Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng
cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam
đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế
tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống
tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc
gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn
2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng
2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo
tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong
thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ
trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine
phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến
nghị.
Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học
liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong
giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng
tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là
99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ
chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng
dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời,
việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc
biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.
Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12
trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu
vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng
khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân
số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU
công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25
trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á -
Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.
Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ
chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có
hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn
giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư
trú hợp pháp tại Việt Nam).
Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín
ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075
người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509
tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo,
Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng
ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ
tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...
Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định
quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét