Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tiếp tục khẳng định nguyên nhân dẫn đến nhiều yếu kém là trong đội ngũ cán bộ còn hiện tượng cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của doanh nghiệp, nhân dân.
Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022
Ngăn chặn vấn nạn “sân trước”, “vườn sau”
Ở Việt Nam, tình cảm được xem là giá trị cốt lõi trong giải quyết các mối quan hệ, kể cả ở các cơ quan công quyền. Tuy nhiên, hiện tượng dùng tiền, vật chất tác động để mua chuộc cán bộ, đảng viên có chức quyền đang ngày càng gia tăng, phát triển thành “chủ nghĩa thân hữu”.
TÍNH HAI MẶT CỦA TRUYỀN THÔNG MẠNG XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA!
Mạng xã hội là một sản phẩm của kỷ nguyên Internet. Trong những năm gần đây, mạng xã hội trở thành một kênh truyền thông ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội. Vai trò của truyền thông mạng xã hội đã được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu xã hội coi là “quyền lực thứ 5”, xếp sau 4 “quyền lực” đã được nhân loại thừa nhận là các quyền lập pháp, tư pháp, hành pháp và báo chí. “Quyền lực thứ 5” này đã trở thành một sức mạnh to lớn, vượt lên trên, ra bên ngoài các biện pháp quản lý hành chính hay kỹ thuật của một quốc gia cụ thể. Vấn đề rất đáng lưu tâm là, cái quyền lực của mạng xã hội lại không chia đều cho các quốc gia mà tập trung vào một số nước lớn, nhất là các cường quốc khoa học - công nghệ. Theo thống kê hiện tổng lượng truy cập Internet trên toàn cầu tập trung vào khoảng 150 công ty, chủ yếu là của Hoa Kỳ, do Google, Yahoo, Facebook, Twitter thống trị.
Việt Nam được xem là quốc gia có tốc độ phát triển rất nhanh về Internet và mạng xã hội, đến năm 2021 đã có tới 70 triệu người sử dụng Facebook và các mạng xã hội khác. Truyền thông mạng xã hội, tự bản thân nó là không xấu, nó là thành quả của sự phát triển khoa học - công nghệ. Tốt hay xấu của truyền thông mạng xã hội phụ thuộc vào cách thức mà mỗi người sử dụng phục vụ cho mục đích tốt hay xấu của mình. Từ thực trạng hiệu ứng của mạng xã hội cho thấy, bên cạnh mặt tích cực, thì truyền thông mạng xã hội cũng đã bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của các quốc gia. Bước đầu có thể chỉ ra tính hai mặt của truyền thông mạng xã hội gồm hai mặt tích cực và tiêu cực sau:
Mặt tích cực, nếu truyền thông mạng xã hội được sử dụng đúng mục đích vì lợi ích chung của xã hội thì nó mang lại rất nhiều hiệu ứng tích cực. Có thể chỉ ra những hiệu ứng tích cực của truyền thông mạng xã hội như: giúp chúng ta nắm bắt thông tin nhanh nhạy hơn, kết nối được mọi người trong cộng đồng. Đó cũng là một kênh Marketing, kinh doanh cực kỳ hiệu quả. Mạng xã hội còn là một kênh giải trí hữu ích giúp mỗi người thư giãn sau thời gian làm việc căng thẳng. Ở một phương diện nào đó, mạng xã hội đã tạo nên một lớp “nhà báo công dân”, mỗi người dân sử dụng máy điện thoại tự đăng tải thông tin, viết bình luận, loan tải, chia sẻ, trở thành một “tờ báo mạng” nhỏ, qua đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, phát triển trí tuệ…
Mặt tiêu cực, bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng gây ra không ít hậu quả cho người dùng. Với thông tin, hình ảnh đăng tải trên mạng xã hội, mặt trái dễ thấy là thiếu tính chính thống, chính xác, trách nhiệm, khó kiểm chứng; nhiều thông tin mang tính cá nhân, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ tổ chức, cá nhân; không ít thông tin lừa đảo, vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, làm phương hại an ninh quốc gia… Chỉ xem xét riêng mặt chính trị xã hội, thời gian vừa qua, mạng xã hội đã gây phức tạp, tai họa cho nhiều nước. Chẳng hạn, những biến động chính trị xã hội ở Bắc Phi, Trung Đông (2 tổng thống bị lật đổ (Tuynidi và Ai Cập), 1 tổng thống phế truất và chịu cái chết thảm khốc (Gadhafi của Lybia), 2 nước đứng trước nhiều sóng gió (Yemen, Syria), đều có sự tham gia, hoặc chủ động, hoặc bị động, của các công cụ truyền thông trên internet. Những người tham gia cuộc bạo động đường phố tháng 8 năm 2011 ở Anh, những cuộc xuống đường “chiếm phố Wall” ở Mỹ và hành động tương tự ở nhiều nước khác đều sử dụng "vũ khí" lợi hại Facebook, Twitter, mạng xã hội, điện thoại di động. Còn ở nước ta, các thế lực thù địch đã lợi dụng truyền thông mạng xã hội để chia sẻ các nội dung kêu gọi biểu tình phản đối Pormosa, phản đối Quốc hội ban hành Luật đặc khu, Luật an ninh mạng, gây bạo động ở Bình Thuận; thông tin sai lệch về tình hình đại dịch CoVid-19 và biện pháp chống dịch... làm cho tình hình chính trị xã hội rất phức tạp.
Điều đáng quan tâm trên phạm vi toàn cầu, trong đó có nước ta là một phần của mạng xã hội đã trở thành truyền thông “lề trái”, được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng mưu đồ biến thành truyền thông độc lập, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước; thực hiện các thủ đoạn tuyên truyền, cổ súy cho các luận điệu dân chủ, nhân quyền tư sản, đòi tự do biểu tình, tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, tự do báo chí, tự do tôn giáo theo quan điểm phương Tây tư bản chủ nghĩa, nhằm phục vụ cho “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đối với nước ta.
Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, có thể dự báo xu thế phát triển của truyền thông mạng xã hội trong những năm tới có những đặc điểm chủ yếu:
Thứ nhất, truyền thông mạng xã hội ngày càng trở thành kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Những thành tựu đạt được trong nghiên cứu trí tuệ nhân tạo, nhanh chóng ứng dụng vào phát triển công nghệ, sẽ làm cho truyền thông mạng xã hội đang ngày càng thông minh hơn. Nó không chỉ thực hiện chức năng cung cấp thông tin, kết nối cộng đồng, mà trở thành một công cụ hữu ích cho việc học tập, phát triển kinh doanh của các cá nhân và tổ chức xã hội. Song, với số lượng người dùng tăng lên nhanh chóng, mạng xã hội đang thực sự tạo ra một “xã hội ảo” tồn tại song song với xã hội thực. Sự phát triển của mạng xã hội sẽ phát triển nhanh và ảnh hưởng tới hành vi của con người cũng như sự phát triển của xã hội thực.
Thứ hai, mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét phát triển, lan tỏa; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Sự phát triển nhanh chóng của truyền thông mạng xã hội sẽ dễ làm cho thông tin không chính thống gây nhiễu loạn, ảnh hưởng xấu đến an ninh xã hội. Trong môi trường phát triển số hóa ngày càng mạnh mẽ, mạng xã hội giống như “ma hồn trận”, làm cho con người rất khó để phân biệt được đâu là thực tế (tin thật), đâu là màn kịch dàn dựng lên (tin giả). Nếu không có biện pháp quản lý hiệu quả thì sẽ xuất hiện nhiều hơn thông tin bịa đặt, vu khống, sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tổ chức và cá nhân, gây hoang mang và bất bình trong dư luận xã hội. Loại thông tin độc hại này đã và đang trực tiếp làm mạng xã hội trở thành thế giới ảo theo đúng nghĩa đen, và làm cho sự thiện chí, lương thiện của hàng triệu người lành mạnh, tử tế dùng mạng xã hội như bị chìm lấp trong trận đồ bát quái giữa thật và giả, giữa trắng và đen, giữa tích cực và tiêu cực…
Thứ ba, truyền thông mạng xã hội trở thành cánh tay nối dài của báo chí truyền thống. Sự nối dài đó thể hiện ở tính kết nối, chia sẻ gắn liền với mỗi cá nhân đã làm cho thông tin trên mạng xã hội hết sức phong phú. Các tiện ích của mạng xã hội ngày càng thu hút nhiều người, tạo ra môi trường mở giúp giao lưu, liên kết. Vì vậy mà sẽ có nhiều cơ quan báo chí truyền thống lập trang Facebook của báo để mở rộng thông tin đến bạn đọc.
Thứ tư, truyền thông mạng xã hội sẽ hình thành loại hình “báo chí công dân”. Đặc trưng của loại hình báo chí này là bất kỳ người dùng mạng xã hội nào cũng có thể tạo ra một “cơ quan truyền thông” của cá nhân mình, tự sản xuất tin, bài như một tòa soạn thu nhỏ với đầy đủ các loại hình tích hợp “báo in”, “báo nói” và “báo hình”.
Từ thực trạng và dự báo tình hình phát triển truyền thông mạng xã hội, để tận dụng, khai thác mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, phục vụ cho phát triển triển kinh tế - xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, chúng ta cần thực hiện tốt những vấn đề về quản lý truyền thông mạng xã hội trên những định hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp nhằm quản lý chặt chẽ Internet nói chung và truyền thông mạng xã hội nói riêng. Việt Nam đã có Luật An ninh mạng, có hiệu lực từ 01/01/2019, đó là hành lang pháp lý để quản lý Internet và mạng xã hội. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của Internet, trong đó nhất là mạng xã hội sẽ làm cho một số quy định pháp luật quản lý, điều chỉnh hoạt động của nó rất dễ trở nên lạc hậu, bất cập. Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước, phải kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm quản lý hiệu quả hơn
Thứ hai, hoạch định các giải pháp kỹ thuật bảo đảm chủ động, kịp thời, hiệu quả trong quản lý truyền thông mạng xã hội. Đây là giải pháp trực tiếp, hữu hiệu, bởi kỹ thuật chỉ có thể kiểm soát, chế định bằng kỹ thuật. Mặt khác còn do yếu tố khách quan nước ta phụ thuộc vào các nhà mạng cung cấp dịch vụ từ nước ngoài đang thu hút được một lượng lớn người sử dụng trong nước như hiện nay, Nhà nước cần tiến hành hoạch định các giải pháp kỹ thuật hữu hiệu như: Giải pháp về công cụ quản lý, thu thập, phòng ngừa và cảnh báo; công cụ đánh giá định lượng truy cập mạng xã hội làm căn cứ đề ra và thực hiện các chính sách quản lý nhà nước. Giải pháp về công cụ lọc và phát hiện tin giả, tin sai sự thật… để chủ động ngăn chặn sự lan truyền và cảnh báo sớm tin giả ngay khi nó xuất hiện trên mạng xã hội. Giải pháp về cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp trong việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc trên mạng xã hội.
Thứ ba, tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm và ý thức tuân thủ pháp luật cho mỗi người dân sử dụng mạng xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định để lành mạnh truyền thông mạng xã hội. Yêu cầu đặt ra cần chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục làm cho mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực, tác động do âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá, tránh tình trạng vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa trên mạng xã hội. Đồng thời tăng cường sự giám sát, phát hiện thông tin sai phạm từ cộng đồng. Để thực hiện cần đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan truyền thông; kịp thời cung cấp, cập nhật thường xuyên hệ thống văn bản pháp luật, quan điểm chính thống của Đảng, Nhà nước trên các phương tiện truyền thông đại chúng để định hướng người sử dụng mạng xã hội trước những vấn đề nhạy cảm; xây dựng ý thức và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội.
