Mới đây, trên facebook đang lan truyền một đoạn chế lời bài hát "Ngày Tết quê em" (của tác giả Đức Huy) với nội dung nói về việc test (xét nghiệm nhanh kháng nguyên) trong mùa covid-19. Lời bài hát chế này đã được trang fanpage có hơn 1,4 triệu lượt thích "Vì Mẹ Là Mẹ Của Con" chia sẻ, đăng lại đã đạt được hơn 1.400 lượt thích, gần 300 lượt bình luận và hơn 300 lượt chia sẻ và đáng ngại là có cả quân nhân chia sẻ trên fb cá nhân.
Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022
CHIÊU TRÒ MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG
Nhân vụ việc trẻ em bị bạo hành, gần đây, trên một vài trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam ở nước ngoài và những kẻ đội lốt “đấu tranh dân chủ” đú trend, đẩy mạnh truyền thông theo hướng bóp méo sự việc, diễn giải, đánh lái sang hướng đổ lỗi cho chế độ không có nhân quyền, là nguyên nhân gián tiếp gây ra cái chết cho cháu bé. Chẳng hạn, họ khơi ra chủ đề nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo hành trẻ em ở Việt Nam như bài: “Ai có lỗi trong vụ bé gái 8 tuổi “chết vì bạo hành” và ai bảo vệ trẻ em Việt Nam?” trên BBC, phỏng vấn đồng bọn chống phá trong nước vu cáo rằng, nguyên nhân đầu tiên là “xã hội không coi đứa trẻ là một CON NGƯỜI”… và Việt Nam “là Quốc gia đang thiếu thiết chế bảo vệ trẻ em”… Cách lập luận và chiêu tró đánh lái này cho thấy nhận thức, kiến thức hết sức hạn chế của những kẻ chống phá Việt Nam
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI: MỘT TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Vào một đêm lạnh giá cuối năm 1991, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chấm dứt sự tồn tại. Các thế lực tư bản và phản động hý hửng vội vàng có thể kết liễu chủ nghĩa xã hội bằng “chiến thắng không cần chiến tranh” để chủ nghĩa tư bản trở thành “điểm đến cuối cùng của lịch sử”… Sự thật thì hoàn toàn khác hẳn!
Âm mưu lợi dụng đám tang Dương Văn Mình để chống phá an ninh tôn giáo
Trong những ngày qua ại thôn Ngòi Sen, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Dương Văn Mình mắc bệnh nặng, bị viện Huyết học trung ương trả về, nửa đường thì mất vào 4h sáng 11/12, Dương Văn Mình là người sáng lập tổ chức tôn giáo trái phép Dương Văn Mình. Lợi dụng đám tang của Dương Văn Mình, nhiều tín đồ của ông đã mượn cớ dự tang để tụ tập đông người bất chấp đại dịch, Chính quyền muốn xét nghiệm truy vết thì họ chống đối, tạo ra tình hình lộn xộn. Sáng sớm cùng ngày, có đoàn y bác sỹ tới nhà ông Mình chia buồn và cho biết tài xế xe cứu thương dương tính với Covid, do đó yêu cầu xét nghiệm ông Mình và một số người đi cùng. Đây là yêu cầu cần thiết khi dịch bệnh đang diễn biến nghiêm trọng trên cả nước. Tuy nhiên gia đình ông này không đồng ý với lý do đang đau buồn, sau đó nhiều tín đồ của ông xông vào chống đối, xảy ra xô xát với lực lượng chức năng, gây phức tạp tình hình dẫn đến việc nhiều người bị bắt giữ.
BẠO LOẠN KAZAKHSTAN: TRUNG QUỐC ĐỊNH NHẢY VÀO, NGA XUA TAY "NHÀ CỦA ANH ĐẤY"!
Trước tình hình bất ổn tại Kazakhstan, Trung Quốc đã có nhiều toan tính nhằm tạo sự ảnh hưởng của mình đối với quốc gia Trung Á này. Tuy nhiên khi Bắc Kinh đang định mang quân sang Kazakhstan thì Putin xua tay "Đó là nhà của anh". Cái xua tay của Putin và sau đó là hơn 3.000 binh sĩ Nga đến Kazakhstan trật tự nhanh chóng được lập lại.
Việc Moscow dẫn quân tiến vào Kazakhstan gửi đi thông điệp nhắc nhở Bắc Kinh rằng Nga đã, đang và sẽ tiếp tục là thế lực ảnh hưởng chính ở khu vực Trung Á hay nói cách khác đó là "Nhà của Nga" Trung Quốc không có cửa ve vãn, kiếm chác gì ở đây cả. Ai nói thì còn phải xem lại nhưng Nga nói thì không thể không nghe. Điều này khiến cho ông Tập khá hoang mang, bởi mọi toan tính của Trung Quốc hoàn toàn bị đảo lộn.
Nhiều năm qua, Trung Quốc đã sử dụng Trung Á làm cầu nối giữa các công xưởng trong nước với thị trường Tây Á - châu Âu thông qua các dự án hàng tỷ USD thuộc sáng kiến Vành đai, Con đường. Kazakhstan nằm tiếp giáp Tân Cương và là một trong những điểm khởi đầu của Vành đai, Con đường. Trong 15 năm qua, Trung Quốc đã đầu tư gần 20 tỷ USD vào Kazakhstan. Các dự án Bắc Kinh tài trợ hoàn tất vào năm 2023 có giá trị lên đến 24,5 tỷ USD, theo South China Morning Post.
Bởi Trung Quốc đã đầu tư lớn vào Trung Á nói chung và Kazakhstan nói riêng, hiện diện của Moscow ở Kazakhstan càng lớn, Bắc Kinh càng kém vui. Dù Tổng thống Putin dành nhiều sự quan tâm hơn cho biên giới Đông Âu, Điện Kremlin vẫn luôn theo sát vùng ngoại vi phía đông và phía nam, bởi những đe dọa từ sự xâm nhập của các phần tử Hồi giáo cực đoan.
Môi Trường ST.
Thủ đoạn tinh vi tin gia, tin bịa đặt
Trên thực tế, tin giả không chỉ chiến
thắng tâm lý hiếu kỳ, tò mò của độc giả mà nó còn làm suy yếu các phương tiện
truyền thông. Tin giả không chỉ hướng lái sai lệch một bộ phận xã hội mà còn
“dắt mũi” cả một số phóng viên, cơ quan báo chí. Tin chưa được kiểm chứng từ cá
nhân trên Facebook, Zalo... nhưng có những báo mạng vẫn "nhanh tay"
biến thành sản phẩm báo chí.
