Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

 


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6/1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng.

Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

T3.

 

NGA TỰ CƯỜNG HƠN TRƯỚC CÁC BIỆN PHÁP TRỪNG PHẠT!

        TASS trích dẫn lời của Phó đại diện thường trực thứ nhất của Nga tại Liên hợp quốc Dmitry Polyansky cho biết, các biện pháp trừng phạt của phương Tây sẽ chỉ thúc đẩy sự tự cường của Nga.
Viết trên Twitter, nhà ngoại giao Nga khẳng định: "Nga sẽ vượt qua sóng gió này và phát triển nhiều kỹ năng tự lực hơn”.
Phó đại diện thường trực thứ nhất của Nga tại Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh các biện pháp trừng phạt được áp dụng chỉ đơn giản khiến các công ty Mỹ và châu Âu đánh mất thị trường Nga.
“Vì vậy, hãy tiếp tục tự bắn vào chân mình”, ông Dmitry Polyansky cảnh báo.
Lời bình luận của ông Dmitry Polyansky được đưa ra sau phát biểu của Tổng thống Mỹ Joe Biden rằng các lệnh trừng phạt của phương Tây đang “phá nát nền kinh tế Nga”.
Ngay sau khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine hôm 24-2, một loạt các biện pháp trừng phạt Nga đã được các nước áp đặt lên các quan chức quân sự, chính phủ, giới tinh hoa Nga, những người có ảnh hưởng nhất định, và công ty của Nga. Gần đây nhất, Tổng thống Biden đã thông báo cấm nhập khẩu năng lượng của Nga.
Ngày 10-3, Tổng thống Nga Vladimir Putin cảnh báo các lệnh trừng phạt của phương Tây nhằm vào nước này liên quan vấn đề Ukraine sẽ gây bất ổn các thị trường năng lượng và thực phẩm toàn cầu.
Ông Putin cũng khẳng định Nga sẽ vượt qua khủng hoảng và sẽ mạnh mẽ hơn./.
Yêu nước ST.

XÂY DỰNG ĐẢNG: PHẢI KHAI TRỪ NHỮNG CÁN BỘ HƯ HỎNG RA KHỎI ĐẢNG!

         Ngày 15/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Ban Bí thư để xem xét, thi hành kỷ luật các đồng chí: Phan Mạnh Cường, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Đại tá Nguyễn Thế Anh, Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang.

Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bí thư nhận thấy:

1. Đồng chí Phan Mạnh Cường trong thời gian giữ chức vụ Tỉnh ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp Thái Nguyên kiêm Giám đốc Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp (giai đoạn 2013 - 2019) đã vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và Quy chế làm việc; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo; thiếu kiểm tra, giám sát, có nhiều vi phạm trong quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách, tài sản, đất đai.

Những vi phạm của đồng chí Phan Mạnh Cường gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại tiền, tài sản của Nhà nước; gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, mất uy tín cá nhân. Trong quá trình kiểm điểm, không tự giác nhận vi phạm, khuyết điểm.

2. Đồng chí Nguyễn Thế Anh trong thời gian giữ chức vụ Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm, Bộ đội Biên phòng, Phó Chánh Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và Quy chế làm việc, thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; nhận hối lộ, vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác cán bộ, trong quản lý, sử dụng tài chính, trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, buôn lậu và gian lận thương mại.

Những vi phạm của đồng chí Nguyễn Thế Anh gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước; ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng và lực lượng Bộ đội Biên phòng, mất uy tín cá nhân.

Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm theo Quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức Khai trừ ra khỏi Đảng đối với đồng chí Phan Mạnh Cường và đồng chí Nguyễn Thế Anh./.

Môi Trường ST.

CHIẾN SỰ NGA-UKRAINE: TỔNG THƯ KÝ LIÊN HỢP QUỐC CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH HẠT NHÂN!

         Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres mới đây lên tiếng cảnh báo về khả năng cuộc khủng hoảng Ukraine-Nga có thể leo thang thành chiến tranh hạt nhân, theo National Review.

"Việc nâng cao mức độ cảnh báo của các lực lượng hạt nhân Nga là một diễn biến lạnh thấu xương. Viễn cảnh xung đột hạt nhân, từng là điều không thể tưởng tượng được, giờ đã quay trở lại và có khả năng xảy ra", ông António Guterres nói với các phóng viên hôm thứ Hai 14/3, được Reuters dẫn lại.

Ông Guterres kêu gọi đàm phán và hòa giải, lưu ý những thiệt hại mà dân thường Ukraine phải chịu đựng do chiến sự.

“Đã đến lúc đi trên con đường ngoại giao và hòa bình để ngăn chặn nỗi kinh hoàng gây ra cho người dân Ukraine. Những lời kêu gọi hòa bình phải được lắng nghe. Thảm kịch này phải dừng lại", ông Guterres nói.

Trong bối cảnh các cuộc giao tranh gần đây diễn ra xung quanh các nhà máy hạt nhân ở Ukraine, chẳng hạn như cơ sở đào tạo nhà máy Zaporizhzhia ở miền đông Ukraine bốc cháy, ông Guterres đã yêu cầu bảo vệ các cơ sở hạt nhân của Ukraine. Liên Hợp Quốc đang chuyển 40 triệu USD từ quỹ Ứng phó Khẩn cấp Trung ương của mình để viện trợ nhân đạo cho người dân Ukraine, ông nói thêm.

"Khoản tài trợ này sẽ giúp đưa các nguồn cung cấp thực phẩm, nước, thuốc men và các viện trợ cứu sinh quan trọng khác vào Ukraine cũng như cung cấp hỗ trợ tiền mặt cho người dân”, ông Guterres nói.

Bốn ngày sau khi Nga bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt vào Ukraine hôm 24/2, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đặt các lực lượng răn đe hạt nhân của mình trong tình trạng "cảnh giác cao độ" liên quan đến "chế độ nhiệm vụ chiến đấu đặc biệt", để đáp lại những gì ông tuyên bố là sự bành trướng của NATO./.
Môi Trường ST.

TRÒ HỀ CỦA ANH TÂN ĐẠI SỨ MỸ!

     Mới đây, Tân Đại sứ Mỹ Marc E. Knapper đã đăng video trên FB đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam khen ngợi Phạm Đoan Trang, đối tượng bị lĩnh án tù 9 năm vì xuyên tạc, chống phá đất nước. Trong video, đại sứ ca ngợi Phạm Đoan Trang là tù nhân lương tâm đáng trân trọng, là người phụ nữ vĩ đại của Việt Nam, đã truyền cảm hứng cho hàng triệu phụ nữ noi gương và học hỏi theo. Đại sứ cũng khuyên những người phụ nữ Việt Nam cần học tập, làm việc theo tấm gương bà Trang để bình đẳng giới.
Bên cạnh đó, ông nói quan điểm của Hoa Kỳ cam kết ủng hộ một Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập.
Đại sứ của một quốc gia luôn nhận là pháp quyền, văn minh lại đi ca ngợi một đối tượng vi phạm pháp luật, chống phá chính quyền của nước sở tại thực sự là trò hề, một cử chỉ vi phạm nguyên tắc ngoại giao quốc tế. Thử hỏi, nếu chính quyền Việt Nam đi ca ngợi các đối tượng trong tổ chức kh.ủng bố Alqueda thì chính quyền Mỹ sẽ tỏ thái độ như thế nào?
Dẫu biết anh mới nhận chức, ham hố thể hiện mình, nhưng thể hiện như thế này thì lố lăng quá!
Yêu nước ST.