Yêu nước ST.
KHÔNG CHỦ QUAN DÙ ĐÃ TIÊM ĐỦ VẮC XIN
Cách đây khoảng 3 tháng, một đồng nghiệp của tôi bị nhiễm Covid-19 vừa khỏi bệnh nói rằng: “Ai rồi cũng sẽ bị nhiễm Covid thôi, không sớm thì muộn”. Ý anh này nói là việc phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 là rất khó, mọi người sẽ lần lượt bị nhiễm nên cứ thấy ai bị ho, sổ mũi, hắt hơi hay bị sốt là lại hỏi: “Dương tính rồi phải không?”.
Những ngày qua, khá nhiều người, nhất là giới trẻ có suy nghĩ là trước sau gì cũng bị nhiễm Covid-19. Nếu chẳng may bị nhiễm bệnh cũng chẳng vấn đề gì, bệnh khó chuyển nặng vì đã tiêm đủ vaccine, khi khỏi bệnh sẽ "bất tử với Covid-19". Một số người khác thì cho rằng khi đã tiêm từ 2 mũi vaccine trở nên, thì đây là thời điểm nhiễm Covid-19 phù hợp, chỉ 5, 7 ngày là khỏi và vẫn kịp đón Tết Nhâm Dần.
Trên thực tế, những suy nghĩ và quan điểm trên rất sai lầm. Sai lầm đối với sức khỏe của mình, sức khỏe của những người thân và cộng đồng; sai lầm trong các hoạt động xã hội và hoạt động của mỗi cá nhân. Nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng, chống dịch (PCD) của cả nước và địa phương, cũng như ảnh hưởng đến việc khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
Theo các chuyên gia y tế trong và ngoài nước, những người bị nhiễm Covid-19, dù không có triệu chứng, triệu chứng nhẹ hay nặng, đều có thể gặp phải các di chứng được gọi là "hội chứng Covid-19 kéo dài" hoặc "hội chứng hậu Covid" với nhiều tác động xấu đến sức khỏe. Người bệnh phải tốn thời gian cách ly điều trị, làm gián đoạn công việc của bản thân và tập thể.
Gần đây, các bệnh viện tại TP Hồ Chí Minh ghi nhận nhiều người đã khỏi Covid-19 đến khám, điều trị di chứng liên quan đến tim, phổi và sang chấn tâm lý. Không những vậy, trong số những người bị nhiễm virus SARS-CoV-2, thì có hơn 20% là có biểu hiện nặng, với nguy cơ tử vong rất cao.
Những ngày gần đây, số người tử vong do dịch Covid-19 ở các tỉnh, thành phố của nước ta vẫn ở mức hơn 200 người/ngày. Dù gần như đã được phủ vaccine (trừ số trẻ nhỏ tuổi), nhưng một ai đó bị nhiễm, vẫn có thể lây lan cho những người khác khi tiếp xúc. Nếu những người tiếp xúc bị nhiễm thuộc diện có bệnh nền, người già, người suy giảm miễn dịch... thì khả năng bệnh chuyển nặng, thậm chí là tử vong sẽ rất lớn.
Hiện nay, chúng ta đã xác định phải thích ứng và sống an toàn với dịch Covid-19, nhưng không vì thế mà chủ quan, lơ là với công tác PCD. Phòng bệnh phải bảo đảm hiệu quả để giữ gìn sức khỏe cho bản thân mình và những người xung quanh, nên quan điểm “trước sau cũng bị nhiễm” là không đúng về y học dự phòng.
Cũng theo các nhà khoa học, sau khi khỏi bệnh, con người cũng không tạo ra kháng thể bền vững dù đã tiêm đủ vaccine, đã có rất nhiều trường hợp tái nhiễm Covid-19 sau khi khỏi bệnh, tiếp tục trở thành nguồn lây cho những người xung quanh. Mặt khác, virus SARS-CoV-2 rất dễ xảy ra đột biến, xuất hiện các biến chủng mới khi lây nhiễm từ người này sang người khác.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta không nên quá lo sợ dịch Covid-19, nhưng nếu muốn làm việc hiệu quả và tham gia tốt các hoạt động khác, thì phải bảo vệ được bản thân, bảo vệ được cộng đồng. Làm tốt công tác PCD Covid-19, thích ứng hiệu quả với hoàn cảnh không chỉ là hành vi văn hóa, mà còn thể hiện trách nhiệm đối với sự phát triển của đất nước. Khi dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là khi biến chủng Omicron đã xuất hiện ở nước ta, thì mỗi người vẫn phải cảnh giác cao độ, kiên quyết không cho bệnh dịch bùng phát mạnh trở lại.
GIÚP DÂN THIẾT THỰC
Những ngày tiết trời vào đông, nhiệt độ trên địa bàn thung lũng A Sho (A Lưới, Thừa Thiên Huế) xuống thấp. Thế nhưng, mỗi khi hoàng hôn dần buông, cũng là lúc Thượng úy QNCN Trần Văn Bình, nhân viên Đội sản xuất 1, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 92, Quân khu 4 lại đến từng gia đình được phân công giúp đỡ để hướng dẫn bà con cách chăm sóc gia súc mùa giá rét, hay đơn giản chỉ là tặng bà con ít thuốc thú y phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm...
Đến gia đình bà Căn Dương ở thôn Tru Chai, xã Đông Sơn, anh Bình nhanh chóng xắn quần, ra vườn kiểm tra chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm, ao thả cá và khu vực trồng gừng của gia đình. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Đoàn KT-QP 92 về việc phân công đảng viên kết nghĩa, đỡ đầu hộ nghèo, từ năm 2019 đến nay, anh Bình nhận đỡ đầu gia đình bà Căn Dương.
