Thứ Tư, 5 tháng 1, 2022

Bao che, dung dưỡng sai trái, tiêu cực là mầm mống đại họa

 

Bao che, dung dưỡng sai trái, tiêu cực là mầm mống đại họa

Sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức trong bất cứ hoạt động, lĩnh vực nào cũng phải cảnh tỉnh, phê phán. 

Nhưng đáng báo động hơn đối với những người được giao trọng trách nhân danh quyền lực nhà nước làm nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật lại có những hành vi bẻ cong cán cân công lý, làm trái nguyên tắc phụng công thủ pháp, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị và chuẩn mực pháp lý ở nước ta.

Hàng loạt vụ “bảo kê” tội phạm bị phanh phui

Những năm gần đây, nhiều loại tội phạm mới phát sinh, diễn biến phức tạp, có tính chất, mức độ tinh vi, xảo quyệt hơn. Thông thường, những kẻ phạm tội có xu hướng tìm mọi cách móc nối, câu kết, mua chuộc quan chức, nhất là những người liên quan đến thực thi các nhiệm vụ nhạy cảm, như: Điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án... nhằm tìm kiếm sự đồng lõa, bao che, giấu giếm hành tung phạm tội.

Trong khi đó, cán bộ, công chức trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được Nhà nước, pháp luật trao những quyền hạn rất lớn, nếu họ thiếu bản lĩnh và bị cám dỗ bởi tiền bạc, vật chất thì sẽ sa vào tình trạng: “Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”-một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra. 

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính tổ chức tháng 9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cảnh báo, vẫn còn tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ngay trong đội ngũ những người làm công tác nội chính (công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra, kiểm tra, thi hành án...).

Bao che, dung dưỡng sai trái, tiêu cực là mầm mống đại họa
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Đầu tháng 12-2021, cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) Tối cao đã bắt giam một cán bộ Viện KSND huyện, một cán bộ Công an huyện Vũ Thư (Thái Bình) về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội trong vụ án Đường “nhuệ”. Trước đó, tháng 10-2020, hai cán bộ thuộc Công an huyện Vũ Thư cũng bị bắt giam với tội danh làm sai lệch hồ sơ vụ án Đường “nhuệ”.

Liên quan đến vụ việc làm sai lệch hồ sơ vụ án sử dụng trái phép ma túy tại quận Đồ Sơn (Hải Phòng), tháng 8-2021, cơ quan chức năng đã bắt giam 7 cán bộ Công an quận Đồ Sơn. Cuối tháng 10 vừa qua, một lãnh đạo Viện KSND huyện Bạch Long Vĩ (nguyên Phó viện trưởng Viện KSND quận Đồ Sơn) cũng bị tạm đình chỉ công tác vì có dấu hiệu sai phạm liên quan đến vụ án này.

Một vụ việc bao che hành vi vi phạm pháp luật hình sự ngay giữa Thủ đô tưởng như bị “chìm xuồng” cách đây 6 năm, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng Trung ương, tháng 9-2021, ông Phùng Anh Lê, cựu Trưởng phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP Hà Nội, cùng 3 cán bộ khác thuộc Công an quận Tây Hồ (Hà Nội) đã bị khởi tố về tội “tha trái pháp luật người bị bắt”.

Mới đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương công bố quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với tập thể Ban cán sự đảng Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Quảng Ninh (nhiệm kỳ 2015-2020 và 2020-2025) cùng 3 cán bộ lãnh đạo chủ chốt và 2 cán bộ thuộc quyền của TAND tỉnh này, do tự ý giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho phạm nhân Phan Sào Nam khi không đủ điều kiện. Liên quan vụ việc trên có 9 tập thể và 29 cá nhân bị xác định sai phạm, tiêu cực đến mức phải xử lý.

Một vụ việc điển hình liên quan đến sự tác động, can thiệp trái pháp luật của một số tướng lĩnh, sĩ quan công an cao cấp nhằm giảm trách nhiệm, giảm án, chạy án cho đối tượng Phan Văn Anh Vũ (Vũ “nhôm”) kéo dài nhiều năm, trong đó có một cán bộ lãnh đạo ngành tình báo công an được đối tượng này “lót tay” tới 5 tỷ đồng.

Có chuyên gia pháp lý nhận định đây là vụ án “bảo kê” đối tượng vi phạm pháp luật mang tính chất tinh vi nhất, nhưng cũng để lại hậu quả nặng nề nhất về tổn thất cán bộ cao cấp trong lực lượng công an.

Theo Báo cáo công tác năm 2021 của Viện trưởng Viện KSND Tối cao gửi Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, năm 2021, cơ quan điều tra của viện này đã thụ lý điều tra 46 vụ/61 bị can, trong đó có 24 vụ/30 bị can về tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp.

Viện KSND Tối cao nhận định, tuy số vụ án tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp không nhiều, nhưng tính chất, mức độ và hậu quả rất nghiêm trọng. Bởi vì, chủ thể của loại tội phạm này là những người thực thi nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ pháp luật nhưng họ đã có hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và nền pháp chế XHCN.

Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng chống tiêu cực trong các cơ quan bảo vệ pháp luật

Hàng loạt vụ việc cán bộ, đảng viên liên quan đến sai phạm trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án bị phanh phui thời gian gần đây, gióng lên hồi chuông “báo động đỏ” về sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức đảm nhiệm thực thi và bảo vệ pháp luật nhưng lại làm trái pháp luật, chà đạp lên công lý, gây bức xúc dư luận xã hội.

Thật đau xót khi chúng ta chứng kiến những người một thời từng trực tiếp ký lệnh khởi tố người này, bắt giam người khác vì hành vi phạm tội, thì nay lại trở thành đối tượng tội phạm. Có những người được Nhà nước ủy quyền nhân danh công lý để góp phần bảo đảm công lý cho xã hội và người dân, nhưng đã buông trôi quyền lực thực thi công lý theo những đồng tiền chạy án để rồi tự họ trở thành đối tượng xét xử của tòa án.