Thiết nghĩ, để bảo đảm tính kịp
thời, hiệu quả trong nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả với nạn
tin giả cũng như giảm thiểu tác động xã hội của nó, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ,
liên thông của các cơ quan chức năng. Cần phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ
nhưng linh hoạt, vận dụng nghiêm khắc chế tài, luật pháp để xử lý nghiêm mọi cá
nhân, tổ chức tung tin giả.
Tại Hội nghị công tác công an trong phòng,
chống dịch ngày 11-10-2021, Bộ Công an cho biết đã chỉ đạo công an các đơn
vị, địa phương tăng cường nắm, kiểm soát tốt tình hình trên không gian mạng; xử
phạt hành chính hơn 150 đối tượng đăng tải tin giả, sai sự thật; ngăn chặn, yêu
cầu gỡ bỏ 10.944 tin, bài viết, video chứa thông tin xấu độc.
Con số trên cho thấy, tin giả giống như rác
rưởi hằng ngày làm bẩn nhà, bẩn phố, mà rác thì phải quét, quét rồi nó lại có,
cho nên phải quét thật mạnh, thường xuyên, liên tục thì mới mong nhà luôn luôn
sạch.
Luật pháp đã có những quy định chặt chẽ, tất
yếu Nhà nước phải can dự để chống lại tin giả, đòi hỏi bộ máy quyền lực phải
liêm chính, hiệu năng.
Tuy nhiên, vấn đề truyền thông đến cộng đồng
phải được đặt lên hàng đầu. Một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong xử lý tin
giả đó là phải nhanh chóng cung cấp cho công chúng những thông tin đúng đắn,
chính thống. Càng là những thông tin mà công chúng còn nghi ngờ, mơ hồ thì càng
phải tăng cường cung cấp thông tin đúng để họ hiểu đúng.
Tiến sĩ Yeung Yong Uhm, chuyên gia truyền
thông Hàn Quốc trong hội thảo khoa học quốc tế về quản trị khủng hoảng thông
tin trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã nhấn mạnh tính minh bạch và thời điểm
công bố thông tin. Thông tin trung thực và thông tin chính thống phải đến sớm,
nhanh nhất có thể với người dân. Tiếc rằng, thực tế hiện nay “tin giả đi được
2/3 trái đất thì tin thật mới chạy theo”.
3. Tin giả nhưng hiểm họa lại
thật. Tin giả thực sự là một loại virus độc hại, tác động xấu đến nhận
thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội.
Trước khi Nhà nước “điều trị” bệnh này, mỗi cá
nhân cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận thông tin trung thực, phủ
nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp.
Ý NGHĨA HÌNH THÀNH TÊN CỦA 63 TỈNH THÀNH VIỆT NAM!
1. HÀ NỘI
Sau khi diệt được triều đại Tây Sơn vua Gia Long đổi phủ Phụng Thiên (Đất kinh thành cũ Thăng Long) thành phủ Hoài Đức thuộc Tổng Trấn Bắc Thành. Năm Minh Mang thứ 12 (1831) vua lại bỏ Bắc Thành và 11 Trấn và thay bằng 29 Tỉnh. Tỉnh Hà Nội ra đời và gồm có thành Thăng Long, phủ Hoài Đức (của Tây Sơn) và ba phủ Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân của Trấn Sơn Nam. Hà (sông) Nội (bên trong), Hà Nội có nghĩa là thành phía trong sông, vì tỉnh Hà Nội được bao bọc bởi sông Hồng và sông Đáy (tài liệu tham khảo: 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, Tô Hoài)
2. BẮC GIANG
Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, đời Lý – Trần gọi là łộ Bắc Giang, đời Lê là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc. Đến nay chưa thấy tài liệu nào chứng minh, nhưng tên gọi Bắc Giang có nghĩa là phía bắc sông.
CHÙA VĨNH NGHIÊM – YÊN DŨNG, BẮC GIANG
3. BẮC KẠN
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Bản sao bài văn bia “Tam hải hồ sơn chí” bằng tiếng Hán khắc trên đá dựng ở Bó Lù, bờ hồ Ba Bể, do tác giả Phan Đình Hoè án sát tỉnh Bắc Kạn viết, ông Vi Văn Thượng khắc và dựng bia năm 1925: Chữ “Kạn” trong từ Bắc Kạn có bộ “tài gẩy” bên chữ “Can”, âm Hán Việt đọc là “cản”, chữ này có nghĩa là “ngăn giữ, bảo vệ, chống cự” (phía bắc).
4. BẮC NINH
1822 từ một phần xứ Kinh Bắc. Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Tên gọi Bắc Ninh có thể từ Kinh Bắc và Vũ Ninh mà thành.
5. CAO BẰNG
Cao Bằng xưa thuộc bộ Vũ Định thời Hùng Vương, đến đời Lý về sau là đất Thái Nguyên. Năm 1467 gọi là phủ Bắc Bình, về sau đổi thành phủ Cao Bình. Năm 1676, nhà Lê thu phục từ tay nhà Mạc đặt lại thành trấn Cao Bình. Đến đời Tây Sơn, tên Cao Bình dần trại ra thành Cao Bằng cho đến bây giờ.
6. ĐIỆN BIÊN
Điện Biên là vùng đất cổ. Điện Biên Phủ vốn được gọi là Mường Thanh, từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái, nghĩa là Xứ trời. Đây được xem là vùng đất thiêng ở miền biên viễn, theo quan niệm xưa, là nơi thông trời đất. Tên gọi Phủ Điện Biên, hay Điện Biên Phủ được vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, chữ Điện hiểu theo nghĩa này nghĩa là một vùng núi to nhưng đất thiêng, là điện thờ, Biên là biên viễn.
7. HÀ GIANG
Hà Giang, theo cách giải thích về nghĩa chữ là con sông nhỏ chảy vào dòng lớn. Cụ thể ở đây là Sông Miện chảy vào Sông Lô
8. HẢI DƯƠNG
Hải Dương có tên chính thức từ năm 1469, ý nghĩa “Hải là miền duyên hải” vùng đất giáp biển, “Dương là ánh sáng” ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là “ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về”. Trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long.
