hết cỡ” các quyền tự do, dân chủ thì sự tự do, dân chủ ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật Việt Nam./.

“Xã hội dân sự” và chống phá đất nước

         Thời gian gần đây, một số đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng việc Đảng ta tiến hành lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo các văn kiện phục vụ Đại hội XIII để đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến trái chiều, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong đó, các đối tượng tích cực cổ súy, ca ngợi, hình tượng hóa vấn đề “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự” phát triển. Sự thật, đây là một chiêu bài để hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Khái niệm “xã hội dân sự” (Civil Society) có nguồn gốc từ phương Tây,  được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân; tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình.

Trong chiêu bài này, “dân chủ” chỉ là vỏ bọc để các đối tượng đưa ra nhằm đánh lừa nhận thức của người dân. Mục tiêu của việc thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” tại Việt Nam là tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản một cách công khai, hợp pháp. Cách thức của chúng là ra sức cổ súy tính ưu việt, sự dân chủ của “xã hội dân sự” để đánh lừa nhận thức của người dân, cũng như hạ bệ vai trò của hệ thống chính quyền, rêu rao luận điệu cho rằng các tổ chức “xã hội dân sự” hoạt động ưu việt và hiệu quả hơn nhiều so với các cơ quan công quyền; đồng thời, tung ra luận điệu đòi tuyệt đối hóa sự “độc lập” của các tổ chức “xã hội dân sự”, đòi thúc đẩy thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự”. Từ đó, các đối tượng đưa Việt Nam đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội.

Chúng ta khẳng định: Đảng, Nhà nước ta không kỳ thị, không ngăn cản việc người dân lập hội, tham gia các tổ chức “xã hội dân sự”. Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ.

PHÒNG CHỐNG ‘DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRONG KHÔNG GIAN MẠNG

         Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm: 1) Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; 2) Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; 3) Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; Đặc biệt là trong lĩnh vực quân đội, khi chúng khai thác đời tư, bôi nhọ cán bộ, chiến sĩ, đưa những thông tin không đúng sự thật về tình hình biển đảo nhằm làm suy giảm sự trong sạch, đoàn kết của quân đội – hạt nhân quan trong trong việc giữ gìn hoà bình, an ninh của đất nước.

        Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là:

        Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân.

        Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề.

        Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm.

        Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội.

        Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử.

Quan điểm đổi mới chính trị và chế độ chính trị ở Việt Nam

        Từ trước đến nay, các thế lực thù địch luôn xuyên tạc việc đổi mới chính trị của Đảng vì bản chất và mục tiêu của chúng là nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của chúng, mà trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.

        Không chỉ lập lờ giữa các khái niệm, các thế lực thù địch còn chống phá, nhằm vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước, đặc biệt là vào những thời điểm khó khăn.

        Mục tiêu sâu xa của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xóa bỏ Đảng và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ thành quả cách mạng của đất nước ta, của Nhân dân ta dày công xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thông qua các hoạt động chống phá, các thế lực thù địch muốn gây mất ổn định chính trị, mất lòng tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho kinh tế không phát triển, xã hội tất yếu dẫn tới rối loạn, khủng hoảng và sụp đổ; làm cho chính trị rối loạn, đất nước không ổn định, tất yếu cũng dẫn tới xoá bỏ chế độ chính trị.

        Đổi mới chính trị ở Việt Nam những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chẳng những không làm thay đổi chế độ chính trị, trái lại, làm cho chế độ chính trị ngày càng thể hiện rõ hơn sự tiến bộ và phù hợp với điều kiện, đặc điểm của đất nước Việt Nam. Mặc dù thế giới có nhiều biến động, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những chủ trương và giải pháp của Đảng theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, qua lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn của con đường mà Đảng ta và Nhân dân ta đã chọn.

        Quan điểm đổi mới đúng đắn này đã được khẳng định và thể hiện đầy đủ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Chương I của Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể chế chính trị đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp 1992. 

        Trên thực tế, sự nghiệp đổi mới chính trị không những không làm thay đổi chế độ chính trị mà trái lại còn củng cố chế độ chính trị, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Giữ vững vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội./.


Luật An ninh mạng cần thiết không?

         Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, không gian mạng trở thành một bộ phận cấu thành và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội thông tin và kinh tế tri thức. Sự phát triển bùng nổ của công nghệ mang tính đột phá như trí tuệ nhân tạo, Internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây… đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc, và được dự báo sẽ mang lại những lợi ích chưa từng có cho xã hội loài người, nhưng cũng làm xuất hiện những nguy cơ tiềm ẩn vô cùng lớn. Vì vậy, an toàn môi trường mạng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới.