Theo ông Nguyễn Văn Pha, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, sự tha hóa quyền lực của bất cứ cán bộ, đảng viên, công chức nào cũng đáng cảnh tỉnh.

Nhưng đáng cảnh tỉnh nghiêm khắc hơn đối với những người được Nhà nước giao trọng trách "cầm cân nảy mực" thực thi luật pháp nhưng vì lòng tham mà bán rẻ lương tâm, vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, không làm tròn phận sự cao cả của người phụng công thủ pháp. Đây là một trong những căn nguyên sâu xa làm mọt ruỗng thể chế chính trị, từ đó có thể dẫn tới nguy cơ chuyển hóa bản chất chế độ pháp chế XHCN ưu việt ở nước ta.

Muốn phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực thực thi và bảo vệ pháp luật, việc cần kíp hiện nay là phải tập trung xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, thi hành án; đồng thời sớm hoàn thiện thể chế pháp luật, nhất là thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

Cùng với đó, cần chú trọng xây dựng cơ chế và duy trì thực chất hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện, tố giác hành vi tiêu cực trong hoạt động tư pháp, bảo đảm nguyên tắc bất cứ cán bộ, công chức nào nắm giữ và thực thi quyền lực bảo vệ pháp luật cũng phải chịu sự điều chỉnh, răn đe, trừng trị nếu vi phạm pháp luật.

Tuy vậy, mọi cơ chế, chính sách dù có hoàn thiện đến đâu mà người thực thi lòng dạ không trong sáng, lại bị lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm thao túng thì cơ chế, chính sách cũng khó phát huy hiệu lực, hiệu quả. Do đó, vấn đề căn cốt vẫn là giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức công vụ, phẩm chất liêm chính cho đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực nội chính.

Ưu thế, sức mạnh lớn nhất của những người thực thi và bảo vệ pháp luật so với các thành phần khác trong xã hội là trong tay họ sở hữu “vũ khí luật pháp”. Vì thế, khi họ sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng công năng của loại “vũ khí” này thì mới bảo đảm cho những quy định của luật pháp được triển khai, thi hành chính xác, công bằng, nghiêm minh trong cuộc sống, góp phần giữ vững kỷ cương phép nước trong xã hội và làm cho mọi người có cuộc sống yên lành, hạnh phúc.

Các cơ quan nội chính như công an, viện kiểm sát, tòa án, thi hành án được ví như “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, “lá chắn” bảo vệ chế độ. Vì vậy, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta đã yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ, công chức trong các cơ quan nội chính phải thường xuyên tôi luyện, rèn giũa bản thân để “thanh bảo kiếm” luôn rắn rỏi và sắc bén, dám vung kiếm và vung kiếm đúng lúc, chém đúng đối tượng, không bị sứt mẻ; để “lá chắn” luôn vững vàng, chắc chắn, không viên đạn, mũi tên nào có thể xuyên thủng, nhất là những viên đạn, mũi tên “bọc đường”. Đó là cách bảo vệ tốt nhất, an toàn nhất cho mỗi người, mỗi tổ chức và ý nghĩa hơn, đó là bảo vệ tính uy nghiêm tối thượng của luật pháp và bảo vệ những chuẩn mực tốt đẹp của nền pháp chế XHCN.

Hiểm họa từ phò tá, tham mưu "rởm"

 

Hiểm họa từ phò tá, tham mưu "rởm"

Một trong những nguyên nhân gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức đảng và trong nhân dân là do không ít quyết sách, chỉ thị, quy định, lời phát ngôn... của cán bộ hoặc cơ quan có thẩm quyền không phù hợp với thực tiễn, không “xứng tầm”, thậm chí là vô lý, gây cười. 

Nguy hiểm hơn, khá nhiều người giữ cương vị lãnh đạo bị xử lý kỷ luật, thành tội phạm vì ký những văn bản có nội dung trái pháp luật. Dư luận thường chỉ phê phán, “ném đá” những cán bộ lãnh đạo này. Nhưng thực tế cũng có những sai sót, vi phạm do cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc trực tiếp gây ra mà người lãnh đạo không thể kiểm soát hết và phải chịu trách nhiệm.

1. Những năm qua, đặc biệt trong thời gian cao điểm, cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, dư luận rất bức xúc trước việc một số địa phương, bộ, ngành thi thoảng lại ban hành các quy định “trên trời” vì không khoa học, kém hiệu quả, thiếu tính khả thi, thậm chí trái với văn bản của cấp trên...

Tình trạng các văn bản “đá nhau”, “sáng ban hành, chiều bãi bỏ” không chỉ làm mất uy tín của người ký ban hành và cơ quan ban hành, mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta.

Tuy nhiên, thực tế đúng là có tình trạng cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp thủ trưởng soạn văn bản, chuẩn bị dự thảo văn bản, bài viết, bài phát biểu thiếu chặt chẽ, không đủ tầm để chuẩn bị tốt nội dung; thủ trưởng thì không đủ thời gian hoặc không thể hiểu sâu về tất cả lĩnh vực nghiệp vụ để phát hiện, chỉnh sửa hết những chỗ sai sót.Bên cạnh đó là một số cán bộ lãnh đạo có lời phát biểu hoặc bài viết đăng trên sách, báo, tạp chí chưa thực sự “xứng tầm”, thậm chí có chỗ copy nguyên xi của người khác, nói hớ, viết sơ hở. Một vài cán bộ đã giải thích “lỗi từ nhân viên đánh máy”, nhưng càng khiến dư luận bức xúc vì cho rằng, cán bộ đổ lỗi cho nhân viên để trốn tránh trách nhiệm.

Đó là chưa kể còn có hiện tượng một số trợ lý được thủ trưởng giao góp ý dự thảo bài viết, bài phát biểu do cơ quan chuyên môn chuẩn bị nhưng lại không đọc kỹ, không hiểu sâu mà lại "thích chỉnh sửa để thể hiện mình giỏi", dẫn đến sửa không phù hợp, đúng thành sai, làm hỏng cả bài viết mà thủ trưởng cũng không thể kiểm soát hết được. Ngôn từ phát ra thì người ta chỉ khen-chê người đăng đàn phát biểu, người đứng tên tác giả, đâu cần biết ai là người giúp chuẩn bị, chỉnh sửa nội dung! 

2. Bên cạnh một số cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc do hạn chế về trình độ, năng lực dẫn đến sai sót khi soạn thảo văn bản, chuẩn bị bài viết, bài phát biểu cho thủ trưởng, thì còn có hiện tượng tham mưu nhưng “mưu ít, tham nhiều”, rỉ rả ngày này qua ngày khác hướng lái thủ trưởng nhận thức thiếu chuẩn mực về một số vấn đề xã hội hoặc ngay chính công việc, con người mình phụ trách.

Người phò tá, tham mưu phẩm chất không trong sáng, vụ lợi thường dễ bị mua chuộc, lôi kéo, cố tình gài lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm vào các văn bản liên quan đến chế độ, chính sách, quyết định các vấn đề về tài chính, ngân sách như mua bán tài sản công, đấu thầu...

Đây là vấn đề nhức nhối, rất đáng báo động. Bởi thực tế không nhiều thủ trưởng, người chủ tài khoản nắm chắc, hiểu sâu về quản lý kinh tế, ngân sách, nhất là các nguyên tắc, thủ tục, danh mục thu-chi tài chính (do không được đào tạo chuyên sâu). Ngay cả những thủ trưởng nắm chắc nội dung này thì cũng không đủ thời gian để nghiên cứu kỹ hàng chục, hàng trăm văn bản dày cộp mỗi ngày bởi còn phải làm rất nhiều việc khác. Nên có tình trạng cán bộ, cơ quan tham mưu, trợ lý trình gì thì thủ trưởng chỉ xem lướt rồi tin tưởng ký vào, trừ những văn bản quan trọng. 

Lại cũng có không ít trợ lý, người giúp việc mượn danh, núp bóng thủ trưởng để gạ gẫm cơ sở và cán bộ, nhân viên cấp dưới. Thường những người này trước thủ trưởng thì "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên", tỏ ra ngoan ngoãn, lễ phép, nhưng sau lưng thủ trưởng thì ngược lại. Dù thủ trưởng không chỉ đạo gì nhưng có trợ lý, người giúp việc lại cố tình “gây khó để có phong bì”, mượn uy thủ trưởng để vụ lợi, sách nhiễu. Kiểu “cáo mượn oai hùm” này vô cùng nguy hại vì nó làm cho cấp cơ sở và quần chúng nhân dân mất niềm tin vào cán bộ lãnh đạo, sâu xa hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước vì nhiều người tưởng các thủ trưởng chỉ đạo làm như vậy!

3. Theo từ điển tiếng Việt, tham mưu nghĩa là hiến kế, kiến nghị, đề xuất, đưa ra các ý tưởng độc đáo, sáng tạo, có cơ sở khoa học, các sáng kiến, các phương án tối ưu, những chiến lược, sách lược và các giải pháp hữu hiệu cho thủ trưởng trong việc đặt ra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị nhằm đạt kết quả cao nhất; còn trợ lý là người giúp việc trực tiếp cho một người ở chức vụ cao hoặc trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó.

Như vậy, vai trò của cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, trợ lý giúp việc là vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc của tất cả các tổ chức. Những người làm nhiệm vụ này rất gần gũi với thủ trưởng và được thủ trưởng tin cậy, giao cho các công việc quan trọng, liên quan tới cả tổ chức, nhiều người.

Cổ nhân đã đúc rút “Thần thiêng nhờ bộ hạ”, nghĩa là đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc vừa giỏi vừa tâm đức là nhân tố rất quan trọng, quyết định đến thành công của người lãnh đạo. Bất kể thủ trưởng nào, dù tài giỏi đến mấy cũng không thể hiểu sâu kỹ được tất cả lĩnh vực, không thể tự làm hết được mọi công việc.

Do đó, mỗi cơ quan, đơn vị muốn thành công, ngoài tâm và tầm của người lãnh đạo thì phải có đội ngũ làm công tác tham mưu, giúp việc đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, giúp người lãnh đạo đưa ra những chủ trương, quyết định đúng đắn, hạn chế tối đa sai sót, khuyết điểm. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc là đặc biệt quan trọng.

Song, đáng tiếc là vẫn có những thủ trưởng và cơ quan, đơn vị chưa thực sự coi trọng việc này, vẫn còn tình trạng ưu tiên người thân quen, chọn người cùng phe nhóm, “cánh hẩu”, biết chiều ý thủ trưởng theo kiểu tuyệt đối phục tùng, sẵn sàng cung phụng, phục vụ mọi nhu cầu cá nhân mà không cần biết đúng-sai. Chính vì thế mới dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. "Thần suy cũng vì bộ hạ" và sử sách đã "bêu gương" không ít bậc vua chúa vì chọn dùng gian thần mà thân bại, danh liệt.

Cần nhận thức đúng đắn rằng, cán bộ, nhân viên làm công tác tham mưu, giúp việc cũng là phục vụ thủ trưởng, nhưng là dùng tri thức, chất xám và toàn tâm toàn ý phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của thủ trưởng, hoàn toàn khác với việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường ngày; do đó, phải chú trọng lựa chọn những người có đủ tâm và tầm, nhất là người dám nói, dám phản biện như Đảng ta đang khuyến khích. Nhất là, trong thời đại công nghệ số, thế giới “phẳng” như hiện nay, chỉ cần một sai lầm, sơ hở nhỏ của tổ chức, của người lãnh đạo cũng sẽ lan nhanh khắp nơi, làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của tổ chức, cá nhân mắc sai lầm, khuyết điểm.

