Thứ Ba, 25 tháng 1, 2022

Xử lý hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội


Đăng tải thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc về dịch bệnh Covid-19 trên mạng xã hội là hành vi vi phạm pháp luật. Các mức xử phạt đối với hành vi này được quy định như sau:

- Điều 101, Nghị định số 15/2020/NÐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc về tình hình dịch bệnh Covid-19 hoặc cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt về tình hình dịch bệnh Covid-19, gây hoang mang trong nhân dân.

- Điều 8, Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm hành vi đưa thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại đến hoạt động kinh tế xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Người có hành vi này gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ bị xử lý hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” với mức phạt tù lên đến 3 năm. NTM./.

 

Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng


Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, Vì vậy, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn, quyết liệt, nên tuyêt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng là phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng chống phá ta của các thế lực thù địch, theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng chính những ưu thế của các phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, thay vì phiến diện chỉ thấy các yếu tố tiêu cực, mặt trái của nó.

Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội. Kết hợp hài hòa giữa lan tỏa phổ rộng thông tin với ngày càng coi trọng chiều sâu thông tin, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch bằng lý luận, có hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, tính thuyết phục cao, giúp độc giả hiểu sâu, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là phương thức đấu tranh có chiều sâu, căn cơ, kịp thời và chủ động ngăn chặn thủ đoạn chuyển hướng chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng và nền tảng lý luận của Đảng ta.

Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng, đồng thời mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng; xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng từ tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội; tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn; mở các kênh truyền thông xã hội riêng như “cánh tay” nối dài của các báo, tạp chí, nếu phù hợp…

Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới, tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát trúng, có tầm nhìn dài hạn, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài gỡ bỏ thông tin xấu độc; răn đe; xử lý hình sự…, để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học - thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch; gắn chặt nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận, nhất là việc tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 40 năm tiến hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) trong thời gian tới. NTM./.

 

 

 

Cảnh giác với những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng


Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số), những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.

Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

(1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…

Các thế lực thù địch phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu”, “tâm lý chiến” hết sức thâm độc. Mặt khác, chúng đan cài, trộn lẫn tinh vi thông tin thật - giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch; khoác áo “khách quan khoa học”, núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề lý luận chính trị, từ “giả khoa học” chuyển hóa thành “giả chính trị” hết sức phức tạp, tinh vi. Chọn thời điểm có những sự kiện chính trị lớn của Đảng, của đất nước, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội trong nước; những biến động lớn của thế giới, nhất là những vấn đề tại các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, có đảng cánh tả cầm quyền để thực hiện các “chiến dịch” cao điểm công kích, chống phá ta ở quy mô lớn. Có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước phương Tây…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, “nội công ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công, trên nhiều lĩnh vực.

Các thế lực thù địch sử dụng, khuếch trương các phương tiện, kênh truyền thông phản động ngoài nước, đồng thời với công kích, phê phán hệ thống báo chí chính thống của ta. Hệ thống các phương tiện truyền thông phản động ngoài nước đa dạng, số lượng nhiều, một số là những tập đoàn truyền thông quy mô, có số lượng khán - thính - độc giả cao, diện bao phủ thông tin rộng, đa quốc gia, kết nối với các phương tiện truyền thông xã hội, nên sức chống phá lớn. Đa phần các kênh truyền thông phản động trên đều có máy chủ, trụ sở đặt ở nước ngoài nên công tác đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Cùng với việc phát triển các kênh truyền thông phản động, các thế lực thù địch ra sức đả kích, hạ thấp uy tín hệ thống báo chí chính thống trong nước của ta, với những luận điệu xuyên tạc về bản chất nền báo chí cách mạng Việt Nam, về sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, các chức năng xã hội của báo chí, về tự do báo chí… Chúng cung cấp tiền, o bế một số “ngọn cờ”, “cây bút” có lượng người theo dõi lớn, ít nhiều có khả năng chi phối, dẫn dắt dư luận xã hội; sử dụng ngày càng nhiều các bài bình luận, chuyên luận phân tích sâu, luận điệu giả trá lắt léo, tinh vi. NTM./.

 

Xứng đáng vai trò “trụ đỡ”

 

Nỗ lực vượt lên những khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong năm 2021, ngành nông nghiệp đã thực hiện tốt “mục tiêu kép”, vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa đẩy mạnh sản xuất phát triển. Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp đã đạt mức cao nhất từ trước đến nay, xứng đáng là “trụ đỡ” của nền kinh tế.

Cũng giống các ngành kinh tế khác, năm 2021, ngành nông nghiệp nước ta tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn do dịch COVID-19 gây ra. Hoạt động sản xuất, nhất là tại các vùng dịch gặp nhiều khó khăn. Việc chuyên chở, vận chuyển hàng hóa trong các đợt dịch bùng phát cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu, tiêu thụ các mặt hàng nông sản. Song, ngành nông nghiệp đã xuất sắc “về đích”. Không chỉ phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản năm 2021 còn đạt mức cao kỷ lục trên 48,6 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 42 tỷ USD mà Chính phủ đưa ra.


Đặc biệt, dù dịch COVID-19 phức tạp nhưng sản lượng lúa năm 2021 vẫn đạt 43,86 triệu tấn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 89%, giá gạo xuất khẩu tăng từ 496 USD/tấn năm 2020 lên 503 USD/tấn năm 2021. Bên cạnh đó, quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp đi vào thực chất, hiệu quả hơn; quy mô và trình độ sản xuất được nâng cao, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa trên cơ sở phát huy các lợi thế từng vùng, miền, chuyển dịch theo hướng hiện đại. Đồng thời, tiếp tục tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt để thúc đẩy phát triển và cơ cấu lại ngành…
Theo thống kê, năm 2021, có 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD là gỗ và sản phẩm gỗ; tôm; rau quả; hạt điều; gạo, caosu. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 15,6 tỉ USD; xuất khẩu thủy sản cũng đạt giá trị kim ngạch 8,9 tỉ USD; xuất khẩu các mặt hàng rau quả, hạt điều đạt trên 3,6 tỉ USD, rau quả đạt trên 3,5 tỉ USD, caosu đạt khoảng 3,2 tỉ USD...


Có thể thấy, những kết quả của ngành nông nghiệp đạt được là rất đáng trân trọng, nhất là trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19. Những thành tích ấn tượng đó có được, xuất phát từ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và địa phương; sự chung sức, vượt khó, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, các hợp tác xã, bà con nông dân cả nước. Minh chứng cụ thể đó trong năm 2021, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và các địa phương đã chú trọng hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn; các cấp đã hoàn thành rà soát 443 văn bản, đề xuất sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế 96 văn bản kịp thời tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, người dân đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn do tác động của dịch bệnh COVID-19. Đặc biệt, chỉ tính từ sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 128-NQ/CP ngày 11/10/2021 về quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, tình trạng “đóng băng” trong nhiều lĩnh vực sản xuất đã được tháo gỡ. Hầu hết các lĩnh vực nông nghiệp đều khởi sắc mạnh mẽ trong những tháng cuối năm.
Theo các chuyên gia kinh tế, điểm nhấn nổi bật trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam năm 2021 đó là sự khởi sắc của xuất khẩu nông sản. Xuất khẩu hàng hóa của ngành nông nghiệp đã được mở rộng ra nhiều thị trường hơn, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt mức cao kỷ lục trên 48,6 tỉ USD. Giá trị kinh tế thu được từ xuất khẩu của ngành nông nghiệp đã góp phần giải quyết việc làm, thu nhập cho nông dân. Hàng vạn nông dân đã có thêm cơ hội vươn lên làm giàu từ bàn tay, khối óc của mình. Mặt khác, hiệu quả từ hoạt động xuất khẩu nông sản còn trực tiếp góp phần tăng nguồn thu ngân sách; tăng cường các tiềm lực cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 của cả nước và từng địa phương. Như Thủ tướng Phạm Minh Chính nhận định tại Hội nghị Tổng kết Ngành Nông nghiệp năm 2021 vừa được tổ chức vào sáng ngày 29/12: “Những điểm sáng kinh tế đã được thể hiện qua các số liệu. Với mức tăng trưởng dương, vượt 6,6 tỷ USD so với kế hoạch, thu đủ chi, xuất đủ nhập, trong một năm khó khăn, ngành nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ và có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế”.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp nước ta vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Sự phát triển của ngành nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vốn có. Ngành nông nghiệp phát triển chưa bền vững, ứng dụng khoa học công nghệ hay chuyển đổi số chưa đi vào chiều sâu; chưa chủ động thích ứng linh hoạt với diễn biến mới, tình hình mới. Công nghệ sau thu hoạch chưa thực sự được chú trọng. Số nông sản xây dựng được thương hiệu mang tính quốc tế chưa nhiều. Thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, còn phụ thuộc một số thị trường. Điển hình là tình trạng hàng ngàn container nông sản đang ún ứ tại cửa khẩu trong những ngày gần đây.

Do đó, để ngành nông nghiệp tiếp tục phát huy tốt vai trò “trụ đỡ” của đất nước, đòi hỏi khách quan đặt ra là cần nỗ lực, sáng tạo đổi mới. Trọng tâm là đồng hành, hỗ trợ nông dân trong các điều kiện khó khăn, dịch bệnh; đẩy mạnh quy hoạch vùng nguyên liệu, quy hoạch sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ; nâng cao năng lực chế biến các mặt hàng nông sản. Đặc biệt, ngành nông nghiệp cần đa dạng hóa thị trường, xây dựng thương hiệu, thúc đẩy cạnh tranh sản phẩm bằng cách đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm quốc gia. Đồng thời, đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với dự báo thị trường; tăng cường đầu tư công nghệ, chuyển đổi nông nghiệp số; thực hiện thu hút và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư trong nông nghiệp.

Việt Nam được biết đến là một nước có nhiều tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp. Chú trọng phát triển nông nghiệp sẽ vừa giúp chúng ta phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế sẵn có; vừa là cơ sở để ngành nông nghiệp khẳng định rõ vai trò “trụ đỡ” của đất nước, trực tiếp góp phần nâng cao thu nhập, phát triển đời sống nông dân./.

Đừng để looic lô về TẾT.

 

Diễn biến dịch COVID-19 ở Việt Nam và thế giới trong hơn 2 năm qua cho thấy, những kỳ nghỉ lễ dài ngày luôn đi kèm với nguy cơ dịch bệnh bùng phát, nếu người dân không đề cao trách nhiệm và công tác phòng, chống dịch không được thực hiện nghiêm túc.

Năm 2021 đang dần qua đi, người dân cả nước vẫn chưa thể quên những hậu quả do đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 gây ra. Đặc biệt, sau kỳ nghỉ Lễ 30/4 và 01/5/2021, dịch bệnh đã diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương, cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người. Không riêng Việt Nam, hàng loạt quốc gia trên thế giới cũng chứng kiến sự “trỗi dậy” của COVID-19 sau những đợt nghỉ lễ, các lễ hội truyền thống. Bởi nghỉ lễ dài ngày thường dẫn đến tâm lý “xả hơi”. Hơn nữa, người dân thường có thói quen tụ họp, tập trung đông người trong các dịp lễ, tết. Đặc biệt, trong điều kiện phần lớn người dân đã được tiêm đủ 02 mũi vaccine phòng COVID-19, nhiều người khó tránh khỏi tư tưởng chủ quan, xem nhẹ các quy định phòng, chống dịch. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc số lượng ca mắc COVID-19 thường gia tăng đột biến sau các kỳ nghỉ lễ.

Thực tế, rút kinh nghiệm từ đợt nghỉ lễ 30/4 và 01/5, nhiều địa phương đã chủ động có những quy định mới để hạn chế tình trạng người dân tập trung đông người. Điển hình là tại Thủ đô Hà Nội, UBND TP Hà Nội đã quyết định, trong dịp Tết Dương lịch tới đây sẽ không tổ chức bắn pháo hoa cũng như các điểm biểu diễn văn hóa nghệ thuật và đếm ngược (countdown) chào năm mới 2022. Quyết định này được đưa ra để đảm bảo công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Thay vào đó, Hà Nội sẽ tổ chức một số hoạt động trực tuyến để chào đón năm mới; quay trước chương trình biểu diễn nghệ thuật "Rực rỡ sắc xuân" phát trên đài truyền hình địa phương vào tối ngày 31/12.Trước thềm kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2022 (kéo dài 03 ngày) và Tết Nguyên đán Nhâm Dần, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ và các địa phương cần có quy định cụ thể để hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Theo các chuyên gia, khi thay đổi chiến lược từ “zero COVID” sang sống chung an toàn với COVID-19 thì việc tăng số ca bệnh là điều dễ hiểu. Nhiều trường hợp nhiễm virus không có triệu chứng, vì thế trong tiếp xúc hằng ngày rất khó để nhận biết người đối diện hay bản thân mình có mang mầm bệnh hay không. Nguy cơ này sẽ càng gia tăng trong các kỳ nghỉ lễ. Do đó, thay vì tụ tập đông người, các gia đình nên nghỉ ngơi tại nhà; hạn chế tối đa việc tập trung, giao lưu nhiều người. Hãy biến kỳ nghỉ lễ, tết thành khoảng thời gian quây quần đầm ấm bên gia đình nhỏ của mình; qua đó, vừa thêm gắn kết tình thân, vừa giúp bảo đảm sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Trao đổi với báo chí, ông Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo mọi người nên “tránh tụ tập, liên hoan, giảm số người trong các buổi hội họp”.

Trước đó, Bộ Y tế cũng đề nghị xem xét dừng các hoạt động tập trung đông người không cần thiết, vui chơi, lễ hội, tôn giáo tại địa phương có nguy cơ bùng phát dịch. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng chỉ đạo, để thực hiện hiệu quả mục tiêu “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh”, các địa phương… không tổ chức các hoạt động tập trung đông người, nhất là vào dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm.

Dư luận đánh giá cao những chỉ đạo, quy định nói trên. Điều đó đã cho thấy tinh thần chủ động, quyết liệt trong phòng, chống dịch COVID-19. Các chỉ đạo, quy định đó càng có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn ghi nhận số mắc COVID-19 hằng ngày trong cộng đồng; nhất là tại các địa phương có mật độ dân cư cao, giao thương, đi lại lớn như Hà Nội. Đặc biệt vừa qua, TP Hà Nội đã ghi nhận trường hợp đầu tiên mắc biến thể Omicron.

Đồng thời, các cơ chức năng, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức; tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý kiên quyết những trường hợp vi phạm quy định về phòng, chống dịch; quan tâm bảo đảm nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần của người dân trong các dịp nghỉ lễ như Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán…Tuy nhiên, ở góc nhìn khác, “nỗi lo nghỉ lễ” liên quan đến dịch COVID-19 chỉ thực sự được giải tỏa trên cơ sở ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân. Mặc dù đến nay, Việt Nam đang là một trong 10 nước có tỷ lệ tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới, nhưng sự lo lắng về nguy cơ dịch bệnh vào các dịp lễ, tết như Tết dương lịch, Tết Nguyên đán… là hoàn toàn có cơ sở. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đối mặt với tình trạng “siêu lây nhiễm” do biến chủng mới Omicron xuất phát từ các hoạt động tập trung đông người. Vì vậy, mỗi người dân cần đề cao ý thức trách nhiệm; hạn chế đến nơi công cộng, tập trung đông người; không được chủ quan, lơ là; luôn đề cao cảnh giác phòng, chống dịch. Mỗi người, trong mọi hoàn cảnh cần thực hiện triệt để khuyến cáo 5K của Bộ Y tế, nhất là đeo khẩu trang và giữ khoảng cách an toàn. 