        Nhận thức rõ về những mối đe dọa đối với an ninh mạng, nhiều quốc gia coi đây là thách thức mới có tầm quan trọng và nguy hiểm cao nên đã cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia từ không gian mạng. Theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, 138 quốc gia (trong đó có 95 nước đang phát triển) đã ban hành Luật An ninh mạng. Chiến lược an ninh mạng của Liên minh châu Âu xác định các nguyên tắc cho không gian mạng, bao gồm: đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, quyền tự do biểu đạt, quyền đảm bảo dữ liệu và đời tư cá nhân; bảo đảm khả năng tiếp cận Internet; đảm bảo quản lý đa chủ thể dân chủ và có hiệu quả; trách nhiệm chung trong tăng cường an ninh mạng. Tháng 7/2015, Quốc hội Đức thông qua Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và các tổ chức trong kỷ nguyên số. Tháng 12/2016, Trung Quốc công bố “Chiến lược an ninh không gian mạng quốc gia”, trong đó khẳng định lập trường, chủ trương của Bắc Kinh trong vấn đề an ninh và phát triển không gian mạng. Quốc hội Thái Lan bỏ phiếu thông qua Luật An ninh mạng vào tháng 12/2016… Có thể thấy, các quốc gia đã và đang chú trọng xây dựng hành lang pháp lý để đối phó với những rủi ro xuất phát từ sự phát triển của Internet, đặc biệt là mạng xã hội; nhất là những thông tin xấu, độc có nguy cơ gây rối an ninh, trật tự xã hội, thậm chí đe dọa chủ quyền, an ninh quốc gia. Chính những quy định siết chặt quản lý an ninh mạng mà các nước đang áp dụng đã góp phần quan trọng bảo vệ tổ chức, cá nhân dùng mạng xã hội nói riêng cũng như đảm bảo một không gian mạng an toàn.

        Tại Việt Nam, những năm gần đây xuất hiện ngày càng nhiều các vi phạm pháp luật trên không gian mạng, gây bức xúc trong xã hội. Một thực tế hiển nhiên, không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng trên không gian mạng đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng để phát tán thông tin kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân, xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia. Cùng với đó, tình trạng đăng tải thông tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xúc phạm tôn giáo; lan truyền thông tin sai sự thật, vu khống tổ chức, cá nhân và vô vàn những hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm trật tự, an toàn xã hội như: đánh bạc, lừa đảo, đánh cắp tài khoản ngân hàng, mại dâm, ma tuý…

        Nguy hại hơn, theo thống kê, trong năm 2017, các hệ thống thông tin tại Việt Nam đã phải hứng chịu khoảng 15.000 cuộc tấn công mạng, gồm khoảng 3.000 cuộc tấn công lừa đảo (Phishing), 6.500 cuộc tấn công cài phần mềm độc hại (Malware) và 4.500 cuộc tấn công thay đổi giao diện (Deface). Trong 5 tháng đầu năm 2018 đã ghi nhận 4.035 sự cố tấn công mạng vào Việt Nam, riêng tháng 2 và 3 có tới hơn 1.500 vụ tấn công mạng; bên cạnh đó với khoảng 637.400 máy tính bị kiểm soát bởi mạng máy tính bị nhiễm mã độc (mạng máy tính ma - botnet). Điều đó cho thấy, lỗ hổng mất an toàn ngày càng lớn khiến nguy cơ an toàn thông tin mạng gia tăng nhanh chóng. Xuất phát từ thực tế, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng và ban hành văn bản luật về an ninh mạng để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

        Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV thông qua ngày 12/6/2018 tại kỳ họp thứ 5, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2019; Luật gồm 7 chương, 43 điều:

        Chương I, Những quy định chung (từ Điều 1 ÷ 9), quy định về phạm vi điều chỉnh; chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc, biện pháp bảo vệ an ninh mạng; bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm, xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng.

        Chương II, Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (từ Điều 10 ÷ 15)

        Chương III, Phòng ngừa, xử lý hành chính hành vi vi phạm an ninh mạng(từ Điều 16 ÷ 22)

        Chương IV, Hoạt động bảo vệ an ninh mạng (từ Điều 23 ÷ 29)

        Chương V, Bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng (từ Điều 30 ÷ 35)

        Chương VI, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân (từ Điều 36 ÷ 42), Chương VII, Điều khoản thi hành, quy định hiệu lực thi hành của Luật.