Thiết nghĩ, việc tuyển chọn và sử dụng người phò tá, tham mưu rất cần ghi nhớ bài học của người xưa "Quân tử chi giao đạm nhược thủy. Tiểu nhân chi giao cam như di", với ý nghĩa là: Người quân tử đối đãi với nhau như nước trắng, không mặn, không ngọt; rất thật lòng, không vì yêu mà nói thành tốt, không vì ghét mà nói thành xấu, không nói những lời bạn thích nghe mà phải nói những lời bạn cần nghe. Kẻ tiểu nhân đối xử lúc nào cũng ngọt ngào như rượu nồng. Nước tuy nhạt nhưng cần thiết để sống bền vững; còn rượu ngọt uống sẽ say, dễ lầm đường lạc lối, dẫn tới tuyệt giao, tai họa…

Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội: “Thể chế mềm” bảo đảm quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh phù hợp chuẩn mực đạo đức, pháp luật và thông lệ quốc tế

 

Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội: “Thể chế mềm” bảo đảm quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh phù hợp chuẩn mực đạo đức, pháp luật và thông lệ quốc tế


TCCS - Chỉ cần một nội dung đăng tải, chủ tài khoản mạng xã hội, nhất là những người có tích xanh gắn kèm, có thể thu hút sự chú ý của hàng triệu người theo dõi, bày tỏ sự yêu thích, chia sẻ rộng rãi của cộng đồng mạng. Ấy là bề nổi dễ nhận thấy. Nhưng đằng sau việc thu hút, lan tỏa những gì người sử dụng mạng xã hội chuyển tải là không ít mặt trái đáng bận tâm, buộc cơ quan quản lý phải ban hành bộ quy tắc ứng xử, cũng như tăng cường các biện pháp quản lý để “mạng ảo” không gây những hậu quả xấu cho xã hội.

Thế giới quyết liệt ngăn chặn những nội dung xấu độc, gây hại...

Ngay từ khi ra đời (xuất hiện đầu tiên vào năm 1997, phát triển bùng nổ vào năm 2006 khi Facebook ra đời), các mạng xã hội đã được ví như một “quảng trường công cộng”, nơi mọi người đều có thể tự do giao lưu, chia sẻ thông tin, bày tỏ quan điểm, chính kiến. Bởi, mạng xã hội là nền tảng trực tuyến, có thể vận hành trên tất cả các thiết bị công nghệ thông tin, như máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, điện thoại thông minh có kết nối in-tơ-nét. Mạng xã hội cho phép người dùng tự sáng tạo, chia sẻ câu chuyện, bài viết, ý tưởng cá nhân, đăng ảnh, video clip, đồng thời thông báo về hoạt động, sự kiện trên mạng hoặc trong thế giới thực,... mà dường như không bị kiểm duyệt gì.

Nhưng cũng ngay từ khi ra đời, mạng xã hội gần như đã được định danh là “thế giới ảo”, nên những diễn biến nảy sinh trên không gian mạng từ chỗ là “vô hại”, thoải mái tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến đã là nguồn cơn gây ra không ít tác hại khôn lường, thậm chí làm biến động, đảo lộn cả một chính thể, quốc gia. Đó chính là nguyên nhân khiến nhà nước phải điều chỉnh biện pháp quản lý đối với nhà cung cấp và người dùng (cá nhân, tổ chức). Điều ấy dẫn đến việc cho đến nay, tất cả các nền tảng mạng xã hội đều có những quy định riêng về những nội dung không được phép đăng tải.


Tất nhiên, mỗi quốc gia đều có sự điều chỉnh riêng bằng pháp luật nước mình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhằm ngăn chặn những nội dung gây hại, xấu độc, kích động thù hận, xâm phạm đến lợi ích của các cá nhân, cộng đồng, đe dọa an ninh xã hội, an ninh quốc gia. Cuối tháng 4-2021, Nghị viện châu Âu thông qua biện pháp buộc các nền tảng truyền thông xã hội phải nhanh chóng xóa hoặc chặn quyền truy cập vào các nội dung trực tuyến mang ý nghĩa “khủng bố”. 27 nước trong Liên minh châu Âu (EU) mới đây đã thảo luận những biện pháp cứng rắn trong việc quản lý kênh truyền thông xã hội và các phát ngôn trực tuyến tại các quốc gia trong khối, với mục tiêu định hình môi trường mạng xã hội an toàn, cởi mở, sáng tạo và đáng tin cậy.

Với cả khối EU là như vậy, từng nước thành viên cũng có những biện pháp quản lý mạng xã hội cụ thể, chi tiết hơn. Như Đức đã ban hành Bộ luật NetzDG (Luật cải tiến chấp pháp tại các mạng xã hội), có hiệu lực từ ngày 1-10-2017 và chính thức áp dụng từ ngày 1-8-2018. Bộ luật NetzDG có những quy định buộc các công ty truyền thông xã hội phải nhanh chóng gỡ bỏ những nội dung “rõ ràng là bất hợp pháp”, như “lời nói căm thù, phỉ báng” và các “tin tức giả mạo” nếu không muốn đối mặt với khoản tiền phạt lớn. Hay như Pháp cũng đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bội nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù; chống lại việc xâm phạm đời tư; cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia... Các điều khoản cụ thể được quy định tại Luật Tự do báo chí, Bộ luật Dân sự, Luật Hình sự. Các nước khu vực Nam Á, như Ấn Độ, Xri Lan-ca, Băng-la-đét,... cũng ban hành những quy định pháp luật liên quan đến việc sử dụng “ngôn từ thù hận” và những lời nói, hành động chia rẽ dân tộc, gây xung đột xã hội.

