Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

 

KẺ BÁN NƯỚC NGÔ ĐÌNH DIỆM TẠI SAO PHẢI “TƯỞNG NHỚ”?

 

Những ngày qua liên quan đến cái chết của anh em nhà Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu đã bị cấp dưới khai tử lại được những kẻ cờ vàng ba sọc, một số trang mạng, tổ chức không có thiện chí chống phá Việt Nam như “Việt Tân”, RFA Tiếng Việt và thậm chí cả những kẻ mang danh nghĩa dân chủ như Nguyễn Xuân Diện, linh mục Nguyễn Duy Tân đã đăng đàn tưởng nhớ, cầu nguyện với những luận điệu xuyên tạc lịch sử, xem đó như là những người “anh hùng”.

Vậy Ngô Đình Diệm là ai? Có lẽ những người cộng sản chân chính không ai là không nhớ đến tội ác tay sai cho địch của Ngô Đình Diệm để chống phá lại cách mạng. Vào những năm 1930 và 1931, chính Ngô Đình Diệm là người đã giúp Pháp đàn áp cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh của nông dân do những người Cộng sản tổ chức. Ngô Đình Diệm đã vùi dập cách mạng vì ông không ủng hộ cách mạng và ông cho rằng cách mạng không thể quét sạch thực dân Pháp, có thể sẽ đe dọa quyền cai trị của quan lại.

Sau khi được Bảo Đại đưa lên làm Thủ tướng (7/1954) thay cho Bửu Lộc do Mỹ gây sức ép và làm Tổng thống của ngụy Sài Gòn vào năm 1955, Ngô Đình Diệm đã thực hiện mưu đồ chia rẽ lâu dài đất nước, chống phá cách mạng, thực hiện âm mưu của Mỹ biến Miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới; tàn sát người yêu nước với chính sách bạo tàn “giết nhầm hơn bỏ sót”.Đỉnh điểm cho chính sách đó là việc Ngô Đình Diệm đã ban hành cái gọi là “Luật 10/59” vào ngày 6/5/1959, trong đó có quy định Tòa án quân sự đặc biệt dưới chế độ Ngô Đình Diệm chỉ xử 2 mức: Tử hình và khổ sai chung thân và thực tế chỉ cần có ý nghĩ chống chính quyền Diệm là bị ghép tội chứ không đợi đến ra tòa hán xét.

Ấy vậy mà, giờ đây một số kẻ đang được sống hưởng thụ cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam như Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Duy Tân... lại đi cổ vũ, tưởng niệm xem kẻ phản bội Tổ quốc, tàn sát, tắm máu đồng bào dân tộc mình lại tôn vinh trở thành những người “anh hùng” của dân tộc. Đó là hành động của những kẻ đã và đang cổ vũ cho hành động xuyên tạc lịch sử dân tộc, là những kẻ mang danh nghĩa đầu tranh dân chủ, nhân quyền để tiến hành chống phá đất nước đấy thôi.

 

 

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN “MỀM” TRONG CHỐNG PHÁ

NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

 

Sau nhiều biện pháp tuyên truyền trắng trợn, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách công khai, nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta không mang lại kết quả, các thế lực thù địch quay sang sử dụng thủ đoạn đoạn “mềm”, bằng cách triệt để tận dụng xu thế toàn cầu hóa và chủ trường hội nhập quốc tế của Việt Nam. Thực hiện thủ đoạn “mềm”, các thế lực thù địch chuyển từ đối đầu sang thực hiện quan hệ thân thiện, đi sâu vào các lĩnh vực, các ngành mà chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót trong quản lý, chỉ đạo và thực hiện; chúng tăng cường quan hệ nhiều mặt để tiếp cận, thâm nhập. Qua đó, tác động vào tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ đảng viên có vị trí, vai trò cao trong Đảng, Nhà nước để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ngay từ trong nội bộ ta.