Nhận diện cái gọi là “Pháp môn Diệu âm”

 “Pháp môn Diệu âm” đã hoạt động và có ảnh hưởng đến nhiều địa phương như: Hà Nội, Lào Cai, Bạc Liêu, Thanh Hóa, cần Thơ, Bình Thuận, Đà Nẵng, Lai Châu, Cà Mau, Hà Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Tuyên Quang, Đồng Nai..., với mục đích trục lợi về kinh tế; có màu sắc chính trị; chia rẽ tôn giáo, dân tộc.

“Pháp môn Diệu âm” còn có tên gọi khác là Hội Thiền Định quốc tế Master Ruma; người sáng lập là Trần Tâm còn có các tên gọi khác: Saint John, Trấn Yăn Tom, Trần út Huỳnh Long, Tom Trần, Master Ruma, sinh ngày 22/10/1972 tại Kiên Giang, là Việt Kiều Mỹ. Trần Tâm là “sứ giả” của “Thanh Hải Vô Thượng sư”, nhiều lần nhập cảnh vào Việt Nam hoạt động tuyên truyền phát triển “Thanh Hải Vô thượng sư”.

Năm 1997, trong vụ án “Nguyễn Thùy Dương” và đồng bọn hoạt động tuyên truyền chống chế độ Xã hội chủ nghĩa”, Trần Tâm bị Công an tỉnh Bạc Liêu khởi tố vì đã tham gia, tổ chức in, phát hành tài liệu, băng hình..., trong đó có hành vi chống chế độ Xã hội chủ nghĩa. Đối tượng Trần Tâm sau đó đã được bảo lãnh, xuất cảnh và sau đó bị đưa vào diện cấm nhập cảnh Việt Nam từ 1997-2002. 

Năm 2004, Trần Tâm bị “Thanh Hải Vô thượng sư” khai trừ khỏi tổ chức do vi phạm giới luật. Đối tượng sau đó đã về Campuchia lập “Pháp môn Diệu âm”. Sau khi thành lập đã tìm cách liên lạc, lôi kéo đồng tu của “Thanh Hải vô thượng sư” ở trong nước tham gia “Pháp môn Diệu Âm”.

Về nguồn gốc, “Pháp môn Diệu âm” được tách ra từ “Thanh Hải Vô thượng sư” - là một hiện tượng tôn giáo mới có nguồn gốc hình thành từ Ấn Độ, được một tu sĩ đạo Silk ở Ấn Độ truyền giảng, sau đó Thanh Hải kết hợp với giáo lý của Phật giáo, Công giáo, pha tạp và tạo nên “Thanh Hải vô thượng sư”.

Trần Tâm từng phục vụ cho “Thanh Hải vô thượng sư” nên sau khi vi phạm giới luật và bị Thanh Hải khai trừ ra khỏi tổ chức, Trần Tâm đã tách ra và lập nên hiện tượng tôn giáo mới “Pháp môn Diệu âm” dựa trên cơ sở và hình thức tu luyện giống “Thanh Hải vô thượng sư”; cùng tranh giành ảnh hưởng về tín đồ và phạm vi hoạt động. Thực chất đây là biến tướng của “Thanh Hải vô thượng sư”.

Trụ sở chính của “ Pháp môn Diệu âm” ở Campuchia đứng đầu là Trần Tâm, xây dựng hệ thống chân rết ở nhiều quốc gia. Về nghi thức, “Pháp môn Diệu âm” tuyên truyền ăn chay, ngồi thiền, nhập tâm những điều sư phụ dạy, nhằm cảm nhận âm thanh, ánh sáng xung quanh mình, biến nó thành những điều kỳ diệu có thể rũ bỏ ưu phiền, chữa lành các loại bệnh. Tín đồ thực hiện ăn chay, ngồi thiền.

Từ năm 2004 – 2007, Trần Tâm nhiều lần thay đổi họ, tên để nhập cảnh vào Việt Nam. Sau đó, lợi dụng hoạt động từ thiện để tuyên truyền, phát triển “Pháp môn Diệu âm”; lôi kéo số đồng tu của “Thanh Hải vô thượng sư” ở trong nước trước đây tham gia. Năm 2006, lấy danh nghĩa “Đoàn nghiên cứu văn hóa tâm linh”, Trần Tâm đến một số cơ quan, trường học và một số địa phương tại Việt Nam để thuyết giảng và hướng dẫn pháp thiền. Năm 2007 tại Sóc Sơn (Hà Nội), Công an TP. Hà Nội phát hiện Trần Tâm đang thuyết pháp, truyền đạo cho 56 người ở Hà Nội và một số tỉnh… đã lập biên bản đối với Trần Tâm về hành vi hoạt động trái mục đích nhập cảnh, buộc xuất cảnh trước thời hạn và đưa vào diện đối tượng chưa được nhập cảnh (20/8/2007-20/8/2012). Sau đó, tiếp tục gia hạn thời gian (20/12/2012-20/8/2018).

Năm 2010, Trần Tâm tiếp tục thông qua tổ chức khóa tu tại Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Mỹ... để tuyên truyền, phát triển “Pháp môn Diệu âm”, củng cố đức tin của một số tín đồ cũ.

Trần Tâm thông qua mạng Internet để tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Trần Tâm để nhiều người tiếp cận và tìm hiểu và tham gia hoạt động. Trần Tâm đồng thời chỉ đạo số tín đồ trong nước làm từ thiện tại các vùng bị thiên tai, lũ lụt, khó khăn về đời sống, vùng sâu, vùng xa để tuyên truyền, đăng tin trên các trang quảng bá hình ảnh về “Pháp môn Diệu âm”.

Số tín đồ theo “Pháp môn Diệu âm” đẩy mạnh tuyên truyền, phát triển đạo thông qua việc phát báo miễn phí, bán băng đĩa, tặng ảnh, lôi kéo số đông tín đồ “Thanh Hải vô thượng sư” tham gia. Tại một số tỉnh, thành phố, chính quyền địa phương phát hiện có một số hoạt động của nhóm này tại Công ty cổ phần N tại Cần Thơ - Công ty này hoạt động trên lĩnh vực sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật. Vào năm 2007, chủ tịch hội đồng quản trị công ty đến thăm công ty và chỉ đạo giám đốc công ty, tổ chức cho nhân viên ăn chay ít nhất mỗi tuần 1 ngày (thứ hai hàng tuần), ngày rằm, mùng 1 hàng tháng, đồng thời cử người hướng dân cho nhân viên cách ngồi thiền theo “Pháp môn Diệu âm”. Hoạt động “Pháp môn Diệu âm” ở Công ty này là bắt buộc. Theo đó, hầu hết cán bộ, nhân viên không ai muốn theo và đã có rất nhiều người đã xin nghỉ việc ở Công ty, trong đó có giám đốc chi nhánh.

Thông qua xác minh có 25 người tin theo “Pháp môn Diệu âm” ở Bắc Giang (Tân Yên, Lạng Giang, Lục Nam). Những người tham gia chủ yếu thông qua mạng Internet để tìm hiểu và tập theo PMDA, việc tu tập chủ yếu là ăn chav và tu thiền tại gia vào các ngày chủ nhật hàng tuần tại “Thiền đường”. Ở Bắc Giang chưa hình thành điểm nhóm sinh hoạt “Pháp môn Diệu âm”. Khi có chương trình sinh hoạt tại  “Thiền đường” hoặc sang nước ngoài (Thái Lan, Lào, Campuchia) thì người  đại diện nhóm sinh hoạt “Thiền đường” thông báo cho bà N.T.P -giáo viên nghỉ hưu tại xã Đại Hóa, huyện Tân Yên. Thông qua bà N.T. P thông báo cho những người theo “Pháp môn Diệu âm” ở Bắc Giang biết và đăng ký. Khóa sinh hoạt thường kéo dài khoảng 1 tuần, kinh phí tự túc.