Trong bối cảnh chung ấy, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc, nhất là khi chúng ta hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Thế nên, việc ban hành những văn bản quy phạm pháp luật, những quy định “mềm” nhằm quản lý, điều chỉnh các đối tượng tham gia mạng xã hội là lẽ đương nhiên, là sự cần thiết. Trong đó, đáng chú ý là hoạt động của những người dùng mạng xã hội có tích xanh gắn kèm, những người có sự ảnh hưởng lớn, thậm chí dẫn dắt cộng đồng mạng.

Tích xanh và sự ảnh hưởng

Tích xanh trên mạng xã hội, nhất là Facebook, Tiktok, Instagram,... thể hiện đẳng cấp của người chủ sở hữu tài khoản mạng xã hội. Có những sự tiếp cận với nội hàm, sự diễn giải khác nhau, nhưng đều có điểm chung dễ hiểu, phổ biến rằng tích xanh chính là dấu hiệu chứng minh tài khoản đó là thật, có nhiều người theo dõi, có độ phủ sóng rộng và có sức ảnh hưởng lớn đến cộng đồng mạng. Nghĩa rằng, trang mạng xã hội có tích xanh thì người sở hữu nó là người nổi tiếng, được tôn trọng, ngưỡng mộ, có sức thu hút đối với công chúng. Nói ngắn gọn, đó là những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội.

Trong tiếng Anh, người có ảnh hưởng được gọi là Influencer, để chỉ những người có sức ảnh hưởng tới cộng đồng, có khả năng tác động tới suy nghĩ và hành vi của một nhóm người, thậm chí đông đảo cộng đồng. Thực ra, những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội chính là KOL (viết tắt các từ tiếng Anh là Key Opinion Leader). KOL có thể là cá nhân hay tổ chức có tầm ảnh hưởng trong lĩnh vực, ngành nghề của họ, như chính trị gia, chuyên gia, doanh nhân, văn nghệ sĩ, ngôi sao thể thao... Sự ảnh hưởng của họ chính là sự tác động đến cộng đồng bằng những gì được đăng tải trên trang mạng xã hội mà họ sở hữu (có thể thuê đội ngũ chuyên gia quản lý, vận hành). Dẫu mạng xã hội gần như được định danh là “thế giới ảo”, nhưng những tác động của người nổi tiếng là rất thật. Ví dụ, khi đưa ra một dòng trạng thái, đăng một bức ảnh hay video clip,... nào đó lên trang cá nhân hay Fanpage(1), những thông tin chữ viết, hình ảnh, âm thanh, video clip sẽ tác động đến người đọc, người xem, người nghe khiến họ tiếp nhận, phân tích, kiểm chứng, tin và làm theo. Với những chủ tài khoản mạng xã hội có tích xanh, họ gần như được mặc định rằng có uy tín, nên những gì họ đăng tải được cho là đúng đắn, chính xác, không phải bàn cãi nên công chúng dễ dàng tin theo. Nhưng không phải khi nào cũng vậy!

Trên thực tế, không ít nghệ sĩ, doanh nhân, những người có tích xanh đã vượt quá giới hạn khi sử dụng mạng xã hội và bị nhắc nhở, kỷ luật, thậm chí cách chức. Những ví dụ về việc mạng ảo gây tai họa thật đã có nhiều, thực sự là bài học đắt giá cho nhiều người, nhất là những người có ảnh hưởng trên không gian mạng. Những nội dung thông tin, ngôn ngữ, hình ảnh quá đà, lệch chuẩn khi “bóc phốt”, tố cáo, đả kích, hạ bệ, chê bai người khác đã phải dừng lại, hoặc được điều chỉnh. Phải sòng phẳng, rõ ràng là việc tố cáo những hạn chế, sai sót, vi phạm pháp luật của cá nhân, tổ chức khác là điều khuyến khích, rất đáng biểu dương. Thế nhưng, công - tội phải tường minh. Không thể để xảy ra tình trạng khi đã được cộng đồng ghi nhận, cảm ơn, tung hô thì có thể “tự do” vô lối, bất chấp cả những chuẩn mực, đạo đức, luật pháp.

Không chỉ dừng lại ở Việt Nam, không ít lần một số công dân Việt Nam cũng có cách hành xử đáng lên án trên mạng xã hội đối với cá nhân, vấn đề quốc tế gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Xin được nêu một ví dụ mới đây. Sau trận đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam thua đội Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) tại vòng loại World Cup 2022 ngày 16-6-2021, rất nhiều người dùng mạng xã hội Việt Nam đã “phẫn nộ” hung hăng, dữ dằn “tấn công” tài khoản Facebook của trọng tài bắt chính trận đấu A-li Sa-bát (Ali Sabah Adday Al-Qaysi) người I-rắc. Báo chí nước ngoài đưa tin, người dùng mạng xã hội thế giới chê cười, lên án. Vị trọng tài A-li Sa-bát phải tạm khóa tài khoản Facebook, đồng thời cầu cứu: “Tôi bị xúc phạm bởi những bình luận của người hâm mộ Việt Nam. Mặc dù tôi đã thổi phạt đúng luật nhưng họ vẫn chửi bới và xúc phạm tôi, thậm chí họ còn đòi giết tôi”. Dẫu đó chỉ là những cá nhân đơn lẻ, không nổi tiếng với tích xanh, nhưng hành động bồng bột, a dua “hội chứng đám đông”, phản cảm, đáng lên án, đã làm xấu xí hình ảnh đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam đang được đề cao, nể trọng; làm ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh con người, đất nước Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Không thể quá đà mà lệch chuẩn, phạm pháp