Các thế lực thù địch luôn cho rằng, để thực hiện được mưu đồ “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam thì vấn đề trước tiên là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; phải xây dựng ý thức hệ, hệ thống lý luận có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một giai cấp - xã hội mới kiểu tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Bên cạnh đó, còn phải tăng cường hợp tác toàn diện, tiến tới “lộ trình dân chủ toàn diện” ở Việt Nam.

Để thực hiện mưu đồ trên, trước hết chúng lấy tiến công trên lĩnh vực kinh tế làm mũi nhọn, thông qua đầu tư thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản tại Việt Nam, từ đó làm cho nền kinh tế Việt Nam chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường, điều kiện để hình thành “chính trị dân chủ”, “xã hội dân sự, tạo ra môi trường và cơ hội cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho Đảng ta không kiểm soát được tình hình; tạo tình thế không thể không thay đổi, buộc Đảng hoặc phải chấp nhận “dân chủ”, hoặc tan vỡ do bạo động, đột biến chính trị, xã hội. Đồng thời, chúng kêu gọi dân chủ kiểu tư sản nhằm “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng và đảng viên ra khỏi quần chúng để tạo áp lực, lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, chỉ có điều chỉnh chính sách, thông qua “thân thiện giả hiệu” để đi sâu vào Việt Nam, làm ăn với chúng ta thì chúng mới có cơ hội, điều kiện, môi trường tiếp cận rộng rãi để tạo dựng, thúc bách “xã hội dân sự” tại Việt Nam.

Hai là, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, một mặt chúng tăng cường tiếp cận với mọi đối tượng để mua chuộc, lôi kéo, tác động làm “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” nội bộ ta ngay từ bên trên, bên trong chú trọng việc hỗ trợ cho những phần tử được chúng cho là “có tư tưởng dân chủ, thân phương Tây”. Mặt khác, chúng tăng cường tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi, đối ngoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực để tăng cường quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa thông qua các thủ đoạn “ngoại giao thân thiện”; đồng thời tạo kênh và cơ hội tiếp cận sâu hơn với cán bộ, đảng viên để thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; tăng cường xâm nhập, tiến công chuyển hóa” ngầm bằng các thủ đoạn hết sức tinh vi, để phá hoạt nội bộ ta Trước những thủ đoạn “mềm” của các thế lực thù địch, mỗi chúng ta, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không ngừng trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người đảng viên; kiên định, nhất quán quan điểm của Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động./.

 

 

 

 

NHỮNG CON NGƯỜI KIẾN TẠO NHIỀU CHIẾN CÔNG THẦM LẶNG

Những cống hiến, hy sinh thầm lặng trong suốt những năm tháng hoạt động dưới vỏ bọc “kẻ thù” đã đưa nhiều chiến sỹ tình báo trở thành huyền thoại có một không hai trong lịch sử quân sự Việt Nam.

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chiến trường không chỉ diễn ra ngoài mặt trận mà còn diễn ra ngay trong lòng địch - nơi những chiến sỹ tình báo xuất sắc nhất của quân đội ta lặng lẽ lập những chiến công.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam ta đã tạo ra “những chiến công lịch sử mà như huyền thoại.” Một trong những “huyền thoại” ấy là câu chuyện về những chiến sỹ tình báo đầy bản lĩnh, trí tuệ đã “chui sâu, bám chắc” trong lòng địch nhằm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tình báo là tai mắt của Đảng, của quân đội, trách nhiệm của nó rất quan trọng… Muốn biết địch thì phải có tình báo giỏi. Muốn khỏi địch biết ta, cũng phải có tình báo giỏi...”

Tình yêu Tổ quốc, nỗi mong mỏi đất nước được độc lập tự do, giang sơn thu về một mối đã trở thành động lực, thành niềm tin để những chiến sỹ tình báo - những “vì sao chiến thắng” - thêm vững vàng trong cuộc chiến tàn khốc không tiếng súng giữa lòng địch. Những cống hiến, hy sinh thầm lặng trong suốt những năm tháng hoạt động dưới vỏ bọc “kẻ thù” đã đưa nhiều chiến sỹ tình báo trở thành huyền thoại có một không hai trong lịch sử quân sự Việt Nam. Những tên tuổi ấy mãi mãi được Tổ quốc ghi công, được nhân dân ghi nhớ, như Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo, điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn, "Ông cố vấn" Vũ Ngọc Nhạ, nữ tình báo vẽ bản đồ bên kia vỹ tuyến 17 Đinh Thị Vân, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc), Đại tá Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang), nữ tình báo Nguyễn Thị Mỹ Nhung (bí danh Tám Thảo)...