        Có thể khẳng định, Luật An ninh mạng ra đời đáp ứng yêu cầu của công tác an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh mạng; khắc phục tồn tại, hạn chế liên quan bảo vệ an ninh mạng; thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về an ninh mạng; bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phù hợp với thông lệ quốc tế.

ỨNG XỬ VĂN MINH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

         Mạng xã hội hiện đang là một kênh truyền thông cực kỳ nhanh và hiệu quả trong xã hội liên tục kết nối ngày nay.

Thời gian qua, trong tình hình dịch bệnh Covid 19 bùng phát mạnh mẽ, chúng ta đã chứng kiến nhiều hình ảnh những tấm gương sáng của đội ngũ y, bác sĩ tuyến đầu cùng nhau chống dịch, hay những hình ảnh của các mạnh thường quân, chung tay nhau quyên góp, gửi hàng hóa, thực phẩm hỗ trợ cho nhân dân vùng dịch bệnh.

Những hình ảnh, con số thống kê liên tục về dịch bệnh giúp cho người dân nắm tình hình, và an tâm phòng, chống dịch.

Rõ ràng, hiệu quả tích cực của mạng xã hội là vô cùng to lớn.

Trong khi, vẫn còn có nhiều trường hợp khi người dân cả nước đang rất lo lắng, hoang mang bởi dịch Covid-19; khi các cấp, các ngành cùng đội ngũ y, bác sỹ đang gồng mình chống dịch thì nghịch cảnh là, nhiều người đã tán phát lên mạng xã hội hàng loạt những thông tin bịa đặt; rằng nơi này, nơi kia có người bị nhiễm hoặc bị chết vì Covid-19. Trong số này có cả những ca sĩ, nghệ sĩ tên tuổi mà lâu nay công chúng từng mến mộ...

Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận tham gia mạng xã hội có ý đồ xấu; thiếu trách nhiệm với với cộng đồng; cố tình làm hại lợi ích, xúc phạm danh dự của người khác; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục …

Giao tiếp, ứng xử, tương tác trên mạng xã hội, mỗi người cần hoàn thiện đạo đức, nhân cách của con người trong thời đại 4.0.

Có như vậy mỗi bài viết, mỗi clip mới góp phần lan tỏa những quan điểm tư tưởng tiến bộ, những giá trị cao đẹp; tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng; mặt khác, góp phần đấu tranh với những tệ nạn tiêu cực, những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống … trái với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.

Khi tham gia mạng xã hội, mỗi người cần ý thức, rằng mình phải là người có trách nhiệm với cộng đồng; biết tôn trọng nhân phẩm, danh dự, quyền lợi của người khác; và nhất là biết tôn trọng danh dự của bản thân thì mới có trách nhiệm với mỗi bài viết, mỗi hình ảnh, mỗi comment khi đăng lên mạng xã hội./.

Tự do và tùy tiện

         "Tự do là một trạng thái mà bất kỳ ai cũng mong muốn và hướng tới. Tuy nhiên, tự do luôn mang tính nhân văn sâu sắc, phải đặt trong mối quan hệ với các cá nhân khác, với tập thể, với xã hội. Tự do phải xây dựng trên cơ sở của sự tôn trọng. Xã hội, tập thể tôn trọng cá nhân, nhưng ngược lại cá nhân này phải tôn trọng cá nhân khác cũng như tập thể”.

Ai cũng có quyển tự do phát ngôn, tự do đánh giá, nhận định, nhưng phải trong khuôn khổ. Tự do đó phải tuân thủ quy định, quy chế, quy ước của cơ quan, tập thể. Tự do phát ngôn trên cơ sở tôn trọng nhau, tôn trọng tập thể, nói cách khác, tự do được thể hiện một cách có văn hóa, (ví dụ: trong khuôn khổ cuộc họp, có sự chủ tọa là trưởng phòng, mà hai, ba hay hơn số người đó đứng lên to tiếng, cãi vã  không trên tinh thần xây dựng, lợi dụng “tự do phát ngôn”, lợi dụng quy chế dân chủ để vượt lên trên cả tự do, dân chủ, thì phải chăng "tự do” đã trở thành “tùy tiện”). Mà đã là “tùy tiện” thì ranh giới của sự tôn trọng, của văn minh, của văn hóa không còn nữa. Trên thực tế, từ “tự do” tới “tùy tiện” rất gần. Nhân danh “tự do” để “tùy tiện” trong tranh luận, trong trao đổi, trong đánh giá, để “lớn tiếng”, gây gổ, thậm chí văng tục trong cuộc họp là “điểm trừ”, cần phải phê bình, uốn nắn nghiêm túc, cho dù cá nhân có là ai đi chăng nữa.