Đáng báo động là những ví dụ kể trên chỉ là mới đây, gây sự chú ý mạnh mẽ trong cộng đồng mạng và xã hội, chứ không phải là cá biệt trên không gian mạng. Tình trạng những người dùng mạng xã hội, đặc biệt là những người sở hữu tích xanh tận dụng tối đa, triệt để những tính năng, tác dụng, sức lan tỏa của mạng xã hội, với đông đảo người theo dõi để đăng tải những thông tin thiếu kiểm chứng, dùng từ ngữ lệch chuẩn, xấu xí nhằm bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác diễn ra ngày càng nhiều, với mức độ phức tạp, tinh vi cùng sự đầu tư cầu kỳ, kỹ lưỡng cả về trang thiết bị lẫn nội dung đăng tải hay phát trực tiếp. Việc quá đà trên mạng ảo đã gây những hậu quả thật ngoài đời hết sức đáng tiếc. Đó rõ ràng là sự vi phạm pháp luật, cần phải xử lý kịp thời, nghiêm minh. Thậm chí, không chỉ là những xử lý vi phạm hành chính (dù số tiền nộp phạt không thấm vào đâu so với những gì họ kiếm được từ những thông tin xấu độc chủ đích đăng tải, phát tán) mà còn cần những biện pháp mạnh tay hơn, từ cả phía cơ quan quản lý nhà nước, lẫn nhà mạng, cũng như sự lên án, tẩy chay của cộng đồng.

Ngày 28-5-2021, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Công văn số 1800/BTTTT-PTTH&TTĐT “Về việc tăng cường công tác quản lý, xử lý thông tin vi phạm trên mạng xã hội”. Công văn nêu rõ thực trạng sự phát triển của mạng xã hội những năm gần đây, đặc biệt là hai mạng xã hội của nước ngoài là Facebook và Youtube với “những tác động cả tiêu cực và tích cực đối với đời sống xã hội”, đồng thời khẳng định việc tăng cường công tác quản lý để hạn chế những tác động tiêu cực của mạng xã hội, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm của người sử dụng. Công văn chỉ rõ: “Từ năm 2017 đến nay, Bộ đã chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông địa phương xử lý nhiều trường hợp người dùng mạng xã hội Youtube, Facebook vi phạm, trong đó đáng chú ý như: Xử phạt kênh Youtube Hoàng Anh-Timmy tại Thành phố Hồ Chí Minh, kênh Hưng vlog, Hưng troll tại Bắc Giang, kênh Thơ Nguyễn tại Bình Dương. Đồng thời, Bộ cũng đã yêu cầu Google đóng nhiều kênh Youtube khác của người dùng trong nước có nội dung vi phạm pháp luật”.

Nhưng, như trên đã nói, việc xử lý vi phạm vẫn chưa đủ sức răn đe, cảnh tỉnh. Không ít đối tượng vì thiếu hiểu biết, a dua theo trào lưu, hám lợi mù quáng vẫn tiếp tục đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, trong đó chủ yếu là xúc phạm danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép;... gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, việc chấn chỉnh những hành động lệch lạc, phạm pháp, tăng cường công tác quản lý, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm là hết sức cần thiết, để tránh gây những tác động xấu tới dư luận xã hội. Bên cạnh đó, là những quy định “mềm” mang tính phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh, có ích.

Ngày 17-6-2021, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quyết định số 874/QĐ-BTTTT “Về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội” (có hiệu lực từ ngày 17-6), với những quy định chi tiết, rõ ràng. Phạm vi và đối tượng áp dụng của Bộ Quy tắc gồm 3 nhóm đối tượng là cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước sử dụng mạng xã hội; tổ chức, cá nhân khác sử dụng mạng xã hội; nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội tại Việt Nam. Bộ cũng đưa ra 4 quy tắc ứng xử chung gồm: 1- Quy tắc Tôn trọng, tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; 2- Quy tắc Lành mạnh (hành vi, ứng xử trên mạng xã hội phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam); 3- Quy tắc An toàn, bảo mật thông tin (tuân thủ các quy định và hướng dẫn về bảo vệ an toàn và bảo mật thông tin; và 4- Quy tắc Trách nhiệm (chịu trách nhiệm về các hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, và phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý hành vi, nội dung thông tin vi phạm pháp luật).

Có thể khẳng định rằng, việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội là rất kịp thời, cần thiết, mang ý nghĩa tích cực, hướng tới chuẩn mực chung, tôn trọng pháp luật, nhằm tạo lập “bộ áo giáp” để mọi người dùng mạng xã hội nâng cao trách nhiệm đồng thời có thể tránh được những cạm bẫy, hay sự vi phạm pháp luật. Bộ Quy tắc không mang tính chất bắt buộc hay có chức năng xử phạt, tuy nhiên nó khuyến khích mọi người hành xử đúng trên mạng, có ý thức thay đổi, điều chỉnh hành vi, đạo đức khi tham gia “thế giới ảo” để góp phần xây dựng hoàn thiện môi trường mạng an toàn, lành mạnh.

Thực tế, đã có nhiều quy định pháp luật để quản lý môi trường mạng, nhất là Luật An ninh mạng (ban hành ngày 12-6-2018, có hiệu lực từ ngày 1-1-2019), nhưng chỉ có biện pháp chế tài đủ mạnh xử lý nghiêm minh, kịp thời, đủ sức răn đe mới có thể ngăn chặn những sai phạm, nhất là những người liên tục tái phạm. Điều ấy giúp mỗi người dân khi giao tiếp, hành động trên “mạng ảo” có thể nhận rõ trách nhiệm, quyền lợi, giới hạn của mình để thực hiện đúng, tốt những quy định mà pháp luật đề ra. Lẽ tất nhiên, một khi thực tế “đi trước”, phát sinh những điều mà pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời thì việc bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, những quy định “mềm” để quản lý chặt chẽ, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển lành mạnh, bền vững là điều cần nhận diện, sớm triển khai. Có như thế, quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, thái độ của mỗi công dân đã được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định mới không quá đà dẫn đến lộng ngôn, loạn ngôn, vi phạm pháp luật, gây tác động tiêu cực đến an ninh xã hội, thuần phong mỹ tục, đến sự phát triển lành mạnh của đất nước. Có như thế, những người sử dụng mạng xã hội, nhất là những người có tích xanh, mới không bị lóa mắt mà làm điều phạm pháp, mặc nhiên xúc phạm sức khỏe, danh dự, vu khống, làm nhục công dân khác, đi ngược lại các giá trị đạo đức tiến bộ, công bằng xã hội./.