9. HẢI PHÒNG
Cảng, thành phố Hoa phượng đỏ, thành lập vào năm 1888. Cái tên Hải Phòng có thể là gọi rút ngắn trong cụm từ “Hải tần phòng thủ” của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1, hoặc từ tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng, cũng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức.
10. HÀ NAM
Hà Nam được thành lập năm 1890, Nam Định được tách ra thành tỉnh Thái Bình và một phần phía bắc tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam. Hà lấy từ chữ Hà Nội, Nam lấy từ chữ Nam Định.
11. HOÀ BÌNH
Hòa Bình là tỉnh được thành lập năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi là tỉnh Mường. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Chợ Bờ nên cũng còn gọi là tỉnh Chợ Bờ, cuối năm 1886 chuyển về xã Phương Lâm, năm 1888 đổi tên thành tỉnh Phương Lâm. Năm 1896 tỉnh lỵ được chuyển về đóng tại xã Hòa Bình, phía bờ trái sông Đà, đối d¡ệห với Phương Lâm và từ đó gọi là tỉnh Hòa Bình, sau nhiều lần tách nhập, đến nay vẫn giữ tên gọi này.
12. HƯNG YÊN
Tỉnh được thành lập năm 1831 gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định. Vùng đất Hưng Yên หổi danh từ thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh đã หổi tiếng do có Phố Hiến, dân gian có câu “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.
13. LAI CHÂU
Lai Châu có tên gọi xuất phát từ chữ châu Lay. Vào đầu thế kỷ X, các thủ lĩnh Thái chiếm vùng đất này đã đặt tên là Mường Lay, năm 1435 Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi là châu Lai do phiên âm chữ Lay.
14. LẠNG SƠN
Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh мạหg thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831), tên gọi xuất phát từ danh xưng “xứ Lạng”.
15. LÀO CAI
Lào Cai là cách phát âm của người địa phương đọc chữ Lão Nhai có nghĩa là Phố Cũ hoặc Chợ Cũ. Người địa phương thường gọi Bảo Thắng, là khu phố do Lưu Vĩnh Phúc xây dựng nằm ở vùng thuộc thị xã Lào Cai ngày nay bằng tên Lảo Kay, sau đó người Pháp cũng phiên âm lại cách gọi đó bằng chữ Latinh là Lao Kai hoặc Lao Kay.
16. NAM ĐỊNH
Nam Định có nguồn gốc tên gọi từ năm 1822, khi triều Nguyễn đổi tên trấn Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định, chữ Nam có từ thời Lê nghĩa là phía Nam chữ Định nghĩa là bình định là chữ nhà Nguyễn đặt cho nhiều vùng đất. Năm 1832 đổi trấn Nam Định thành tỉnh Nam Định (bao gồm cả Thái Bình và một phần đất Hà Nam hiện nay). Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng và một phần phía bắc Nam Định tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam.
17. NINH BÌNH
Ninh Bình nghĩa là phẳng lặng, yên ổn, yên tĩnh có tên là đạo Ninh Bình từ năm 1822, năm 1831 đổi thành tỉnh Ninh Bình.
Chùa Lớn Nhất Đông Nam Á Bái Đính - Ninh Bình
18. PHÚ THỌ
Phú Thọ là tên gọi xuất phát từ tên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi, tỉnh Hưng Hóa mà lập nên thị xã Phú Thọ năm 1903. Sau đó Pháp chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên thị xã Phú Thọ và đổi tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ.
19. QUẢNG NINH
Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 – 1500 năm TCN. Khi hình thành Nhà nước đầu tiên của người Việt, thời Hùng Vương vùng đất Quảng Ninh nay là bộ Lục Hải. Một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Thời Phong kiến khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay có tên lần lượt là: Lục Châu, łộ Đông Hải, łộ Hải Đông, trấn An Bang, tỉnh Quảng Yên. Sau này Quảng Yên được tách ra thành nhiều đơn vị khác, trong đó có Hải Ninh, về sau Quảng Yên cùng với Hải Ninh và các đơn vị này nhập thành Quảng Ninh bây giờ. Như vậy Quảng Ninh hiện nay gần như là Quảng Yên cũ.
20. SƠN LA
Sơn La có tên gọi xuất phát từ nguồn gốc của Nậm La, một phụ lưu cấp 2 của sông Đà. Sơn La trước năm 1479 phần lớn là lãnh thổ của vương quốc Bồn мคห, chính thức được รáp หнập vào Đại Việt năm 1749. Năm 1886 thành lập châu Sơn La thuộc phủ Gia Hưng tỉnh Hưng Hoá. Năm 1895 thành lập tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ ở Vạn Bú tức Tạ Bú, ngày 23/8/1904 đổi tên thành tỉnh Sơn La.
21. THÁI BÌNH
Thái Bình với tên gọi phủ Thái Bình gồm phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay có từ năm 1005 với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Ngày 21/3/1890 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phủ Kiến xươหg tách từ tỉnh Nam Định và huyện Thần Khê tách từ tỉnh Hưng Yên và รáp หнập vào phủ Thái Bình để lập tỉnh Thái Bình, còn phủ sau đổi tên là Thái Ninh.
22. VĨNH PHÚC
Vĩnh Phúc được thành lập vào ngày 12/2/1950 do kết hợp hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên, nhưng do nhiều lần tách nhập nên Vĩnh Phúc hiện nay bao gồm tỉnh Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên trước đây. Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm đóng miền Bắc giai đoạn 1946-1954, tỉnh này còn có tên gọi là tỉnh Vĩnh Phúc Yên.
23. YÊN BÁI
Yên Bái là tên được lấy từ tên làng Yên Bái, khi ngày 11/4/1900 thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái. Từ năm 1910 – 1920 chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái, từ năm 1945 đã có nhiều lần tách nhập một phần hoặc cả tỉnh.
24. TUYÊN QUANG
Tuyên Quang có tên bắt nguồn từ sông Tuyên Quang mà nay là sông Lô. “An Nam chí lược” của Lê Tắc, soạn thảo năm 1335 viết: Nước sông Quy Hóa từ Vân Nam chảy về, nước sông Tuyên Quang từ đạo Đặc Ma chảy về, nước sông Đà từ Chàng Long chảy về, nhân có ngã ba sông mà đặt tên như vậy. Tuyên Quang trở thành tỉnh dưới triều vua Minh Mạng.
25. THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên là tên gọi có gốc từ Hán Việt, Thái có nghĩa là to lớn hay rộng rãi, Nguyên có nghĩa là cánh đồng hoặc chỗ đất rộng và bằng phẳng. Tỉnh được thành lập năm 1831, năm 1890 chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáp nhập 2 tỉnh với tên gọi Bắc Thái, năm 1996 lại chia tỉnh Bắc Thái để tái lập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên. Như vậy, Thái Nguyên ngày thành lập gần như toàn bộ tỉnh Bắc Thái cũ.
26. ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng có tên gọi được biến dạng của từ Chăm cổ Đaknan. Đak có nghĩa là nước, nan hay nưn, tức Ianưng là rộng. Đaknan hàm ý vùng sông nước rộng mênh mông ở cửa sông Hàn. Có nhà nghiên cứu cho rằng “Đà Nẵng” có thể xuất phát từ nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, Đakdơng – Đà dơng, có nghĩa là sông nguồn.
27. QUẢNG NAM
Quảng Nam có tên gọi mang ý nghĩa mở rộng về phía nam. Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với mong muốn sự rộng lớn, bao la vì từ quảng mang nghĩa như vậy.
28. THỪA THIÊN HUẾ
Thừa Thiên Huế là phủ Phú Xuân dưới thời Tây Sơn. Khi vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức. Năm 1822, dinh Quảng Đức được vua Minh Mạng đổi tên thành phủ Thừa Thiên. Từ năm 1831-1832, vua Minh Mạng chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính gồm 30 tỉnh và 01 phủ là Thừa Thiên. Cùng với sự thăng trầm theo dòng chảy lịch sử, tên gọi và địa giới hành chính tỉnh thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau và ổn định với tên gọi Thừa Thiên Huế và địa giới từ năm 1989 đến nay.
29. QUẢNG BÌNH
Quảng Bình là vùng đất được Chúa Nguyễn Hoàng đặt tên năm từ 1558, các tên gọi cũ khu vực này gồm: Bố Chính, Tân Bình, Lâm Bình, Tiên Bình, Tây Bình. Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình. Năm 1604, đổi tên là tỉnh Quảng Bình, trong đó Quảng là sự rộng lớn.
30. QUẢNG TRỊ
Quảng Trị tồn tại với tên gọi Cựu Dinh Quảng Trị thuộc vào trấn Thuận Hoá sau suốt gần 300 năm. Đến khi Gia Long lên ngôi năm 1802 đổi tên Cựu Dinh thành ding Quảng Trị. Năm 1827 thành Quảng Trị đổi tên thành Trấn Quảng Trị, năm 1832 trấn Quảng Trị đổi tên thành Tỉnh Quảng Trị .
31. NGHỆ AN
Nghệ An là danh xưng có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu Thiên Thành thứ 2 đời Lý Thái Tông, lúc đó gọi là Nghệ An châu trại,cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu thời Bắc thuộc, đời vua Lê Thánh Tông đổi thành xứ Nghệ, rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh.
32. HÀ TĨNH
Hà Tĩnh có tên gọi từ năm 1831, khi vua Minh Mệnh chia tách Nghệ An để đặt tỉnh Hà Tĩnh.
33. THANH HOÁ
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam, là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước. Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu. Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, vào năm Thuận Thiên 1 tức năm 1009 gọi là Phủ Thanh Hóa. Năm 1469 lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên Thanh Hoa có từ đây. Năm 1802 đổi gọi là trấn Thanh Hóa, có thể do tên cũ trùng với tên một phi tần của vua. Năm 1831 đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm 1841 lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa cho tới ngày nay.
34. QUẢNG NGÃI
Quảng Ngãi có thể là tên gọi mang ý nghĩa dải đất tình nghĩa. Năm 1602 Trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa thuộc dinh Quảng Nam đổi thành phủ Quảng Nghĩa. Năm 1807, xã Cù Mông (sau là Chánh Mông rồi Chánh Lộ) được chọn làm nơi xây dựng tỉnh Quảng Nghĩa, năm 1832 tỉnh Quảng Nghĩa tức Ngãi được thành lập.
35. BÌNH ĐỊNH
Bình Định là tên do vua Nguyễn Ánh đặt năm 1799 sau khi hạ được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh bèn cho đổi tên Bình Định, dụng ý thể hiện tư thế của người chiến thắng, có thể Nguyễn Ánh cho rằng mình đã vào tận đất phát tích của nhà Tây Sơn, bình định được “loạn đảng nguỵ Tây” theo cách nói của các vua triều Nguyễn trước đây.
36. PHÚ YÊN
Phú Yên thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru cho đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả, sau đó cho sát nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh thổ Đại Việt, từ đó vùng đất Ayaru là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai tướng tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại, Nguyễn Hoàng sáp nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng Trong với tên gọi Phú Yên, với ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình trong tương lai.
37. KHÁNH HOÀ
Khánh Hòa là tỉnh được thành lập năm 1831 từ trấn Bình Hòa, còn phủ Bình Hòa khi đó trở thành phủ Ninh Hòa. Khánh Hòa là phần đất cũ của xứ Kauthara thuộc vương quốc Chăm Pa. Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Trong tiếng Hán, chữ “Khánh” thuộc bộ tâm, quy định nét nghĩa liên quan đến tâm trạng, cảm xúc, tính cách… nghĩa gốc là “mừng” rồi chuyển loại mang nghĩa “chúc mừng” và “việc mừng, lễ mừng”. Chữ Hòa tạm hiểu là đồng thuận, hòa hợp.
38. NINH THUẬN
Ninh Thuận là tên gọi xuất hiện đầu tiên với tư cách là phủ Ninh Thuận vào năm 1832 thời vua Minh Mạng, kéo dài đến năm 1888. Sau đó lập tỉnh Phan Rang, cũng gọi là tỉnh Ninh Thuận, từ 1945 tách nhập nhiều lần, đến nay được gọi lại tên cũ Ninh Thuận.