Mỗi người cần thể hiện rõ vai trò cá nhân của mình trong phân tích, đánh giá, suy nghĩ đúng, sai, góp phần xây dựng văn hóa cho tập thể. Dứt khoát cẩn loại bỏ những biểu hiện tùy tiện, lấy danh nghĩa “tự do” vì sự tự mãn, nóng này của bản thân mà xâm phạm sự tự do, xâm phạm trạng thái văn hóa, văn minh của tập thể./.

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN CHỦ

         Gần đây bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, các thế lực thù địch ra sức công kích, đánh phá và luận điệu xuyên tạc rằng: Ở Việt Nam không có dân chủ, người dân Việt Nam luôn bị kìm kẹp, đàn áp, bất công... Tuy nhiên không phải như vậy trái lại ở Việt Nam luôn là một đất nước rất chú trọng đến vấn đề dân chủ, coi dân chủ là nhiệm vụ chiến lược, là mục tiêu của cách mạng nhân dân; Việt Nam luôn là người làm chủ đất nước, cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước, quê hương. Thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm Thực hiện tốt và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế -xã hội, quốc phòng, an ninh. Chế độ dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ XHCN, mang bản chất của giai cấp công nhân. Chủ thể của quyền lực chính trị ở Việt Nam là đại đa số nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Ở Việt Nam mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Dân chủ ở Việt Nam được thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: về kinh tế; về; về - văn Hóa vào về quốc phòng, an, trong đó dân chủ về kinh tế giữ vai trò quyết định. 

        Từ những quan điểm về dân chủ như trên, thời gian qua các cấp, các ngành, cả hệ thống trị và toàn dân luôn nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt vấn đề dân chủ: “ Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng cho chương II với 36 điều ( từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Thời gian qua quyền dân chủ ở Việt Nam không ngừng được mở rộng từ trong Đảng ra phạm vi toàn xã hội; Quyền và lợi ích của nhân dân được tôn trọng, bảo vệ; các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân đã được xem xét và xử lý nghiêm khắc theo pháp luật. Do thực hiện tốt vấn đề dân chủ cho nên thời gian qua ở Việt Nam dân luôn tin Đảng, Đảng luôn đáp chọn tình dân; Đảng, Hệ thống chính trị cùng nhân dân luôn quyết tâm, vững chí xây dựng Tổ quốc giàu mạnh. Để đến hôm nay, Việt Nam luôn là điểm sáng trong phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, được thế giới đánh giá cao trên trường quốc tế ( kết quả chống dịch COVID - 19 thời gian qua ở Việt Nam là một ví dụ ). Những thành quả đạt được trên là những minh chứng bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc rằng: Ở Việt Nam không có dân chủ, người dân Việt Nam luôn bị kìm kẹp, đàn áp, bất công.../

Không thể xuyên tạc Quỹ Vacxin

         Trên mạng xã hội, các tổ chức chống phá như Chân Trời mới media, Việt Tân… liên tục đăng tải thông tin về việc Chính phủ kêu gọi người dân, doanh nghiệp và các tổ chức đóng góp, hỗ trợ kinh phí mua vắc xin ngừa Covid-19. Tiêu biểu là những bài viết như “Nhà nước CSVN kêu gọi hỗ trợ mua vaccine có gì sai sai”, “Đốt tiền cúng ma” với nội dung hết sức xuyên tạc, bịa đặt như: “Chính phủ không thể thu xếp nổi 1,2 tỷ USD để mua vaccine về tiêm chủng cho người dân. Tất cả những điều này cho chúng ta biết điều gì? Đó là một sự dối trá khủng khiếp”, “Nếu qui đổi ra tiền VN thì khoảng 25.000 tỷ đồng. Số tiền này tương đương với số tiền chưa giải ngân hết của gói “cứu trợ dân nghèo” 30.000 tỷ đồng mà Nhà nước đã hứa hồi quý 1 năm 2020”,....

        Đáng chú ý, các tổ chức, cá nhân này còn lấy kinh phí mua vắc xin để so sánh với việc tổ chức Đại hội Đảng, hay thậm chí còn tung lên mạng xã hội nhiều thông tin, bình luận xuyên tạc tình hình dịch bệnh trong nước và kế hoạch mua, sản xuất và tiêm vắc xin của Việt Nam, đại loại như: “Việt Nam toang rồi. Tình hình dịch bệnh hiện nay ở Việt Nam gần như mất kiểm soát”, “Chính phủ tắc trách làm cho dịch bệnh thêm nghiêm trọng”, “Thành quả ba lần chống dịch trước đây đang bị đổ xuống sông, xuống bể”, “Việt Nam quá chủ quan trong vấn đề vắc-xin”, “Tỉ lệ tiêm vắc-xin Covid ở Việt Nam thấp nhất trên thế giới”, “Việt Nam chỉ ưu tiên tiêm cho công an, quân đội”, “Vắc-xin chỉ dành cho những người có tiền; người nghèo sẽ không có cơ hội tiêm vắc-xin”, “Việt Nam không minh bạch trong việc mua và sử dụng vắc-xin”, “Chính quyền ép buộc người dân đóng góp tiền mua vắc-xin”…

        Rõ ràng, những kẻ xấu muốn thổi phồng câu chuyện vắc xin để gây hiểu lầm, hoang mang trong dư luận, kích động tâm lý nghi ngờ trong cộng đồng, tìm cách phủ nhận thành công của Việt Nam trong cuộc chiến chống dịch bệnh, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đánh vào lòng tin của người dân đối với hệ thống chính trị, gây khó khăn cho công tác phòng chống đại dịch Covid. Nhưng thực tế những ngày qua cho thấy âm mưu xấu xa của những kẻ chống đối đã chẳng đạt được điều gì ngoài sự coi thường của người dân trong nước. Dường như chẳng mấy ai buồn để ý tới những thông tin bịa đặt, luận điệu xuyên tạc của mấy kẻ chuyên “chọc gậy bánh xe”, phát ngôn bừa bãi, bất chấp thực tế, đi ngược lại dư luận trong nước và quốc tế.

        Trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã có chủ trương mua đủ lượng vắc xin cần thiết để tiêm phòng cho nhân dân. Theo tính toán của Bộ Y tế, dự kiến chúng ta cần mua khoảng 150 triệu liều vắc xin phòng Covid-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người dân, với tổng nhu cầu kinh phí ước khoảng 25,2 nghìn tỷ đồng. Đây là yêu cầu nguồn kinh phí rất lớn. Vì vậy, chủ trương chung của Chính phủ là bên cạnh nguồn ngân sách thì cần huy động thêm các nguồn lực từ đóng góp mang tính thiện nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để cùng với nhà nước mua đủ số lượng vắc xin tiêm kịp thời cho người dân.

        Ngay khi nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ, Bộ Tài chính đã khẩn trương triển khai xây dựng để ban hành quy chế hoạt động của Quỹ và thiết lập bộ máy quản lý. Theo quy định, Quỹ sẽ được mở tài khoản tại ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó sẽ huy động nguồn lực đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Nếu các doanh nghiệp muốn đóng góp vào Quỹ thì hoàn toàn có thể chuyển tiền qua hệ thống các ngân hàng thương mại. Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao cho Bộ Tài chính làm việc với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Y tế để chuyển vào Quỹ các khoản tiền mà một số doanh nghiệp đã đóng góp hỗ trợ cho Chính phủ, Bộ Y tế trong thời gian liên quan đến việc mua vắc xin.

        Việc đóng góp vào Quỹ vắc xin phòng Covid-19 là sự kêu gọi đóng góp một cách tự nguyện của các tổ chức, cá nhân và không có mức đóng góp tối thiểu cũng như mức đóng góp tối đa. Tất cả đều trên cơ sở tinh thần tự nguyện của các tổ chức, cá nhân. Và với mỗi đồng đóng góp dù là nhỏ nhất cũng đều được trân trọng và quản lý công khai, minh bạch. Đặc biệt, theo quy định tại Khoản 1, Điểm 2-Nghị định 44/2021/NĐ-CP của Chính phủ thì đối với khoản chi ủng hộ Quỹ vắc xin này, doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

        Quỹ vắc xin được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập ngày 26-5-2021 đã đem đến niềm tin, hy vọng với người dân Việt, bởi đây là chủ trương đúng đắn. Có vắc xin tiêm chủng phòng ngừa cho đa số người dân mới có thể sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp. Tiêm vắc xin đại trà chính là giải pháp căn cơ, lâu dài, mang tính chiến lược và quyết định để thoát khỏi đại dịch.

        Những ngày qua, kể từ khi Quỹ vắc xin phòng, chống Covid-19 được Thủ tướng ký thành lập, không chỉ doanh nghiệp, địa phương mà rất nhiều cá nhân trên mọi miền của Tổ quốc đều đã nhiệt tình hưởng ứng, ủng hộ, đóng góp. Làn sóng, phong trào ủng hộ không ngừng lớn mạnh và lan xa. Những con số của Quỹ vắc xin liên tục được cập nhật với niềm vui, sự hy vọng cộng dồn, lan tỏa mãi.