Người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong “cuộc chiến” phòng, chống dịch COVID-19. Cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, chỉ khi người dân tích cực, chủ động phòng, chống dịch từ những việc làm nhỏ nhất, thì công tác phòng, chống dịch COVID-19 mới bảo đảm hiệu quả.

Vui lễ, tết là quyền lợi và mong muốn chính đáng của môiĩ người. Song sẽ không ai muốn vì niềm vui của cá nhân lại khiến dịch bệnh tái bùng phát bởi dịch COVID-19 được khống chế như hiện nay là thành quả được đánh đổi bằng công sức, mồ hôi và cả tính mạng của rất nhiều người thuộc các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch. “Nỗi lo nghỉ lễ” chỉ thực sự không còn khi mỗi người có trách nhiệm với sức khỏe của chính mình, gia đình và sự an toàn của cộng đồng, xã hội./.

Tạo tiền đề cho những mục tiêu cao hơn

 

Vượt qua hàng loạt khó khăn, thách thức, hoạt động xuất nhập khẩu năm 2021 đã về đích ngoạn mục với con số cao hơn dự báo rất nhiều. Dù đó chưa phải là những con số quá cao, nhưng rất đáng khích lệ. Bước sang năm 2022, với bối cảnh dịch bệnh chưa thể chấm dứt và vẫn sẽ là nhân tố quan trọng tác động đến đời sống cũng như kinh tế của Việt Nam, thì việc tạo dụng niềm tin và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo dựng tiền đề, nền tảng cho xuất nhập khẩu hướng tới những mục tiêu cao hơn là yêu cầu tiên quyết.

Không phải ngẫu nhiên, ở thời điểm bước vào năm 2021, Bộ Công Thương đã rất khiêm tốn khi đưa ra dự báo về xuất nhập khẩu chỉ tăng trưởng khoảng 5%, cán cân thương mại có thể ở mức cân bằng hoặc nhập siêu nhẹ trong năm 2021. Thế nhưng, thực tế cũng minh chứng, dù năm 2021 là năm rất khó khăn do dịch bệnh nhưng tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt con số rất khả quan và đáng ghi nhận. Theo thông tin Tổng cục Thống kê công bố, năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu ước đạt 336,25 tỷ USD, nhập khẩu ước đạt 332,25 tỷ USD…

 Đây không phải là con số quá cao, nhưng theo nhận định của ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), kết quả này rất đáng khích lệ trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp dẫn đến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, nhập siêu trong nhiều tháng. Dịch bệnh cũng đã tác động rất nặng nề đến các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam - khu vực động lực tăng trưởng xuất khẩu của chúng ta. Kết quả xuất, nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu đã cho thấy sự kiên trì của các doanh nghiệp để nỗ lực vượt qua khó khăn trong giai đoạn giãn cách. Đặc biệt, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP về quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” thì các doanh nghiệp đã nhanh chóng phục hồi sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, bắt kịp các cơ hội để duy trì tăng trưởng xuất khẩu.

Hai năm vừa qua, dịch bệnh đã hạn chế các hoạt động xúc tiến thương mại trực tiếp. Do đó, Bộ Công Thương đã nhanh chóng chuyển hướng tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại trực tuyến, kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua mạng lưới thương vụ. Có thể nói, đây là sự chuyển hướng kịp thời, nhanh nhạy và đem lại hiệu quả thiết thực giúp cho các doanh nghiệp không bị đứt gãy chuỗi cung ứng cũng như quan hệ kinh doanh. Thậm chí, doanh nghiệp có thể tìm được đối tác, bạn hàng ở những địa bàn mà trước đây chúng ta gần như khó có thể tiếp xúc như châu Phi, châu Đại Dương, Trung Đông thông qua nền tảng trực tuyến.

Trong bối cảnh dịch bệnh thì khâu lưu thông hàng hóa trong nước đã bị ảnh hưởng, thậm chí là đứt gãy ở một số khu vực. Bộ Công Thương đã nhanh chóng vào cuộc, tham gia cùng với Bộ Giao thông vận tải để tháo gỡ những điểm đứt gãy, đặc biệt là ở khu vực phía Nam trong đợt cao điểm từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2021. Bên cạnh đó, để đảm bảo duy trì hoạt động bình thường ở những cửa ngõ xung yếu của hoạt động xuất, nhập khẩu, đặc biệt là các cảng biển, Bộ Công Thương đã phối hợp Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn, kiểm tra, hỗ trợ các doanh nghiệp ở khu vực này bảo đảm sản xuất để duy trì được nguồn hàng xuất nhập khẩu, đặc biệt là nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng như sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Không chỉ vậy, vai trò của Bộ Công Thương qua việc tháo gỡ khó khăn trong logistics và vận chuyển hàng hóa, đóng góp vào thành tích xuất, nhập khẩu được nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp đánh giá rất cao.

Một minh chứng rõ nét nhất của hoạt động tháo gỡ khó khăn về logistics là Bộ Công Thương đã kiến nghị Chính phủ tạo “luồng xanh” đường thủy cho xuất khẩu gạo. Bởi xuất khẩu gạo chủ yếu tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có mạng lưới đường thủy phát triển. Trong khi đó, chi phí về vận tải đường thủy khá thấp so các phương thức vận chuyển khác. Hoặc, trong giai đoạn giãn cách, có nhiều ý kiến tranh luận thế nào là hàng hóa thiết yếu được phép lưu thông. Bộ Công Thương đã kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ bỏ quy định về hàng hóa thiết yếu. Tất cả hàng hóa đều được đối xử ngang nhau, được bảo đảm lưu thông thuận lợi, trừ hàng hóa bị cấm. Nhờ đó tạo điều kiện lưu thông hàng hóa thuận lợi hơn giữa các địa phương.

Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt, đã được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ và Bộ Công Thương đã có đóng góp rất tích cực. Điểm nổi bật của Nghị quyết này chính là sự thích ứng an toàn, trong đó hàm nghĩa là chúng ta có thể chấp nhận mức độ rủi ro nhất định khi các yếu tố như ca nhiễm COVID- 19 xuất hiện thì chúng ta không dừng sản xuất, chỉ tạm dừng hoạt động ở phạm vi nhỏ nhất có thể. Thí dụ, khi có một công nhân mắc COVID-19 thì có thể chỉ một nhóm, tổ sản xuất liên quan phải cách ly, theo dõi, còn các tổ, đội và bộ phận khác vẫn được duy trì sản xuất bình thường. Đây là điểm rất khác biệt so trước đây.

Kết quả khả quan của năm 2021 có được nhờ sự nỗ lực rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp, cùng sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Kết quả này thể hiện sự tận dụng môi trường thuận lợi từ các hiệp định thương mại tự do chúng ta đang có. Kể cả trong bối cảnh hiện nay, khi khả năng cung ứng hàng hóa cũng như nhu cầu sử dụng trên thế giới đã bị ảnh hưởng và có sự thay đổi thì chúng ta cũng có thể chớp cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu. Đây là những yếu tố quan trọng giúp duy trì kim ngạch xuất khẩu trong năm 2022.

Bước sang năm 2022, với bối cảnh dịch bệnh chưa thể chấm dứt và vẫn sẽ là nhân tố quan trọng tác động đến đời sống cũng như kinh tế của Việt Nam, thì việc tạo dụng niềm tin và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo tiền đề, nền tảng cho xuất nhập khẩu hướng tới những mục tiêu cao hơn là yêu cầu tiên quyết.

Do vậy, mối quan tâm hàng đầu hiện nay là làm sao để bảo đảm thích ứng an toàn với dịch bệnh. Sẽ có những nơi, có những khu vực có thể tiếp tục bùng phát những đợt lây lan dịch bệnh mới, nhưng với tinh thần nhất quán và linh hoạt của Nghị quyết số 128/NQ-CP thì chúng ta hoàn toàn có thể có được niềm tin và định hướng phù hợp để vừa chống dịch nhưng vừa phải duy trì được hoạt động sản xuất. Từ đó, tránh việc đứt gãy chuỗi cung ứng gây ảnh đến hoạt động xuất nhập khẩu, cũng như ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.