39. BÌNH THUẬN
Bình Thuận là tên gọi có từ năm 1697, khi chúa Nguyễn cho lập Bình Thuận Phủ gồm 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Bình chỉ sự khai phá, bình định một vùng đất, Thuận là sự sinh sống hòa thuận mà ở đây là giữa 2 dân tộc Chămpa và Kinh, do lúc này vùng đất này chưa yên ổn nên chúa Nguyễn đặt tên như vậy. Năm 1827, thời vua Minh Mạng, Bình Thuận được đặt thành tỉnh.
40. SÀI GÒN
Thành phố Hồ Chí Minh vẫn được gọi phổ biến với tên cũ là Sài Gòn. Có nhiều thuyết về tên gọi Sài Gòn, nhưng thuyết được cho là đúng và hợp lí nhất đó là Brai Nagara là nguồn gốc. Bởi vì thế kỷ 18 vùng Gia Định xưa có hai địa danh Rai-gon thong (Sài Gòn thượng) và Rai-gon ha ( Sài Gòn hạ). Mà nguồn gốc của Rai gon là Brai Nagara hay Prey Nokor. Hơn nữa, địa danh này không có ý nghĩa trong tiếng Việt nên khả năng phiên âm từ tiếng dân tộc khác là có cơ sở.
41. ĐỒNG NAI
Đồng Nai có nguồn gốc tên gọi vẫn chưa rõ ràng. Dân gian quen giải thích do cánh đồng có nhiều nai. Cũng có ý kiến cho rằng Đồng trong Đồng Nai là cách gọi biến âm từ chữ Đờng trong Đạ Đờng (Sông Cái) của người Mạ; bởi vì còn có rất nhiều tên gọi khác bắt nguồn từ chữ Đồng (Đờng?) mà không phải là cánh Đồng: Đồng Tranh, Đồng Môn, Đồng Tràm, Đồng Trường… Vào thế kỷ 17, Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ.
42. BÌNH DƯƠNG
Bình Dương trong Địa chí Sài Gòn – Gia Định xưa cho rằng được lấy tên từ địa danh thời Trung cổ Trung Quốc, tên đất khởi nghiệp của vua Nghiêu. Khi làm vua, Nghiêu chỉ ở nhà tranh, vách đất, ăn mặc như thứ dân, ngày cày ruộng cùng dân, đêm đọc sách Thánh hiền, suốt thời gian vua cai trị dân chúng thái bình, thịnh trị, không trộm cắp, trên dưới hòa thuận an lành. Bình Dương nay là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa. Về tên gọi Thủ Dầu Một, nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ tiếng Campuchia, nhưng phần đông tác giả khác đều nghĩ Thủ Dầu Một là một cụm từ tiếng Việt được hình thành từ sự kết hợp giữa hai thành tố Thủ (giữ) Dầu Một (tên đất), vì theo truyền khẩu thì đồn binh canh giữ tại Bình An nằm trên ngọn đồi có cây dầu lớn gọi là “cây dầu một” nên tên gọi Thủ Dầu Một ra đời.
43. BÌNH PHƯỚC
Bình Phước có tên gọi từ ngày 30/1/1971, khi Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết sáp nhập 2 tỉnh Bình Long, Phước Long thành một đơn vị trực thuộc Trung ương Cục.
44. BÀ RỊA VŨNG TÀU
Bà Rịa – Vũng Tàu là địa danh ghép bởi Bà Rịa và Vũng Tàu. Địa danh Bà Rịa là phiên âm tên nữ thần trấn sóng Chăm Po Riyak, cũng có thể được cấu tạo theo phương thức chuyển hóa từ nhân danh Nguyễn Thị Rịa người Phú Yên, năm 15 tuổi cùng đoàn lưu dân từ Dinh Trấn Biên vào nam, có công lớn trong việc khai khẩn vùng rừng núi Đồng Xoài.
Vũng Tàu được thành lập năm 1895, tuy nhiên trong bộ Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quý Đôn đã nhắc đến chữ Vũng Tàu: “Đầu địa giới Gia Định là xứ Vũng Tàu, nơi hải đảo có dân cư”, đó chính là ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam được chúa Nguyễn Phúc Tần lập năm 1658, vùng đất này có ba mặt giáp biển, rất thuận lợi cho tàu bè đậu tránh gió trước khi vào Gia Định, nên về sau gọi là Vũng Tàu.
45. TÂY NINH
Tây Ninh từ thời xưa vốn là một vùng đất thuộc Thủy Chân Lạp, với tên gọi là Romdum Ray, có nghĩa là “Chuồng Voi” vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi, beo, rắn,… cư ngụ. Tên gọi Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.
46. DAK NÔNG
Đắk Nông đặt theo tiếng M’Nông có nghĩa là Nước (hoặc đất) của người M’Nông. Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, phía bắc và đông bắc giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, phía tây với Vương quốc Campuchia.
47. DAK LAK
Đắk Lắk có tên gọi đặt theo tiếng M’Nông nghĩa là “hồ Lắk”, với dak nghĩa là “nước” hay “hồ”. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật nhân loại thế giới công nhận.
48. GIA LAI
Gia Lai nguồn gốc tên gọi bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một tộc người bản địa có số dân đông nhất trong tỉnh, cách gọi này vẫn còn giữ trong tiếng của người Eđê, Bana, Lào, Thái Lan và Campuchia để gọi vùng đất này là Jarai, Charay,Ya-Ray có nghĩa là vùng đất của người Jarai, có thể là ám chỉ vùng đất của Thủy Xá và Hỏa Xá thuộc tiểu quốc Jarai xưa.
49. KONTUM
Kon Tum, theo ngôn ngữ Ba Na thì Kon là làng, Tum là hồ, chỉ tên gọi một ngôi làng gần một hồ nước cạnh dòng sông Đăk Bla mà hiện nay là làng Kon Kơ Nâm ở thành phố Kon Tum.
50. LÂM ĐỒNG
Lâm Đồng được thành lập từ việc sáp nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng.
51. LONG AN
Long An là địa danh được hiểu theo nghĩa: An là yên ổn, an toàn. Long là đầy đủ, hưng thịnh, lớn, tốt đẹp.
52. TIỀN GIANG
Tiền Giang là địa danh được đặt theo tên sông Tiền, là vùng đất được người Việt trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng đến khai hoang và định cư từ thế kỷ XVII. Sau nhiều lần thay đổi tên, thay đổi vùng địa lý, đến năm 1976 mới có tên chính thức là tỉnh Tiền Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho.