        Mỗi đóng góp, dù từ vài trăm tỷ đồng của các doanh nghiệp, tổ chức hay vài chục nghìn đồng của các em nhỏ, học sinh, sinh viên hay người già… đều được thấu hiểu và trân quý.

        Trong cuộc chiến chống Covid – 19 mỗi bước đi của Việt Nam đều căng mình thận trọng nhưng lại vô cùng quyết liệt. Từ những tấm lòng của một dân tộc thiện lương, hình ảnh một đất nước dù phải “căng” mình chống dịch nhưng luôn chung một niềm tin “vượt qua bão tố” một lần nữa hiện lên vô cùng đẹp đẽ và đầy tình người. Giữa cơn xáo động toàn cầu, cái tên Việt nam hiện lên như một “biểu tượng chiến thắng” đầy cảm xúc. Là công dân có trách nhiệm, chúng ta cần phải tỉnh táo, biết "gạn đục khơi trong", luôn lạc quan, tin tưởng vào công tác phòng, chống dịch của Chính phủ và các ngành, địa phương. Chỉ có đoàn kết đồng lòng, chúng ta mới không bị dẫn dắt bởi kẻ xấu, vững vàng trước mọi khó khăn, chiến thắng trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19 này. Hãy sáng suốt trong tiếp nhận và xử lý thông tin, theo dõi sát thông tin trên các kênh chính thống, không nghe theo, không lan truyền thông tin không xác thực, kịp thời thông báo đến cơ quan chức năng các trường hợp đăng thông tin bịa đặt, sai sự thật về dịch bệnh…

Nữ điều dưỡng Bệnh viện ở Hà Nội dương tính SARS-CoV-2

 Nữ điều dưỡng ở Bệnh viện Bắc Thăng Long vừa nhận kết quả dương tính SARS-CoV-2, theo thông tin từ Sở Y tế Hà Nội tối 11/7.

Cái kết xứng đáng cho Bà Đầm Xòe Phạm Thành - kẻ có tư tưởng phản động

 

          Sáng 09/7, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt bị cáo Phạm Chí Thành (tức Phạm Thành, sinh năm 1952, trú tại phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) 5 năm 6 tháng tù về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo quy định tại Điều 117, khoản 1-Bộ luật Hình sự năm 2015.


 

          Phạm Chí Thành sinh năm 1952 trong một gia đình nông dân tại Yên Định, Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp khóa 3 (1979-1984) tại Phân viện Báo chí và tuyên truyền nay là Học viện Báo chí Hà Nội, Thành được nhận vào công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN), được tạo điều kiện có nơi ở, vợ ra Hà Nội cũng tìm được việc làm ổn định. Sau này con của Thành cũng được nhận vào làm tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Những tưởng với tất cả sự ưu ái đó Thành phải biết ơn, ra sức cống hiến, phục vụ. Nhưng ngược lại, Thành giao kết với các đối tượng phản động, cơ hội chống đối ở trong và ngoài nước, ngày càng suy thoái về tư tưởng và đạo đức. Tuy nhiên, ngay trong thời gian còn công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, Thành đã bị cảnh cáo và cho thôi giữ chức vụ Phó trưởng phòng, điều chuyển về phòng Kiểm thính vì hành vi đăng tải lên internet một số bài viết nội dung không đúng sự thật, xuyên tạc và bóp méo chủ trương, đường lối chính sách và pháp luật của Đảng và nhà nước.

          Ngay sau khi nghỉ hưu, tháng 2.2012, Thành lập blog "Bà Đầm Xòe" để đăng tải bài viết. Sau đó đến giữa năm 2014, bị cáo tạo lập trang Facebook cá nhân có tên “Phạm Thành" và tiếp tục đăng tải nhiều bài viết trên các trang mạng.

          Đến tháng 7.2019, Thành tập hợp các bài viết đã đăng tải và được sao lưu trong máy tính, rồi biên soạn, chỉnh sửa lại thành tập tin (file) tài liệu riêng. Bị cáo Thành tự thiết kế bìa, đặt tên sách là "Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo", ghi thông tin tác giả là “Bà Đầm Xòe Phạm Thành & Các còm sĩ"... sau đó thuê in rồi phát tán.

