Thứ Tư, 16 tháng 3, 2022

TÌNH HÌNH UKRAINE: CHÂN LÝ MÃI XANH TƯƠI!

     Cờ đỏ búa liềm Xô Viết tiếp tục được kéo lên ở rất nhiều thành phố Ukraina được giải phóng.
Rất nhiều người lại mang theo cờ đỏ búa liềm tập trung chào đón quân đội Nga, đồng thời tổ chức đặt hoa tưởng niệm các chiến sỹ Hồng quân 78 năm trước đã giải phóng Kherson. Họ nói "Hiện nay ngọn lửa vĩnh cửu ở Đài liệt sỹ chưa được đốt lên, nhưng sẽ sớm thôi, các giá trị truyền thống sẽ trở lại. Chúng (những kẻ phát xít mới) đã lừa dối con cái của chúng ta, bắt phải nói dối..."...
Trong khi đó, nhiều người dân Lugansk (ở khu vực quân phát xít vẫn chiếm đóng) chạy nạn đã tố cáo: "Chúng chiếm Bệnh viện và nhà dân, đuổi tất cả mọi người phải ra khỏi đó... Chúng sơn lên xe của chúng chữ Z rồi bắn vào tất cả mọi người để đổ cho Quân đội Nga... Chúng tôi chỉ muốn bọn trẻ được sống..."...
Môi Trường ST.

Lại diễn kịch “Giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế”!

 Ngày 14/3, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken được nhiều trang thông tấn báo chí nước ngoài như BBC, VOA… cho biết đã chủ trì lễ trao giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế (IWOC) cho Phạm Thị Đoan Trang.

Thông tin nêu, ngoài Phạm Thị Đoan Trang còn có 11 phụ nữ khác trên toàn cầu được “biểu dương lòng dũng cảm, sức mạnh và khả năng lãnh đạo đặc biệt của họ trong việc vận động cho hòa bình, công lý, nhân quyền, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng của mình”. Những người này đến từ các nước Bangladesh, Brazil, Burma, Colombia, Iraq, Liberia, Libya, Moldova, Nepal, Romania, South Africa.

Phạm Thị Đoan Trang được đính kèm với cụm từ “nhà báo độc lập”, như để tránh nhầm lẫn giữa Trang “báo chí” với một bà Trang nào khác. Sau khi dùng những từ ngữ ca ngợi “đóng góp của nữ nhà báo độc lập Phạm Thị Đoan Trang đang bị giam cầm tại Việt Nam”, Ngoại trưởng Hoa Kỳ lên án “sự giam cầm bất công đối với bà, chúng tôi kêu gọi phóng thích cho bà ngay lập tức”. Được biết, buổi lễ có sự hiện diện của Đệ nhất phu nhân Jill Biden, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc Linda Thomas-Greenfield, Trợ lý Bộ trưởng Giáo dục và Văn hóa Lee Satterfield.

Trước đó, ngày 8/3, trong thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng thông tin về “nhà báo độc lập” Phạm Thị Đoan Trang, cho rằng việc Phạm Thị Đoan Trang bị bắt giam, thi hành án phạt tù là do “liên quan đến các bài viết của bà và bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”.   

Kể từ tháng 3/2007 đến nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao giải này cho hơn 170 phụ nữ từ hơn 80 quốc gia. Phạm Thị Đoan Trang là phụ nữ thứ ba ở Việt Nam được trao giải IWOC, sau Tạ Phong Tần được trao năm 2013 và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được trao năm 2017. Điểm chung của ba người phụ nữ được “vinh danh” này là đều bị toà án các cấp xét xử về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999. 

Ngay sau khi Phạm Thị Đoan Trang được trao giải nói trên, một số kênh truyền thông nước ngoài đã nhanh chóng liên hệ với các phần tử chống phá Việt Nam để “tiếp sóng”. Phóng viên Đài VOA kết nối với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, hiện đang sinh sống tại Houston, Texas để “hỏi về suy nghĩ, cảm tưởng”. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh từng bị toà án tuyên án 10 năm tù vào năm 2017, sau bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được dịp bung nổ: “Chúc mừng chị Phạm Thị Đoan Trang với danh hiệu Phụ nữ dũng cảm quốc tế 2022. Đây là sự ghi nhận của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung dành cho cá nhân Phạm Thị Đoan Trang với những nỗ lực tranh đấu miệt mài, bền bỉ cho quyền con người, tự do ngôn luận tại Việt Nam”. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đồng thời cũng được thể bôi nhọ đất nước, quê hương của mình: “Tôi hy vọng rằng sự dấn thân của chị Đoan Trang sẽ tạo ra thay đổi tích cực trong một xã hội đầy sợ hãi, khiếp nhược. Và quan trọng hơn hết là sẽ không có thêm công dân Việt Nam nào bị kết án vì nói lên quan điểm chính trị, vì chống lại sự đàn áp, bất công. Không một công dân Việt Nam bị bỏ tù vì bày tỏ sự can đảm của mình trước nhà cầm quyền độc tài”.  

Cần thấy rằng, chính Nguyễn Ngọc Như Quỳnh với hoạt động chống phá đất nước như Phạm Thị Đoan Trang, đã bị tuyên 10 năm tù giam và cũng chính Quỳnh từng được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trao “giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế” trước đó. Khi sang đất Mỹ, với những “thành tích” chống lại Tổ quốc, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được các thế lực thù địch, phản động bên ngoài tìm cách đánh bóng tên tuổi, đào tạo và gán cho những giải thưởng hào nhoáng như “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế 2018”; “Giải thưởng Nhân quyền 2019”...

Ở trong nước, Quỳnh tìm cách miệt thị chế độ, ca tụng nước Mỹ là “miền đất hứa”, xứ sở của tự do, của thiên đường. Tuy nhiên, khi bị trục xuất sang Mỹ một thời gian, chính thị đã phải ngao ngán thốt lên trên trang cá nhân của mình những điều chua chát. Như Quỳnh đã viết loạt bài với các nhan đề trên tài khoản Facebook cá nhân: “Cuộc tranh luận về thuốc điều trị sốt rét sẽ đi đến đâu?”,“Nước Mỹ không vĩ đại như người ta tưởng” và “dịch bệnh nên đọc cảnh báo của chuyên gia y tế, đừng nghe lời lãnh đạo”...

Những bài viết của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ trích Tổng thống Mỹ (khi đó là ông Donald Trump) do trong bài phát biểu cuộc họp báo ngày 19-3, Tổng thống Donald Trump nói: “Thuốc trị sốt rét Hydroxychloroquine có thể bào chế ngay lập tức để trị COVID-19”. Quỳnh cho rằng, tác dụng phụ khi dùng thuốc gốc chloroquine/hydroxychloroquine là “nôn mửa trào mật, tiêu chảy trào bồn cầu, dùng lâu ảnh hưởng đến thị giác, thính giác và cả hệ tim mạch”.

Rồi từ thực tế chống chọi với đại dịch, Quỳnh thốt lên: “Nước Mỹ không vĩ đại như nhiều người đang nghĩ. Thiếu khẩu trang y tế, thiếu bộ xét nghiệm, Tổng thống kêu nhân viên sử dụng lại khẩu trang, có khác gì Vũ Hán không!?”. Từ những viện dẫn về đánh giá của các chuyên gia y tế, cũng như các phân tích lập luận của cá nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh kết luận không nên tin theo lời lãnh đạo nước Mỹ vì có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào!  

Rõ ràng, với sự thực như trên, Quỳnh cũng chẳng ưa gì đất Mỹ và còn nhiều éo le, vất vả khác mà xứ sở này thực sự “vỡ mộng” so với suy nghĩ của Quỳnh trước đây. Vậy nhưng, với tâm ý chống phá Nhà nước Việt Nam, ngay khi được hỏi về trường hợp của Phạm Thị Đoan Trang thì Quỳnh không tiếc lời ca tụng Trang và được thể bôi nhọ đất nước, chế độ.  