Sau khi tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, anh Bình đã giúp bà Căn Dương làm đơn vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để phát triển kinh tế. Đồng thời, anh vận động bà con trong thôn giúp gia đình bà Dương đào ao thả cá, trồng gừng và nuôi vịt đẻ. Sau hai năm, gia đình bà Căn Dương đã trả hết vốn vay ban đầu và từng bước phát triển kinh tế gia đình, không còn đói khổ như trước nữa.
Với gia đình chị A Viết Thị Xum ở thôn A Đớt, xã Lâm Đớt, mùa đông năm nay không còn lo khi những đợt không khí lạnh ùa về. Hoàn cảnh gia đình chị Xum hết sức khó khăn. Chồng mất sớm, một mình chị nuôi hai con nhỏ sống trong căn nhà dột nát. Thực hiện Chương trình “Chung tay hỗ trợ gia đình chính sách, khó khăn xây dựng nhà ở” do Đảng ủy Đoàn KT-QP 92 phát động, cùng với số tiền do một số đơn vị quân đội hỗ trợ, cán bộ, nhân viên đơn vị đã tự nguyện quyên góp tiền mua vật liệu và giúp ngày công xây dựng. Nhờ vậy, gia đình chị Xum đã có căn nhà mới khang trang, kiên cố.
Với cách làm đó, nhiều năm qua, "bộ đội 92" đã sáng tạo nhiều cách làm hiệu quả trong giúp đỡ người dân địa phương xóa đói, giảm nghèo. Nhiều mô hình đạt hiệu quả thiết thực, được cấp ủy, chính quyền và người dân đồng thuận, ủng hộ như: Phân công đảng viên kết nghĩa, đỡ đầu hộ nghèo, đỡ đầu học sinh nghèo tiếp tục đến trường, chung tay hỗ trợ gia đình chính sách, khó khăn xây dựng nhà ở...
Theo Đại tá Nguyễn Trọng Phương, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Đoàn KT-QP 92, để có chủ trương đúng, giải pháp mới và tổ chức đạt hiệu quả trên thực tế, trước khi triển khai thực hiện mỗi chương trình, dự án, các đội sản xuất mở hội nghị có sự tham gia của các trưởng thôn, bản và cấp ủy địa phương nhằm thống nhất biện pháp thực hiện. Các đội sản xuất tham mưu cho các thôn, bản tổ chức sinh hoạt nhân dân để bình chọn những gia đình có hoàn cảnh khó khăn hơn để giúp đỡ trước. Quá trình thực hiện, đơn vị phối hợp với các tổ chức, đoàn thể địa phương cùng tham gia và tuyên truyền, nhân rộng ra các hộ trong thôn. Nhờ vậy, chỉ sau 5 năm, Đoàn KT-QP 92 đã giúp đỡ hàng chục gia đình vươn lên thoát nghèo, gần 100 hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng nhà ở và hơn 50 em học sinh hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn đóng quân được giúp đỡ tiếp tục tới trường.
LÒ BÁC TRỌNG.
Từ ngày Bác Trọng khơi lò.
Thấy toàn chuột cống lần mò bò ra.
Chuột bọ ở quanh chúng ta.
Chúng đục khoét làm sập nhà chứ đâu.
Khơi lò thấy quá nhiều sâu.
"Gió da" là lỗi từ lâu lắm rồi.
Thiên đình dạo phố xuống chơi.
Mà vẫn "da gió" cạn lời xin thua.
"Công bộc" vưỡn còn bán, mua.
Câu chuyện thuế má tiền chùa đương nhiên.
Để giữ cuộc sống bình yên.
Thượng tôn pháp luật ưu tiên hàng đầu.
Mạnh tay quét sạch chuột, sâu.
Khẩn trương, kiên quyết, để lâu lại chùng.
Truy tận gốc, xét đến cùng.
Mọi người bình đẳng không vùng cấm luôn.
Diệt sâu xen lẫn vui buồn.
Mừng vì sẽ giảm cúi luồn tương lai.
Buồn là còn lắm chỗ sai.
Trách nhiệm ấy biết hỏi ai bây giờ?
Vững tin bước tiếp dưới cờ.
Búa liềm của Đảng từng giờ, phút, giây.
Lò Bác Trọng đỏ hàng ngày.
Là nơi thiêu đốt sạch bầy chuột, sâu.
Lê Quy
Một số vấn đề đặt ra trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.
Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối tượng.
Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra.
Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.
Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.
Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.
Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng.
Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.
Nguy cơ, thách thức đe dọa đến an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Việt Nam hiện cũng đang đối mặt với không ít các nguy cơ, thách thức đe dọa đến an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:
Thứ nhất, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng.
Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng, nhằm thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Chúng chủ yếu sử dụng mạng xã hội, phổ biến là Facebook, Youtube để tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước triển khai thực hiện mục tiêu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Thứ hai, hoạt động gián điệp mạng và các loại tội phạm công nghệ cao.
Không gian mạng đã và đang trở thành môi trường để các thế lực thù địch tiến hành các hoạt động gián điệp nhằm vào Việt Nam. Thời gian qua, cơ quan đặc biệt nước ngoài đã tiến hành tuyển lựa công dân Việt Nam qua không gian mạng, có những trường hợp đã được các cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bóc gỡ. Bên cạnh đó, các cơ quan đặc biệt nước ngoài còn triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động xâm nhập gián điệp, thu thập tin tình báo chống Việt Nam. Các hoạt động này được tiến hành thông qua các mã độc, phần mềm gián điệp được cài sẵn trong các phần mềm, ứng dụng, các thiết bị số làm quà tặng, bán ra thị trường hoặc có thể cài đặt từ xa thông qua in-tơ-nét. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), hằng năm có hàng triệu mã độc tấn công các máy tính của Việt Nam, với hàng nghìn virus máy tính mới xuất hiện và hàng trăm website của các cơ quan, doanh nghiệp bị tấn công, xâm nhập.