          Các bài viết của đối tượng có nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Thành còn nhiều lần thực hiện trả lời phỏng vấn các đài, báo ở nước ngoài và một số cá nhân trong nước, được đăng tải trên mạng internet và mạng xã hội Facebook có liên quan đến việc phát tán các quyển sách trên

          Y cũng được biết đến là một thành viên tích cực của các hội nhóm phản động như  “Cứu lấy dân oan”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “No-U”, thường xuyên có mặt cổ vũ cho các hoạt động tụ tập đông người tại hồ Hoàn Kiếm, nhất là các vụ gây rối liên quan đến vấn đề môi trường biển miền Trung 2014, vụ Hà Nội đốn chặt cây xanh, Dự thảo Luật An ninh mạng, Dự thảo Luật khu vực hành chính kinh tế đặc biệt, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ Triều lần 2,…

          Mức án 5 năm 6 tháng tù giam là một cái kết xứng đáng cho một kẻ có tư tưởng phản động với những hành vi đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân.

 

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI VỚI PHÁT TRIỂN

 

          Sau khi thực hiện tổng kết quá trình phát triển 10 năm từ 1976-1986, với việc nhận định nhiều điểm hạn chế mang tính duy ý chí, nóng vội, chưa đạt kết quả như mong đợi, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội của đường lối Đổi mới ở Việt Nam, 1986) đã phân tích một cách biện chứng mối quan hệ giữa phát huy nhân tố con người với phát triển. Tư duy về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và mục tiêu vì con người được cụ thể hơn, hiện thực, rõ nét hơn khi gắn mối quan hệ đó trong chính sách xã hội. Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục tiêu của hoạt động kinh tế. Ngay trong khuôn khổ của hoạt động kinh tế, chính sách xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao đọng, chất lượng sản phẩm, là một nhân tố quan trọng để phát triển sản xuất. Do đó, cần có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định được những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên. Việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động. Cùng với việc tiến tới xóa bỏ cơ sở kinh tế - xã hội của sự bất công xã hội, phải đấu tranh kiên quyết chống những hiện tượng tiêu cực, làm cho những nguyên tắc công bằng xã hội và lối sống lành mạnh được khẳng định trong cuộc sống hằng ngày của xã hội. Xét trực tiếp tới thực hiện công bằng xã hội trong phát triển, Đại hội VI khẳng định: Tôn trọng lợi ích chính đáng của các hoạt động kinh doanh hợp pháp, có ích cho xã hội. Ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc các nguồn thu nhập bất chính. Sự quan tâm đến con người và thái độ tôn trọng lẫn nhau phải trở thành một tiêu chuẩn đạo đức trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội nhân là trong các dịch vụ phục vụ đông đảo nhân dân.

          Việc chăm lo con người trong phát triển không chỉ nhấn mạnh khía cạnh chung, vấn đề đảm bảo sự bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng giới cũng được Đại hội VI nêu ra. Là một quốc gia có nhiều cộng đồng các tộc người, nên việc quan tâm đầy đủ quyền lợi và quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc được coi là một trọng tâm trong mục tiêu phát triển con người. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương: Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Trên cơ sở đó, giải pháp về sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với chăm lo phát triển con người, lấy con người làm mục tiêu và con người là động lực phát triển kinh tế được Đại hội VI đề xuất: hơn bao giờ hết, chúng ta luôn phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với xã hội, xã hội với kinh tế. Mục tiêu ổn định tình hình, giải phóng năng lực sản xuất không chỉ là phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mới mà còn là giải quyết các vấn đề xã hội, từ công việc làm đến đời sống vật chất và văn hóa, bồi dưỡng sức dân, xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành mạnh, thực hiện công bằng xã hội, với ý thức người lao động là lực lượng sản xuất lớn nhất, là chủ thể của xã hội.

          Trên cơ sở tư duy Đổi mới của Đại hội toàn quốc lần thứ VI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng thông qua đề ra chủ trương đầy đủ hơn nữa về con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế. Cương lĩnh nhấn mạnh yêu cầu phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân; giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội; bảo vệ tự do tôn giáo, tín ngưỡng và chống lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng làm tổn hại đến lợi ích Tổ quốc và nhân dân. Về biện pháp để từng bước hiện thực hóa phương châm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế, Cương lĩnh của Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ:

          Thứ nhất, chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của con người là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo, ý thức trách nhiệm chính trị, xã hội, niềm tin của nhân dân đối với chế độ và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

          Thứ hai, chính sách xã hội nhằm chăm lo, bồi dưỡng xây dựng và phát triển con người mới, con người có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi, sống có văn hóa, tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế.

          Thứ ba, bảo đảm không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân về ăn, mặc, ở, đi lại, nghỉ ngơi, dịch vụ y tế, việc làm và điều kiện lao động; xây dựng môi trường xã hội trong sạch, an toàn, vì sự phát triển toàn diện của con người.