Với trường hợp Phạm Thị Đoan Trang, sau những trò tôn vinh, trao giải thưởng nhân quyền, giải thưởng tự do báo chí thì nay, cái gọi là giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế chỉ là sự tiếp nối của những vở kịch lố. Với các trường hợp như vậy, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng.

Vào tháng trước, ngay sau khi Phạm Thị Đoan Trang được Bộ Ngoại giao Anh và Canada “vinh danh giải thưởng Tự do báo chí” (Media Freedom 2022), Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: “Như đã nhiều lần khẳng định, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam và được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam trong thời gian qua.

Phạm Thị Đoan Trang bị bắt giữ và xét xử do có những hành động vi phạm pháp luật nhiều lần, nghiêm trọng, liên hệ với các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, xuất bản các ấn phẩm trái phép có nội dung tuyên truyền, hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hành vi của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội”. Bà Phạm Thu Hằng cũng nêu rõ, việc Bộ Ngoại giao Canada và Anh trao giải thưởng cho một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ song phương với Việt Nam. 

Khi viết về vấn đề này, chúng tôi đã đặt câu hỏi, tại sao Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại chú ý quá mức với một đối tượng mà cơ quan tiến hành tố tụng đã có đủ tài liệu, căn cứ để kết tội? Và với chính danh là cơ quan ngoại giao nhà nước, trong xu thế hợp tác toàn diện, lẽ nào lại tìm và khuấy lên những chuyện sai trái như thế, nó đâu có hợp với thể danh của một cơ quan ngoại giao nước lớn, với vị thế để “người ta trông vào”!  

Lại nghĩ, nếu có thể tôn vinh, thì phải tôn vinh người cho đúng với danh nghĩa giải thưởng được nêu ra. Nhân đây, nhắc lại sự kiện ngày 9/2/2006, tại trụ sở Liên hợp quốc, bà Susan Schnall, quốc tịch Mỹ - thành viên của Tổ chức Phụ nữ vì hoà bình và trao đổi toàn cầu của Mỹ, người đã từng bị bắt và kết án tù giam vì phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đã được Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam trao Kỷ niệm chương “Vì hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc”. Kỷ niệm chương nhằm ghi nhận công lao đóng góp và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với bà nhân chuyến thăm Việt Nam của bà và các thành viên của Tổ chức Phụ nữ vì hoà bình và trao đổi toàn cầu của Mỹ. 

Với tấm lòng yêu chuộng hoà bình, trước nỗi đau thương mất mát không gì bù đắp do cuộc chiến tranh tàn khốc và không muốn những người lính Mỹ phải tiếp tục tử trận vì cuộc chiến phi nghĩa, khi còn làm một nữ y tá chữa bệnh cho thương binh từ chiến trường Việt Nam trở về, Trung uý Hải quân Mỹ Susan Schnall quyết định phải làm một việc theo cách của riêng mình để góp phần nhanh chóng chấm dứt chiến tranh.

Ngày 12/10/1968, bà Susan Schnall đã tổ chức một đợt rải truyền đơn từ trên máy bay của một người bạn ở khu vùng Vịnh San Francisco với nội dung thông báo về một cuộc tuần hành vì hoà bình của các cựu chiến binh và lính Mỹ tại các căn cứ quân sự tại khu vùng vịnh này, tại một tàu sân bay và bệnh viện Hải quân Oak Knoll nơi bà làm việc. Trong trang phục quân đội, bà luôn hô vang khẩu hiệu “Hãy đưa những người con trai nước Mỹ còn sống trở về” và tích cực tham gia biểu tình phản đối chiến tranh. Vì những hành động đó, tháng 2/1969, bà đã bị bắt, đưa ra toà án binh, bị kết án 6 tháng tù giam và sa thải khỏi lực lượng vũ trang. Sau khi bị sa thải, bà vẫn tiếp tục ủng hộ Việt Nam thông qua các hoạt động tuyên truyền phản chiến tại các căn cứ quân sự và gây quỹ ủng hộ một số bệnh viện ở Việt Nam.

Ngày 6/2/1969, đồng chí Nguyễn Thị Bình thay mặt đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc thống nhất miền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị Paris đã gửi bức điện động viên chia sẻ, bày tỏ tình cảm và sự biết ơn sâu sắc trước những hành động dũng cảm, bất chấp hiểm nguy của bà và những người dân yêu chuộng hoà bình ở Mỹ vì nền độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. 

Hành động như bà Susan Schnall mới thực sự xứng đáng để vinh danh giải thưởng Phụ nữ dũng cảm quốc tế. Vậy mà chính bà lại bị toà án ở Mỹ đưa ra xét xử, phạt tù với quy kết hành động đó đã chống lại Nhà nước Mỹ.

Phê phán các luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 Nhận diện một cách đầy đủ và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng chống phá, xuyên tạc là góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tự đề kháng, củng cố niềm tin của mỗi người cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; qua đó, khơi dậy sự chung sức, đồng lòng của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Cơ sở khoa học và thực tiễn của “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”

Một trong những điểm mới và quan trọng trong Văn kiện Đại hội XIII là lần đầu tiên Đảng ta xác định “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(1). Đây cũng là bước đột phá trong tư duy của Đảng về sức mạnh nội sinh và phương thức phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Ấy vậy mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị, phản động, chống đối, lại đang rêu rao, xuyên tạc rằng, đó là quan điểm duy tâm chủ quan, một khẩu hiệu trống rỗng, phi thực tế, phản khoa học,... hòng thực hiện mưu đồ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta.

Chúng lý sự rằng, “khát vọng” là yếu tố tinh thần, là mặt tinh thần của đời sống xã hội; do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần đề cập và nhấn mạnh đến thành tố “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII (từ chủ đề Đại hội, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát, định hướng phát triển, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược) thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần và lấy nó làm cơ sở, nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nên rõ ràng là một quan điểm duy tâm chủ quan; đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin (?!).

Xét bản chất, dựa trên lý luận của triết học Mác - Lê-nin về tính độc lập tương đối của ý thức và vai trò, sức mạnh to lớn của tinh thần con người, chúng ta có đủ luận cứ, luận chứng khoa học để phản bác các luận điệu sai trái, nhưng hết sức tinh vi, xảo quyệt nói trên của các thế lực thù địch. Đó là, tuy khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nhưng các nhà kinh điển mác-xít cũng đồng thời nhấn mạnh, ý thức có tính độc lập tương đối với vật chất, có tính năng động, sáng tạo nên có thể tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”(2). Đặc biệt, ý thức tiến bộ, cách mạng một khi được giáo dục, khơi dậy và phát huy đúng cách ở mỗi cá nhân sẽ trở thành sức mạnh tinh thần vĩ đại trong cải tạo xã hội. Đúng như C. Mác đã nói: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(3).

Điều đó có nghĩa, ý thức, tư tưởng hay tinh thần của con người, trong đó có các khát vọng chính đáng, hợp lý, hoàn toàn không phải là sản phẩm tiêu cực, thụ động, mà luôn chứa đựng sức mạnh tiềm tàng rất to lớn. Và để hiện thực hóa sức mạnh ấy, để biến nó thành sức mạnh vật chất, đòi hỏi phải biết thường xuyên khơi dậy, bồi đắp và chuyển hóa nó thành các hành động cụ thể, các phong trào xã hội thiết thực. Như C. Mác đã viết: “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”(4) và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý... Bổn phận của chúng ta là... phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(5). Vì vậy, trong mỗi thời kỳ, ở mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, giá trị và sức mạnh của tinh thần yêu nước cũng như khát vọng phát triển đất nước luôn phụ thuộc rất lớn vào khả năng khơi dậy, phát huy và hiện thực hóa của các thế hệ.