Vào thế kỷ 17 Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ cùng với Gia Định - Sài Gòn.
53. VĨNH LONG
Vĩnh Long âm Hán Việt có nhiều nghĩa, có thể ngụ ý: “sự thịnh vượng (long) bền lâu, mãi mãi (vĩnh)”. Tên Vĩnh Long, một thời được gọi Vãng Long nhưng “vãng” khó lý giải mối quan hệ ngữ nghĩa, vì nghĩa của “vãng” là “đi, đã qua, thường” không phù hợp với nghĩa của “vĩnh”, như trong từ ghép “vĩnh long”. Có thể lý giải con đường chuyển đổi ngữ âm cho dễ phát âm hơn, nhiều từ cũng chuyển từ inh sang ang như vậy.
54. CẦN THƠ
Cần Thơ là địa danh khi đối chiếu với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre) không có liên quan gì về ngữ âm, nhưng trước đây có một con rạch mang tên một loài cá có tên Khmer là kìntho (cá sặt rằn), về sau biến âm thành Cần Thơ. Bản thân tỉnh Cần Thơ đã được thành lập vào từ 1/1/1900 dưới thời Pháp thuộc, sau đó theo được tách nhập và xê dịch về địa lý nhiều lần.
55. ĐỒNG THÁP
Đồng Tháp có tên gọi từ Đồng Tháp Mười, tư liệu thành văn viết “đồng Tháp Mười” (không viết hoa chữ “đồng”), có nghĩa “tháp thứ 10” hoặc “tháp 10 tầng”, thậm chí có nhiều cách giải thích về 2 ý nghĩa trên theo nhiều giả thuyết khác nhau. Nhiều người cho rằng địa danh Tháp mười được hình thành và chuyển hóa như sau: tháp Mười -> gò Tháp Mười (gọi tắt Gò Tháp) -> đồng Tháp Mười -> vùng Đồng Tháp Mười -> Tháp Mười + Đồng Tháp.
56. BẾN TRE
Bến Tre ngày xưa, theo cuốn “Monographie De La Province De Bến Tre” của tác giả Ménard in năm 1903, người Khơme gọi là Xứ Tre vì các giồng xứ này tre mọc rất nhiều, sau đó người dân lập chợ buôn bán và gọi là chợ Bến Tre, gọi tắt của bến xứ tre.
57. AN GIANG
An Giang xưa là đất Tầm Phong Long, về sau nước Chân Lạp dâng cho chúa Nguyễn, vua Gia Long tổ chức mộ dân đến khai hoang, đưa dân vào định cư trở thành một trong Nam Kỳ lục tỉnh thời nhà Nguyễn độc lập. Tên gọi An Giang nghĩa là dòng sông an lành có thể định cư lâu dài, ý nghĩa cho việc khuyến khích di dân khẩn hoang lập làng.
58. KIÊN GIANG
Kiên Giang là tỉnh được thành lập năm 1975, phần lớn là vùng đất thuộc trấn Hà Tiên cũ do Mạc Cửu khai phá vào thế kỷ XVII. Địa danh Kiên Giang có thể bắt nguồn từ tên một con sông ở Rạch Giá, đó là sông Kiên.
59. HẬU GIANG
Hậu Giang là địa danh có tên gọi bắt nguồn từ tên sông Hậu. Năm 1976 cũng từng có một tỉnh Hậu Giang thuộc miền Tây Nam Bộ, bị giải thể năm 1991 do bị chia thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng, sau đó năm 2004 tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang hiện nay.
60. BẠC LIÊU
Bạc Liêu được phát âm theo tiếng Hán Việt từ tiếng Triều Châu là “Pô Léo”, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc (chài lưới, đánh cá, đi biển). Ý kiến khác lại cho rằng “Pô” là “bót” hay “đồn”, còn “Liêu” có nghĩa là “Lào” (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh, nghĩa là cây đa cao.
61. TRÀ VINH
Trà Vinh là một địa danh gốc Khmer tên tiền thân là Tra Vang có thể là biến âm từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này. Thời nhà Nguyễn thì Trà Vinh là tên phủ sau thành huyện thuộc phủ Lạc Hóa tỉnh Vĩnh Long, được lập ra năm 1832.
62. SÓC TRĂNG
Sóc Trăng là biến âm của Sốc Trăng, xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).
63. CÀ MAU
Chiến dịch thần tốc, chiến công lịch sử, lợi ích lâu dài
Từ ngày 1/7 đến
nay, Bộ Công an đã sản xuất, cấp phát được hơn 50 triệu thẻ CCCD gắn chip điện
tử, đó là một sự cố gắng, nỗ lực không quản ngày đêm của lực lượng CAND và sự
phối hợp, đồng thuận của người dân. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết,
cốt lõi góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội
số tại Việt Nam.
Chiều
1/12, tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ ký kết hợp tác giữa Trung tâm nghiên cứu, ứng
dụng dữ liệu dân cư và căn cước công dân (thuộc Trung tâm Dữ liệu quốc gia về
dân cư, Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ Công an) với các đối tác chiến lược,
khách hàng tiềm năng nhằm phuy tối đa giá trị của Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân
cư, Căn cước công dân (CCCD) và định danh, xác thực điện tử. Bộ Công an, Văn
phòng Chính phủ đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện Đề án Chuyển đổi số gắn với Hệ
thống Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu CCCD và Hệ thống định
danh và xác thực điện tử. Vì vậy, với sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp
trong lĩnh vực này cùng với Bộ Công an chắc chắn sẽ đảm bảo được mục tiêu
chuyển đổi số phát huy tối đa giá trị của Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư,
CCCD và định danh, xác thực điện tử. Thời gian tới, các đối tác sẽ cùng với Trung tâm nghiên
cứu, ứng dụng dữ liệu dân cư và CCCD xây dựng Hệ sinh thái, phát triển các ứng
dụng định danh và xác thực điện tử đem lại nhiều tiện ích số cho người dân, xã
hội. Đặc biệt là nền móng, bước đi đầu tiên để Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng
dữ liệu dân cư và CCCD cùng các đơn vị đồng hành phát triển xây dựng Chính phủ
điện tử, Chính phủ số, công dân số và xã hội số.
