Thứ Ba, 18 tháng 1, 2022

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội nêu cao vai trò, trách nhiệm chăm lo công tác xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội nêu cao vai trò, trách nhiệm chăm lo công tác xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững


TCCS - Là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, Quốc hội các thời kỳ luôn làm tốt việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối của Đảng trong xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Cùng với đó, tổ chức, lề lối, phong cách và hoạt động của Quốc hội luôn hiện thân cho các giá trị văn hóa chính trị Việt Nam, dựa trên tinh thần pháp quyền, dân chủ, đoàn kết, nhân văn, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Xuất phát từ các yếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội..., trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải đương đầu và vượt qua nhiều khó khăn, thử thách do thiên tai, địch họa gây ra. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, hiếu học, nghĩa tình, nhân ái, khoan dung; ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã hun đúc nên bản lĩnh, cốt cách, phẩm giá, tầm vóc của dân tộc, kết tinh thành bản sắc văn hóa Việt Nam. Dưới thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc - nền văn hóa nước ta ngày càng phát huy mạnh mẽ bản sắc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để định hình nên nền văn hóa mới Việt Nam mang đậm cốt cách dân tộc, tính dân chủ, tiên tiến và nhân văn.


Với tầm nhìn văn hóa sâu rộng và tư duy chính trị sắc sảo, bản lĩnh, ngay sau khi lãnh đạo nhân dân ta vùng lên lật đổ ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là văn kiện chính trị - pháp lý mang tầm vóc thời đại và chiều sâu văn hóa. Vì thế, ngay tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Người xác định một trong những công việc trọng tâm phải làm ngay là xây dựng và thực thi Hiến pháp; muốn có Hiến pháp thì phải có Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Theo đó, “tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(1). Cũng tại phiên họp quan trọng này, trong 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước cách mạng được xác định thì có 3 nhiệm vụ thuộc về văn hóa: một là, “mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”; hai là, “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân”; ba là, thực hành “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 14-SL, sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử để bầu đại biểu Quốc hội. Mặc dù phải tiến hành trong điều kiện “thù trong, giặc ngoài”, trong bối cảnh kinh tế - xã hội hết sức khó khăn, nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra rất khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, thật sự là ngày hội của quần chúng và giành thắng lợi vang dội, đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi của tiến trình xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa ở nước ta.

Thành phần Quốc hội và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu có sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn... Trong bài viết “Nhân tài và Kiến quốc”, đăng trên báo Cứu Quốc, số ra ngày 14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Sự ưu việt của chế độ mới và tinh thần yêu nước, tài năng, trí tuệ, cốt cách văn hóa, bản lĩnh Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức lớn trong nước (như Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Nghiêm Xuân Yêm, Phan Anh, Vũ Đình Tụng, Ngụy Như Kon Tum,...); thu hút một số trí thức chấp nhận từ bỏ cuộc sống phồn hoa và điều kiện làm việc thuận lợi tại Pháp, trở về Tổ quốc tham gia cuộc cách mạng đầy khó khăn, gian khổ (như Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước,...), góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh cho Nhà nước cách mạng non trẻ thực hiện các nhiệm vụ “kháng chiến” và “kiến quốc”.

Dù bộn bề công việc chuẩn bị cho công cuộc toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã khai mạc ngày 24-11-1946 tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội - một hội nghị mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa. Hội nghị đã đón tiếp hơn 200 nhà hoạt động văn hóa tiêu biểu trong cả nước tham dự. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở, phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài, tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập”(2). Người khẳng định phải “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi(3).

Sinh hoạt Quốc hội khóa I hiện thân cho văn hóa chính trị đề cao dân chủ, đoàn kết, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết; làm cơ sở cho việc củng cố, xây dựng Chính phủ và các cơ quan khác của bộ máy nhà nước; thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chống “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”, xây dựng nền văn hóa mới. Nhận thức rõ vai trò của Hiến pháp và pháp luật với kiến tạo nền dân chủ, cách tân văn hóa, với tư cách là trưởng ban dự thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực, khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành Hiến pháp. Hiến pháp đầu tiên được Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9-11-1946. Hiến pháp năm 1946 rất ngắn gọn, súc tích, ngoài Lời mở đầu, 7 chương, 70 điều, phản ánh sự kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là các tư tưởng về tổ chức và hoạt động của Nhà nước dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Tinh thần đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong phát biểu tại phiên bế mạc Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I: “Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa... Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”(4). Hiến pháp năm 1946 chứa đựng những giá trị mang tầm vóc thời đại và chiều sâu văn hóa; thể hiện ý chí của nhân dân; tinh thần trách nhiệm và quyết định sáng suốt của Quốc hội.

Trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp, Quốc hội chưa có điều kiện ban hành các đạo luật để quản lý đất nước, chủ yếu vẫn phải điều hành bằng Sắc lệnh của Chủ tịch nước, nhưng tinh thần dân chủ, pháp quyền, đoàn kết, nhân văn của Hiến pháp năm 1946 đã khơi dậy, phát huy cao độ sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nên chiến thắng của dân tộc khi mà sức mạnh vật chất - kỹ thuật nghiêng về phía kẻ thù.

Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp đầy hy sinh, gian khổ, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành các đạo luật quy định về chế độ báo chí; về quyền tự do hội họp, quyền lập hội; quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1959 cùng các đạo luật quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, như Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân..., tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và các đạo luật nêu trên đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, thể hiện chiều sâu tư tưởng văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là tinh thần quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao nguyên tắc pháp quyền, đoàn kết, nhân văn, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa với pháp luật được Người tiếp tục bổ sung, phát triển và hoàn thiện trong nhiều năm tiếp theo. Theo đó, văn hóa và pháp luật có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ; văn hóa, một mặt, có ảnh hưởng to lớn đến pháp luật; mặt khác, pháp luật tạo tiền đề, cơ sở sức mạnh để phát triển văn hóa, xây dựng con người. Văn hóa là động lực hết sức quan trọng cho sự phát triển xã hội. Pháp luật được toàn dân xây dựng và thực thi nhằm thể hiện ý chí và khát vọng của mình, bảo đảm cho sự công bằng, bình đẳng, tự do, nhân văn của cả xã hội. Văn hóa và pháp luật đều vì con người, vì sự phát triển của xã hội, đều hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự khai mạc Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam” năm 2021 _Ảnh: Tư liệu

Hơn 76 năm qua, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm đường lối, nghị quyết của Đảng được thực thi nghiêm túc, có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện giúp Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống, nhân dân phát huy dân chủ, thực hiện đúng đắn quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định, “nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân. Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là để thực hiện đúng tinh thần mà Người đã căn dặn: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ; học để phụng sự Đoàn thể(5), phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng về nhà nước và pháp luật, trước hết cần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Văn kiện Đại hội Đảng nhiều nhiệm kỳ gần đây đều nhấn mạnh mục tiêu, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là Đại hội XIII của Đảng, xem đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới hệ thống chính trị.

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới mang tính bước ngoặt, với sự tác động nhiều mặt của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta vừa kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bổ sung, phát triển các giá trị mới, như tự do, dân chủ, hiện đại, văn minh... Những đặc tính, phẩm chất cơ bản của văn hóa và con người Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại có ý nghĩa rất tích cực, cần được khơi dậy, phát huy mạnh mẽ, chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh, nền tảng tinh thần, “sức mạnh mềm” của đất nước để hướng tới tương lai tươi đẹp.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Xây dựng nền văn hóa mới của nước nhà phải lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, luôn chú trọng thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, tăng cường hoạt động giám sát, thông qua các quyết sách quan trọng nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhận thức sâu sắc rằng, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, con người; là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước, có sức lan tỏa, thấm sâu vào toàn bộ hoạt động xã hội, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Cơ sở để văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội là xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật phải được thực thi trên tinh thần gìn giữ, đề cao giá trị tốt đẹp, bền vững trong dòng chảy truyền thống của văn hóa dân tộc. Bất cứ đạo luật nào cũng đều chú trọng sự phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Thiếu đi những giá trị ấy, pháp luật không chỉ thiếu đi tính dân chủ, tính nhân văn, mà còn không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam đã được xây dựng, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử.

Hiến pháp và các đạo luật đã thiết lập những chế định quan trọng nhất, cơ bản nhất, khẳng định quyền con người, quyền xây đắp và hưởng thụ văn hóa của tất cả công dân Việt Nam; phục vụ mục tiêu bảo vệ và phát triển văn hóa Việt Nam ở trong và ngoài nước; bảo đảm cho người dân được bình đẳng trong sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa, được bày tỏ, thể hiện những khát vọng cá nhân chính đáng; được tôn trọng, thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử, hay sự đa dạng văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) đến nay, các nội dung cốt lõi, cơ bản về văn hóa đều được kế thừa, thể hiện nhất quán và xuyên suốt. Đặc biệt, trong Hiến pháp năm 2013, các nội dung về văn hóa được quy định toàn diện, phong phú, có nhiều điểm mới, thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, khoa học, tiến bộ.

Quan điểm “con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của chiến lược phát triển văn hóa”, “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa” đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quán triệt, chỉ đạo rà soát, xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung, tiến tới hoàn thiện pháp luật, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng các chuẩn mực về đạo đức, xây dựng nhân cách, lối sống, nếp sống tốt đẹp, văn minh; xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ; gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, giáo dục, khoa học đối với sự phát triển, tồn vong của đất nước. Những chính sách đúng đắn về giáo dục, khoa học - công nghệ sẽ góp phần nâng cao tầm vóc, vị thế, tiềm lực của đất nước, sánh vai với các cường quốc năm châu, vững bước cùng thời đại. Quốc hội đã tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách định hướng, thúc đẩy các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ; không ngừng nâng cao dân trí, trình độ văn hóa con người Việt Nam, tạo nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Các đại biểu Quốc hội trao đổi bên hành lang hội trường Diên Hồng tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XV _Ảnh: TTXVN

Nhiều chính sách, quy định của pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung, đã thể chế hóa nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản văn hóa và các danh nhân văn hóa được Tổ chức Giáo dục,  Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh; gắn kết văn hóa với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới; tăng cường các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giáo dục truyền thống, xây dựng con người mới; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, tạo nên những động lực và sức hấp dẫn mới trong đời sống tinh thần xã hội.

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã tạo cơ chế cho quan điểm kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế trở thành hiện thực cuộc sống. Đặc biệt, hệ thống chính sách, pháp luật đã bước đầu xác lập được các khung khổ pháp lý để phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là bộ phận trọng yếu của nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhiều văn bản pháp luật đã chế định nội dung xây dựng văn hóa trong chính trị, từng bước làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực, hiệu quả vào đời sống chính trị của đất nước. Trong đó, hoạt động của Quốc hội, các cơ quan thuộc Quốc hội, đại biểu Quốc hội được đổi mới theo hướng đề cao văn hóa chính trị phù hợp đặc điểm cơ quan dân cử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết kế, đặt nền móng, nhất là lề lối, phong cách làm việc dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm, hiệu quả, dựa trên nguyên tắc pháp quyền, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có các quyền về văn hóa, có quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên lĩnh vực văn hóa. Quốc hội luôn nỗ lực thực hiện các quy định, cam kết quốc tế, nội luật hóa vào hệ thống pháp luật Việt Nam, thúc đẩy, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, trong đó có các quyền về văn hóa phù hợp với các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các chuẩn mực trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu, hợp tác, quảng bá văn hóa, giới thiệu về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới.

Quốc hội đã tập trung giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân; về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Tổ chức chất vấn tại Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giải trình tại các cơ quan của Quốc hội nhiều vấn đề lớn, quan trọng về văn hóa, như đầu tư cho phát triển văn hóa; bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa; hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở; văn hóa học đường; xã hội hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; việc triển khai các chính sách an sinh xã hội; hiện tượng đạo đức xã hội xuống cấp; chất lượng, hiệu quả hoạt động, cơ chế, chính sách cho văn học, nghệ thuật; xây dựng văn hóa công sở, đạo đức công vụ... Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã tiến hành nhiều cuộc giám sát, khảo sát phục vụ việc hoàn thiện pháp luật; đồng thời, yêu cầu Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chấn chỉnh, khắc phục những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp.

Quốc hội đã xem xét, thông qua nhiều nghị quyết quan trọng của đất nước. Các nghị quyết của Quốc hội luôn xác định, trong mỗi chính sách đều chú trọng tới yếu tố văn hóa, thể chế hóa đúng đắn quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Đầu tư cho văn hóa ngày càng được quan tâm hơn, đáp ứng yêu cầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khai thác nguồn lực văn hóa phục vụ cho tăng trưởng và phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm, chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Hoạt động của Quốc hội trong thời gian qua đã góp phần quan trọng tạo ra những chuyển biến tích cực, hình thành nền tảng pháp lý vững chắc cho sự nghiệp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn vào những hạn chế, khuyết điểm và cả những khó khăn, thách thức. Một số quy định hiện hành của pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn và sự nghiệp đổi mới. Vẫn còn không ít vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực văn hóa chưa có luật điều chỉnh. Một số nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nhất là về văn hóa, chưa được thể chế hóa đầy đủ, kịp thời. Một số luật mới ban hành nhưng chưa theo kịp sự thay đổi của thực tiễn. Việc thể chế hóa chính sách văn hóa trong phát triển kinh tế và chính sách kinh tế trong phát triển văn hóa còn chậm, chưa bảo đảm phát triển lành mạnh thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước trong hội nhập quốc tế cũng như bảo đảm phúc lợi văn hóa cho nhân dân. Việc xây dựng hệ sinh thái cho các ngành công nghiệp văn hóa và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển gắn với thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cơ chế, chính sách cho văn nghệ sĩ, cho phát triển các chuyên ngành văn hóa, văn nghệ đỉnh cao chưa đủ để khuyến khích, cổ vũ, thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật và phát hiện, bồi dưỡng tài năng văn học, nghệ thuật; chưa tạo được các tác phẩm có chất lượng cao, có ảnh hưởng và sức lan tỏa lớn. Đầu tư cho phát triển văn hóa và con người chưa tương xứng, chưa nhận thức đầy đủ đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển. Nguồn lực đầu tư cho xây dựng thiết chế văn hóa chưa đồng đều, khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền chậm được thu hẹp...

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu đến năm 2030 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những định hướng lớn là phát triển con người toàn diện, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong giai đoạn hiện nay.

Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng này, Đảng đoàn Quốc hội đã ban hành Chương trình hành động với 6 nhóm giải pháp và 107 nhiệm vụ cụ thể, trong đó có nhiều nội dung về văn hóa. Trong thời gian tới, Đảng đoàn Quốc hội sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện “Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong đó, chú trọng nâng cao nhận thức, năng lực, chất lượng lập pháp của Quốc hội về văn hóa; xem văn hóa là mục tiêu, nguồn lực nội sinh, động lực đột phá của quá trình phát triển.

Thứ hai, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, quán triệt và triển khai các ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24-11-2021 về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, tính toán đầy đủ yêu cầu hội nhập quốc tế. Chỉ đạo nghiên cứu, tham gia xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị con người Việt Nam; hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và văn hóa dân tộc, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và giữ gìn chuẩn mực đạo đức, lối sống con người Việt Nam; thúc đẩy “xã hội học tập” gắn với trọng dụng người thực đức, thực tài; phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ thật sự là quốc sách hàng đầu; phát huy sức sáng tạo, thúc đẩy phát triển văn hóa, nghệ thuật; quy hoạch, quản lý tốt báo chí - truyền thông; khai thác các lợi thế của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, để giới thiệu các thành tựu của công cuộc đổi mới và đặc sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời ngăn chặn, hạn chế, giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực.

Thứ ba, đổi mới và đẩy mạnh công tác giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về văn hóa; trong thực hiện các kiến nghị sau giám sát, gắn với trách nhiệm giải trình của tổ chức, cá nhân có liên quan, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

Thứ tư, xác định các mục tiêu văn hóa cần đạt được và đánh giá đầy đủ tác động văn hóa trước khi ban hành các chính sách, pháp luật, cũng như quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ năm, phát huy vai trò ngoại giao nghị viện, không ngừng mở rộng hợp tác, giao lưu văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển đối ngoại văn hóa, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia, xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ văn hóa ra nước ngoài và nhập khẩu có chọn lọc các sản phẩm và dịch vụ văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; phát huy cao nhất tài năng, tâm huyết của trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài.


Thứ sáu, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách “phát triển văn hóa trong phát triển kinh tế và kinh tế trong phát triển văn hóa”, để các giá trị văn hóa thẩm thấu, chuyển hóa vào toàn bộ quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ lực lượng sản xuất tới quan hệ sản xuất. Đẩy mạnh xây dựng văn hóa trong chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Tăng cường đầu tư cho văn hóa; tập trung phát triển thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa, thúc đẩy lĩnh vực kinh tế sáng tạo, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở các vùng, miền.

Văn hóa Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc. Văn hóa đã tạo nên sức mạnh đoàn kết, lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tương thân, tương ái, làm rạng danh dân tộc Việt Nam văn hiến, anh hùng. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” đã trở thành chân lý, khẳng định vai trò nền tảng tinh thần, tính khai sáng, dẫn dắt của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước. Trong thời gian qua, đại dịch COVID-19 đã và đang tác động nhiều mặt, ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính trong những thời điểm khó khăn nhất, dưới sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” đã được phát huy mạnh mẽ, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng vượt qua khó khăn, thách thức. Thực tế đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của văn hóa, con người Việt Nam. Với sức mạnh to lớn đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu cao đẹp mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Nhất định đất nước ta sẽ ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Thủ đoạn nhằm chính trị hóa vụ án

Để tìm cách chính trị hóa các vụ án xét xử đối tượng phạm tội nêu trên, số chống đối luôn có xu hướng tìm kiếm sự can thiệp của quốc tế. Do đó, sau phiên tòa xét xử sơ thẩm, fanpage của Việt Tân đã chia sẻ thông báo của tổ chức “Ân xá quốc tế” khi cho rằng: “bản kết án bất công với bà mẹ và người con là một trò đùa công lý”, đồng thời kêu gọi cơ quan chức năng Việt Nam phải ngay lập tức hủy bỏ bản án và trả tự do vô điều kiện cho các đối tượng.

Đây là chiêu trò quen thuộc của tổ chức Ân xá quốc tế thể hiện sự lố bịch khi một mực tô vẽ các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia ở Việt Nam, coi các bị cáo như “nhà hoạt động cải cách” để bao biện, kêu oan. Thực tiễn ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào, những đối tượng phạm tội chống phá Nhà nước đều phải được xử lý nghiêm minh. Hoàn toàn không thể chấp nhận việc bắt, xử lý những đối tượng phạm pháp lại bị coi là “gia tăng đàn áp nhân quyền” như những luận điệu mà các cá nhân, tổ chức trên đưa ra. Chính vì vậy, sau những ngôn từ mĩ miều để tung hô, ca ngợi trong các chiến dịch kêu oan cho các đối tượng chống đối, trong đó có Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư dường như chỉ thấy ở đó một phản ứng gượng gạo nhằm cố tạo ra sự kiện pháp lý để hướng lái dư luận.

Sự thật là dù các đối tượng có tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ nhưng không thể che phủ các hành động phạm tội của Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư suốt nhiều năm qua. Theo hồ sơ vụ án, do có tư tưởng tiêu cực, bất mãn nên trong khoảng thời gian từ ngày 9/1/2020 đến 14/1/2020, Trịnh Bá Tư và Cấn Thị Thêu đã sử dụng tài khoản facebook cá nhân phát trực tiếp 8 video có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các video vi phạm của Trịnh Bá Tư và Cấn Thị Thêu phát, đăng tải đã được nhiều đối tượng có tư tưởng chống chế độ, chống Nhà nước theo dõi, bình luận bôi nhọ, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, bịa đặt gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân.

Đáng nói, các đối tượng này còn đăng, phát cả những video chứa nội dung kêu gọi, kích động nhân dân chống chính quyền, đưa thông tin xuyên tạc về vụ việc xảy ra tại xã Đồng Tâm (Mỹ Đức - Hà Nội), vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, các ngành, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. 

Phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay

 

Phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay


TCCS - Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị là những người có khả năng và thường xuyên tiếp cận trực tiếp, nhận diện sâu rộng, kịp thời các thông tin, luận điệu sai trái, phản động; từ đó, với chức trách, nhiệm vụ của mình, họ là lực lượng quan trọng tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Vì thế, nghiên cứu bổ sung và cập nhật những quan điểm lý luận chính trị nền tảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết.

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã xác định: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Để phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và cấp thiết chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu, xây dựng tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Xây dựng tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, cần kết hợp chặt chẽ và làm rõ 3 vấn đề cơ bản sau: 1- Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất; nhất là các âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; 2- Những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; 3- Mỗi hình thức, biện pháp đấu tranh cần mô tả rõ trình tự, cách thức thực hiện rõ ràng, có tính hệ thống và mang tính khả thi; xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, cũng như của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong việc đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Hai là, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam về lý luận và công tác lý luận, những kỹ năng tham gia đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Trên cơ sở tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, hằng năm các cơ quan chức năng cần phối hợp với các học viện, nhà trường tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam về vấn đề này. Nội dung, chương trình bồi dưỡng cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, như giáo dục nâng cao nhận thức vị trí, vai trò của lý luận và công tác lý luận; cập nhật những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; cập nhật quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, về quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện. Tiếp đó, trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch, cần có những thay đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời về hình thức, biện pháp đấu tranh để nâng cao hiệu quả việc ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận; đồng thời, tăng cường cập nhật những kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức mới trong nước và trên thế giới,... Gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với bồi dưỡng lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị và dũng khí cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam để nhận diện được rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá rất quyết liệt, ngày càng tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch; từ đó, có biện pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh, phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Các nhà trường đào tạo cán bộ, giảng viên lý luận chính trị cần hoàn thiện đầy đủ các hình thức hoạt động khoa học, tổ chức học lý luận chính trị, theo hướng đi vào thực chất và hiệu quả hơn. Không tổ chức các hoạt động đấu tranh theo kiểu hình thức, làm qua loa cho xong chuyện, hội thảo chỉ có phần “hội” mà không có “thảo”; theo đó, tất cả các hoạt động trên phải được đổi mới căn bản cả về nội dung và hình thức; đặc biệt là, chất lượng công tác tuyên truyền phải có tính thuyết phục cao. Tăng cường tổng kết các mô hình hay, phương thức đấu tranh có hiệu quả, đặc biệt là đấu tranh qua truyền thông xã hội để phổ biến, nhân rộng.

Ba là, kiên quyết và kiên trì thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII  về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị.

Đây là một giải pháp bao trùm chi phối các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam. Một mặt, phải tiếp tục tuyên truyền và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam nhận thức rõ quyết tâm của Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; không ngừng trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”; mặt khác, giải pháp này giúp cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam nâng cao nhận thức và có ý thức trong tiếp cận thông tin; chia sẻ thông tin, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, luôn gần dân, thân thiện với dân, trọng dân và giúp đỡ dân.

Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam.

Đối với các cơ quan nghiên cứu, cần xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để xây dựng chiến lược nghiên cứu phù hợp, cũng như hình thành được danh mục các vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên, đẩy mạnh nghiên cứu phục vụ trực tiếp công tác này. Đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam, cần ý thức rõ các vấn đề đặt ra từ lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của mình và từ yêu cầu của thực tiễn để xác định, định hướng nghiên cứu từng thời kỳ, từng năm. Qua đó, giúp cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị xác định hướng nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống các trào lưu tư tưởng và các lý thuyết mới trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo, bên cạnh đó còn có một số trào lưu tư tưởng, quan điểm khác, kể cả tư tưởng sai trái, thù địch. Vì vậy, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam cần coi trọng công tác nghiên cứu đối với các luồng tư tưởng, quan điểm trên để nhận diện đầy đủ lịch sử hình thành, nội dung của các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái; từ đó, vận dụng quan điểm, lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu, phân tích, đánh giá các trào lưu tư tưởng và các lý thuyết mới ngoài chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay. Việc tôn trọng “tự do học thuật”, “tự do tư tưởng” có tác dụng quan trọng trong nghiên cứu và phát triển lý luận; tuy nhiên, cần tỉnh táo, phân biệt đúng đắn giữa vấn đề học thuật và vấn đề chính trị. Trong lĩnh vực học thuật, một mặt, cần phát huy tốt dân chủ, tôn trọng tự do học thuật, khắc phục tình trạng chính trị hóa vấn đề học thuật, ngăn ngừa tình trạng “chụp mũ”, “quy chụp”,... nhằm góp phần tăng cường sức sống của lý luận; mặt khác, cần đề cao cảnh giác và đấu tranh với việc lợi dụng, lấy danh nghĩa “học thuật” để phản đối các nguyên tắc lý luận nền tảng, cơ bản ở nước ta, biến vấn đề chính trị trở thành vấn đề học thuật thuần túy. Cần nhấn mạnh một yêu cầu là, bất cứ nghiên cứu học thuật nào đều cần phải kiên trì các nguyên tắc cơ bản: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định chủ nghĩa Mác -Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về sự nghiệp đổi mới đất nước, cũng như mô hình tổng thể về thể chế chính trị và bộ máy nhà nước được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).

Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia vào công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị bảo đảm về số lượng, chất lượng, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; có chuyên môn, nghiệp vụ cũng như năng lực hành động, tổng kết thực tiễn. Đội ngũ giảng viên lý luận khi đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, phải có hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối, quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; tuyệt đối trung thành, kiên định về lập trường, tư tưởng chính trị, vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; gương mẫu, tiên phong trong công tác, học tập, sinh hoạt, thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước và chế độ.


Đặc biệt, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị khi tham gia đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, phải có hiểu biết về các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng. Đó là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trách nhiệm với công việc; đoàn kết nội bộ và có ý thức tổ chức kỷ luật tốt. Tổ chức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận thực sự phát huy hiệu quả, thông qua viết sách, báo, tạp chí; đổi mới và nâng cao chất lượng các bài viết, bảo đảm có tính lý luận, tính thực tiễn và tính thuyết phục, sắc bén, không kinh viện, giáo điều; trong đó, cần cập nhật những tri thức mới của nhân loại và những vấn đề nổi cộm, “điểm nóng” của thực tiễn đang cần phải xử lý, giải quyết.

Để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam trở thành đội ngũ tuyên truyền viên hiệu quả trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đào tạo, bồi dưỡng họ là những người “vừa hồng, vừa chuyên”, có lý luận, có kiến thức thực tiễn, biết lắng nghe, phân tích tình hình, nhận biết nhanh nhạy các luận điệu sai trái; đồng thời, phải có chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng, phù hợp với họ. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội trong việc tăng cường thông tin về cơ sở, tham gia nắm bắt dư luận xã hội, tuyên truyền, giải thích rõ các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có cơ chế biểu dương, khen thưởng phù hợp, kịp thời đối với những cá nhân, tổ chức có thành tích tiêu biểu trong cuộc đấu tranh này. Định kỳ sơ kết, tổng kết, nhằm tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, những cách làm hay, sáng tạo; kịp thời uốn nắn những đơn vị, tổ chức, cá nhân làm chưa tốt.

Sáu là, tích hợp nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Nhấn mạnh đúng mức nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong chương trình, giáo trình lý luận chính trị. Trong hệ thống chương trình, giáo trình hệ cao cấp lý luận chính trị và trung cấp lý luận chính trị - hành chính hiện nay, bên cạnh việc làm rõ giá trị, tính cách mạng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở lý luận, thực tiễn của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cần chỉ rõ một số quan điểm sai trái, thù địch có liên quan tới bài giảng, cũng như định hướng, gợi mở cho học viên để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách thuyết phục. Bên cạnh đó, cần xây dựng và đưa một số chuyên đề phù hợp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở các hệ lớp.

Tích hợp nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào trong giáo án và từng bài giảng, tiết giảng của giảng viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua công tác giảng dạy lý luận chính trị, cần có quy định, hướng dẫn cụ thể để đội ngũ giảng viên lồng ghép, tích hợp công tác này vào trong từng giáo án bài giảng, từng tiết giảng. Theo đó, từng giảng viên cần ý thức được trách nhiệm của mình để tự giác lồng ghép, tích hợp các nội dung có liên quan vào giáo án bài giảng, tiết giảng. Cơ quan quản lý giảng viên cần tăng cường sinh hoạt chuyên môn, định hướng phương thức lồng ghép công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong hoạt động giảng dạy của giảng viên, cũng như tăng cường công tác kiểm tra hoạt động giảng dạy trên lớp của giảng viên để nắm thông tin phản hồi của học viên đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên. Để thực hiện được điều này, thông qua các phiếu thăm dò chất lượng bài giảng của giảng viên dành cho học viên, các đơn vị cần thiết kế một mục để học viên tự đánh giá; trong phiếu đánh giá dùng cho thao giảng ở các đơn vị cũng cần có mục đánh giá về nội dung này.


Tích hợp nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong kiểm tra, đánh giá học viên. Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng, định hướng cho hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên; do đó, để tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua công tác giảng dạy và học tập lý luận chính trị, thì việc kiểm tra, đánh giá cần coi trọng đúng mức vấn đề này. Theo đó, trong hệ thống các câu hỏi, ngân hàng đề thi kiểm tra, thi hết môn (bao gồm đề thi vấn đáp, đề thi tự luận và đề thi trắc nghiệm) cần có các câu hỏi để kiểm tra năng lực của học viên trong nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo đảm tính đảng và kỷ luật phát ngôn của đội ngũ giảng viên trong giảng dạy lý luận chính trị. Điều kiện tiền đề để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đó là đội ngũ này phải “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Cán bộ giảng dạy lý luận chính trị mà suy thoái về tư tưởng chính trị, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì không thể nói đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua giảng dạy lý luận chính trị. Do đó, một yêu cầu cơ bản để đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong công tác giảng dạy là phải bảo đảm tính đảng và tuân thủ kỷ luật phát ngôn trong giảng dạy lý luận chính trị.

Bảy là, tăng cường nguồn lực và mở rộng hợp tác quốc tế trong công tác lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức và nâng cao hiệu quả hợp tác.

Xây dựng và phát triển đội ngũ những người giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam vững về quan điểm, lập trường chính trị, có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Hiện nay, trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam còn rất hạn chế; số cán bộ có thể tự tham gia tranh luận trong các hội thảo quốc tế bằng ngoại ngữ là rất hiếm, số người có thể thuyết giảng bằng ngoại ngữ lại càng hiếm hơn. Do đó, không thể nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong công tác lý luận, nếu đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam không có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ xứng tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao hơn trước. Muốn tìm kiếm đối tác, phải có những cán bộ chuyên môn tốt, ngoại ngữ giỏi, nhiệt tình, tâm huyết và chịu khó tìm tòi các vấn đề nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị cần nhạy bén trong việc tìm hiểu các đối tác nước ngoài, có khả năng đề xuất một cách nhanh chóng các đề tài, dự án có nội dung tốt, phù hợp với điều kiện thực tế ở các cơ quan, đơn vị. Việc đào tạo năng lực và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam trong các cơ quan nghiên cứu, đào tạo lý luận, nhằm đáp ứng nhu cầu của công tác hợp tác quốc tế; vì vậy, cần đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận chính trị theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Khuyến khích đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận chính trị đi học các lớp ngoại ngữ để nâng cao trình độ. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị Trung ương III khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế từ nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trên thế giới. Khai thác có hiệu quả các quan hệ hợp tác quốc tế, nhằm tăng cường và hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, thu hút các nguồn tài trợ học bổng cho cán bộ, thông qua các dự án hỗ trợ phát triển. Phát huy tối đa các cơ hội đưa cán bộ, giảng viên đi học tập ngắn hạn, dài hạn hoặc tham gia giao lưu, hội thảo, khảo sát,... về lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo lý luận với các nước trên thế giới. Hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về hợp tác quốc tế, khuyến khích cơ chế hợp tác song phương và đa phương trong đào tạo, nghiên cứu lý luận; tích cực triển khai các dự án, chương trình hợp tác quốc tế; có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Mở rộng liên kết đào tạo với các cơ sở nghiên cứu, giáo dục nước ngoài; học tập những kinh nghiệm, mô hình và phương pháp nghiên cứu, đào tạo mới. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ cho công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ lý luận.

Tám là, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để động viên, kích thích tính tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị; từ đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Có chính sách khen thưởng, khuyến khích kịp thời đối với những giảng viên lý luận chính trị có bài viết mang tính “bút chiến” sắc sảo, có tính thuyết phục cao, đấu tranh trực diện với từng quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận chính trị; chính sách trang bị, cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện làm việc; chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đi nghiên cứu, hội thảo, tác nghiệp ở các địa bàn khác nhau, kể cả đi nước ngoài; chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực công tác theo đúng sở trường và trình độ chuyên môn.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị - xã hội; trong đó, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là sự nghiệp cách mạng, đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, lâu dài, không được chủ quan, không lơ là; đồng thời, phải thường xuyên, liên tục đổi mới, sáng tạo trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và không ngừng tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại để bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Màn “tẩy trắng” tội danh cho hai bị can

Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, TAND tỉnh Hòa Bình đã tuyên án 8 năm tù và 3 năm quản chế đối với hai bị cáo Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư với tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán tài liệu tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, BLHS. Đây là một bản án thích đáng dành cho hai mẹ con lấy nghề “dân oan” làm công cụ kiếm tiền. Thế nhưng, sau khi tòa tuyên án, một chiến dịch “hậu xét xử” được các đối tượng triển khai nhanh chóng.

Từ facebook cá nhân, các trang fanpage, youtube của các tổ chức phản động như “Việt Tân” và các trang báo thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, RFI, VOA… rầm rộ chia sẻ các bài viết xuyên tạc, “tẩy trắng” tội danh cho hai bị cáo. Luận điệu của các đối tượng tập trung vào những lời tung hô có cánh ca ngợi hai bị cáo, qua đó nhằm đánh bóng tên tuổi, tạo thương hiệu và gắn cho hai đối tượng cái mác “mẹ con Cấn Thị Thêu hiên ngang giữa phiên tòa”, hay “tinh thần của một người nông dân”...

Không những vậy, để “mượn gió bẻ măng”, bôi nhọ chế độ và ngành tư pháp Việt Nam, trang RFA đã đăng bài dẫn lời của vị luật sư để phụ họa luận điệu xuyên tạc khi khẳng định hai bị cáo vô tội, đồng thời xuyên tạc luật pháp Việt Nam khi cho rằng “Điều 117 đi ngược Hiến pháp”, hay “đây là điều luật mơ hồ, tùy tiện, nhằm bỏ tù những người bất đồng chính kiến”...

Năm vừa qua, trước thông tin TAND Cấp cao tại Hà Nội lên lịch mở phiên xét xử phúc thẩm đối với Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư, các “nhà dân chủ” giả hiệu lại tiếp tục tái diễn thủ đoạn bôi nhọ ngành tư pháp Việt Nam, phỉ báng chế độ. Thậm chí các đối tượng còn “dọa” khi áp đặt quan điểm kệch cỡm của tổ chức nhân quyền quốc tế nhằm vu cáo Việt Nam.

Kết hợp xây dựng với chỉnh đốn Đảng: Bài học trong quá trình đổi mới đất nước

 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhu cầu tự thân của một đảng mác-xít chân chính. Kết hợp đúng đắn giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng vừa là khoa học tổ chức, vừa là nghệ thuật quản trị nội bộ Đảng; có vai trò phòng ngừa, ngăn chặn, sàng lọc, loại bỏ các yếu tố có khả năng gây thoái hóa, biến chất; bảo đảm giữ vững bản chất giai cấp công nhân và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Vai trò, sự cần thiết phải kết hợp xây dựng với chỉnh đốn Đảng

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự tồn vong của Đảng và chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước. Với ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đó, kể từ khi ra đời đến nay, trong các văn kiện đại hội Đảng, các hội nghị trung ương và trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là một nội dung trung tâm, vấn đề then chốt trong hoạt động và tổ chức của Đảng. Bản thân nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng tiền bối và hiện nay, bên cạnh là lãnh tụ chính trị, đồng thời cũng là nhà lý luận, có nhiều bài viết, tác phẩm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là hai mặt của một quá trình. Xây dựng là việc xác lập, hình thành đường lối, Cương lĩnh chính trị, các quy định, quy chế; làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên phù hợp, thống nhất cao và tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng; là việc xây dựng tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo,... Chỉnh đốn là việc uốn nắn, chấn chỉnh, sắp đặt lại cho đúng theo quy định, Điều lệ Đảng; xử lý, đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực,... Xây dựng và chỉnh đốn Đảng liên quan mật thiết với nhau, gắn liền với nhau, bổ trợ, tác động đến nhau. Trong xây dựng có chỉnh đốn, trong chỉnh đốn có xây dựng.

Trong mỗi giai đoạn, thời kỳ, căn cứ vào đặc điểm, bối cảnh, yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có nhiệm vụ trọng tâm khác nhau. Nếu như trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, xây dựng, chỉnh đốn Đảng tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ hoạch định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo; thống nhất tư tưởng và hành động, chống ngả nghiêng, dao động trước khó khăn, khi đối mặt nguy cơ sinh tử, mất - còn; củng cố lòng tin, nâng cao ý chí, tăng cường quyết tâm kháng chiến..., thì trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, xây dựng, chỉnh đốn Đảng tập trung vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ để Đảng đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới; đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực,... trong bộ máy Đảng và Nhà nước.

Hiện nay, công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế càng sâu rộng lại càng xuất hiện những vấn đề mới, những khó khăn, thách thức đòi hỏi Đảng phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để đủ sức lãnh đạo cách mạng. Tinh thần tự đổi mới, tự chỉnh đốn đã được Đảng ta phát huy cao độ trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, trong cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, trở thành truyền thống tốt đẹp của Đảng; nhờ đó, Đảng không ngừng lớn mạnh, vượt qua mọi sóng gió, những bước ngoặt của lịch sử để lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công. Trong thời kỳ hòa bình, xây dựng, phát triển đất nước, truyền thống đó cần tiếp tục được phát huy lên một tầm cao mới, với chất và lượng mới, trở thành ý thức thường trực trong mỗi cán bộ, đảng viên, cấp ủy, tổ chức đảng để tạo thành nguồn sức mạnh to lớn giúp Đảng ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.

Thực tiễn sau khi đất nước thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới cũng cho thấy, việc kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng còn một khoảng cách. Về lý luận, trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng đã đề cập đến xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện lại chưa chú ý đúng mức, chưa chỉ đạo kiên quyết việc chỉnh đốn Đảng, chưa kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm quy định, Điều lệ Đảng. Việc kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn chưa hài hòa, hiệu quả, chưa có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Đây là một trong những nguyên nhân lý giải vì sao từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt là bước vào công cuộc đổi mới, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, “lợi ích nhóm”,... diễn ra ngày càng nghiêm trọng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị không từ một thủ đoạn nào nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và đất nước. Chúng tìm đủ mọi cách để mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc rằng, Đảng phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo; đảng cộng sản lãnh đạo mất dân chủ, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là cuộc “đấu đá nội bộ”, “phe này cánh kia”, “nhẹ trên nặng dưới”; xuyên tạc công tác cán bộ, mưu toan hạ bệ hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, trắng trợn cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, không thể làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng,...

Tất cả những vấn đề lý luận và thực tiễn trên cho thấy, việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng nói chung, kết hợp xây dựng với chỉnh đốn Đảng nói riêng là hết sức quan trọng, cấp bách, tạo cơ sở cho việc triển khai thực hiện một cách hài hòa, chặt chẽ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm giữa “xây” và “chống”, “chống” và “xây” nhằm tiếp tục tạo chuyển biến thực chất trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nhận thức của Đảng về sự kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng trong quá trình đổi mới đất nước

Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta đã dành nhiều công sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đã có không ít nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về xây dựng Đảng. Các cương lĩnh, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đều có đề cập đến công tác xây dựng Đảng; có đại hội có báo cáo riêng về xây dựng Đảng. Ban Bí thư khóa VII đã chỉ đạo tiến hành tổng kết 20 năm xây dựng Đảng thời kỳ 1975 - 1995. Tính từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận chuyên đề về xây dựng Đảng(1). Nhiều văn kiện, báo cáo, nghị quyết, kết luận nêu trên đã đề cập đến quan điểm, nhận thức về sự kết hợp giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Một là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ mật thiết; phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm.

Đảng ta cho rằng, xây dựng Đảng gồm hai mặt “xây” và “chống”, có quan hệ mật thiết và phải kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong chỉnh đốn có đổi mới và trong đổi mới có chỉnh đốn. Do vậy, “phải thực hiện tốt cả yêu cầu xây và yêu cầu chống”(2). Trên cơ sở kết hợp giữa “xây” và “chống”, “lấy xây làm chính, cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, tạo ra môi trường, nếp sống, lối sống lành mạnh, có văn hóa; lấy cái tích cực, cái tốt đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu”(3).

Nhận thức của Đảng về kết hợp giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển, đặc biệt trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Theo đó, kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”; trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất. Đại hội XIII của Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, đã phát triển thành tố “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Đại hội XII thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng” trong Tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XIII; đồng thời nhấn mạnh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”(4). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” nhấn mạnh, “phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; “kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên”.

Hai là, từ kết hợp xây dựng và chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức đến xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ. Mỗi mặt có vị trí, vai trò riêng, bổ trợ, tác động lẫn nhau.

Trong giai đoạn 1986 - 2011, Đảng ta nhận thức, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là quá trình thống nhất, được thực hiện trên ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ba mặt ấy gắn liền với nhau, có mối quan hệ, tác động lẫn nhau, trong đó xây dựng Đảng về chính trị có vai trò quyết định. Xây dựng Đảng về chính trị là việc xác định đường lối, chính sách, Cương lĩnh chính trị, hệ tư tưởng chính trị, bản lĩnh chính trị,... Có đường lối, cương lĩnh đúng mới có nội dung, phương hướng tiến hành công tác tư tưởng, tổ chức. Nếu không đi từ xây dựng Đảng về mặt chính trị hoặc xác định nhiệm vụ chính trị không đúng, thì khó tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Do vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng và tổ chức phải xuất phát từ đường lối, nhiệm vụ chính trị; đồng thời, bảo đảm cho đường lối, nhiệm vụ chính trị được xác định đúng, thấu suốt và thực hiện đầy đủ.

Tại Đại hội XII của Đảng, Đảng ta bổ sung thành tố “đạo đức” cùng với “chính trị, tư tưởng và tổ chức” cấu thành mục tiêu xây dựng Đảng. Đây là một điểm mới, điểm nhấn của Đại hội XII. Xây dựng Đảng về đạo đức có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, được đặt ngang hàng, có mối liên hệ, tác động đến xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục bổ sung thành tố “cán bộ”, tạo thành hệ mục tiêu gồm năm thành tố của công tác xây dựng, chính đốn Đảng, gồm: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Mỗi thành tố có vị trí, vai trò riêng, tác động, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đại hội XIII nhấn mạnh, trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(5).

Ba là, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn.

Đảng ta coi tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển của mình. Bởi vì, một đảng duy nhất cầm quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có thể giữ vững được vị trí, vai trò lãnh đạo, nhận được sự yêu mến, tin tưởng của nhân dân khi và chỉ khi không ngừng tự đổi mới và chỉnh đốn để có đủ trình độ, trí tuệ, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới được đặt ra càng đòi hỏi Đảng phải vượt lên để đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng; đồng thời, kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và những hạn chế, yếu kém tồn tại trong Đảng. Do vậy, tự đổi mới và chỉnh đốn phải gắn chặt với nhau, là công việc thường xuyên, liên tục, không ngừng nghỉ.

Bốn là, gắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh góp phần quan trọng vào việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” nhấn mạnh: Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,... Thực hiện đồng bộ giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. “Xây” là tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước; động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng của các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề ra. “Chống” là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán, xử lý nghiêm những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không ngừng nghỉ, không bị tác động bởi bất cứ tổ chức, cá nhân có hành vi không lành mạnh nào. Nâng cao khả năng cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực, đồng thời khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Năm là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng muốn kết hợp hiệu quả, tạo sự chuyển biến thực sự phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; với lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải gắn liền với việc kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gắn với việc xây dựng và củng cố các tổ chức chính trị - xã hội, hình thành sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Trong hệ thống ấy, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò riêng, đồng thời các tổ chức đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống thống nhất. Do vậy, muốn kết hợp hiệu quả xây dựng với chỉnh đốn Đảng phải đặt trong mối quan hệ khăng khít, gắn với xây dựng hệ thống chính trị, với vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh - đối ngoại.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kể từ khi đổi mới đất nước đến nay, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt; kết hợp chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trong đó xây dựng Đảng được tập trung đẩy mạnh, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, tăng cường; nhờ đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được kết quả toàn diện, trong đó nổi bật là: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sắp xếp tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tinh giản biên chế, đổi mới công tác cán bộ, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền; tăng cường kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, xử lý nghiêm những tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng các nhiệm kỳ qua và nhiệm kỳ Đại hội XII đã góp phần rất quan trọng để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay, Đảng ta đoàn kết, thống nhất, trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn(6).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn nhiều hạn chế, yếu kém. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn biến phức tạp; một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Những hạn chế, yếu kém đó do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan; trong đó, từ góc độ kết hợp giữa xây dựng và chỉnh đốn Đảng, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc tính chất, tầm quan trọng và kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng.

Trong các nghị quyết, kết luận của Đảng, việc kết hợp giữa xây dựng và chỉnh đốn đã được đề cập; tuy nhiên, khi tổ chức triển khai thực hiện, vấn đề chỉnh đốn chưa được quan tâm đúng mức, chỉ đạo chưa sâu sát, thiếu quyết liệt, còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm. Điều này đã được Đảng thẳng thắn thừa nhận trong nhiều văn kiện: “Chưa kết hợp đúng đắn giữa “xây” và “chống”, biểu dương và phê bình”(7); lãnh đạo chưa kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, trước hết là chống tham nhũng, chống buôn lậu. Chưa đề ra các giải pháp có hiệu lực để khắc phục bất công xã hội. Để kéo dài tình trạng kỷ cương, pháp luật không nghiêm(8); chưa xử lý kỷ luật nghiêm minh và kịp thời những cán bộ, đảng viên có vi phạm(9). Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt được yêu cầu đề ra.

Thứ hai, có những thời điểm chưa quán triệt và thực hiện đầy đủ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tuy nhiên, sau khi đất nước thống nhất, trong những năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng chưa nhận thức, chú ý đúng mức, chưa đặt đúng tầm quan trọng của việc chỉnh đốn Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chưa coi trọng đúng mức việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(10). Vì thế, có ý kiến đề nghị cần làm rõ khuyết điểm của Đảng trong nhiều khóa do không thực hiện Di chúc của Bác về chỉnh đốn Đảng dẫn đến suy thoái(11).

Thứ ba, trong quan hệ giữa phát triển kinh tế với xây dựng Đảng, có những thời điểm, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng quá mức đến phát triển kinh tế, chưa quan tâm đầy đủ, đúng mức đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trí tuệ, thời gian, công sức ở nhiều nơi còn bị cuốn vào các vấn đề kinh tế - xã hội, xây dựng cơ bản, vào việc chạy dự án, dàn xếp nội bộ(12).

Một là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải kiên định, vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam; quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình để giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng; chống khuynh hướng bảo thủ, cơ hội, cực đoan; phải đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Hai là, phải kết chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm giữa xây dựng với chỉnh đốn; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải chọn những vấn đề thực sự quan trọng, cấp bách, trọng tâm, xuyên suốt để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tránh làm một cách dàn trải, tạo bước chuyển biến cụ thể, thực chất.

Ba là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân; phải được tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, có bước đi, phương pháp phù hợp, lộ trình cụ thể, không nóng vội; đặc biệt, cần có quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo sâu sát, hiệu quả, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ của đội ngũ lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải toàn diện, đồng bộ, triệt để, thường xuyên không ngừng nghỉ về các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ. Các mặt, lĩnh vực đó có liên quan chặt chẽ với nhau. Trên từng lĩnh vực, nội dung đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt. Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó, thì việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng không thể đạt được yêu cầu như mong muốn; đồng thời, trong mỗi khâu, mỗi mặt phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt hiệu quả cao nhất./.

CHỈ ĐỨNG NHÌN THÌ KHÔNG BAO GIỜ THÀNH CÔNG!

 Lần đầu tiên trong lịch sử ngành ô tô tại Đông Nam Á, có một mẫu xe ô tô nội địa đứng đầu bảng xếp hạng bán chạy tại quốc gia đó trong một năm - đó là mẫu xe Vinfast Fadil tại Việt Nam. Còn hãng Vinfast đã đứng vị trí thứ 4 trong danh sách những hãng xe bán chạy nhất thị trường Việt Nam, vượt qua nhiều hãng xe Nhật, EU... Vị trí mà chưa từng có hãng xe Đông Nam Á nào đạt được tại quốc gia của họ.


Đó có phải là thành công không? Dù với những người khó tính nhất, cũng phải đồng ý đây là một thành tích rất đáng ghi nhận. Vậy Việt Nam có thể thành công hơn nữa không? Đó là một câu hỏi của tương lai. Nhưng tương lai phải được xây dựng từ hiện tại.


Các quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan, Indonesia, Malaysia đã “buff” rất lực cho các hãng xe nội địa của họ, nhưng sự thành công là chưa thấy đâu. Thậm chí còn manh nha xuất hiện đã lụi tàn. Liệu Việt Nam có thể làm khác họ hay không? Thành công ban đầu nhưng có đi một con đường dài hơn hay không?


Xe điện là một xu thế không cần bàn cãi gì nữa, mặc dù vẫn còn rất nhiều người băn khoăn về nó - trong đó có mình. Nhưng tầm nhìn về xe điện của thế giới là tương đối rõ và Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc. Chính vì thế, Việt Nam đã có những chính sách “buff” tương đối rõ ràng cho xe điện, ví dụ như giảm Thuế tiêu thụ đặc biệt, miễn giảm lệ phí trước bạ… với ô tô điện. Trước đó, cũng đã có những ưu đãi rõ rệt với các mẫu xe lắp ráp tại thị trường Việt Nam.


Chính phủ đã trao cờ đến tay rồi thì cố gắng mà phất thôi…


Một trong những câu chuyện được tranh cãi nhiều ngày trước đó là chuyện Vinfast “ngừng sản xuất xe xăng và chuyển hoàn toàn sang xe điện”. Người bi quan thì cho rằng đó là câu chuyện “theo chồng bỏ cuộc chơi”, người lạc quan thì đánh giá rằng xu hướng xe điện khiến Vinfast không thể “nửa nạc nửa mỡ”. Một là thành công, hai là thành…. bại.


Mình không quá rành về xe điện nói riêng và ô tô nói chung, chỉ nói về cảm quan của một người dân bình thường. Nếu họ thành công thì đây dĩ nhiên là một điều đáng mừng, vì Việt Nam cần nhiều cú hích kinh tế trong tương lai đến từ các tập đoàn tư nhân. Các quốc gia Đông Á đồng văn với chúng ta đều có cốt lõi từ các doanh nghiệp nội tại. Mấy chục năm qua, thị trường ô tô Việt Nam đều bị thống trị bởi các cái tên đến từ nước ngoài. Trong 2 - 3 năm trở lại đây, Vinfast và phần nào đó là Thaco đã khiến cho cuộc chơi đã không còn chỉ dành cho ngoại quốc nữa. Dĩ nhiên, không thể đưa ra một mặt hàng tệ rồi gặm nhấm lòng yêu nước được.


Trong tương lai gần, rất mong là có một cuộc canh tranh sòng phẳng đến từ hãng xe Việt. Chúng ta có thể đi sau họ nhiều năm trong xe xăng, nhưng tại xe điện, tất cả đều có một giãn cách không đáng kể. Một điều mà Vinfast có căn cứ để thành công là hệ thống trạm sạc chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối tại Việt Nam (40 ngàn cổng sạc với khoảng 8000 điểm sạc, bằng khoảng ½ so với hệ thống trạm xăng dầu ở Việt Nam, và dự kiến lên tới 150 ngàn cổng sạc). Các hãng xe khác ở Việt Nam gần như chưa có hệ thống các trạm sạc điện.


Hôm nay đọc bài phỏng vấn tỷ phú Phạm Nhật Vượng, nói vui chút, điều khiến mình giống tỷ phú nhất có lẽ là mong muốn trao tình yêu thương vô bờ bến với con cái và cố gắng dạy con cái trở thành một người tử tế và đóng góp nhiều hơn cho Việt Nam. Điều này là điều mà một người cha, người mẹ nào cũng muốn làm.


Còn những cái khác, như tỷ phú đã nói trong buổi nói chuyện với bác Nguyễn Mạnh Hùng - Viettel cách đây không xa, là muốn hình ảnh Việt Nam lan tỏa ra thế giới.


Có nhiều doanh nghiệp đang thành công ở bên nước ngoài và mạnh mẽ ở thị trường trong nước, như Viettel, Vinfast, Vietjet, Hòa Phát, Thaco, Vinamilk… nhưng chúng ta cần nhiều hơn nữa. Phải gấp vài chục lần con số như hiện tại, phải có nhiều doanh nghiệp mãi mãi một tinh thần khởi nghiệp.


"Việt Nam phải có ít nhất một thương hiệu được thế giới công nhận. Chúng tôi đã thử một số lĩnh vực và thấy chỉ có VinFast và chỉ có xe điện mới có thể là cơ hội để đạt được điều này. Mặc dù sẽ không đơn giản.