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng

 

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng


TCCS - Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần phải tăng cường hơn nữa bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Không gian mạng và bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng

Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về không gian mạng. Quan điểm của Mỹ đề cập trong Chỉ thị số 54 về An ninh quốc gia và Chỉ thị số 23, năm 2008, về An ninh nội địa của Tổng thống Mỹ cho rằng, không gian mạng là mạng lưới kết nối các cơ sở hạ tầng bao gồm internet, các mạng viễn thông, các hệ thống máy tính, các hệ thống xử lý và điều khiển trong ngành công nghiệp trọng yếu; không gian mạng được dùng để mô tả một môi trường ảo, trong đó diễn ra việc trao đổi thông tin và tương tác giữa con người với nhau, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định không gian mạng là không gian ảo, bao gồm cả internet, trong đó thông tin được trao đổi bằng công nghệ thông tin và viễn thông; không gian mạng là “trường”, trong đó các hoạt động tình báo, tấn công và phòng thủ được tiến hành như “trường” trên bộ, trên biển, trên không và trong không gian(1).

Trung Quốc coi không gian mạng là chiến trường thứ năm và là mặt trận tình báo mới. Trong phát biểu tại hội nghị thành lập Tiểu tổ Lãnh đạo an ninh mạng và thông tin hóa Trung ương ở Bắc Kinh, ngày 27-2-2014, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng, internet và an ninh thông tin đã trở thành thách thức mới đối với Trung Quốc vì cả hai đều gắn liền với an ninh quốc gia và ổn định xã hội(2)

Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018 khẳng định, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát(3). Trên không gian mạng, Việt Nam có hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống này gồm hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia; hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức ở Trung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí; hệ thống điều khiển và giám sát tự động tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia(4).


Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể  hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5-9-2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.  

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng công an giữ vai trò nòng cốt, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành dựa trên nền tảng của công nghệ số cùng với việc sử dụng phổ biến in-tơ-nét. Đặc trưng quan trọng của cuộc cách mạng này là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo trên cơ sở internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT) và internet kết nối các hệ thống (Internet of Systems - IoS). Trong bối cảnh diễn ra cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trên không gian mạng xuất hiện những nguy cơ, hoạt động tác động mạnh mẽ đến an ninh quốc gia của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước có nền khoa học - công nghệ phát triển, như Mỹ, Nga, Trung Quốc..., đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:

Một là, chiến tranh mạng. Có thể nói, chiến tranh mạng là một hình thái chiến tranh mới, vượt ra khỏi khuôn khổ khái niệm về chiến tranh quân sự truyền thống. Đây là cuộc chiến tranh bất đối xứng, chỉ một lực lượng rất nhỏ cũng có thể gây thiệt hại lớn cho đối phương. Chiến tranh mạng không sử dụng khí tài quân sự truyền thống mà sử dụng lực lượng tinh nhuệ để lập trình, chế tạo, sản xuất và nhân bản hàng loạt vũ khí mạng, như mã độc, hệ thống công cụ tấn công mạng, hệ thống công cụ tình báo mạng. Mặc dù được tiến hành trên không gian mạng nhưng hậu quả do chiến tranh mạng gây ra có thể vượt ra ngoài phạm vi không gian ảo và có sức tàn phá lớn, thậm chí vượt xa chiến tranh quân sự truyền thống. Tháng 4-2007, hàng loạt trang thông tin điện tử (website) các cơ quan chính phủ, nhà cung cấp dịch vụ internet và ngân hàng của E-xtô-ni-a bị tấn công liên tục. Hậu quả là hầu hết các website tại E-xtô-ni-a bị tê liệt trong khoảng 3 tuần, gây ra nhiều thiệt hại cho nước này. Năm 2009, hàng loạt website của chính phủ Mỹ và Hàn Quốc cũng bị tấn công, trong đó nhiều website quan trọng của Mỹ và Hàn Quốc phải tạm ngừng hoạt động.

Hai là, gián điệp mạng. Gián điệp mạng ra đời cùng với sự xuất hiện của không gian mạng với sự kết nối của mạng máy tính, internet và sự phát triển của công nghệ thông tin. Gián điệp mạng có thể gây ra những tổn thất khôn lường về nhiều mặt, thậm chí làm ảnh hưởng đến nhiều quốc gia thông qua hoạt động tấn công vào hệ thống máy tính của các cơ quan chính quyền, tập đoàn kinh tế, hệ thống ngân hàng hoặc hệ thống thông tin của các cảng sân bay hàng không quốc tế,... để đánh cắp dữ liệu số, thông tin bí mật hoặc tấn công mã độc, chiếm quyền kiểm soát, điều khiển hệ thống thông tin... Từ năm 2006 đến năm 2017, WikiLeaks cho công bố hàng loạt tài liệu mật, trong đó có nhiều tài liệu mật của Mỹ và một số nước, bao gồm cả các tài liệu phản ánh hoạt động giám sát các thiết bị di động của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Năm 2013, E. Xnâu-đân (Edward Snowden) tiết lộ thông tin mật về chương trình do thám toàn cầu do tình báo Mỹ và Anh thực hiện, gồm cả các hoạt động giám sát điện thoại của một số nhà lãnh đạo trên thế giới, như Tổng thống Nga D. Mét-vê-đép (Dmitry Medvedev), Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken (Angela Merkel)... Năm 2016, 11,5 triệu tài liệu mật cũng đã được công khai cho báo chí trong vụ “Hồ sơ Panama”...

Ba là, khủng bố mạng. Thời gian qua, các đối tượng khủng bố quốc tế; các thế lực thù địch; các tổ chức tin tặc, điển hình như Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS), tổ chức tin tặc do “nhóm hacker ẩn danh” Anonymous sáng lập và chỉ đạo, luôn tìm cách lợi dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố. Hoạt động khủng bố mạng gồm tấn công mạng nhằm mục đích khủng bố; tấn công khủng bố trên mạng; sử dụng không gian mạng để đe dọa khủng bố. Năm 2015, nhóm hacker người Tuy-ni-di Al-Fallaga có quan hệ chặt chẽ với mạng lưới thánh chiến toàn cầu đã tiến hành chiến dịch “Op Electronic Badr” tấn công các trang tin điện tử của ngân hàng Hapoalim, Mossad và nhiều website khác của Chính phủ I-xra-en, sau đó đăng tải các tài liệu thu được lên Facebook. Thời gian qua, tổ chức khủng bố IS cũng liên kết chặt chẽ với các nhóm tin tặc, như Cyber Caliphate, IS Hacking Division, ISIS Cyber Army và một số nhóm tin tặc khác ủng hộ IS tiến hành các vụ tấn công mạng nhằm vào mục tiêu của các nước mà chúng cho là thù địch.

Bốn là, tội phạm mạng. Bên cạnh những loại tội phạm, như khủng bố, gián điệp trên không gian mạng, còn xuất hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác, như xâm nhập bất hợp pháp, lấy cắp, sửa đổi, phá hoại dữ liệu, dùng dữ liệu đó vào mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, chiếm đoạt tài sản, phát tán thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư. Thủ đoạn của chúng là sử dụng kỹ thuật tấn công chủ động, tấn công thụ động; tấn công lợi dụng lỗ hổng bảo mật, để xâm nhập bất hợp pháp...; trong đó thủ đoạn phổ biến là lừa người sử dụng để cài backdoor, trojan. Với ưu thế miễn phí, tiện lợi, các dịch vụ mạng như Skype, Yahoo, Facebook, Viber, Zalo,... được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam. Tội phạm mạng đã lợi dụng các dịch vụ này để cài mã độc, phần mềm gián điệp vào các thiết bị di động, máy tính kết nối internet nhằm kiểm soát, lấy cắp nội dung thông tin, dữ liệu cuộc gọi, gây ra nhiều thiệt hại cho người dùng, trong đó có các cá nhân, cơ quan chính quyền các nước. Ví dụ, như vụ “hacker của thế kỷ 21” A. Gôn-da-lét (Albert Gonzalez) đánh cắp dữ liệu của hơn 170 triệu thẻ tín dụng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2007, gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới do mức độ hậu quả thiệt hại nặng nề mà nó gây ra. Hay vụ Mỹ và Anh bắt giữ 48 người ở Mỹ liên quan đến vụ tấn công được biết đến với loại trojan mang tên Zeus mà họ dùng để trộm cắp hơn 70 triệu USD từ các ngân hàng trên khắp thế giới.

Việt Nam hiện cũng đang đối mặt với không ít các nguy cơ, thách thức đe dọa đến an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là: 

Thứ nhất, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thứ hai, hoạt động gián điệp mạng và các loại tội phạm công nghệ cao.

Không gian mạng đã và đang trở thành môi trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa thông qua in-tơ-nét. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập.

Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập, yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, nguy cơ chiến tranh mạng.

Thế giới đã và đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định, nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng... ); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016 đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.

Thứ tư, tình trạng mất an ninh, an toàn thông tin mạng đe dọa tới an ninh quốc gia.

Việt Nam đang phụ thuộc vào thiết bị hạ tầng và hệ thống công nghệ mạng lõi do các công ty nước ngoài cung cấp và luôn thường trực nguy cơ bị nước ngoài kiểm soát, giám sát. Phần lớn hạ tầng công nghệ phần cứng của Việt Nam, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị cá nhân đều nhập từ nước ngoài, nhiều nhất là từ Trung Quốc và Mỹ. Các hãng bảo mật và cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trang thiết bị mạng sử dụng trong nước, gồm cả các trang thiết bị của các cơ quan, tổ chức nhà nước có xuất xứ nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là về an ninh, an toàn mạng cũng dẫn đến nguy cơ khó kiểm soát được các vấn đề an ninh, an toàn mạng. Đáng chú ý, nhận thức của một số cấp lãnh đạo, quản lý, ý thức và kỹ năng về an ninh, an toàn mạng của người sử dụng tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó có cả cán bộ thuộc các bộ phận cơ mật, thiết yếu, nắm quyền quản trị các hệ thống quan trọng, liên quan đến nhiều bí mật nhà nước.

Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu vực, nhưng tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về an ninh, an toàn mạng. Hiện nay, khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet, 66% sử dụng mạng xã hội; 100% số cơ quan nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet, internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Theo các tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần 70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng in-tơ-nét. Hệ quả là năm 2020 có tới hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng 3% so với năm 2019. 


Một số vấn đề đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối tượng.  

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.      

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.

Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.   

Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.

Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng.

Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.

TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI ĐẢNG VIÊN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Mạng xã hội Facebook ở nước ta phát triển nhanh, rộng, thu hút nhiều người tham gia... tỷ lệ đảng viên sử dụng facebook khá cao. Ai cũng có tài khoản Facebook, nhiều người còn sở hữu 2, 3 tài khoản.

Chúng ta thấy bên cạnh một số đảng viên tự tin đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh từ các trang chính thống thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về một vấn đề nào đó... thì vẫn còn không ít người thờ ơ, phớt lờ cả những vấn đề nóng mà xã hội đang quan tâm. Vậy thì vai trò của đảng viên ở đâu trên không gian mạng này?... "Thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không lên án" đang tồn tại ở nhiều cơ quan, đơn vị... cả trên mạng xã hội: Họ lặng lẽ vào mạng, dò, tìm, đọc... rồi lặng lẽ rút lui như chưa hề hay biết.