Bên cạnh những
đối tác chiến lược, toàn diện, việc ký kết thỏa thuận với các khách hàng cũng
vừa là các đối tác (Ngân hàng BIDV, MSB, Công ty Cổ phần Chứng số an toàn, Công
ty TNHH Mặt trời vàng) sẽ là những đơn vị đầu tiên mà sản phẩm, dịch vụ sẽ được
cung cấp, triển khai cho các khách hàng góp phần tăng lợi nhuận, giảm chi phí
đầu tư, quản lý, rủi do cho các tổ chức, doanh nghiệp.
Vạch trần luận điệu xuyên tạc quanh chuyện làm căn cước công dân gắn chíp
Thời gian gần đây,
trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những thông tin gây nhiễu loạn, bịa
đặt, xuyên tạc chủ trương này nhằm hướng lái, “bẻ cong” vấn đề đảm bảo an ninh
con người mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung thực hiện. Bằng những luận điệu
không có căn cứ thực tiễn, các đối tượng có tư tưởng cực đoan, chống đối đã cố
tình tung ra những thông tin sai sự thật, như “đi đâu cũng bị định vị”, “thẻ
căn cước gắn chíp là để theo dõi người dân”, “Chính phủ, Bộ Công an thu thập dữ
liệu cá nhân”… từ đó chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm gây mất
ổn định về an ninh chính trị. Thậm chí, các đối tượng còn ngụy tạo rằng “vì chỉ
tiêu thiếu tính thực tế mà chính quyền ép dân làm căn cước công dân gắn chíp điện
tử, làm lây lan dịch bệnh COVID-19 nhưng vẫn bao biện chối trách nhiệm”.
Trên thực tế,
với việc ứng dụng những thành tựu công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, thẻ
CCCD gắn chíp điện tử của Việt Nam ra đời không những giúp thúc đẩy mạnh mẽ
việc chuyển đổi phương thức quản lý con người từ thủ công sang hiện đại, mà còn
đảm bảo đầy đủ, chặt chẽ các yếu tố an ninh an toàn và có khả năng bảo mật
thông tin ở mức độ rất cao. Đồng thời, sử dụng thẻ CCCD gắn chíp có thể phòng
ngừa các loại giấy tờ giả mạo, giảm chi phí việc công chứng nhiều loại giấy tờ
truyền thống, tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện các dịch vụ trực tuyến
của Chính phủ điện tử.
Hơn nữa, mức độ
an toàn, bảo mật của chíp rất cao và việc đối sánh sinh trắc học có thể thực
hiện ngay trên chíp nên thông tin định danh của công dân được lưu trên thẻ là
không thể thay đổi, hạn chế tối đa giả mạo. Mặt khác, chíp điện tử được sử dụng
gắn trên thẻ CCCD không có khả năng định vị, thông tin lưu trữ trên chíp cần
phải có công cụ chuyên dụng để đọc và thông tin mới được mã hóa.
Đặc biệt, với
tình hình chống dịch cấp bách, thẻ CCCD gắn chíp điện tử đã được tích hợp nhiều
tiện ích quan trọng góp phần đảm bảo an ninh trên nhiều mặt an ninh sức khỏe,
an ninh kinh tế, an ninh cá nhân và an ninh cộng đồng; tích hợp thông tin thẻ
xanh tiêm chủng; giấy đi đường; xét nghiệm; thông tin về hưởng chế độ, chính
sách theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ…
Từ đầu năm 2021
đến nay, với tinh thần khẩn trương, cấp bách, lực lượng Công an cả nước đã
ngày, đêm phấn đấu đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và
nhân dân giao phó. Không những thế, trong thời điểm vô cùng khó khăn do chịu
ảnh hưởng của làn sóng dịch COVID-19 lần 4 bùng phát, lực lượng Công an không
quản ngại khó khăn, gian khổ, cùng với nhiều cách làm hay, sáng tạo, sâu sát,
quyết liệt, an toàn, hiệu quả và sự đồng thuận, ủng hộ cao của cấp ủy, chính
quyền và quần chúng nhân dân đã góp phần tạo nên sự thành công bước đầu của hai
Dự án.
Có thể khẳng
định, đây không chỉ là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị, mà còn là
danh dự của lực lượng CAND, vì thực hiện mục tiêu cao nhất là bảo đảm cuộc sống
bình yên, an toàn, hạnh phúc cho người dân.
Nâng cao công tác tập huấn để bảo đảm tốt hơn quyền con người
Từ
năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật
quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá
các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh,
nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật
Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các
luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực
kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.
Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam
cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó,
kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối
thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ
các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục
hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người
dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.
Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ
quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa
đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc
sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên
cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy
rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...
Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như
Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia
về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không
gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030,
Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến
năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm
tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai
Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi,
hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.
Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù
hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành
viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là
thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công
ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về
Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực
hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có
nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.
Những thành tựu nổi bật trong thực hiện quyền con người của Việt Nam
Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng
cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam
đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế
tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống
tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc
gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn
2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng
2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo
tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong
thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ
trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine
phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến
nghị.
Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học
liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong
giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng
tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là
99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ
chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng
dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời,
việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc
biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.
Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12
trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu
vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng
khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân
số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU
công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25
trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á -
Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.
Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ
chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có
hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn
giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư
trú hợp pháp tại Việt Nam).
Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín
ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075
người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509
tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo,
Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng
ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ
tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...
Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định
quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.
Giá trị thực sự không thể phủ nhận của nền dân chủ
Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn
phải thể hiện qua thực tiễn cuộc sống. Nhân quyền không phải khái niệm trừu
tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát,
đánh giá một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con
người. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn phấn đấu để vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày
càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng
cao.
Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong
hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống
mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà
nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm
nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân
rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu
dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.
Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp
quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời
hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới trao giải thưởng
thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Những đóng góp tích cực và hiệu
quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ
vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực
Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân
không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan
đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn
luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội,
xóa đói, giảm nghèo, giáo dục...
Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ
bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền
của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo
đồng thuận và hợp tác trong AICHR. Đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người
trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Với
những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc
gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là
ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên
hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.
Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn
đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng thành
tựu cụ thể, bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần
và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện rõ ở vị thế và tín nhiệm. Việc một
hội nghị diễn ra ở nơi nào đó, do quốc gia nào đó tổ chức như Hội nghị thượng
đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ
của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay
những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”,
do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do
như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm
bảo cho nhân dân.