Gác lại tình riêng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, “bí mật, khôn khéo, cẩn thận, kiên nhẫn,” “dựa vào dân, đi sát địch,” các chiến sỹ tình báo đã xây dựng được những tổ chức bí mật, thậm chí nhiều người đã “chui sâu, bám chắc” thâm nhập vào các cơ quan đầu não địch, hoạt động lâu dài mà không hề bị lộ.
Điển hình như Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ (bí danh Hai Long) - "Ông cố vấn" cho 3 đời tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Với chức danh “Cố vấn cao cấp,” ông đã khai thác được nhiều tại liệu cơ mật trong Phủ tổng thống. Ông cũng là người xây dựng cụm tình báo chiến lược nổi tiếng A22, từng làm rúng động chính trường Sài Gòn trong suốt những năm cuối của thập niên 1960.

Với mạng lưới 42 điệp báo viên, hoạt động dưới nhiều chức danh, cấp bậc từ cao tới thấp trong chính quyền ngụy Sài Gòn, ông và đồng đội đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu quan trọng góp phần vào chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bằng những hoạt động khéo léo và đầy biến hóa của mình, tranh thủ những yếu tố “tranh tối tranh sáng” đầy bất ổn của chính trường Sài Gòn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, một trong những huyền thoại xuất sắc nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam, đã thâm nhập trong quân đội chính quyền Sài Gòn. Trong thời gian làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), ông đã cung cấp nhiều tin tức, tài liệu mật liên quan đến các cuộc hành quân của địch trong tỉnh và quân khu, thả hơn 2.000 tù chính trị, khôn khéo lái các cuộc hành quân “tảo thanh” của địch vào chỗ không người, bảo toàn lực lượng cách mạng, góp phần vào thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre. Dưới danh nghĩa một sỹ quan cao cấp quân đội, có tiếng nói, có ảnh hưởng lớn đối với chính trường Sài Gòn, ông đã tham gia, tổ chức hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị miền Nam những năm 1964-1965, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Ông chính là nguyên mẫu để nhà văn Trần Bạch Đằng xây dựng thành công nhân vật điệp viên bản lĩnh, thông minh, gan góc Nguyễn Thành Luân trong bộ phim nổi tiếng “Ván bài lật ngửa.” Nhờ tạo vỏ bọc bình phong tốt trong cơ quan an ninh và tình báo địch, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc) được tuyển mộ và làm việc suốt 20 năm tại Phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy. Nhờ những báo cáo và tài liệu tuyệt mật ông gửi ra, ta đã triệt phá 35 ổ gián điệp địch tung vào các vùng giải phóng ở miền Nam và cả miền Bắc. Ông cũng là người “gợi ý” cho Nguyễn Cao Kỳ đảo chính lật Nguyễn Văn Thiệu, giải cứu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.

Vượt qua muôn vàn hiểm nguy, lúc nào cũng trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, những chiến sỹ tình báo lặng thầm bám sát địch, theo dõi, điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin, phân tích, nhận định và báo cáo về cấp trên. Họ luôn “đơn độc” cận kề với hàng trăm mối hiểm nguy, có những lúc lên đến cực đỉnh, bởi phải sống và hoạt động ngay giữa một rừng súng đạn hiểm ác ngay giữa trung tâm đầu não của địch. Để đảm bảo an toàn cho tổ chức, nhiều người trong số họ không dám gặp vợ con, ngay cả người thân cũng không dám nhận. Nhiều chiến sỹ tình báo đã trở thành "đối tượng" nằm trong danh sách hồ sơ đặc biệt và là "con cá bự” mà cơ quan mật vụ của chính quyền Mỹ-ngụy Sài Gòn ráo riết truy lung và treo nhiều thưởng lớn, điển hình như Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) - nguyên Cụm trưởng cụm tình báo H63 (trước năm 1967 là A18), Chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động, mở đường tiến đánh Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Xác định “ra đi là không có ngày trở về,” những chiến sỹ tình báo luôn nguyện hy sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ. Sau hai cuộc đảo chính bất thành, dù Mặt trận giải phóng yêu cầu rời khỏi Sài Gòn nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn quyết trụ lại để tiến hành cuộc đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, bị bắt và tra tấn dã man nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn không để lộ tung tích của mình. Cho đến lúc hy sinh, không ai biết ông là một chiến sỹ tình báo cộng sản.

Với vai trò là “tai mắt của Đảng, của Quân đội,” các chiến sỹ tình báo đã cung cấp nhiều thông tin vô cùng giá trị, giúp cho Đảng và Bộ Chính trị đánh giá, dự đoán đúng những chuyển biến tình hình, đưa ra những chỉ đạo chiến lược kịp thời làm nên những chiến thắng lẫy lừng. Nhờ những thông tin tình báo chính xác, kịp thời, ta đã phát hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn của địch, như: kế hoạch chống phá tổng tuyển cử vào năm 1956 trong Hiệp định Geneva, nắm chắc kế hoạch “tố cộng, diệt cộng,” lập ấp chiến lược, âm mưu hất cẳng Pháp xâm lược miền Nam của Mỹ, phục vụ cho sự chỉ đạo kịp thời của Đảng ở miền Nam. Dưới vỏ bọc “kẻ thù”, nhiều chiến sỹ tình báo đã thu thập được những thông tin có giá trị cao, như chiến lược “chiến tranh đặc biệt,” “chiến tranh cục bộ,” “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ-ngụy; các kế hoạch quân sự hàng năm như AB141, AB142, AB143, AB144…; các kế hoạch mùa khô 1965-1966 và 1966-1967; kế hoạch về cuộc hành quân Lam Sơn-719 của địch đánh ra đường 9 Nam Lào, với mục tiêu xóa bỏ đường mòn Hồ Chí Minh, cắt đứt sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam bằng đường bộ; nắm chắc âm mưu, ý đồ của Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc; hoạt động của máy bay chiến lược B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972, phục vụ hiệu quả cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” giành thắng lợi…Với sự khôn khéo, cẩn thận, kiên nhẫn, nhiều chiến sỹ tình báo còn vận động, chuyển hóa được quần chúng, kể cả những người đứng trong hàng ngũ địch phục vụ cho cách mạng.

Bằng các mối quan hệ của mình, nữ tình báo Đinh Thị Vân đã vận động được Đỗ Trọng Quyên - chánh văn phòng, Phó tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy - cung cấp nhiều tin tức, tài liệu quan trọng, trong đó có thông tin kịp thời về việc Mỹ sẽ đổ quân vào miền Nam Việt Nam sau khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” thất bại; tài liệu về cuộc hành quân quy mô lớn Junction City của Mỹ, với 40.000 quân đánh vào căn cứ Tây Ninh của Trung ương cục miền Nam năm 1967, giúp ta chủ động đối phó làm thất bại âm mưu của địch. Bà cũng là người đã vẽ bản đồ phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở phía Nam vĩ tuyến 17, trong giai đoạn 1959-1960.