          Thứ tư, chính sách phân phối theo lao động, khuyến khích làm giàu, tăng thu nhập chính đáng, dựa trên kết quả lao động; đồng thời có chính sách bảo trợ, điều tiết hợp lý thu nhập giữa các vùng, các bộ phận dân cư, thiết l ập một hệ thống đồng bộ về bảo hiểm và trợ cấp xã hội.

          Thứ năm, chăm lo cho gia đình, thực hiện bình đẳng nam nữ, cải thiện điều kiện sống, làm việc của bà mẹ, chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em, chăm lo đời sống người già, tàn tật, yếu thể trong xã hội.

          Thứ sáu, phát triển các phương tiện truyền thông đại chúng đa dạng, phong phú, hiện đại, nội dung thông tin chân thực, bổ ích; phát triển văn học nghệ thuật có nội dung nhân văn, dân chủ, vì cuộc sống tinh thần cao đẹp.

          Thứ bảy, phát triển thể dục thể thao nâng cao thể chất của người dân.

          Thứ tám, bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên, giữ gìn cân bằng sinh thái cho các thế hệ mai sau.

          Thứ chín, thực hiện chính sách bình đẳng, đoaà kết tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tôn trọng văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng; chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; có chính sách hỗ trợ phát triển thích ứng với các vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu và vùng xa.

          Thứ mười, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo vệ tự do tôn giáo, tín ngưỡng, chống mọi hành vi xâm phạm tự do tôn giáo, tín ngưỡng, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc và nhân dân.

          Trên cơ sở các giải pháp được nêu trong Cương lĩnh Đại hội VII, tại các Đại hội tiếp theo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế tiếp tục được nhấn mạnh và cụ thể hóa ở mức sâu hơn. Nếu như tại các kỳ Đại hội trước đó, con người được nêu một cách tương đối khái quát, thì đến Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, con người được nhìn nhận như là nguồn lực của phát triển. Trong đường lối phát triển kinh tế của Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguồn lực con người trở thành động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững. Đại hội khẳng định: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát riển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Con người và văn hóa trở thành thành tố mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể hơn, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp tư liệu sản xuất lẫn ở khâu kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo. Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư.

          Trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, con người được khẳng định là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như vậy, về vai trò của nhân tố con người trong phát triển kinh tế, từ chỗ được xác định là quan trọng, chủ yếu, nền tảng thì đến Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, con người trở thành động lực quyết định đến sự phát triển. Con người đã được đặt đúng vào vị trí đối với quá trình phát triển. Trong phát triển kinh tế, con người được quan tâm chu đáo hơn. Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản. Bằng nhiều giải pháp, tạo nhiều việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Khôi phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh niên và đào tạo lao động có nghề. Tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã họi. Sớm xây dựng chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp. Đó là những giải pháp cụ thể được Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhằm hiện thực hóa hơn nữa phương châm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong phát triển kinh tế.

          Việc hiện thực hóa đường lối của Đại hội IX cũng như tinh thần Cương lĩnh và các Đại hội trước đó đã đưa đến những thành tựu nổ bật, trên cơ sở đó, Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ hơn nữa khi cho rằng: đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn và thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra quy luật phát triển, đó là chìa khóa của thành công. Con người không những là nguồn lực, có vai trò quyết định đến phát triển, con người còn là mục tiêu của quá trình đổi mới, là căn cứ của đổi mới và phát triển. Đại hội X tiếp tục làm sâu sắc thêm nhận thức về con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế qua nội hàm của thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Kết hợp các mục tiêu phát triển với các mục tiêu xã hội, thực hiện chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế; tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.

          Trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX, con người được khẳng định là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 

 

Khẳng định bản chất nhân văn của một Nhà nước vì dân

 

Việt Nam luôn lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các nhu yếu phẩm vì Covid-19… những thông điệp mạnh mẽ của lãnh đạo Đảng, Chính phủ đã củng cố niềm tin của nhân dân vào sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc và con đường phát triển của đất nước.

Tư duy cát cứ, giả danh yêu nước

 

Cụm từ “cát cứ” hiểu theo nghĩa của Từ điển tiếng Việt là muốn chiếm cứ một vùng, tự lập chính quyền riêng mà không phục tùng chính quyền Trung ương. Hiểu theo nghĩa thông thường là muốn tự thâu tóm quyền hành, tự quản lý, điều hành, tự “xưng hùng, xưng bá” ở một địa bàn nhất định.