Xây dựng hình ảnh người cán bộ Công an thân thiện, nhân văn
Xây dựng hình ảnh người cán bộ Công an thân thiện, nhân văn
Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh như vậy khi phát biểu chỉ đạo Hội nghị Tổng kết công tác Đảng năm 2021; triển khai phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2022 trong Đảng bộ Công an Trung ương.
Tham dự hội nghị có các đồng chí Thứ trưởng Bộ Công an: Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương; Thượng tướng Nguyễn Văn Sơn, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương; Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương.
Cùng dự có đại diện lãnh đạo các vụ chức năng của Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương; các đồng chí Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương, đại diện lãnh đạo các cục nghiệp vụ trực thuộc Bộ Công an...
Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ nêu rõ, năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm đầu quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VII trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường; đại dịch COVID-19 ảnh hưởng sâu sắc về tình hình về kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó có nước ta; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và những vấn đề có liên quan đến an dân, an sinh xã hội đặt ra nhiều thách thức lớn đối với nhiệm vụ của CAND.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy, chính quyền địa phương, sự ủng hộ của Nhân dân, Đảng ủy Công an Trung ương và các cấp ủy đảng trong Đảng bộ Công an Trung ương đã phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, khắc phục những khó khăn, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng đảng, xây dựng lực lượng CAND, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Khẳng định những nội dung của hội nghị có ý nghĩa hết sức quan trọng, Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ đề nghị các đại biểu tích cực tham gia thảo luận, tập trung đi sâu phân tích những kết quả đã đạt được, làm rõ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân, nhất là những nguyên nhân chủ quan, từ đó đề xuất với Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an về những giải pháp mang tính đột phá, trọng tâm, có hiệu quả thiết thực trong thời gian tới.
Báo cáo tổng kết công tác Đảng năm 2021; phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2022 do Trung tướng Nguyễn Ngọc Toàn, Cục trưởng Cục Công tác đảng và công tác chính trị trình bày nêu rõ, với quyết tâm chính trị và sự nỗ lực cao, Đảng ủy Công an Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp trong Đảng bộ Công an Trung ương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn lực lượng CAND triển khai hiệu quả các nhiệm vụ của năm đầu tiên trong nhiệm kỳ Đại hội, phát huy vai trò nòng cốt, xung kích, "tuyến đầu" trong phòng, chống dịch, vừa bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm nhiệm vụ chính trị quan trọng, làm nền tảng và tạo khí thế, động lực, quyết tâm chính trị lan tỏa trong xã hội.
Nổi bật là, tham mưu với Đảng, Nhà nước, Chính phủ giữ vững thế chủ động chiến lược; các mặt công tác an ninh được triển khai đồng bộ, kịp thời, duy trì bảo đảm an ninh từ xa, xây dựng vành đai bảo đảm an ninh, lợi ích của Việt Nam; bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021 - 2026. Công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm được thực hiện quyết liệt, sát sao, hiệu quả, tạo chuyển biến tích cực, gop phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh phục vụ hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại của đất nước.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng CAND tiếp tục đạt những kết quả quan trọng, trong đó: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng bảo đảm nghiêm túc, kịp thời; có nhiều giải pháp quan trọng, toàn diện để triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống. Tổ chức bộ máy CAND tiếp tục được kiện toàn theo hướng "Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở"; hoàn thành việc kiện toàn cán bộ ở 4 cấp Công an theo tiêu chí, tiêu chuẩn ban hành.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác tổ chức, cán bộ tiếp tục được nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới, làm cơ sở, hành lang pháp lý cho hoạt động của lực lượng CAND. Tích cực tham mưu hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Đảng ủy Công an Trung ương với các tỉnh ủy, thành ủy trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm ANTT; công tác xây dựng đảng, xây dựng lực lượng CAND và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng đối với tổ chức đảng, đảng viên thuộc Đảng bộ Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương...
Dưới sự điều hành của Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ, hội nghị đã tập trung thảo luận, đề ra những kiến nghị, giải pháp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm ANTT và xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng CAND.
Thay mặt Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Bộ trưởng Tô Lâm biểu dương những kết quả, thành tích toàn Đảng bộ Công an Trung ương đạt được trong năm vừa qua, khẳng định lực lượng CAND đã nỗ lực, cố gắng vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được kết quả cao hơn so với năm 2020 trên tất cả lĩnh vực công tác, trong điều kiện rất đặc biệt, chưa có tiền lệ.
Đồng chí Bộ trưởng cho rằng, năm 2022 và những năm còn lại của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 và Chiến lược 10 năm 2021 - 2030. Do đó, các cấp ủy trực thuộc Đảng bộ Công an Trung ương cần bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII để nỗ lực, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Đồng thời, quán triệt các nguyên tắc: Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng; tổ chức triển khai thực hiện tốt Điều lệ Đảng, các đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; bảo vệ Đảng, đóng góp tích cực, trách nhiệm trong công tác xây dựng Đảng.
Bộ trưởng Tô Lâm lưu ý việc tập trung quán triệt, triển khai những nghị quyết, chỉ thị, kết luận, các chủ trương chỉ đạo của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng; nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đưa việc bồi dưỡng lý luận chính trị, học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đi vào nề nếp; phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ CAND vững mạnh toàn diện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, gắn bó mật thiết với Nhân dân; ý thức tổ chức kỷ luật cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Thường xuyên củng cố, kiện toàn các cấp ủy, tổ chức đảng; chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy; làm tốt công tác phát triển đảng, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ Đảng; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình đi đôi với phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động, tinh thần gương mẫu, nêu gương của người đứng đầu.
Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong CAND; tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và hành động của tổ chức đảng, cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng viên; tăng cường kiểm tra, giám sát với tinh thần chủ động hơn, quyết liệt hơn với tinh thần "giám sát mở rộng", "kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm"...
Bộ trưởng Tô Lâm tin tưởng, Đảng bộ Công an Trung ương và lực lượng CAND tiếp tục đoàn kết một lòng, phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công tác năm 2022; giữ vững và xây dựng hình ảnh người cán bộ Công an thân thiện, nhân văn, vì Nhân dân phục vụ, chỉ biết còn Đảng là còn mình.