Hoạt động của “Pháp môn Diệu âm” tại tỉnh Bắc Giang diễn ra chủ yếu tại một số nơi thuộc các huyện: Tân Yên, Lạng Giang, Hiệp Hòa... với hoạt động chủ yếu là xuất cảnh ra ngoài để “Thọ ấn”, tham gia “Cộng tu” do ông Trần Tâm trực tiếp giảng dạy.

Đầu năm 2016, có 5 người theo “Pháp môn Diệu âm” xuất cảnh sang Lào tham gia khóa “Cộng tu” lần thứ 32 của PMDA gồm: Nguyễn Thị Hiền (SN  1960, ở thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên); Nguyễn Thị Điểm (1939, ở xã Ngọc Lý, huyện Tân Yên); Ngô Thị Phương (SN 1959, xã Đại Hóa, Tân Yên; Nguyễn Thị Bình (1957) xã Tân Dĩnh, Lạng Giang; Bùi Thị Thuận (SN 1957) ở tại TP. Bắc Giang.

Từ 8/11/2016 đến 19/11/2016, có 5 người xuất cảnh sang Thái Lan tham gia lớp “Cộng tu” diễn ra trong 5 ngày do ông Trần Tâm trực tiếp giảng dạy; kinh phí mỗi người là 5 triệu đồng do “Đồng tu” tại Hà Nội tổ chức. Trong thời gian ở Thái Lan, nhóm “Pháp môn Diệu âm Việt Nam” có khoảng 230 người được các “Sư huynh đồng tu” ở Thiên đường Thái Lan đón tiếp, bố trí nơi ăn, nghỉ, hàng ngày được nghe Trần Tâm giảng đạo 2 tiếng đồng hồ, sau đó tự ngồi thiền tĩnh tâm 3 tiếng đồng hồ.

Từ 28/1/2017 đến 2/5/2017 có 16 người ở xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang xuất cảnh sang Campuchia tham gia lớp “Cộng tu”. Từ năm 2011 đến nay, một số người đã xuất cảnh đi Campuchia để gặp gỡ nhận tâm ấn Trần Tâm; đã xuất bản 500 bản sách “Con đường đem đến sự giải thoát” và có tờ báo ở Hà Nội đăng bài đưa cuộc sống từ bất ổn về với bĩnh yên, nhân ngày Phật đản năm 2011, trong đó ca ngợi sư phụ Trần Tâm và đạo “Pháp môn Diệu âm”. Trần Tâm đẩy mạnh công tác tuyên ừuyền “Pháp môn Diệu âm” và có tác động không nhỏ đến nhiều địa phương trong nước.

Ngay khi bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam, Trần Tâm tìm cách xây dựng cơ sở tại Campuchia, Thái Lan, Lào để chờ cơ hội trở về Việt Nam. Hội Thiền sinh “Minh sư Ruma” Việt Nam của Trần Tâm được lập vào đầu tháng 11/2017 trên facebook với 1200 thành viên ảo. Mỗi khi Trần Tâm giảng đạo ở các nước CamPuchia, Lào, Thái Lan, Myanma, các thành viên ở Việt Nam đều đựợc thông báo trước để tham gia dưới hình thức du lịch hoặc trực tiếp nghe Trần Tâm nói chuyện qua Internet. Năm 2018, có hàng nghìn lượt người Việt Nam xuất cảnh theo Trần Tâm hoằng pháp ở Mỹ, Đức, Cộng hòa Séc, Myanmar..., tham gia khóa tu, lễ xuất gia, truyền tâm ấn, Lễ Vu lan ở Thái Lan (khoảng 1.000 lượt), Lào (khoảng 200 lượt), Campuchia (khoảng 1000 lượt). “Pháp môn Diệu âm” đã hoạt động và có ảnh hưởng đến nhiều địa phương như: Hà Nội, Lào Cai, Bạc Liêu, Thanh Hóa, cần Thơ, Bình Thuận, Đà Nẵng, Lai Châu, Cà Mau, Hà Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Tuyên Quang, Đồng Nai...

Mục đích trục lợi về kinh tế; có màu sắc chính trị; chia rẽ tôn giáo, dân tộc, lợi dụng uy tín và những mối quan hệ trước đây, lúc đang là đệ tử cho “Thanh Hải vô thượng sư”, Trần Tâm móc nối lại vói các đối tượng để phát triển tổ chức. Thành phần tin theo chủ yếu là những người trung và cao tuổi, những người kinh doanh nhỏ lẻ.

“Bệnh giấu khuyết điểm” - chữa từ căn nguyên mới triệt để, hiệu quả!

 

“Bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Sở dĩ khẳng định như vậy vì Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ban hành từ tháng 10-2016 đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đồng thời yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, trong đó có “bệnh thành tích", che giấu khuyết điểm, thiếu thành khẩn...

Thế nhưng, hơn 5 năm trôi qua, “bệnh giấu khuyết điểm” xem ra vẫn khá phổ biến trong nhiều tổ chức của hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên, do chúng ta chưa chữa từ căn nguyên!

Thiết nghĩ, những ví dụ, bằng chứng, biểu hiện, cũng như hậu quả nghiêm trọng của “bệnh giấu khuyết điểm”-hầu hết chúng ta đều biết, bởi nếu không ở trong cuộc, trực tiếp chứng kiến thì cũng đã được đọc, được nghe hàng vạn bài nói, bài viết về bệnh này. Tiếp tục liệt kê ra đây lại mắc khuyết điểm viết dài, viết lại, kiểu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Nhưng có điều nguy hại đặc biệt mà “bệnh giấu khuyết điểm” gây ra cần thiết phải nhắc lại, đó là: Gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin nghiêm trọng-một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến hủy hoại uy tín, sức mạnh của tổ chức cũng như từng cá nhân, thậm chí sụp đổ cả chế độ! Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết do nguyên nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng khoảng, mất đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên giá trị.

Vậy phải làm gì để chữa trị “bệnh giấu khuyết điểm”?

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải thật thà phê bình và tự phê bình, kiên quyết thực hành kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng cũng đã yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm giải pháp. Tuy nhiên, có thể khẳng định, chính vì nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự làm nghiêm, chưa vào cuộc một cách quyết liệt, chưa có biện pháp hữu hiệu nên “bệnh giấu khuyết điểm” vẫn kéo dài dai dẳng.

Cần nhìn thẳng vào sự thật: “Bệnh giấu khuyết điểm” và thích khen nịnh là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan từ ngàn xưa, ở khắp nơi (thậm chí cổ nhân còn khuyên dạy: “Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”). Do đó, muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm” thì phải điều trị từ nguyên nhân gốc, trước hết, người mắc bệnh này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây là người đứng đầu tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên).

Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm”. Lý do thật đơn giản: Tự nhận vi phạm, khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới các quyền lợi của tập thể, cá nhân.

Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người chê là dại dột, “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”! Không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ đi “bêu dương” khắp nơi, nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người, nhiều tập thể đã rút ra “bài học”: Chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”!

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu: Thực sự quý trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “bệnh giấu khuyết điểm”.

Cùng với đó, phải có điểm thưởng cho những tập thể, cá nhân trung thực, tự giác nhận khuyết điểm nhằm khắc phục nghịch lý “không muốn chữa bệnh giấu khuyết điểm” nêu trên, mà việc nên làm ngay là chỉnh sửa quy chế thi đua-khen thưởng theo hướng quy định rõ điểm thưởng, điểm phạt, bảo đảm không ai chịu thiệt khi thành thật, tự giác nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm “bệnh giấu khuyết điểm” nguy hại.

Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng...

Thực hiện chủ trương trên, những bất cập, nghịch lý là căn nguyên dẫn đến “bệnh giấu khuyết điểm” cần sớm được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiên quyết chỉ đạo khắc phục triệt để. 