Trên thực tế, không gian mạng còn là nơi tội phạm công nghệ cao tiến hành các hoạt động gây nhiều thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức. Phổ biến là các hoạt động giả danh các cơ quan thực thi pháp luật tiến hành các hoạt động lừa đảo qua mạng; lừa đảo qua phương thức kinh doanh đa cấp qua mạng (sử dụng các khoản lợi nhuận lớn làm “mồi nhử”, lôi kéo số lượng lớn người dân đầu tư vào các dự án “ảo”, sau đó đánh sập hệ thống để chiếm đoạt tài sản); giả mạo website của các ngân hàng để lừa người truy cập, yêu cầu cung cấp thông tin giao dịch trực tuyến, sau đó chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tài sản; chiếm quyền điều khiển tài khoản mạng xã hội, sau đó lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người thân, bạn bè; tổ chức đánh bạc trên mạng với tổng số tiền lên đến hàng nghìn tỷ đồng; tiến hành các hoạt động “tín dụng đen” trên mạng, “giang hồ mạng”. Hoạt động trên của các đối tượng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Thứ ba, nguy cơ chiến tranh mạng.
Thế giới đã và đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh mạng, đó là nguy cơ hiện hữu và trong một thế giới vạn vật kết nối internet, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy đó. Chính vì vậy, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” khẳng định, nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp xảy ra chiến tranh mạng đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng... ); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính nội bộ; hệ thống điều khiển tự động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy lọc dầu, nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng. Năm 2016 đã xảy ra hàng loạt hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống quản lý thông tin của các sân bay quốc tế lớn của Việt Nam, như sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc. Rõ ràng, nếu để xảy ra chiến tranh mạng sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề về nhiều mặt cho đất nước.
Thứ tư, tình trạng mất an ninh, an toàn thông tin mạng đe dọa tới an ninh quốc gia.
Việt Nam đang phụ thuộc vào thiết bị hạ tầng và hệ thống công nghệ mạng lõi do các công ty nước ngoài cung cấp và luôn thường trực nguy cơ bị nước ngoài kiểm soát, giám sát. Phần lớn hạ tầng công nghệ phần cứng của Việt Nam, từ các hạ tầng lõi cho đến các thiết bị cá nhân đều nhập từ nước ngoài, nhiều nhất là từ Trung Quốc và Mỹ. Các hãng bảo mật và cơ quan chức năng nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã chứng minh và cảnh báo về các mã độc, “cửa hậu” được cài sẵn trong các thiết bị trước khi xuất xưởng, cho phép đối phương có thể truy cập, kiểm soát từ xa. Bên cạnh đó, nhiều trang thiết bị mạng sử dụng trong nước, gồm cả các trang thiết bị của các cơ quan, tổ chức nhà nước có xuất xứ nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, nhất là về an ninh, an toàn mạng cũng dẫn đến nguy cơ khó kiểm soát được các vấn đề an ninh, an toàn mạng. Đáng chú ý, nhận thức của một số cấp lãnh đạo, quản lý, ý thức và kỹ năng về an ninh, an toàn mạng của người sử dụng tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó có cả cán bộ thuộc các bộ phận cơ mật, thiết yếu, nắm quyền quản trị các hệ thống quan trọng, liên quan đến nhiều bí mật nhà nước.
Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet nhanh trong khu vực, nhưng tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém về an ninh, an toàn mạng. Hiện nay, khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet, 66% sử dụng mạng xã hội; 100% số cơ quan nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet, internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Theo các tổ chức an ninh mạng Kaspersky và Symantec, Việt Nam là quốc gia đứng đầu thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại (qua USB, thẻ nhớ) với gần 70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ 4 trên thế giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng in-tơ-nét. Hệ quả là năm 2020 có tới hơn 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng 3% so với năm 2019.
Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành dựa trên nền tảng của công nghệ số cùng với việc sử dụng phổ biến in-tơ-nét. Đặc trưng quan trọng của cuộc cách mạng này là sự phát triển hệ thống liên kết thế giới thực và ảo trên cơ sở internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT) và internet kết nối các hệ thống (Internet of Systems - IoS). Trong bối cảnh diễn ra cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trên không gian mạng xuất hiện những nguy cơ, hoạt động tác động mạnh mẽ đến an ninh quốc gia của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Ở các nước trên thế giới, nhất là các nước có nền khoa học - công nghệ phát triển, như Mỹ, Nga, Trung Quốc..., đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Cụ thể là:
Một là, chiến tranh mạng. Có thể nói, chiến tranh mạng là một hình thái chiến tranh mới, vượt ra khỏi khuôn khổ khái niệm về chiến tranh quân sự truyền thống. Đây là cuộc chiến tranh bất đối xứng, chỉ một lực lượng rất nhỏ cũng có thể gây thiệt hại lớn cho đối phương. Chiến tranh mạng không sử dụng khí tài quân sự truyền thống mà sử dụng lực lượng tinh nhuệ để lập trình, chế tạo, sản xuất và nhân bản hàng loạt vũ khí mạng, như mã độc, hệ thống công cụ tấn công mạng, hệ thống công cụ tình báo mạng. Mặc dù được tiến hành trên không gian mạng nhưng hậu quả do chiến tranh mạng gây ra có thể vượt ra ngoài phạm vi không gian ảo và có sức tàn phá lớn, thậm chí vượt xa chiến tranh quân sự truyền thống. Tháng 4-2007, hàng loạt trang thông tin điện tử (website) các cơ quan chính phủ, nhà cung cấp dịch vụ internet và ngân hàng của E-xtô-ni-a bị tấn công liên tục. Hậu quả là hầu hết các website tại E-xtô-ni-a bị tê liệt trong khoảng 3 tuần, gây ra nhiều thiệt hại cho nước này. Năm 2009, hàng loạt website của chính phủ Mỹ và Hàn Quốc cũng bị tấn công, trong đó nhiều website quan trọng của Mỹ và Hàn Quốc phải tạm ngừng hoạt động.