Thực tiễn cũng đã chứng minh, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành, phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc phụ thuộc trước hết vào khát vọng sống, tồn tại và vươn lên của cộng đồng dân tộc đó. Không hiếm dân tộc hay nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, nhất là thiếu khát vọng độc lập, tự cường và phát triển. Đối với dân tộc Việt Nam, yếu tố này lại càng nổi bật và biểu hiện sinh động hơn hết. Như sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, không ngừng được đắp bồi và phát triển, tinh thần yêu nước cùng với khát vọng phát triển đất nước là những giá trị tiêu biểu, tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Chính khát vọng cháy bỏng phải giành, bảo vệ cho được độc lập, tự do, thống nhất đất nước đã tạo nên sức mạnh phi thường để dân tộc ta trường tồn và phát triển. Trong lịch sử, ông cha ta đã đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc ngoại bang, giữ vững nền độc lập dân tộc không phải chủ yếu bằng tiềm lực quân sự, bằng sức mạnh vật chất, mà chủ yếu là bằng sức mạnh quật khởi vĩ đại của sự đoàn kết, của khát vọng về chủ quyền quốc gia.

Một mặt, với những lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động, dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực đầy đủ, cùng với tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược và nhạy bén chính trị, sự kiên định và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã rất đúng, rất trúng khi xác định một cách mạch lạc, đầy sức thuyết phục về khát vọng phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Đó là động lực quan trọng, nguồn năng lượng nội sinh to lớn để đưa đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển, “cất cánh” trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIII hoàn toàn không tuyệt đối hóa vai trò động lực của khát vọng phát triển đất nước, mà xác định rất rõ đây là một trong những động lực để tạo thành “hợp lực” cho đổi mới, phát triển và hội nhập; là động lực tinh thần chứ không phải động lực vật chất; là động lực thúc đẩy chứ không thể thay thế vai trò cơ sở, nền tảng quyết định của yếu tố kinh tế, vật chất. Do đó, trước những luận điệu cho rằng quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII là duy tâm chủ quan, mỗi người có sự hiểu biết và tỉnh táo, khách quan đều thấy rõ đó chỉ là một sự non kém về kiến thức triết học và tri thức lịch sử,... hoặc là những ý đồ chính trị hết sức tinh vi và thâm độc, một dạng của thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung, vốn không được bất kỳ khoa học nào đánh giá cao.

Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII đã được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh lý, sửa chữa nhiều lần (riêng Báo cáo chính trị là khoảng 30 lần); được nhiều nhà khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách cẩn trọng, nghiêm túc, cân nhắc từng từ, từng câu, từng chữ. Văn kiện được đánh giá có quá trình chuẩn bị “rất công phu, chu đáo, bài bản, qua nhiều lần, nhiều vòng, từng bước hoàn thiện, có nhiều đổi mới quan trọng về nội dung và phương pháp. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa kiên định  đổi mới, giữa kế thừa  phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi, dự thảo các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hòa quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc”(6). Văn kiện có văn phong trong sáng, súc tích, giản dị, từ ngữ chắt lọc, dễ nhớ, dễ thực hiện; mỗi nhận định, đánh giá, nội dung bổ sung đều có căn cứ xác đáng, nhất là những luận điểm mới như vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Tất cả những điều đó chứng minh tính khoa học, khách quan của những đánh giá, các mục tiêu, nhiệm vụ trong Văn kiện Đại hội XIII.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đã, đang lớn tiếng cho rằng, đó chẳng qua chỉ là một lời hiệu triệu, một ước vọng hão huyền, vì nó chỉ có ý nghĩa hô hào, mang tính chất khẩu hiệu thuần túy, trong khi không xác định được những chủ trương, không định vị rõ lộ trình, không đề ra biện pháp cụ thể để hiện thực hóa khát vọng đó. Vì tính quy chụp, xảo ngôn đó, những luận điệu này đã thể hiện một “tư duy thiển cận”, phiến diện, siêu hình và về thực chất, chỉ là một cái nhìn đầy định kiến, “sặc mùi” cơ hội chính trị và phản khoa học.

Bởi lẽ, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không những xác định rõ các chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn, mà còn đề xuất phương hướng và hệ thống những giải pháp mang tính đồng bộ, khoa học, khả thi cao để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện sự sáng tạo trong tư duy lý luận của Đảng, mà còn là cơ sở khoa học, là bằng chứng hùng hồn để phản bác lại những quan điểm sai trái, cố tình bóp méo, xuyên tạc Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta.

Quyết tâm hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của dân tộc ta trong thời gian tới

Một là, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” đã được Văn kiện Đại hội XIII thể chế hóa thành các mục tiêu, chỉ tiêu, chương trình, kế hoạch cụ thể, với lộ trình và bước đi phù hợp với điều kiện thực tế.

Có thể nói, “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” vừa là động lực, vừa là mục tiêu chiến lược, cao đẹp, xuyên suốt và lâu dài của Đảng, của cả dân tộc ta. Tất nhiên, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đó không phải là công việc giản đơn, có thể hoàn thành trong “một sớm một chiều”. Nhưng quán triệt nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, kế thừa và bổ sung cho phù hợp với những biến đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và có sự nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước; đồng thời, trên cơ sở phân tích, dự báo kỹ lưỡng những thời cơ, tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong,... Văn kiện Đại hội XIII đã xác định khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không chỉ được thể hiện, thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, mà còn “hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới: Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(7). Và điều này cũng nhất quán với khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 10 khóa XII: Nói Đại hội XIII không phải chỉ cho đến năm 2026 (giai đoạn 2021 - 2026) mà phải có tầm nhìn chiến lược dài hơn, nhìn lại cả quá khứ và hướng tới tương lai.

Như vậy, việc thể chế hóa, cụ thể hóa “khát vọng phát triển đất nước” thành các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, chương trình hành động, kế hoạch, lộ trình thực hiện mang tính tổng thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta cũng như những diễn biến của tình hình thế giới,... là một trong những phương cách khả thi nhất để góp phần hiện thực hóa khát vọng này. Nếu mục tiêu, chỉ tiêu của từng thời kỳ, từng giai đoạn được thực hiện thắng lợi, thì sẽ trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu chiến lược, tức là hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đã được xác định.

Hai là, Văn kiện Đại hội XIII đã vạch ra định hướng và xác định hệ giải pháp cơ bản để hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc là cả một quá trình cải biến xã hội mang tính toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa sự chuyển hóa về lượng và biến đổi về chất,... của hệ thống các nhân tố tham gia. Nói cách khác, đó là sự nghiệp cách mạng to lớn, mặc dù rất vẻ vang nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách, nhiều cam go, phức tạp. Vì vậy, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp vĩ đại này, Văn kiện Đại hội XIII xác định phải huy động sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Theo đó, một mặt, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ, cần tăng cường tuyên truyền, giác ngộ, truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, với sự sinh động, phong phú, thiết thực và hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp khác nhau. Trọng tâm là “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(8). Chú trọng hun đúc tình cảm và bầu nhiệt huyết cách mạng, khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trách nhiệm công dân và nghĩa đồng bào của quần chúng nhân dân. Làm cho khát vọng phát triển đất nước trở thành niềm vinh dự, tự hào, phương châm, lẽ sống và hành động, là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Khơi dậy ở đội ngũ thanh niên Việt Nam tinh thần chủ động, dấn thân, xung kích, sáng tạo và lòng khát khao cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Đảng ta nhấn mạnh: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội”(9).

Mặt khác, Văn kiện Đại hội XIII còn nhấn mạnh tới việc cần chủ động tạo lập các yếu tố, điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi làm cơ sở, động lực để khơi dậy và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước ở mỗi con người Việt Nam. Bởi một điều dễ nhận thấy là, một khi mỗi người dân đã hiểu rõ được những gì họ cần làm để thể hiện lòng yêu nước, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước; thì khi đó, cần tạo những điều kiện, cơ chế, chính sách và môi trường thuận lợi cho mỗi người dân thể hiện lòng yêu nước của mình. Tức là, phải “Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”(10). Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, từng bước hoàn thiện các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp, để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tốt tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống, quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của người dân; giải quyết tốt vấn đề việc làm, thu nhập của người lao động.

Bên cạnh đó, cần thực hành triệt để dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực chất quyền làm chủ của nhân dân, coi trọng “ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(11). Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân trong tham gia vào các công việc chung của đất nước. Thực hiện đầy đủ, triệt để và thực chất phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đẩy lùi nạn tham nhũng, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đồng thời, thực hiện tốt đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước. Tạo lập và phát huy sức mạnh đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, cụ thể hóa phương thức biểu hiện “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” - một biện pháp mang tính đột phá của Văn kiện Đại hội XIII.

Trên thực tế, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc không phải là cái gì xa vời, khó hiểu, khó định lượng, bởi Văn kiện Đại hội XIII đã cụ thể hóa thành những phương thức biểu hiện rõ ràng, gắn với yêu cầu về hành động, việc làm thiết thực của mỗi người dân Việt Nam. Trong đó, từ góc độ kinh tế, khát vọng phát triển đất nước được thể hiện chủ yếu ở tinh thần vươn lên xóa bỏ cái “biệt danh” nước nghèo, chậm phát triển. Mặc dù công cuộc đổi mới đất nước sau hơn 35 năm của chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới; tuy nhiên, “dù đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế”(12). Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, khát vọng phát triển đất nước hiện nay chính là ý thức lao động hăng say và sáng tạo, nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng của mỗi người dân; nhất là sự cố gắng phấn đấu của thanh niên nước nhà “trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp”(13).

Từ góc độ chính trị - xã hộimột mặt, khát vọng phát triển đất nước là niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần lạc quan về tương lai tươi sáng của đất nước, tiền đồ tốt đẹp của dân tộc; khắc phục triệt để tâm lý tự ti, nhược tiểu. Kiên định, kiên trì, nhất quán mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao ý thức tự giác và gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó còn là tinh thần đoàn kết, kiên quyết đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu, cái bảo thủ trì trệ trong tư duy, suy nghĩ và cách làm; nghiêm khắc lên án, đấu tranh quyết liệt với các hiện tượng tiêu cực xã hội, nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bảo vệ sự trong sạch của bộ máy đảng và nhà nước.

Mặt khác, hiện nay hội nhập quốc tế đã trở thành một vấn đề có tính quy luật, là một tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia - dân tộc; do đó, để phát triển đất nước, tất yếu chúng ta phải mở cửa, hội nhập quốc tế. Mặc dù vậy, hội nhập quốc tế luôn chứa đựng cả thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen nhau. Vì thế, để tận dụng thời cơ, phát huy những yếu tố thuận lợi; khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải kiên định nguyên tắc chiến lược đi đôi với thực hiện sách lược mềm dẻo, linh hoạt trong hội nhập quốc tế; lấy phương châm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường làm chủ đạo; đồng thời, phát huy tối đa các nhân tố bên ngoài có lợi, tích cực, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế. Chúng ta hội nhập với thế giới để phát triển nhưng không để bị “hòa tan”, không “đánh mất mình”; trái lại, phải giữ vững nguyên tắc “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(14).

Từ góc độ khoa học và tri thức, đã như một chân lý - muốn đi xa, hành trang phải đầy đủ, vì vậy, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước rất cần những con người có tri thức, đủ năng lực và trình độ để thực hiện khát vọng đó. Đặc biệt, để phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực chủ động hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,... càng không thể thiếu vai trò to lớn, động lực then chốt của khoa học, công nghệ và tri thức. Do vậy, Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ, thế hệ trẻ nước nhà hiện nay cần thể hiện khát vọng phát triển đất nước của mình bằng hành động xung kích nơi “trận tuyến” tri thức, khoa học và công nghệ; dám nghĩ, dám làm, năng động, nhạy bén và sáng tạo, “làm chủ các kiến thức khoa học, công nghệ hiện đại”(15); đi tắt, đón đầu trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ của khoa học, công nghệ vào sản xuất, đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, giá thành hạ.

Văn kiện Đại hội XIII và quan điểm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng bao nhiêu thì lại càng vấp phải sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch bấy nhiêu. Việc các thế lực thù địch, phản động ra sức công kích, bài bác và phủ nhận Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn và giá trị của đường lối, chủ trương mà Đảng đã hoạch định, được nhân dân kỳ vọng, tin tưởng, ủng hộ, đồng tình./.

Về tính tất yếu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

 Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ là sự lắp ghép cái đuôi xã hội chủ nghĩa vào “cơ thể” kinh tế thị trường vốn có của chủ nghĩa tư bản(?!). Đó là kết hợp giữa “nước” và “lửa” nên là không thể(?!). Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là Việt Nam đang “âm thầm xoay trục” theo con đường tư bản chủ nghĩa(?!). Sự thật có phải như vậy không?

Đặc trưng, vai trò, tính tất yếu của “khâu trung gian” của sự phát triển tự nhiên, xã hội,...

Trong phép biện chứng của sự phát triển, “khâu trung gian” được coi là mắt khâu tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các giai đoạn phát triển trong cùng một sự vật, hiện tượng. Nhà triết học vĩ đại người Đức, Ph. Hê-ghen, cho rằng, các dạng khác nhau của tồn tại, đòi hỏi những dạng trung gian hóa của chính chúng, hoặc chứa đựng trong bản thân chúng những dạng ấy. Ph. Ăng-ghen cho rằng: “Phép biện chứng thừa nhận trong trường hợp cần thiết là bên cạnh cái “hoặc là... hoặc là” thì có cả cái này lẫn cái kia”, “thực hiện sự môi giới giữa các mặt đối lập”(1). Trong quá trình vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng, sự chuyển hóa từ sự vật này thành sự vật khác đều phải thông qua những “khâu trung gian”.

Đặc trưng của “khâu trung gian”, về mặt kết cấu, gồm những mặt, những bộ phận, những yếu tố, những quá trình khác nhau, đối lập nhau, cùng tồn tại đan xen với nhau, thâm nhập vào nhau, đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau. Trong đó, những nhân tố mới, tiến bộ bao giờ cũng đóng vai trò định hướng, chi phối, định hình sự vật mới, ngược lại, những nhân tố cũ sẽ dần trở thành bảo thủ, lạc hậu và chúng chỉ mất đi khi những điều kiện cho nó tồn tại không còn nữa. Chính vì sự đan xen tồn tại, đấu tranh với nhau giữa cái mới và cái cũ đã làm cho sự vật mới chiến thắng sự vật cũ rất khó khăn. Do vậy, ở trạng thái “trung gian” quá độ ấy, khuynh hướng phát triển của sự vật cũng trở nên phức tạp, thiếu ổn định, có cả sự tiến lên lẫn thụt lùi, cả sự tiến bộ lẫn thoái bộ, thậm chí sự vật còn “tròng trành, nghiêng ngả”, nhưng mang trong mình sức mạnh của tất yếu, cuối cùng cái mới sẽ chiến thắng hoàn toàn cái cũ.

“Khâu trung gian” có vai trò tất yếu trong quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, quá trình phủ định biện chứng và sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph. Ăng-ghen cho rằng: “tất cả các mặt đối lập đều thông qua những khâu trung gian mà chuyển hóa lẫn nhau”, “thực hiện sự môi giới của các mặt đối lập”(2). Điều đó cho thấy vai trò tất yếu của “khâu trung gian” là thực hiện được sự chuyển hóa từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, bằng cách “dung hợp” các mặt đối lập trong những hình thức nhất định. Do vậy, “khâu trung gian” đóng vai trò là những tiền đề, điều kiện làm “môi giới” cho sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập, thông qua đó mâu thuẫn được giải quyết. Quan điểm siêu hình thường tuyệt đối hóa sự đối lập giữa các mặt, cho nên trong khi tiến hành giải quyết mâu thuẫn, họ mưu toan muốn “thoát khỏi” tình trạng mâu thuẫn bằng cách vứt bỏ giản đơn một trong các mặt đối lập của mâu thuẫn, trong khi lại xem mặt kia như một chỉnh thể “phi” mâu thuẫn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không những vạch ra nguồn gốc, động lực của mâu thuẫn mà còn chỉ rõ vấn đề có tính quy luật trong quá trình giải quyết mâu thuẫn.

Xem xét vấn đề lý luận và phương pháp luận giải quyết mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), V.I. Lê-nin cho rằng cần phải học ở chủ nghĩa Mác cách “làm thế nào và khi nào có thể và cần phải kết hợp các mặt đối lập,... trong thực tiễn chúng ta đã nhiều lần thống nhất các mặt đối lập”(3). Vì vậy, nếu sự chuyển hóa của các mặt đối lập là phương thức để giải quyết mâu thuẫn của sự vật thì “khâu trung gian” là những điều kiện tất yếu để các mặt đối lập đấu tranh, chuyển hóa và giải quyết mâu thuẫn. Đây là vấn đề có ý nghĩa về lý luận và phương pháp luận rất lớn trong việc giải quyết các mâu thuẫn, nhất là các mâu thuẫn xã hội. 

Quá trình phủ định của phủ định, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, không phải là sự thay thế giản đơn cái này bằng cái khác mà phải thông qua những “vòng khâu” liên hệ, “vòng khâu” của sự phát triển, trong đó cái cũ và cái mới kết hợp với nhau, tác động vào nhau, vừa kế thừa, vừa phủ định để cuối cùng cái mới được khẳng định. Đối với mọi quá trình phủ định diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy, “khâu trung gian” đóng vai trò là cơ sở, là điều kiện để cái mới và cái cũ kết hợp với nhau, thâm nhập vào nhau, vừa kế thừa, vừa lọc bỏ, tạo nên khuynh hướng phát triển vừa tiến lên, vừa lặp lại thông qua vô số những lần phủ định.

Đối với quá trình chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, “khâu trung gian” cũng có vai trò quan trọng trong quá trình nhảy vọt về chất. Đó là một trạng thái tồn tại tất yếu của sự vật trong quá trình chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới, trong đó chất cũ và chất mới đan xen, thâm nhập vào nhau, đấu tranh với nhau, thông qua đó cái cũ bị lọc bỏ và chuyển hóa thành cái mới. Bất kỳ một hình thức nhảy vọt nào dù “đột biến” hay “dần dần” đều thông qua “khâu trung gian” để thực hiện bước quá độ từ chất cũ sang chất mới, “khâu trung gian là cơ sở, điều kiện tất yếu để bước nhảy vọt có thể xảy ra, không qua “khâu trung gian” thì nhảy vọt chỉ còn là một “phép lạ””.   

Sự tồn tại của “khâu trung gian” mang tính tất yếu và phổ biến trong sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Quá trình tiến hóa giống loài sinh vật luôn tồn tại những loài có đặc điểm của “khâu trung gian”. Trong lĩnh vực xã hội, biểu hiện của những “khâu trung gian” cũng vô cùng phổ biến. Trong tài liệu “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa” chuẩn bị cho viết tác phẩm Bản thảo kinh tế, C. Mác phân tích đặc điểm của các hình thức kinh tế quá độ trong lịch sử, như công xã nông thôn, phương thức sản xuất châu Á, kinh tế trang ấp phong kiến, kinh tế diêu dịch (ở Nga), kinh tế phường hội... và nhận xét rằng, về bản chất chúng có đặc điểm của “khâu trung gian” quá độ giữa hình thái kinh tế - xã hội trước lên hình thái kinh tế - xã hội sau. Trong lĩnh vực chính trị, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chỉ ra không ít những “khâu trung gian” quá độ như chế độ dân chủ chủ nô thời kỳ cổ đại, trong đó vừa chứa đựng những hình thức làm chủ cộng đồng của công xã tự quản và chế độ chủ nô quý tộc của chế độ nô lệ, kể cả chế độ chuyên chế phương Đông cũng được các ông coi là hình thức chính trị “trung gian” quá độ từ chế độ công xã tự quản lên chế độ quân chủ phong kiến.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin phân tích đặc biệt sâu sắc tính chất “khâu trung gian” trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản. Đó là thời kỳ mà trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội có sự đan xen tồn tại giữa những “mảnh đoạn” của xã hội cũ cùng với những yếu tố của xã hội mới đang ra đời nhưng còn non yếu, chúng kết hợp với nhau, thâm nhập vào nhau, đấu tranh với nhau, do đó, mọi hình thức phát triển đều mang đặc trưng, đặc điểm của cả xã hội cũ và xã hội mới. Về mặt kinh tế, còn nhiều hình thức tổ chức phù hợp với trình độ phát triển sản xuất, như V.I. Lê-nin chỉ rõ trong thời kỳ quá độ ở bất kỳ nước tư bản chủ nghĩa nào khi đi lên CNXH cũng gồm ba thành phần cơ bản: kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN), kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế hàng hóa nhỏ. Đặc biệt, đối với những nước tiền tư bản hoặc chủ nghĩa tư bản chưa phát triển thì cơ cấu kinh tế còn đa dạng, phức tạp hơn, bao gồm cả các thành phần kinh tế sản xuất nhỏ - tự cấp, tự túc. Về chính trị, sự tồn tại của các thành phần kinh tế quy định sự tồn tại của những lực lượng, giai cấp xã hội có lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau, vừa liên minh, vừa đấu tranh với nhau, vì thế trong thời kỳ quá độ, mâu thuẫn xã hội và đấu tranh giai cấp sẽ trở nên gay gắt và phức tạp hơn. Trong lĩnh vực ý thức xã hội, những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu và phản động của chế độ cũ chưa thể mất đi ngay mà còn tiếp tục cản trở sự ra đời của ý thức tư tưởng tiến bộ.

Trong những di sản lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, “chính sách kinh tế mới - NEP” có ý nghĩa về mặt lý luận và phương pháp luận rất quan trọng, đó không chỉ là phép biện chứng của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH mà còn là một “học thuyết” về nhận thức và vận dụng “khâu trung gian” để “bắc những chiếc cầu nhỏ” xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước để đi lên CNXH đối với những nước còn chưa đủ điều kiện chín muồi. Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, những người cộng sản Nga đứng đầu là V.I. Lê-nin đã thi hành chính sách “cộng sản thời chiến” để quá độ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nhưng sau một thời gian ngắn, chính sách ấy đã bộc lộ những hạn chế, sai lầm to lớn, đó là xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế và nền sản xuất hàng hóa để xác lập nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa, tiến hành tổ chức sản xuất và phân phối trực tiếp theo kế hoạch của chính quyền Xô-viết. Hậu quả là sản xuất đình đốn, đời sống xã hội cực kỳ khó khăn, CNXH đứng bên bờ vực sụp đổ. Thực chất chính sách kinh tế “cộng sản thời chiến” là mô hình kinh tế “quá độ” trực tiếp tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản, không qua những “khâu trung gian”, những hình thức quá độ. Và chính sách kinh tế mới là mô hình kinh tế quá độ, rốt cuộc đã được tìm ra từ những sai lầm về đường lối cách mạng chủ quan, duy ý chí. V.I. Lê-nin khẳng định dứt khoát rằng, không nghi ngờ gì nữa, một nước trong đó nền sản xuất tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thực hiện cách mạng XHCN bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở những nước tư bản phát triển. Áp dụng những biện pháp quá độ “đặc biệt” đó, nghĩa là phải nắm lấy những mắt xích trung gian, những bậc thang, những hình thức quá độ cụ thể để thực hiện sự “môi giới” giữa xã hội cũ và xã hội tương lai. V.I. Lê-nin cũng chỉ ra những hình thức kinh tế trung gian, quá độ như chủ nghĩa tư bản nhà nước, kinh tế hợp tác xã và các hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ... tạo thành nền kinh tế với nhiều thành phần; chủ trương khôi phục nền sản xuất hàng hóa, thương mại, cơ chế thị trường đi đôi với sự kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ của nhân dân và chính quyền Xô-viết. Đáng tiếc, sau khi V.I. Lê-nin mất, chính sách kiểu “cộng sản thời chiến” lại được duy trì, trở thành mô hình kinh tế chung của các nước XHCN. Lịch sử một lần nữa lặp lại sai lầm và dẫn tới sự khủng hoảng, đổ vỡ của hệ thống XHCN, và cũng một lần nữa “Chính sách kinh tế mới” của V.I. Lê-nin được kế thừa và phát triển trong điều kiện mới, đem lại sức phát triển mạnh mẽ và những thành tựu to lớn cho các nước XHCN, trong đó có nước ta. Phải chăng đây là vấn đề có tính quy luật?  

“Khâu trung gian” trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tính tất yếu của việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nước ta đi lên CNXH từ một nước nghèo, kém phát triển, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá nên thời kỳ quá độ sẽ rất lâu dài và khó khăn, phức tạp. Do chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc những đặc điểm của nước ta trong thời kỳ quá độ, nên trong một thời kỳ dài chúng ta đã phạm phải sai lầm, khuyết điểm, nóng vội xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế “phi” XHCN, hạn chế sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, đồng thời duy trì quá lâu mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp. Một trong những thành tựu có tính chất đột phá trong quá trình đổi mới của Đảng ta là phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Đó là kết quả của quá trình tìm tòi, đổi mới, sáng tạo, liên tục được bổ sung và phát triển trong nhận thức lý luận của Đảng và đã được kiểm nghiệm bởi những thành tựu rất to lớn trong thực tiễn hơn 35 năm đổi mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, KTTT định hướng XHCN “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(4).


Về mặt lý luận, quan niệm về phát triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta chính là kết quả của sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ và con đường đi lên CNXH, trong đó lý luận về “khâu trung gian” trong sự phát triển xã hội có ý nghĩa rất quan trọng về phương pháp luận trong nhận thức và vận dụng để xác lập mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta, phù hợp với quy luật lịch sử - tự nhiên.

Về mặt lịch sử, quá trình phát triển của các nền văn minh trên thế giới cho thấy sản xuất hàng hóa đã có mầm mống hình thành trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và phong kiến, nhưng chỉ đạt đến trình độ nền KTTT trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bản thân nền KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có những hình thức, trình độ phát triển khác nhau. Do tranh thủ được những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại mà chủ nghĩa tư bản ngày nay đã không ngừng hiện đại hóa lực lượng sản xuất và điều chỉnh quan hệ sản xuất, thúc đẩy quá trình xã hội hóa và toàn cầu hóa kinh tế, cho nên KTTT ở một số nước đã đạt tới trình độ hiện đại. Tuy nhiên, do bản chất của chủ nghĩa tư bản dù là loại thị trường nào cũng không thể loại bỏ được khuyết tật vốn có của nó, đó là tính tự phát, khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh đổ vỡ, về xã hội là sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo, khuyến khích chủ nghĩa thực dụng, chạy theo lợi ích cá nhân,... Mặc dù KTTT tư bản chủ nghĩa đã phát triển đến trình độ hiện đại nhưng trong khuôn khổ phương thức sản xuất và bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể nào khắc phục được những hạn chế vốn có của mình.      

Với tinh thần kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu CNXH, Đảng ta không ngừng tìm tòi, đổi mới con đường đi lên phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh thời đại ngày nay. Tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển nền KTTT định hướng XHCN sau 35 năm đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(5). Sự ra đời của KTTT dưới CNXH lúc đầu như là sự phủ định mô hình kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp nhưng trong quá trình đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về nền KTTT định hướng XHCN, phù hợp với quy luật khách quan và đã được thực tiễn kiểm nghiệm bằng những thành tựu to lớn sau 35 năm đổi mới. Có thể nói, những thành công không thể phủ nhận của mô hình KTTT định hướng XHCN đã có sức hấp dẫn và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước đã và đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng KTTT không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản mà nó là mô hình kinh tế tổng quát của nhiều chế độ xã hội khác nhau. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu KTTT, mặc dù chưa phải hoàn thiện, nhưng nó khác về bản chất với nền KTTT tư bản chủ nghĩa. Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, “Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối(6).

Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Về bản chất, đó là “khâu trung gian” trong sự phát triển kinh tế. Diễn đạt về tính chất “khâu trung gian” của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta đang trong thời kỳ quá độ)”(7). Với tư cách là “khâu trung gian”, KTTT định hướng XHCN ở nước ta có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, trong kết cấu của nền kinh tế có sự tồn tại đan xen của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, tiêu biểu cho các phương thức sản xuất của xã hội tư bản, tiền tư bản và CNXH. Trong đó, kinh tế nhà nước và chế độ công hữu mới được xác lập, đang trong quá trình phát triển để giữ vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế; kinh tế tư nhân vẫn còn là động lực quan trọng của nền kinh tế; trong điều kiện nền sản xuất nhỏ còn phổ biến, kinh tế hộ cá thể vẫn còn đóng vai trò nhất định, góp phần ổn định đời sống xã hội; ngoài ra, còn tồn tại những thành phần kinh tế hỗn hợp, kinh tế tập thể, hợp tác xã... Sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường là một đặc trưng khách quan của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ.

Sản xuất công tơ điện tử thông minh tại Công ty Công nghệ thông tin điện lực miền Trung, Tổng Công ty Điện lực miền Trung _Ảnh: TTXVN

Hai là, trong nền KTTT các thành phần kinh tế luôn tác động qua lại, thâm nhập vào nhau để chuyển hóa. Trong nền kinh tế của nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế tác động qua lại, thâm nhập vào nhau, từ đó mà hình thành các hình thức kinh tế hỗn hợp mang tính chất “trung gian” quá độ. Ngay cả các thành phần kinh tế cơ bản, đại diện cho phương thức sản xuất mới XHCN cũng chưa thể tồn tại độc lập mà chịu sự tác động của các thành phần kinh tế khác, đồng thời nó cũng thâm nhập vào quan hệ sản xuất, chi phối các thành phần kinh tế khác. Do vậy, có thể coi mọi loại hình kinh tế, mọi thành phần kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta đều là những hình thức “trung gian”, quá độ. V.I. Lê-nin coi những hình thức kinh tế quá độ được tạo ra từ sự tác động qua lại, thâm nhập của các thành phần kinh tế là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Ông cho rằng, nó là cái gì có tính chất tập trung, được kiểm soát và được xã hội hóa, cho nên chủ nghĩa tư bản nhà nước là nấc thang tất yếu chuyển nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa và từ sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa lên CNXH, và đó là “phòng chờ” để đi lên CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nó và CNXH không còn nấc thang nào ở giữa cả.

Ba là, bản thân các hình thức kinh tế “trung gian” quá độ tồn tại trong các mối quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội, chịu sự tác động của các nhân tố khách quan, chủ quan, tự phát, tự giác, bên trong và bên ngoài..., những nhân tố đó quy định khuynh hướng vận động, phát triển khác nhau của nền KTTT. Đóng vai trò định hướng và định hình phương thức sản xuất XHCN đối với các hình thức kinh tế quá độ trước hết là nhân tố thuộc nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước XHCN. Bản chất XHCN trong nền KTTT là “phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”(8). Cùng với những nhân tố chính trị, vai trò định hướng XHCN đối với nền KTTT ở nước ta còn được thực hiện thông qua kinh tế nhà nước. Vai trò định hướng và định hình của kinh tế nhà nước không chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước mà còn bằng các nguồn lực kinh tế nhà nước, được sử dụng để thâm nhập vào các thành phần kinh tế khác, làm công cụ đòn bẩy, điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, thông qua đó, từng bước định hình phương thức sản xuất mới tiến bộ. Mặt khác, nền KTTT trong thời kỳ quá độ của nước ta đang trong quá trình định hình nên còn chịu sự tác động, cản trở của “mặt trái”, tính tự phát, bảo thủ của các nhân tố cũ, kể cả những sai lầm chủ quan có thể mắc phải trong lãnh đạo, quản lý. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi khuynh hướng vận động của nền KTTT định hướng XHCN vẫn còn gặp phải những khó khăn, trắc trở, thậm chí còn vấp phải sự khủng hoảng, suy thoái nhất thời. Tuy nhiên, đó là những “đau đớn” tạm thời khó tránh khỏi của sự “sinh nở” một phương thức sản xuất mới mà vai trò “bà đỡ” là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Như vậy, lý luận về “khâu trung gian” và phép biện chứng của thời kỳ quá độ cho chúng ta những luận cứ xác đáng để kiên quyết bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về nền KTTT định hướng XHCN. Đồng thời, qua đây chúng ta càng nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn, để tiếp tục kiên định và quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nền KTTT định hướng XHCN và con đường đi lên CNXH do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo./.

“CHÍNH NGHĨA” ĐÁNH DINH ĐỘC LẬP

 


Sinh ra và lớn lên tại một vùng quê thuộc xã Nhuận Đức (huyện Củ Chi, TP HCM), cô bé có cái tên Vũ Minh Nghĩa thường được mọi người gọi với biệt danh là Chính Nghĩa. Lớn lên trong thời kỳ đất nước đang phải chịu cảnh bom đạn, Chính Nghĩa sớm đã hiểu biết và có cảm tình với Cách mạng.

Là cô con gái thứ 7 trong số 8 anh chị em trong gia đình, Chính Nghĩa luôn thể hiện là một cô bé hoạt bát, linh động, năng nổ tham gia các phong trào. Vào những năm 1959-1960, khi vùng đất thép anh hùng Củ Chi đang dấy lên phong trào Đồng Khởi, Chính Nghĩa được các cô chú cán bộ giao cho công việc liên lạc trong các cuộc biểu tình, đấu tranh chính trị tại địa phương. Thấu hiểu được nỗi khổ của người dân bị giặc đàn áp, bóc lột, lại nghe mẹ kể về cái chết của cha, Chính Nghĩa căm thù giặc cướp nước và khao khát được tự tay cầm súng giết giặc, cùng đồng bào giải phóng quê hương mình.

Năm 1964, người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Trỗi bị chính quyền Mỹ ngụy đưa ra xử bắn sau khi đặt mìn ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara không thành, từ đó, lòng yêu nước và ý chí theo Cách mạng trong Chính Nghĩa tăng lên gấp bội. “Khi anh Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra tử hình, tôi có suy nghĩ là mình phải làm sao để được ở trong đơn vị hoạt động như anh Trỗi, được chính tay cầm súng để đi giết giặc. Từ đó, tôi quyết tâm theo Cách mạng, mong muốn tòng quân để trả thù cho anh Trỗi”, bà Chính Nghĩa nhớ lại một thời hào hùng của tuổi trẻ. Cơ hội đến với Chính Nghĩa vào năm 1965, khi Đội 5, biệt động Sài Gòn về vùng đất Củ Chi để hoạt động và tìm kiếm một cô gái dũng cảm tham gia vào đội. Bằng sự thông minh, bản lĩnh của mình, Chính Nghĩa được mọi người giới thiệu tham gia đơn vị. Ngày 15/4/1965, Chính Nghĩa chính thức trở thành nữ biệt động Sài Gòn dưới sự chỉ huy của đội trưởng Nguyễn Thanh Xuân (bí danh Bảy Bê). Sau lớp học trinh sát thực địa, bà Nghĩa được tổ chức phân công làm giao liên giữa nội thành Sài Gòn và vùng căn cứ Củ Chi. Đến năm 1966, Chính Nghĩa được kết nạp vào Đảng.

Trận đánh Dinh Độc Lập tết Mậu Thân 1968 chỉ duy nhất có Chính Nghĩa là nữ Gia nhập lực lượng biệt động thành với mong muốn được cầm súng chiến đấu, nhưng suốt nhiều năm liền sau đó, Chính Nghĩa chỉ được giao làm giao liên, vận chuyển vũ khí, đưa thư từ… và chưa lúc nào được cầm súng chiến đấu. “Hồi đó, thấy mấy anh cầm súng đi đánh, mình nhìn hăng say lắm. Cứ mỗi lần tới trận đánh là xin mấy anh đi đánh hoài mà không được nên tức lắm. Nhiều lần làm bộ giận mà vẫn không được cầm súng đánh”, bà Chính Nghĩa kể lại với thái độ vui vẻ. Đến cuối năm 1967, cơ sở của Đội biệt động 5 bị lộ, nhiều đồng đội của bà Nghĩa bị bắt, trong đó có cả Đội trưởng Bảy Bê. Chỉ huy của biệt động Sài Gòn điều một số người ở các đơn vị khác qua lập ra một đơn vị biệt động 5 mới do ông Tô Hoài Thanh (bí danh Ba Thanh) làm chỉ huy trưởng. Đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968, sau khi đơn vị cùng nhau chúc tết, họp mặt, Chính Nghĩa và anh em trong đơn vị nai nịt gọn gàng, sẵn sàng nhận nhiệm vụ cùng Biệt động sài Gòn tổng tiến công giết giặc. Cũng trong thời khắc ấy, Chính Nghĩa và các đồng đội ngỡ ngàng khi đội trưởng Ba Thanh thông báo Đội 5 sẽ đánh vào Dinh Độc Lập. Dù biết nhiệm vụ là vô cùng khó khăn, lại bị thay đổi đột ngột, nhưng ai cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Lúc này, đội trưởng Ba Thanh quay qua giao nhiệm vụ và hỏi thăm tinh thần của Chính Nghĩa rằng có mong muốn gì không? Trước câu hỏi này, Chính Nghĩa trả lời dõng dạc và quyết tâm: “Dù phụ nữ tay yếu chân mềm, nhưng được Đảng và Nhà nước giao phó, em sẽ hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng là người con của quê hương Củ Chi”. Khoảng 1h30 mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, đội biệt động 15 người trên ba xe tải nhỏ và hai chiếc Honda xuất phát từ hai hướng tiến thẳng vào dinh Độc Lập, chỉ duy nhất một cô gái trẻ Chính Nghĩa được tham gia trận đánh. Xe tải đi đầu mang khối thuốc nổ gần 200kg có nhiệm vụ phá cổng nhưng khối thuốc không nổ. Lực lượng phòng vệ của quân đội Mỹ, chính quyền Sài Gòn sau phút hoảng loạn đã bắn trả dữ dội, 5 người hi sinh tại chỗ. Bên ngoài, 3 xe của quân Mỹ chạy đến tiếp viện bị các chiến sĩ biệt động Sài Gòn tiêu diệt. Suốt nhiều giờ liền anh dũng chiến đấu với quân địch, đội 5 thêm 2 chiến sĩ nữa hy sinh, trong đó có Đội trưởng Ba Thanh. “Anh Ba Thanh nói được mấy câu thì tắt thở trên vai tôi. Tôi nghẹn ngào không nói được lời nào. Tôi chết lặng vì nghĩ rằng mình làm nhiệm vụ cứu thương mà không có thuốc để cứu Thủ trưởng”, nói đến đây, đôi mắt bà Chính Nghĩa rưng rưng khi nhớ lại những ký ức đau thương. Sau khi Đội trưởng Ba Thanh hy sinh, 8 người còn lại vẫn cố gắng chiến đấu đến gần sáng và hy vọng sẽ có quân đến chi viện. Sau nhiều giờ chờ đợi, vẫn chưa có chuyển biến tốt, Chính Nghĩa cùng các đồng đội còn lại rút vào một cao ốc đang xây dở cạnh đó tiếp tục cố thủ.

“Trận đánh rất gian nan, tương quan lực lượng giữa ta và địch rất lớn. Một phần do chủ quan rằng sẽ có chi viện. Sau này mới biết, kế hoạch của mình bị lộ. Trước khi nổ súng, các cánh quân chi viện đều bị chặn hết”, Chính Nghĩa nhớ lại. Suốt một ngày, vừa đói vừa khát, thời tiết lại lạnh xé da xé thịt nhưng các chiến sĩ vẫn cương quyết không đầu hàng. Trong lúc ẩn nấp, để bảo đảm an toàn cho đồng đội, một chiến sĩ nữa đã hy sinh.

Khoảng 4h sáng mùng 3 tết, quân địch bao vây, tập trung lực lượng, kêu gọi đầu hàng. Lúc này, 7 người còn sống sót chui qua những lỗ hổng trên tường cao ốc trèo xuống, bí mật đi qua nhiều mái nhà và sau đó chọn một mái ngói leo xuống một gia đình trên đường Thủ Khoa Huân. Truy theo dấu máu, quân địch phát hiện ra nơi ẩn nấp của bà Chính Nghĩa và đồng đội. Sau đó, tất cả đều bị bao vây và bắt giữ, tra tấn dã man nhưng không ai khai nửa lời. Chính Nghĩa và các đồng đội đã lần lượt bị đày giam tại các nhà tù Tổng nha Cảnh sát, Thủ Đức, Biên Hòa, Chí Hòa và cuối cùng là nhà tù Côn Đảo.

Sau Hiệp định Paris, chính quyền Sài Gòn buộc phải trao trả tù binh. Ðầu năm 1974, bà Nghĩa trở về đất liền, tiếp tục tham gia cách mạng với nhiệm vụ quân báo. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, bà cùng đồng đội từ Trảng Bàng tiến đánh các khu quân sự Củ Chi rồi tiến về thành phố. Ðến 11 giờ 30 phút ngày 30-4, khi đến chợ Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, cách Dinh Ðộc Lập 10 km, bà nghe trên đài phát thanh Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Mọi nẻo đường tiến đánh về Dinh Ðộc Lập đã kết thúc. Niềm vui như vỡ òa với chiến thắng của cả dân tộc. Mỗi lần nghĩ về những đồng đội của mình, bà Nghĩa và những chiến sĩ đội biệt động vẫn tự hào: "Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ". Sau 1975, bà chuyển ngành rồi trở về hoạt động tại địa phương. Hiện bà cùng gia đình ở tại phường 6, quận Gò Vấp.

Nguồn: Đời sống&Pháp lý

TRƯỜNG TỒN

 

ảnh bà chính.jpg

Ảnh: Bà Chính Nghĩa lúc 19 tuổi.

 

 

 

TỰ CHỦ, GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

 


Đã qua nhiều thế hệ, bao nhiêu công sức và sự hy sinh nhằm gìn giữ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, Việt Nam là quốc gia độc lập, có đường lối ngoại giao độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào khác, ngoại giao của Việt Nam luôn lấy độc lập dân tộc, lợi ích dân tộc là cái bất biến, để dĩ vạn biến, linh hoạt, quyết đoán.

Gần đây, Trung Quốc thông báo thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và “quận Nam Sa” (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam) tại “thành phố Tam Sa. Ngày 19/4 Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, phát biểu: "Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập trường nhất quán của Việt Nam là phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” và các hành vi có liên quan vì đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không có giá trị và không được công nhận, không có lợi cho quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia và gây thêm phức tạp tình hình Biển Đông, khu vực và thế giới. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, hủy bỏ các quyết định sai trái liên quan đến những việc làm đó và không có những việc làm tương tự trong tương lai".

Bộ Ngoại giao Mỹ đã có các tuyên bố về các hành động phi pháp của Trung Quốc tại Biển Đông, trong đó phía Mỹ nhắc đến hai trường hợp, một là trường hợp tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam, hai là trường hợp Trung Quốc đặt trạm nghiên cứu trái phép tại Hoàng Sa. Một số người đã đưa ra quan điểm rằng: “Kẻ thù của kẻ thù là bạn”, ở đây, trong góc nhìn của một số người Việt, Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù và ngược lại, nếu theo lý thuyết trên, Mỹ hoàn toàn có thể là một người bạn của Việt Nam trong cuộc chiến đấu đòi lại chủ quyền lãnh thổ. Thực tế, phía Mỹ đưa ra tuyên bố như vậy, không hề khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, phía Mỹ đã lồng ghép khéo léo yếu tố “gây bất lợi cho các nước Đông Nam Á”, có mục đích ngầm khẳng định rằng đây là vùng biển “tranh chấp quốc tế”, tuyên bố như vậy tức là đã phủ quyết chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại hai quần đảo này.

Chúng ta, cần phải hiểu biết sâu sắc rằng, chỉ có bằng thực lực của chính chúng ta, đấu tranh trên mọi lĩnh vực, nhất là đấu tranh ngoại giao và tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới, linh hoạt, không phụ thuộc vào bất kỳ nước lớn nào, đó là quan điểm giữ vững mục tiêu chủ quyền của chúng ta ở biển đông.

Đề phòng với luận điệu bẻ cong lịch sử

 


Năm 1943, khi lãnh đạo quân dân Liên Xô giành được chiến thắng vang dội phá tan vòng vây phát xít Đức để chuyển sang phản công, Cố lãnh tụ của Liên Xô, J.Stalin đã tiên đoán: “Tôi biết là sau khi tôi chết sẽ có nhiều kẻ mang rác đến đổ trên mộ tôi, nhưng những cơn gió của lịch sử sẽ thổi bay những đống rác rưởi đó một cách không thương tiếc.”

Quả thật lời tiên liệu năm xưa của Stalin đã đúng, sau khi ông mất, nhiều kẻ trơ trẽn và đê hèn đang bắt đầu xét lại lịch sử. Xuất hiện nhan nhản các bài viết bẩn từ truyền thông Mỹ và phương Tây xét lại Stalin, ban đầu là nghi vấn, dần dần chuyển sang quy tội và hắt nước bẩn lên người anh hùng – vị cứu tinh của nhân dân thế giới. Stalin đang nhiều bạn trẻ Việt gắn với hình tượng một kẻ độc tài, bạo tàn và khát máu.

Việc xét lại lịch sử, đạp đổ tượng đài, bẻ cong sự thật là hành vi phi đạo đức và mất nhân tính. Nếu như ở Việt nam có không ít page/group như Vietnam War đang âm thầm làm điều này thì ở trên trường thế giới, lịch sử Thế chiến II đã bị truyền thông Mỹ và phương Tây đổi trắng thành đen, đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, nhồi sọ các thế hệ sau thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ, biến Liên Xô thành một bên gây chiến.

Hồi tháng 1/2015, Văn phòng báo chí Điện Kremlin dẫn lời Tổng thống Vladimir Putin tuyên bố: “Bất kỳ nỗ lực nào nhằm viết lại lịch sử và xem xét lại đóng góp của chúng tôi (Liên bang Nga) đối với chiến thắng vĩ đại (trong chiến tranh thế giới thứ hai) đều đồng nghĩa công nhận tội ác của chủ nghĩa phát xít Đức, đồng thời mở đường cho tư tưởng chết người này tồn tại”.

Tổng thống Nga Putin nhấn mạnh, chính Hồng quân Liên Xô đã cứu người Do Thái và nhiều người khác trên thế giới thoát khỏi sự hủy diệt tàn nhẫn của Đức Quốc xã. Thế nhưng, hiện giờ Liên Xô chẳng những dần bị phủ nhận công lao, thậm chí họ còn bị quy tội từng móc ngoặc với Đức, và là nguyên nhân trực tiếp gây ra chiến tranh thế giới thứ II.

Và chẳng những Stalin, mà tất cả những tượng đài lịch sử, những anh hùng lừng lẫy dần bị xét lại. Tượng Lenin bị giật đổ ở Ukaraina trong cuộc cách mạng màu Maidan. Hay như mới đây, lợi dụng lệnh cách ly không có dân chúng ngoài đường để phát hiện và bảo vệ, ngày 4/4/2020 chính quyền quận 6 Praha, Cộng hoà Séc đã lén lút cho dỡ bỏ tượng Nguyên soái Liên Xô Konev, người đã chỉ huy giải phóng Tiệp Khắc và các trại tập trung kinh hoàng của phát xít Đức...

          Nhìn lại đất nước Liên Xô cũ, những hồng quân đã đổ máu để làm nên lịch sử, cứu giúp nhân loại khỏi chế độ phát xít, lịch sử sẽ luôn ghi nhớ. Vậy nên, đừng bao giờ đạp đổ lịch sử hãy vì Tổ quốc, vì nhân loại./.

TRƯỜNG TỒN