Sáng đẹp tinh thần, phẩm chất người lính Quân y

 Cùng với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và lực lượng vũ trang, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; chủ động phòng, chống giảm nhẹ và khắc phục hậu quả tình huống khẩn cấp như dịch bệnh, thảm họa, thiên tai…, đặc biệt, trước cơn sóng đại dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát phức tạp, khó lường, thời gian qua, cán bộ, nhân viên tại các Bệnh viện Quân dân y (BVQDY) trên địa bàn Quân khu 9 luôn nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ trên tuyến đầu phòng, chống dịch bệnh.

“Chống dịch như chống giặc”

Đầu tháng 7-2021, trên địa bàn Thành phố Cần Thơ phát hiện ca lây nhiễm SARS-CoV-2 trong cộng đồng, sau đó ít ngày số ca mắc liên tục tăng. Các cơ sở điều trị quá tải, thành phố phải gấp rút thành lập thêm các bệnh viện dã chiến (BVDC) để điều trị những bệnh nhân bị nhiễm. Được sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch thành phố, BVQDY TP Cần Thơ nằm tại huyện Cờ Đỏ nhanh chóng chuyển đổi toàn bộ công năng thành BVDC Quân dân y từ tầng 1 lên tầng 2, nhiệm vụ thu dung, điều trị cho người nhiễm Covid-19 vừa và nhẹ trên địa bàn, với quy mô 150 giường.

“Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, chúng tôi khẩn trương rà soát lực lượng, trang thiết bị y tế, xây dựng các kế hoạch, quy chế hoạt động; tuyên truyền cho cán bộ, nhân viên nắm rõ được chức năng, nhiệm vụ hoạt động của BVDC. Đồng thời, tổ chức diễn tập tiếp nhận, điều trị bệnh nhân nhiễm Covid-19, các quy định mang mặc trang phục bảo hộ, quy trình xử lý rác thải, nước thải cho cán bộ, nhân viên. Đến nay, qua 2 đợt, chúng tôi đã phối hợp với ngành y tế địa phương tiếp nhận hơn 850 bệnh nhân Covid-19, điều trị khỏi ra viện 754 bệnh nhân, chuyển lên tuyến trên 90 bệnh nhân. Tất cả đều bảo đảm an toàn tuyệt đối; công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, chống lây nhiễm chéo cũng được thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình của Bộ Y tế”, Thượng tá, Bác sĩ CKII Nguyễn Minh Phong, Giám đốc BVDC Quân dân y TP Cần Thơ cho biết.


Ngày 22-7-2021, ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Trà Vinh đã ký quết định về việc chuyển BVQDY tỉnh thành BVDC số 2 để thu dung, sàng lọc, cách ly, điều trị, cấp cứu các trường hợp mắc bệnh Covid-19. Trung tá Đoàn Văn Tân, Giám đốc BVDC số 2 tỉnh Trà Vinh, chia sẻ: “Điều kiện thuận lợi để BVDC số 2 nhanh chóng hoạt động là được sử dụng toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, nhân lực sẵn có của BVQDY, cùng với tinh thần trách nhiệm vì nhân dân phục vụ của cán bộ, nhân viên. Qua hai đợt tiếp nhận, chúng tôi đã điều trị cho hơn 300 bệnh nhân khỏi bệnh, hơn 30 trường hợp chuyển viện lên tuyến trên, không có bệnh nhân nào tử vong. Cán bộ, nhân viên của BVDC còn tăng cường cho BVDC số 1, BVDC số 7 và các khu cách ly, hỗ trợ lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 trên địa bàn TP Trà Vinh”.
Là một cán bộ tham gia BVDC từ những ngày thành lập cho đến nay, Thượng úy, Bác sĩ CKI Dương Thị Tố Trinh, Khoa Điều trị đã không quản ngại khó khăn, vất vả, tận tình chữa trị cho người bệnh. Chồng chị Trinh cũng tham gia tuyến đầu tại Bộ CHQS TP Cần Thơ, đứa con nhỏ chị phải mang gửi ông bà ngoại chăm sóc. “Làm việc trong khu điều trị rất áp lực, nguy cơ lây nhiễm cao, do vậy trong quá trình thăm khám tôi phải luôn cẩn trọng, tỉ mỉ, chính xác. Lúc nào cũng phải mặc đồ bảo hộ kín mít, hôm nào thời tiết mát mẻ thì đỡ vất vả, còn trời nắng rất nóng bức, ngột ngạt, di chuyển khó khăn. Nhiều lúc kiệt sức vì công việc, nhớ nhà, nhớ con nhưng tôi luôn xác định phải cố gắng, đem hết khả năng để chăm sóc, chữa trị tốt nhất cho người bệnh”, chị Trinh chia sẻ.

Phục vụ tại BVDC số 2, chị Bùi Thị Phương Châm, Nhân viên phòng Tổ chức -  Hành chính, tâm sự: “Mỗi ngày tôi phải ra vào, lên xuống cầu thang hàng chục lần để đưa nhu yếu phẩm phục vụ cho bà con; thu dọn vệ sinh, hỗ trợ lực lượng y tế lấy mẫu xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe người bệnh… Phải tiếp xúc với người bệnh, chất thải y tế mang mầm bệnh nên tôi luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chống nhiễm khuẩn. Nếu không cẩn thận, chỉ cần lơ là, chủ quan thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mình và những người xung quanh”.

Là BVDC đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng được giao nhiệm vụ thu dung, điều trị bệnh nhân Covid-19, ngay sau khi nhận nhiệm vụ, BVQDY tỉnh Sóc Trăng đã thông báo về việc tạm dừng tiếp nhận bệnh nhân đến khám ngoại trú, điều trị nội trú để sử dụng làm cơ cơ sở điều trị bệnh nhân nhiễm Covid-19. “Để quản lý, điều hành BVDC, chúng tôi chia theo kiểu “vùng xanh”, “vùng đỏ”. “Vùng xanh” gồm Ban giám đốc, bộ phận hành chính, hậu cần, tổ điều trị cấp cứu thăm khám bệnh nhân qua điện thoại, hoặc zalo. “Vùng đỏ” là các bộ phận tiếp xúc với FO như: Nhận bệnh, khám sàng lọc, phân luồng người bệnh, lấy mẫu xét nghiệm, vận chuyển thuốc, thức ăn, nhu yếu phẩm, vệ sinh, xử lý rác thải y tế. Chúng tôi sử dụng cách điều hành này nhằm hạn chế khả năng lây nhiễm chéo, vừa tạo phương án dự phòng nguồn nhân lực trong mọi tình huống để có thể bổ sung cho đội ngũ điều trị trực tiếp ở khu cách ly”, Thượng tá, BSCKII Nguyễn Bích Phượng, Phó giám đốc BVDC tỉnh Sóc Trăng chia sẻ.

Nhờ sự nỗ lực của cán bộ, nhân viên BVDC, trong tổng số trên 1.100 ca nhiễm Covid-19 nhập viện đã có hơn 900 bệnh nhân được điều trị khỏi và xuất viện, trong đó có nhiều bệnh nhân là trẻ em. “Mục tiêu là giúp người bệnh hồi phục nhanh, xuất viện sớm, do vậy chúng tôi luôn xem bệnh nhân như người thân của mình. Ngoài nhiệm vụ điều trị cứu chữa, chúng tôi thường xuyên tiếp cận bệnh nhân để an ủi, tư vấn nhằm giảm sự căng thẳng, ổn định tâm lý để họ sớm khỏi bệnh, trở về đoàn tụ với gia đình, người thân”, Đại úy Huỳnh Hữu Nghĩa, Kỹ thuật viên xét nghiệm tâm sự. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ tại BVDC, cán bộ, nhân viên còn tham gia các tổ quân y phục vụ tại 5 khu cách ly do Bộ CHQS tỉnh Sóc Trăng quản lý, lấy mẫu test nhanh SARS-CoV-2 cho các quân nhân. Ngoài ra, còn tham gia nghiên cứu thuốc điều trị kháng virus Molnupiravir trên bệnh Covid-19 với Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Với ưu điểm hạn chế bệnh chuyển nặng, rút ngắn thời gian điều trị, đã có 499 bệnh nhân sử dụng thuốc Molnupiravir, trong đó 429 bệnh nhân khỏi bệnh ra viện.

Nằm tại xã Tân Thành, huyện Bình Tân, từ khi đợt dịch thứ tư bùng phát đến nay, Bệnh viện Đa khoa khu vực kết hợp Quân dân y tỉnh Vĩnh Long đã chuẩn bị tốt các phương án ứng phó với dịch bệnh. “Chúng tôi tổ chức tập huấn, luyện tập các phương án để cán bộ, nhân viên thuần thục và ứng phó hiệu quả khi có tình huống xảy ra. Ngoài tham gia cùng lực lượng y tế địa phương để xét nghiệm sàng lọc trong cộng đồng, tiêm vắc xin ngừa Covid-19, cán bộ, nhân viên còn được cử đến các BVDC trên địa bàn tỉnh để điều trị cho bệnh nhân nhiễm Covid-19. Tuy phải làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, nhưng mỗi khi vào ca trực ai cũng đều thể hiện ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm cao nhất để cứu chữa người bệnh. Có những cán bộ, nhân viên dù hết thời gian được phân công, nhưng vẫn tình nguyện ở lại tiếp tục phục vụ ở các BVDC”, Thiếu tá Nguyễn Quốc Đạt, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa khu vực kết hợp Quân dân y Vĩnh Long nói.

Tận tình, chu đáo phục vụ

Cùng với công tác thu dung điều trị, bộ phận phục vụ tại các BVDC đã không quản ngại khó khăn, vất vả, tận tình, chu đáo phục vụ các bữa ăn cho người bệnh.

Nằm trong khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, khi dịch Covid-19 chưa bùng phát, bếp ăn từ thiện BVQDY Sóc Trăng mỗi ngày đều phục vụ hằng trăm suất ăn và nước sôi miễn phí cho bệnh nhân và thân nhân người bệnh. Từ khi chuyển đổi thành BVDC, mỗi ngày Thượng úy QNCN Lâm Sương, Nhân viên quản lý và bộ phận phục vụ đều phải chuẩn bị từ 4 giờ sáng để nấu hằng trăm suất ăn cho người bệnh. “Chế độ ăn uống cho người đang điều trị bệnh là 80.000 đồng/người/ngày. Để mọi người ăn ngon miệng, tổ phục vụ đều lên thực đơn khác nhau. Bữa ăn sáng thường là các món bánh canh, phở, bánh lọt; buổi trưa và tối sẽ phục vụ cơm đều đầy đủ rau xanh, canh, thịt cá, nguồn thực phẩm luôn tươi sống, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở BVDC có nhiều trẻ em nên chúng tôi cũng nấu riêng để phục vụ”, Thượng úy QNCN Lâm Sương chia sẻ.

Thời gian trước, BVQDY TP Cần Thơ đã duy trì hiệu quả mô hình bếp ăn tình thương kết hợp với Hội Chữ thập đỏ huyện Cờ Đỏ, với hơn 50 tình nguyện viên tham gia, được chia làm 13 tổ nấu ăn thường xuyên trong ngày. Khi BVDC Quân dân y thành lập, việc phục vụ các bữa ăn cho bệnh nhân đã gặp không ít khó khăn, nhất là phải đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh. “Để có những phần ăn ngon miệng, giúp bệnh nhân mau hồi phục sức khỏe, chúng tôi phải lên thực đơn chi tiết theo tuần, những bệnh nhân có bệnh nền được chỉ định chế độ ăn kiêng phù hợp. Trước khi đưa về đơn vị, lương thực, thực phẩm đều được kiểm duyệt, phun khử khuẩn. Chúng tôi liên kết với các doanh nghiệp trên địa bàn để cung ứng nguồn thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn phòng dịch”, Thượng tá, BSCKII Nguyễn Minh Phong cho biết.Anh Dương Văn Phước, Nhân viên phục vụ, BVDC tỉnh Sóc Trăng nói: “Để đảm bảo công tác chống nhiễm khuẩn, các phần ăn sẽ được bỏ vào hộp xốp và bọc kín lại, sau đó tổ phục vụ sẽ chuyển cho bộ phận khác đưa vào cho người bệnh. Công việc cũng hơi vất vả, nhưng thấy bệnh nhân ăn hết những phần ăn là động lực để chúng tôi sẽ cố gắng phục vụ tốt hơn nữa. Qua tìm hiểu hầu hết bệnh nhân đều nhất trí, đồng tình việc nấu ăn rất ngon miệng, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng. Sự quan tâm chu đáo, tận tình phục vụ là động lực để người bệnh ổn định sức khỏe, vững vàng tâm lý, mau chóng hồi phục”.

Bà Huỳnh Thị Ngọc Diễm, Phó chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng khẳng định: ‘Việc thành lập BVDC trên địa bàn tỉnh phải nói rằng rất là kịp thời, đặc biệt là tinh thần tự nguyện lên tuyến đầu chống dịch đã làm sáng ngời hình ảnh Thầy thuốc mặc áo lính. Càng trong khó khăn, vất vả thì phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lại càng tỏa sáng. Những phẩm chất tốt đẹp ấy đang được cán bộ, nhân viên BVDC tô thắm bằng chính sự hài lòng của bệnh nhân. Tình cảm, tình thương và trách nhiệm của họ đều hướng tới mục tiêu Tất cả vì nhân dân, tất cả vì cộng đồng, chung tay đẩy lùi dịch Covid-19”.

Nhận diện cái gọi là “Pháp môn Diệu âm”

 

Pháp môn Diệu âm” còn có tên gọi khác là Hội Thiền Định quốc tế Master Ruma; người sáng lập là Trần Tâm còn có các tên gọi khác: Saint John, Trấn Yăn Tom, Trần út Huỳnh Long, Tom Trần, Master Ruma; sinh ngày 22/10/1972 tại Kiên Giang, là Việt Kiều Mỹ. Trần Tâm là “sứ giả” của “Thanh Hải Vô Thượng sư”, nhiều lần nhập cảnh vào Việt Nam hoạt động tuyên truyền phát triển “Thanh Hải Vô thượng sư”.

Năm 1997, trong vụ án “Nguyễn Thùy Dương” và đồng bọn hoạt động tuyên truyền chống chế độ Xã hội chủ nghĩa”, Trần Tâm bị Công an tỉnh Bạc Liêu khởi tố vì đã tham gia, tổ chức in, phát hành tài liệu, băng hình..., trong đó có hành vi chống chế độ Xã hội chủ nghĩa. Đối tượng Trần Tâm sau đó đã được bảo lãnh, xuất cảnh và sau đó bị đưa vào diện cấm nhập cảnh Việt Nam từ 1997-2002. 

Năm 2004, sau khi bị “Thanh Hải Vô thượng sư” khai trừ khỏi tổ chức do vi phạm giới luật, Trần Tâm đã về Campuchia lập “Pháp môn Diệu âm”dựa trên cơ sở và hình thức tu luyện giống “Thanh Hải vô thượng sư”. Sau khi thành lập đã tìm cách liên lạc, lôi kéo đồng tu của “Thanh Hải vô thượng sư” ở trong nước tham gia “Pháp môn Diệu Âm”, cùng tranh giành ảnh hưởng về tín đồ và phạm vi hoạt động. Thực chất đây là biến tướng của “Thanh Hải vô thượng sư”.