Hai là, gián điệp mạng. Gián điệp mạng ra đời cùng với sự xuất hiện của không gian mạng với sự kết nối của mạng máy tính, internet và sự phát triển của công nghệ thông tin. Gián điệp mạng có thể gây ra những tổn thất khôn lường về nhiều mặt, thậm chí làm ảnh hưởng đến nhiều quốc gia thông qua hoạt động tấn công vào hệ thống máy tính của các cơ quan chính quyền, tập đoàn kinh tế, hệ thống ngân hàng hoặc hệ thống thông tin của các cảng sân bay hàng không quốc tế,... để đánh cắp dữ liệu số, thông tin bí mật hoặc tấn công mã độc, chiếm quyền kiểm soát, điều khiển hệ thống thông tin... Từ năm 2006 đến năm 2017, WikiLeaks cho công bố hàng loạt tài liệu mật, trong đó có nhiều tài liệu mật của Mỹ và một số nước, bao gồm cả các tài liệu phản ánh hoạt động giám sát các thiết bị di động của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Năm 2013, E. Xnâu-đân (Edward Snowden) tiết lộ thông tin mật về chương trình do thám toàn cầu do tình báo Mỹ và Anh thực hiện, gồm cả các hoạt động giám sát điện thoại của một số nhà lãnh đạo trên thế giới, như Tổng thống Nga D. Mét-vê-đép (Dmitry Medvedev), Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken (Angela Merkel)... Năm 2016, 11,5 triệu tài liệu mật cũng đã được công khai cho báo chí trong vụ “Hồ sơ Panama”...
Ba là, khủng bố mạng. Thời gian qua, các đối tượng khủng bố quốc tế; các thế lực thù địch; các tổ chức tin tặc, điển hình như Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS), tổ chức tin tặc do “nhóm hacker ẩn danh” Anonymous sáng lập và chỉ đạo, luôn tìm cách lợi dụng không gian mạng, công nghệ thông tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố. Hoạt động khủng bố mạng gồm tấn công mạng nhằm mục đích khủng bố; tấn công khủng bố trên mạng; sử dụng không gian mạng để đe dọa khủng bố. Năm 2015, nhóm hacker người Tuy-ni-di Al-Fallaga có quan hệ chặt chẽ với mạng lưới thánh chiến toàn cầu đã tiến hành chiến dịch “Op Electronic Badr” tấn công các trang tin điện tử của ngân hàng Hapoalim, Mossad và nhiều website khác của Chính phủ I-xra-en, sau đó đăng tải các tài liệu thu được lên Facebook. Thời gian qua, tổ chức khủng bố IS cũng liên kết chặt chẽ với các nhóm tin tặc, như Cyber Caliphate, IS Hacking Division, ISIS Cyber Army và một số nhóm tin tặc khác ủng hộ IS tiến hành các vụ tấn công mạng nhằm vào mục tiêu của các nước mà chúng cho là thù địch.
Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng
Từ khái niệm bảo vệ an ninh quốc gia được đề cập trong Luật An ninh quốc gia Việt Nam năm 2004 có thể hiểu, bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thực tế cho thấy, không gian mạng quốc gia Việt Nam chứa đựng những yếu tố hết sức quan trọng, nếu bị xâm hại sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích, an ninh quốc gia. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước vẫn không từ bỏ âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và không gian mạng vào các hoạt động chống phá với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng đặt ra trong tình hình hiện nay là hết sức cấp thiết. Chính vì vậy, Nghị quyết số 51-NQ/TW, ngày 5-9-2019, của Bộ Chính trị, về “Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia” xác định, cần phải tăng cường bảo vệ an toàn, an ninh mạng các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia và các hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng; khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin.
Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng được xác định là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do đó, để triển khai công tác này, phải phát huy được sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đồng thời, xác định đây là cuộc đấu tranh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ trọng yếu của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng công an giữ vai trò nòng cốt, lực lượng an ninh mạng và cảnh sát phòng, chống tội phạm công nghệ cao có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng. Đây là quan điểm, tư tưởng cơ bản, xuyên suốt của Đảng, quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nguyên tắc cần quán triệt trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng bao gồm: Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng làm nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Không gian mạng và bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về không gian mạng. Quan điểm của Mỹ đề cập trong Chỉ thị số 54 về An ninh quốc gia và Chỉ thị số 23, năm 2008, về An ninh nội địa của Tổng thống Mỹ cho rằng, không gian mạng là mạng lưới kết nối các cơ sở hạ tầng bao gồm internet, các mạng viễn thông, các hệ thống máy tính, các hệ thống xử lý và điều khiển trong ngành công nghiệp trọng yếu; không gian mạng được dùng để mô tả một môi trường ảo, trong đó diễn ra việc trao đổi thông tin và tương tác giữa con người với nhau, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Bộ Quốc phòng Nhật Bản xác định không gian mạng là không gian ảo, bao gồm cả internet, trong đó thông tin được trao đổi bằng công nghệ thông tin và viễn thông; không gian mạng là “trường”, trong đó các hoạt động tình báo, tấn công và phòng thủ được tiến hành như “trường” trên bộ, trên biển, trên không và trong không gian(1).