Những thông tin mật, thậm chí là tuyệt mật của các chiến sỹ tình báo cũng giúp ta bảo toàn được lực lượng. Năm 1969, cụm trưởng tình báo H67 đã cấp tốc chuyển lên cấp trên thông tin địch định dùng máy bay chiến lược B52 hủy diệt căn cứ Trung ương cục miền Nam và Bộ tư lệnh Miền, do ông Nguyễn Văn Lễ (nghị sỹ Quốc hội Sài Gòn - người được vận động làm việc cho tình báo cách mạng) cung cấp.
Nhờ thông tin cơ mật này, căn cứ của ta đã di chuyển kịp thời đến một địa điểm khác, tránh được cuộc tập kích quy mô lớn và nhiều đợt rải thảm liên tục bằng B52 từ 8 giờ tối hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau, tại căn cứ Sóc Mong trong phạm vi 20km2.
Đặc biệt, những thông tin tình báo của Đại tá Nguyễn Văn Minh - văn thư bảo mật của đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn - chuyển về đã giúp Đảng và Bộ chỉ huy chiến dịch khẳng định Mỹ không đưa quân trở lại nếu ta đánh lớn vào giải phóng Sài Gòn. Thông tin này đã giúp Bộ chính trị có thêm cơ sở quyết định mở cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trong thời gian ngắn nhất để giải phóng miền Nam, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành thắng lợi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Có thể nói, những chiến sỹ tình báo quân sự Việt Nam đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó; đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, viết nên những trang sử hào hùng của ngành Tình báo Quốc phòng Việt Nam. Tên tuổi và sự nghiệp của họ không chỉ làm hàng triệu người con đất Việt cảm phục, ngưỡng mộ, mà còn làm cho đối phương cũng phải “ngả mũ kính chào”.

 

 

KHÔNG ĐỂ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

LÀM PHAI MỜ TRUYỀN THỐNG

 

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta luôn phải đối đầu với nhiều kẻ thù hùng mạnh, hung bạo. Lớp lớp thanh niên đã lên đường tòng quân bảo vệ tổ quốc, với tinh thần: “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”, với ý chí quật cường, lòng yêu nước nồng nàn, sức mạnh trí tuệ của khối đại đoàn kết toàn dân, quân và dân ta đã chiến đấu và chiến thắng.

Hôm nay, đất nước đã hòa bình, thống nhất, những người chiến sỹ năm ấy, trở về từ cuộc chiến tranh ít hơn nhiều so với lúc những đoàn quân đi vào cuộc chiến, "ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ", thậm chí có người còn để lại một phần thân thể trên chiến trường, hoặc bị nhiễm chất độc hóa học điôxin...

Tiếp bước truyền thống cha ông, toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, chung sức xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tinh thần ấy càng lên cao, với phương châm: " Chống dịch như chống giặc”, đất nước ta đã kịp thời ngăn chặn, khống chế, hạn chế dịch bệnh lan rộng trong cộng đồng, bảo đảm an toàn tính mạng và sức khoẻ cho nhân dân.

Vậy mà, hiện nay một số tổ chức, cá nhân ở trong nước hay ở bên kia trời Tây như: Trang facebook Chân trời mới, Trang Thân Hữu Việt Tân Úc Châu... Họ lại vu cáo, nói xấu Đảng, Nhà nước, quân đội bốc lột nhân dân, không chăm lo chống dịch covid-19... Thiết nghĩ rằng: Với những Truyền thống hào hùng trong chiến tranh, những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc và kết quả chống dịch trong thời gian qua thể hiện bằng việc làm cụ thể, được thế giới đánh giá cao, nhân dân ủng hộ, ghi nhận. Vì vậy, tôi mong rằng các trang facebook trên và các trang khác...các bạn là người Việt Nam, các bạn phải biết tự hào về truyền thống của nước Việt Nam thông qua tôn trọng pháp luật Việt Nam, đó mới thực sự là người công dân tốt. Trường hợp, có những thắc mắc cần giải quyết thì phải đến các cơ quan có thẩm quyền để khiếu nại, pháp luật Việt Nam sẽ bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của các bạn, không được xuyên tạc, nói xấu, bóp méo sự thật, kích động và chia rẽ, nhất là khi cả nước ta đang gồng mình chống dịch covid-19. Lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam là bài học vô giá, tấm gương sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đòi hỏi mọi tổ chức, mọi người Việt Nam trong và ngoài nước phải có trách nhiệm học tập và noi theo.