Trụ sở chính của “ Pháp môn Diệu âm” ở Campuchia đứng đầu là Trần Tâm, xây dựng hệ thống chân rết ở nhiều quốc gia. Về nghi thức, “Pháp môn Diệu âm” tuyên truyền ăn chay, ngồi thiền, nhập tâm những điều sư phụ dạy, nhằm cảm nhận âm thanh, ánh sáng xung quanh mình, biến nó thành những điều kỳ diệu có thể rũ bỏ ưu phiền, chữa lành các loại bệnh. Tín đồ thực hiện ăn chay, ngồi thiền.

Trần Tâm thông qua mạng Internet để tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Trần Tâm để nhiều người tiếp cận và tìm hiểu, tham gia hoạt động. Trần Tâm đồng thời chỉ đạo số tín đồ trong nước làm từ thiện tại các vùng bị thiên tai, lũ lụt, khó khăn về đời sống, vùng sâu, vùng xa để tuyên truyền, đăng tin trên các trang quảng bá hình ảnh về “Pháp môn Diệu âm”.Số tín đồ theo “Pháp môn Diệu âm” đẩy mạnh tuyên truyền, phát triển đạo thông qua việc phát báo miễn phí, bán băng đĩa, tặng ảnh, lôi kéo số đông tín đồ “Thanh Hải vô thượng sư” tham gia.

Ngay khi bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam, Trần Tâm tìm cách xây dựng cơ sở tại Campuchia, Thái Lan, Lào để chờ cơ hội trở về Việt Nam. Hội Thiền sinh “Minh sư Ruma” Việt Nam của Trần Tâm được lập vào đầu tháng 11/2017 trên facebook với 1200 thành viên ảo. Mỗi khi Trần Tâm giảng đạo ở các nước CamPuchia, Lào, Thái Lan, Myanma, các thành viên ở Việt Nam đều đựợc thông báo trước để tham gia dưới hình thức du lịch hoặc trực tiếp nghe Trần Tâm nói chuyện qua Internet. Năm 2018, có hàng nghìn lượt người Việt Nam xuất cảnh theo Trần Tâm hoằng pháp ở Mỹ, Đức, Cộng hòa Séc, Myanmar..., tham gia khóa tu, lễ xuất gia, truyền tâm ấn, Lễ Vu lan ở Thái Lan (khoảng 1.000 lượt), Lào (khoảng 200 lượt), Campuchia (khoảng 1000 lượt). “Pháp môn Diệu âm” đã hoạt động và có ảnh hưởng đến nhiều địa phương như: Hà Nội, Lào Cai, Bạc Liêu, Thanh Hóa, cần Thơ, Bình Thuận, Đà Nẵng, Lai Châu, Cà Mau, Hà Giang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Tuyên Quang, Đồng Nai...

Mục đích trục lợi về kinh tế; có màu sắc chính trị; chia rẽ tôn giáo, dân tộc, lợi dụng uy tín và những mối quan hệ trước đây, lúc đang là đệ tử cho “Thanh Hải vô thượng sư”, Trần Tâm móc nối lại vói các đối tượng để phát triển tổ chức. Thành phần tin theo chủ yếu là những người trung và cao tuổi, những người kinh doanh nhỏ lẻ./.

 

Về tính tất yếu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

 Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ là sự lắp ghép cái đuôi xã hội chủ nghĩa vào “cơ thể” kinh tế thị trường vốn có của chủ nghĩa tư bản(?!). Đó là kết hợp giữa “nước” và “lửa” nên là không thể(?!). Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là Việt Nam đang “âm thầm xoay trục” theo con đường tư bản chủ nghĩa(?!). Sự thật có phải như vậy không?

Đặc trưng, vai trò, tính tất yếu của “khâu trung gian” của sự phát triển tự nhiên, xã hội,...

Trong phép biện chứng của sự phát triển, “khâu trung gian” được coi là mắt khâu tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các giai đoạn phát triển trong cùng một sự vật, hiện tượng. Nhà triết học vĩ đại người Đức, Ph. Hê-ghen, cho rằng, các dạng khác nhau của tồn tại, đòi hỏi những dạng trung gian hóa của chính chúng, hoặc chứa đựng trong bản thân chúng những dạng ấy. Ph. Ăng-ghen cho rằng: “Phép biện chứng thừa nhận trong trường hợp cần thiết là bên cạnh cái “hoặc là... hoặc là” thì có cả cái này lẫn cái kia”, “thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập”. Trong quá trình vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng, sự chuyển hóa từ sự vật này thành sự vật khác đều phải thông qua những “khâu trung gian”.

Đặc trưng của “khâu trung gian”, về mặt kết cấu, gồm những mặt, những bộ phận, những yếu tố, những quá trình khác nhau, đối lập nhau, cùng tồn tại đan xen với nhau, thâm nhập vào nhau, đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau. Trong đó, những nhân tố mới, tiến bộ bao giờ cũng đóng vai trò định hướng, chi phối, định hình sự vật mới, ngược lại, những nhân tố cũ sẽ dần trở thành bảo thủ, lạc hậu và chúng chỉ mất đi khi những điều kiện cho nó tồn tại không còn nữa. Chính vì sự đan xen tồn tại, đấu tranh với nhau giữa cái mới và cái cũ đã làm cho sự vật mới chiến thắng sự vật cũ rất khó khăn. Do vậy, ở trạng thái “trung gian” quá độ ấy, khuynh hướng phát triển của sự vật cũng trở nên phức tạp, thiếu ổn định, có cả sự tiến lên lẫn thụt lùi, cả sự tiến bộ lẫn thoái bộ, thậm chí sự vật còn “tròng trành, nghiêng ngả”, nhưng mang trong mình sức mạnh của tất yếu, cuối cùng cái mới sẽ chiến thắng hoàn toàn cái cũ.

“Khâu trung gian” có vai trò tất yếu trong quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, quá trình phủ định biện chứng và sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph. Ăng-ghen cho rằng: “tất cả các mặt đối lập đều thông qua những khâu trung gian mà chuyển hóa lẫn nhau”, “thực hiện sự môi giới của các mặt đối lập”. Điều đó cho thấy vai trò tất yếu của “khâu trung gian” là thực hiện được sự chuyển hóa từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, bằng cách “dung hợp” các mặt đối lập trong những hình thức nhất định. Do vậy, “khâu trung gian” đóng vai trò là những tiền đề, điều kiện làm “môi giới” cho sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập, thông qua đó mâu thuẫn được giải quyết. Quan điểm siêu hình thường tuyệt đối hóa sự đối lập giữa các mặt, cho nên trong khi tiến hành giải quyết mâu thuẫn, họ mưu toan muốn “thoát khỏi” tình trạng mâu thuẫn bằng cách vứt bỏ giản đơn một trong các mặt đối lập của mâu thuẫn, trong khi lại xem mặt kia như một chỉnh thể “phi” mâu thuẫn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không những vạch ra nguồn gốc, động lực của mâu thuẫn mà còn chỉ rõ vấn đề có tính quy luật trong quá trình giải quyết mâu thuẫn.

Xem xét vấn đề lý luận và phương pháp luận giải quyết mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), V.I. Lê-nin cho rằng cần phải học ở chủ nghĩa Mác cách “làm thế nào và khi nào có thể và cần phải kết hợp các mặt đối lập,... trong thực tiễn chúng ta đã nhiều lần thống nhất các mặt đối lập”. Vì vậy, nếu sự chuyển hóa của các mặt đối lập là phương thức để giải quyết mâu thuẫn của sự vật thì “khâu trung gian” là những điều kiện tất yếu để các mặt đối lập đấu tranh, chuyển hóa và giải quyết mâu thuẫn. Đây là vấn đề có ý nghĩa về lý luận và phương pháp luận rất lớn trong việc giải quyết các mâu thuẫn, nhất là các mâu thuẫn xã hội. 

Quá trình phủ định của phủ định, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, không phải là sự thay thế giản đơn cái này bằng cái khác mà phải thông qua những “vòng khâu” liên hệ, “vòng khâu” của sự phát triển, trong đó cái cũ và cái mới kết hợp với nhau, tác động vào nhau, vừa kế thừa, vừa phủ định để cuối cùng cái mới được khẳng định. Đối với mọi quá trình phủ định diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy, “khâu trung gian” đóng vai trò là cơ sở, là điều kiện để cái mới và cái cũ kết hợp với nhau, thâm nhập vào nhau, vừa kế thừa, vừa lọc bỏ, tạo nên khuynh hướng phát triển vừa tiến lên, vừa lặp lại thông qua vô số những lần phủ định.

Đối với quá trình chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, “khâu trung gian” cũng có vai trò quan trọng trong quá trình nhảy vọt về chất. Đó là một trạng thái tồn tại tất yếu của sự vật trong quá trình chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới, trong đó chất cũ và chất mới đan xen, thâm nhập vào nhau, đấu tranh với nhau, thông qua đó cái cũ bị lọc bỏ và chuyển hóa thành cái mới. Bất kỳ một hình thức nhảy vọt nào dù “đột biến” hay “dần dần” đều thông qua “khâu trung gian” để thực hiện bước quá độ từ chất cũ sang chất mới, “khâu trung gian là cơ sở, điều kiện tất yếu để bước nhảy vọt có thể xảy ra, không qua “khâu trung gian” thì nhảy vọt chỉ còn là một “phép lạ””.   

Sự tồn tại của “khâu trung gian” mang tính tất yếu và phổ biến trong sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Quá trình tiến hóa giống loài sinh vật luôn tồn tại những loài có đặc điểm của “khâu trung gian”. Trong lĩnh vực xã hội, biểu hiện của những “khâu trung gian” cũng vô cùng phổ biến. Trong tài liệu “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa” chuẩn bị cho viết tác phẩm Bản thảo kinh tế, C. Mác phân tích đặc điểm của các hình thức kinh tế quá độ trong lịch sử, như công xã nông thôn, phương thức sản xuất châu Á, kinh tế trang ấp phong kiến, kinh tế diêu dịch (ở Nga), kinh tế phường hội... và nhận xét rằng, về bản chất chúng có đặc điểm của “khâu trung gian” quá độ giữa hình thái kinh tế - xã hội trước lên hình thái kinh tế - xã hội sau. Trong lĩnh vực chính trị, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chỉ ra không ít những “khâu trung gian” quá độ như chế độ dân chủ chủ nô thời kỳ cổ đại, trong đó vừa chứa đựng những hình thức làm chủ cộng đồng của công xã tự quản và chế độ chủ nô quý tộc của chế độ nô lệ, kể cả chế độ chuyên chế phương Đông cũng được các ông coi là hình thức chính trị “trung gian” quá độ từ chế độ công xã tự quản lên chế độ quân chủ phong kiến.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin phân tích đặc biệt sâu sắc tính chất “khâu trung gian” trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Đó là thời kỳ mà trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội có sự đan xen tồn tại giữa những “mảnh đoạn” của xã hội cũ cùng với những yếu tố của xã hội mới đang ra đời nhưng còn non yếu, chúng kết hợp với nhau, thâm nhập vào nhau, đấu tranh với nhau, do đó, mọi hình thức phát triển đều mang đặc trưng, đặc điểm của cả xã hội cũ và xã hội mới. Về mặt kinh tế, còn nhiều hình thức tổ chức phù hợp với trình độ phát triển sản xuất, như V.I. Lê-nin chỉ rõ trong thời kỳ quá độ ở bất kỳ nước tư bản chủ nghĩa nào khi đi lên CNXH cũng gồm ba thành phần cơ bản: kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN), kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế hàng hóa nhỏ. Đặc biệt, đối với những nước tiền tư bản hoặc chủ nghĩa tư bản chưa phát triển thì cơ cấu kinh tế còn đa dạng, phức tạp hơn, bao gồm cả các thành phần kinh tế sản xuất nhỏ - tự cấp, tự túc. Về chính trị, sự tồn tại của các thành phần kinh tế quy định sự tồn tại của những lực lượng, giai cấp xã hội có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau, vừa liên minh, vừa đấu tranh với nhau, vì thế trong thời kỳ quá độ, mâu thuẫn xã hội và đấu tranh giai cấp sẽ trở nên gay gắt và phức tạp hơn. Trong lĩnh vực ý thức xã hội, những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu và phản động của chế độ cũ chưa thể mất đi ngay mà còn tiếp tục cản trở sự ra đời của ý thức tư tưởng tiến bộ.

Trong những di sản lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, “chính sách kinh tế mới - NEP” có ý nghĩa về mặt lý luận và phương pháp luận rất quan trọng, đó không chỉ là phép biện chứng của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH mà còn là một “học thuyết” về nhận thức và vận dụng “khâu trung gian” để “bắc những chiếc cầu nhỏ” xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước để đi lên CNXH đối với những nước còn chưa đủ điều kiện chín muồi. Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, những người cộng sản Nga đứng đầu là V.I. Lê-nin đã thi hành chính sách “cộng sản thời chiến” để quá độ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nhưng sau một thời gian ngắn, chính sách ấy đã bộc lộ những hạn chế, sai lầm to lớn, đó là xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế và nền sản xuất hàng hóa để xác lập nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa, tiến hành tổ chức sản xuất và phân phối trực tiếp theo kế hoạch của chính quyền Xô-viết. Hậu quả là sản xuất đình đốn, đời sống xã hội cực kỳ khó khăn, CNXH đứng bên bờ vực sụp đổ. Thực chất chính sách kinh tế “cộng sản thời chiến” là mô hình kinh tế “quá độ” trực tiếp tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản, không qua những “khâu trung gian”, những hình thức quá độ. Và chính sách kinh tế mới là mô hình kinh tế quá độ, rốt cuộc đã được tìm ra từ những sai lầm về đường lối cách mạng chủ quan, duy ý chí. V.I. Lê-nin khẳng định dứt khoát rằng, không nghi ngờ gì nữa, một nước trong đó nền sản xuất tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng XHCN bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển. Áp dụng những biện pháp quá độ “đặc biệt” đó, nghĩa là phải nắm lấy những mắt xích trung gian, những bậc thang, những hình thức quá độ cụ thể để thực hiện sự “môi giới” giữa xã hội cũ và xã hội tương lai. V.I. Lê-nin cũng chỉ ra những hình thức kinh tế trung gian, quá độ như chủ nghĩa tư bản nhà nước, kinh tế hợp tác xã và các hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ... tạo thành nền kinh tế với nhiều thành phần; chủ trương khôi phục nền sản xuất hàng hóa, thương mại, cơ chế thị trường đi đôi với sự kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ của nhân dân và chính quyền Xô-viết. Đáng tiếc, sau khi V.I. Lê-nin mất, chính sách kiểu “cộng sản thời chiến” lại được duy trì, trở thành mô hình kinh tế chung của các nước XHCN. Lịch sử một lần nữa lặp lại sai lầm và dẫn tới sự khủng hoảng, đổ vỡ của hệ thống XHCN, và cũng một lần nữa “Chính sách kinh tế mới” của V.I. Lê-nin được kế thừa và phát triển trong điều kiện mới, đem lại sức phát triển mạnh mẽ và những thành tựu to lớn cho các nước XHCN, trong đó có nước ta. Phải chăng đây là vấn đề có tính quy luật?  

“Khâu trung gian” trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nước ta đi lên CNXH từ một nước nghèo, kém phát triển, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá nên thời kỳ quá độ sẽ rất lâu dài và khó khăn, phức tạp. Do chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc những đặc điểm của nước ta trong thời kỳ quá độ, nên trong một thời kỳ dài chúng ta đã phạm phải sai lầm, khuyết điểm, nóng vội xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế “phi” XHCN, hạn chế sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, đồng thời duy trì quá lâu mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Một trong những thành tựu có tính chất đột phá trong quá trình đổi mới của Đảng ta là phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Đó là kết quả của quá trình tìm tòi, đổi mới, sáng tạo, liên tục được bổ sung và phát triển trong nhận thức lý luận của Đảng và đã được kiểm nghiệm bởi những thành tựu rất to lớn trong thực tiễn hơn 35 năm đổi mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, KTTT định hướng XHCN “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

Về mặt lý luận, quan niệm về phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta chính là kết quả của sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ và con đường đi lên CNXH, trong đó lý luận về “khâu trung gian” trong sự phát triển xã hội có ý nghĩa rất quan trọng về phương pháp luận trong nhận thức và vận dụng để xác lập mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta, phù hợp với quy luật lịch sử - tự nhiên.

Về mặt lịch sử, quá trình phát triển của các nền văn minh trên thế giới cho thấy sản xuất hàng hóa đã có mầm mống hình thành trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhưng chỉ đạt đến trình độ nền KTTT trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bản thân nền KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có những hình thức, trình độ phát triển khác nhau. Do tranh thủ được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại mà chủ nghĩa tư bản ngày nay đã không ngừng hiện đại hóa lực lượng sản xuất và điều chỉnh quan hệ sản xuất, thúc đẩy quá trình xã hội hóa và toàn cầu hóa kinh tế, cho nên KTTT ở một số nước đã đạt tới trình độ hiện đại. Tuy nhiên, do bản chất của chủ nghĩa tư bản dù là loại thị trường nào cũng không thể loại bỏ được khuyết tật vốn có của nó, đó là tính tự phát, khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh đổ vỡ, về xã hội là sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, khuyến khích chủ nghĩa thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân,... Mặc dù KTTT tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến trình độ hiện đại nhưng trong khuôn khổ phương thức sản xuất và bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể nào khắc phục được những hạn chế vốn có của mình.      

Với tinh thần kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu CNXH, Đảng ta không ngừng tìm tòi, đổi mới con đường đi lên phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh thời đại ngày nay. Tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển nền KTTT định hướng XHCN sau 35 năm đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”. Sự ra đời của KTTT dưới CNXH lúc đầu như là sự phủ định mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp nhưng trong quá trình đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về nền KTTT định hướng XHCN, phù hợp với quy luật khách quan và đã được thực tiễn kiểm nghiệm bằng những thành tựu to lớn sau 35 năm đổi mới. Có thể nói, những thành công không thể phủ nhận của mô hình KTTT định hướng XHCN đã có sức hấp dẫn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước đã và đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng KTTT không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà nó là mô hình kinh tế tổng quát của nhiều chế độ xã hội khác nhau. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu KTTT, mặc dù chưa phải hoàn thiện, nhưng nó khác về bản chất với nền KTTT tư bản chủ nghĩa. Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối”.

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Về bản chất, đó là “khâu trung gian” trong sự phát triển kinh tế. Diễn đạt về tính chất “khâu trung gian” của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta đang trong thời kỳ quá độ)”. Với tư cách là “khâu trung gian”, KTTT định hướng XHCN ở nước ta có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, trong kết cấu của nền kinh tế có sự tồn tại đan xen của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, tiêu biểu cho các phương thức sản xuất của xã hội tư bản, tiền tư bản và CNXH. Trong đó, kinh tế nhà nước và chế độ công hữu mới được xác lập, đang trong quá trình phát triển để giữ vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế; kinh tế tư nhân vẫn còn là động lực quan trọng của nền kinh tế; trong điều kiện nền sản xuất nhỏ còn phổ biến, kinh tế hộ cá thể vẫn còn đóng vai trò nhất định, góp phần ổn định đời sống xã hội; ngoài ra, còn tồn tại những thành phần kinh tế hỗn hợp, kinh tế tập thể, hợp tác xã... Sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường là một đặc trưng khách quan của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.

Hai là, trong nền KTTT các thành phần kinh tế luôn tác động qua lại, thâm nhập vào nhau để chuyển hóa. Trong nền kinh tế của nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế tác động qua lại, thâm nhập vào nhau, từ đó mà hình thành các hình thức kinh tế hỗn hợp mang tính chất “trung gian” quá độ. Ngay cả các thành phần kinh tế cơ bản, đại diện cho phương thức sản xuất mới XHCN cũng chưa thể tồn tại độc lập mà chịu sự tác động của các thành phần kinh tế khác, đồng thời nó cũng thâm nhập vào quan hệ sản xuất, chi phối các thành phần kinh tế khác. Do vậy, có thể coi mọi loại hình kinh tế, mọi thành phần kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đều là những hình thức “trung gian”, quá độ. V.I. Lê-nin coi những hình thức kinh tế quá độ được tạo ra từ sự tác động qua lại, thâm nhập của các thành phần kinh tế là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ông cho rằng, nó là cái gì có tính chất tập trung, được kiểm soát và được xã hội hóa, cho nên chủ nghĩa tư bản nhà nước là nấc thang tất yếu chuyển nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa và từ sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa lên CNXH, và đó là “phòng chờ” để đi lên CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó và CNXH không còn nấc thang nào ở giữa cả.

Ba là, bản thân các hình thức kinh tế “trung gian” quá độ tồn tại trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội, chịu sự tác động của các nhân tố khách quan, chủ quan, tự phát, tự giác, bên trong và bên ngoài..., những nhân tố đó quy định khuynh hướng vận động, phát triển khác nhau của nền KTTT. Đóng vai trò định hướng và định hình phương thức sản xuất XHCN đối với các hình thức kinh tế quá độ trước hết là nhân tố thuộc nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước XHCN. Bản chất XHCN trong nền KTTT là “phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Cùng với những nhân tố chính trị, vai trò định hướng XHCN đối với nền KTTT ở nước ta còn được thực hiện thông qua kinh tế nhà nước. Vai trò định hướng và định hình của kinh tế nhà nước không chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước mà còn bằng các nguồn lực kinh tế nhà nước, được sử dụng để thâm nhập vào các thành phần kinh tế khác, làm công cụ đòn bẩy, điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, thông qua đó, từng bước định hình phương thức sản xuất mới tiến bộ. Mặt khác, nền KTTT trong thời kỳ quá độ của nước ta đang trong quá trình định hình nên còn chịu sự tác động, cản trở của “mặt trái”, tính tự phát, bảo thủ của các nhân tố cũ, kể cả những sai lầm chủ quan có thể mắc phải trong lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi khuynh hướng vận động của nền KTTT định hướng XHCN vẫn còn gặp phải những khó khăn, trắc trở, thậm chí còn vấp phải sự khủng hoảng, suy thoái nhất thời. Tuy nhiên, đó là những “đau đớn” tạm thời khó tránh khỏi của sự “sinh nở” một phương thức sản xuất mới mà vai trò “bà đỡ” là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Như vậy, lý luận về “khâu trung gian” và phép biện chứng của thời kỳ quá độ cho chúng ta những luận cứ xác đáng để kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về nền KTTT định hướng XHCN. Đồng thời, qua đây chúng ta càng nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn, để tiếp tục kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nền KTTT định hướng XHCN và con đường đi lên CNXH do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo./.