Trung Quốc coi không gian mạng là chiến trường thứ năm và là mặt trận tình báo mới. Trong phát biểu tại hội nghị thành lập Tiểu tổ Lãnh đạo an ninh mạng và thông tin hóa Trung ương ở Bắc Kinh, ngày 27-2-2014, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình cho rằng, internet và an ninh thông tin đã trở thành thách thức mới đối với Trung Quốc vì cả hai đều gắn liền với an ninh quốc gia và ổn định xã hội(2).
Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018 khẳng định, không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập, quản lý và kiểm soát(3). Trên không gian mạng, Việt Nam có hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Hệ thống này gồm hệ thống thông tin quân sự, an ninh, ngoại giao, cơ yếu; hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý thông tin thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái; hệ thống thông tin phục vụ bảo quản, chế tạo, quản lý cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia; hệ thống thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của cơ quan, tổ chức ở Trung ương; hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường, hóa chất, y tế, văn hóa, báo chí; hệ thống điều khiển và giám sát tự động tại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia(4).
Những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới
Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.
Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:
(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.
(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.
(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…
Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới
Việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng trong tổng thể công tác đấu tranh tư tưởng. Với lực lượng, phương thức, thủ đoạn, phương tiện, công nghệ chống phá liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch tấn công trực tiếp vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đích cuối nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa các trào lưu tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống xã hội. Điều đó đòi hỏi công tác đấu tranh tư tưởng cần có những điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số)(1), những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.
Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.
Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.
Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp. Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.
Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.
Một số kết quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong bối cảnh hội nhập quốc tế thời gian qua
Trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng, các địa phương, cơ quan, đơn vị các cấp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới bằng các chỉ thị, nghị quyết, quy định, kết luận; điển hình là Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28-2-2018, của Bộ Chính trị, về “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”. Đây là cơ sở quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, tự soi, thúc đẩy tự tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng, đặc biệt là ý thức cảnh giác trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, những cám dỗ, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc, hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch; đồng thời, giúp các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương tăng cường giáo dục, quán triệt và ngăn ngừa, giám sát cán bộ, đảng viên để họ không vi phạm, nhất là những vấn đề chính trị hiện nay. Kết luận số 72-KL/TW, ngày 19-5-2020, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay” được ban hành đồng bộ cùng các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo khác về công tác cán bộ và quản lý cán bộ đã góp phần nâng cao một bước trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ của cả hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên trước các tác động tiêu cực của hội nhập quốc tế và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Trên cơ sở đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt nghiêm túc, triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp để cụ thể hóa chỉ đạo của Trung ương; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng chính trị gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII). Việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc Quy định số 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Quy định số 228-QĐ/TW của Ban Bí thư(4), quy định về bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định liên quan khác đã nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc cán bộ, đảng viên ra nước ngoài hoặc khi có quan hệ công tác với các cá nhân, tổ chức nước ngoài; phòng ngừa từ sớm, từ xa các dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn chính trị, kịp thời nhắc nhở, giáo dục các trường hợp có biểu hiện suy thoái, tiêu cực. Thời gian qua, cán bộ, đảng viên làm việc ở các vị trí, bộ phận có quan hệ công tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài được tuyển chọn kỹ lưỡng về tiêu chuẩn chính trị, tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn, được thẩm định hồ sơ lý lịch trước khi tuyển dụng, cử đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc theo nhiệm kỳ. Những cán bộ công tác ngoại giao lâu năm đã được rèn luyện, thử thách trong các môi trường đấu tranh ngoại giao song phương và đa phương, ở trong nước và nước ngoài, luôn tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và với nhân dân.
Công tác thẩm định, thẩm tra, xác minh, kết luận tiêu chuẩn chính trị đã được cấp ủy các cấp thực hiện nghiêm túc, kỹ lưỡng, bài bản, đúng quy định đối với hàng nghìn cán bộ, đảng viên, phục vụ công tác cán bộ thường xuyên, nhất là đối với công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tính từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, riêng ở Trung ương đã rà soát, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị cho gần 10.000 lượt hồ sơ cán bộ; đối với các địa phương, đã tiến hành thẩm định tiêu chuẩn chính trị đối với gần 4.000 trường hợp giới thiệu tham gia cấp ủy, bố trí các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhiệm kỳ 2020 - 2025, phát hiện nhiều nhân sự có vấn đề về tiêu chuẩn chính trị cần được xem xét kỹ, cân nhắc khi bố trí, sử dụng..., có nhiều trường hợp đã không được phê duyệt quy hoạch, bổ nhiệm do không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị. Những kết quả đó đã góp phần làm trong sạch nội bộ, nâng cao sức chiến đấu, bản lĩnh cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng đã đấu tranh, ngăn chặn hàng trăm đối tượng có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước, hàng nghìn trang mạng có nội dung xấu, độc; vô hiệu hóa, gỡ bỏ hàng trăm vi-đê-ô, bài viết, tin bài có nội dung xấu; cảnh báo vi phạm đối với nhiều trang mạng xã hội...; qua đó, đã góp phần chặn đứng, đẩy lùi các hoạt động phá hoại chính trị của các thế lực thù địch, những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, chính thống; bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, tư tưởng, bản lĩnh chính trị cũng như góp phần ngăn chặn hiệu quả những biểu hiện, tư tưởng lệch lạc, thoái hóa, biến chất tiềm tàng, manh nha trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ thời gian qua được tăng cường, chú trọng. Ngày 8-8-2018, Ban Bí thư đã ban hành Quyết định số 140-QĐ/TW, về “Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ giữa Ban Tổ chức Trung ương với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao, Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ”, góp phần nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phục vụ hiệu quả công tác quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là những trường hợp được cử đi dịch thuật, đi học tập, công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài; kịp thời nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên để kịp thời giải quyết, ngăn chặn, xử lý hiệu quả những cán bộ, đảng viên có quan điểm, hành động, phát ngôn đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới góc nhìn bảo vệ chính trị nội bộ
Bối cảnh hội nhập quốc tế mang lại nhiều thời cơ, thuận lợi để phát triển đất nước nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức khó lường, nhất là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và xây dựng, bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng. Dưới góc nhìn của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, đây là vấn đề cần được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, để tham mưu giúp Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách thiết thực nhằm bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của Đảng, của chế độ trong tình hình hiện nay.
Vai trò, ý nghĩa của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp để giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó(1). Sau khi thống nhất đất nước, qua các kỳ đại hội Đảng, vấn đề hội nhập quốc tế ngày càng được chú trọng, giúp đất nước tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, thể hiện trách nhiệm quốc tế, nâng cao vị thế và tiềm lực của đất nước, dân tộc ta trên thế giới. Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa diễn ra trên nhiều lĩnh vực cùng với sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức, điển hình là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang là cơ hội, là thời cơ để nước ta đón bắt, tranh thủ tận dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế là một quá trình gắn kết chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đầy phức tạp giữa các quốc gia, giữa các khu vực; vì vậy, những thuận lợi, thời cơ và những khó khăn, thách thức luôn đan xen nhau trong từng bối cảnh lịch sử của thế giới, trong đó có cả những tác động bất lợi đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những năm gần đây, đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp trên phạm vi toàn cầu, chưa từng có tiền lệ; kinh tế thế giới suy thoái cùng với xu hướng tập hợp, liên kết giữa một số quốc gia để gia tăng cạnh tranh địa chính trị, bảo vệ lợi ích quốc gia cùng với các thách thức an ninh phi truyền thống khác nổi lên gay gắt, trong đó có vấn đề an ninh nguồn nước, thiên tai, lũ lụt đã và đang ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.
Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị không ngừng lợi dụng điều kiện, bối cảnh hội nhập quốc tế để ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, lợi dụng tối đa các phương tiện truyền thông hiện đại để truyền bá các luận điệu xuyên tạc, thù địch, đòi phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu cách mạng, thành quả phát triển đất nước và các chủ trương, đường lối lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Chúng lan truyền các thông tin sai sự thật, gieo rắc hoài nghi, mưu toan kích động chính trị, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ; truyền bá, thúc đẩy các hình thức “xã hội dân chủ” kiểu phương Tây, đồng thời xoáy sâu hơn vào những mặt trái của nền kinh tế thị trường; đẩy mạnh móc nối, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng, lập trường, bản lĩnh chính trị, thoái hóa, biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị. Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực như vậy đã và đang tác động đến tình hình chính trị nội bộ trong nước, nhất là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Cùng với đó, tình hình chính trị nội bộ trong những năm qua, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng có những diễn biến phức tạp, khó lường. Mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã góp phần làm gia tăng lối sống thực dụng, lệch chuẩn, trái với thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước..., sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(2). Hệ lụy là “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(3).
Vì vậy, với sứ mệnh bảo vệ sự tồn vong của Đảng, của chế độ, trong đó có bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng, đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, ý nghĩa của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trách nhiệm chăm lo, xây dựng phải đi cùng với việc bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay.
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp để giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó(1). Sau khi thống nhất đất nước, qua các kỳ đại hội Đảng, vấn đề hội nhập quốc tế ngày càng được chú trọng, giúp đất nước tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, thể hiện trách nhiệm quốc tế, nâng cao vị thế và tiềm lực của đất nước, dân tộc ta trên thế giới. Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa diễn ra trên nhiều lĩnh vực cùng với sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức, điển hình là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang là cơ hội, là thời cơ để nước ta đón bắt, tranh thủ tận dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế là một quá trình gắn kết chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đầy phức tạp giữa các quốc gia, giữa các khu vực; vì vậy, những thuận lợi, thời cơ và những khó khăn, thách thức luôn đan xen nhau trong từng bối cảnh lịch sử của thế giới, trong đó có cả những tác động bất lợi đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những năm gần đây, đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp trên phạm vi toàn cầu, chưa từng có tiền lệ; kinh tế thế giới suy thoái cùng với xu hướng tập hợp, liên kết giữa một số quốc gia để gia tăng cạnh tranh địa chính trị, bảo vệ lợi ích quốc gia cùng với các thách thức an ninh phi truyền thống khác nổi lên gay gắt, trong đó có vấn đề an ninh nguồn nước, thiên tai, lũ lụt đã và đang ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.
Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị không ngừng lợi dụng điều kiện, bối cảnh hội nhập quốc tế để ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, lợi dụng tối đa các phương tiện truyền thông hiện đại để truyền bá các luận điệu xuyên tạc, thù địch, đòi phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu cách mạng, thành quả phát triển đất nước và các chủ trương, đường lối lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Chúng lan truyền các thông tin sai sự thật, gieo rắc hoài nghi, mưu toan kích động chính trị, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ; truyền bá, thúc đẩy các hình thức “xã hội dân chủ” kiểu phương Tây, đồng thời xoáy sâu hơn vào những mặt trái của nền kinh tế thị trường; đẩy mạnh móc nối, mua chuộc, lôi kéo những cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng, lập trường, bản lĩnh chính trị, thoái hóa, biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị. Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực như vậy đã và đang tác động đến tình hình chính trị nội bộ trong nước, nhất là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Cùng với đó, tình hình chính trị nội bộ trong những năm qua, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng có những diễn biến phức tạp, khó lường. Mặt trái của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã góp phần làm gia tăng lối sống thực dụng, lệch chuẩn, trái với thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước..., sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(2). Hệ lụy là “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(3).
Vì vậy, với sứ mệnh bảo vệ sự tồn vong của Đảng, của chế độ, trong đó có bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng, đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, ý nghĩa của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là trách nhiệm chăm lo, xây dựng phải đi cùng với việc bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay.