Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2022

Ai đổ máu giữ biển đảo đều được Tổ quốc tri ân: Chúng ta là con đất Việt

 

Ai đổ máu giữ biển đảo đều được Tổ quốc tri ân: Chúng ta là con đất Việt

Chuyến đi của Thủ tướng gửi đi thông điệp đến đồng bào cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài rằng Đảng, Nhà nước không bao giờ quên ơn những tấm gương hy sinh to lớn của các liệt sĩ tại đảo đá Gạc Ma cũng như trên tất cả các vùng biển thân yêu của Tổ quốc.

Đồng thời, đây cũng là sự thể hiện quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng, toàn dân quyết không để bất kỳ thế lực nào có ý đồ xâm lược nước ta.

Trong quá trình bảo vệ từng tất đất biên giới và hải đảo suốt chiều dài lịch sử đầy phức tạp của đất nước, có lẽ chúng ta cũng cần tôn trọng và ghi nhận, tri ân với cả những người đã ngã xuống trong các trận hải chiến khác cùng với mục đích bảo vệ biển, đảo.

Trong lịch sử hiện đại, hẳn chúng ta vẫn còn nhớ 48 năm về trước, khi hai miền Nam - Bắc còn bị chia cắt, ngày 19/1/1974, 75 sĩ quan và binh sĩ của Hải quân thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống tại cuộc hải chiến Hoàng Sa với quân đội Trung Quốc. 

Còn nhớ ông Đặng Ngọc Tùng khi còn giữ cương vị ủy viên Trung ương Đảng khoá 11, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã khởi xướng trong lực lượng công nhân viên chức cả nước, các tổ chức và doanh nghiệp đóng góp kinh phí xây dựng 2 công trình tưởng niệm những người lính, dù họ từng ở phía nào trong quá khứ của một quốc gia bị chia cắt, từng đối lập nhau nhưng đều từng đổ máu chiến đấu bảo vệ chủ quyển biển đảo Việt Nam. 

Đến nay, như ta đã biết, “Khu cụm tượng đài tưởng niệm các liệt sỹ Gạc Ma” đã được xây dựng và hoàn thành ở Cam Ranh, Khánh Hòa. 

Còn “Khu tưởng niệm nghĩa sỹ Hoàng Sa”, dù thiết kế đã được tổ chức thi tuyển quốc gia công phu, được Nhà nước cấp cho 2ha đất ở vị trí lý tưởng trên đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi nhưng chưa hoàn thành. Ông Tùng cũng đã huy động tài trợ cùng người lao động đóng góp được trên 130 tỷ đồng cho dự toán chi phí 2 cụm công trình. 

Công trình đó đã được trang trọng đặt viên gạch khởi công vào đúng ngày kỷ niệm 42 năm cuộc hải chiến Hoàng Sa (19/1/2016). 

Chúng ta nên tiếp tục xây dựng như đúng thiết kế kiến trúc đã được phê duyệt ngày nào công trình trên đảo Lý Sơn để tưởng niệm những người lính đã tham gia trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974.  

Giang sơn đất nước đã thu về một mối và hoà bình, thống nhất đã giành được từ năm 1975. Không có lẽ nào một công trình còn lại vẫn chưa hoàn thành dù chúng ta đã đặt móng viên gạch từ ngày 19/1/2016. 

Có một chuyện tôi muốn kể lại dưới đây để mọi người cùng thấy rằng, có những chuyện tế nhị xung quanh vấn đề hoà giải và hoà hợp dân tộc tưởng như rất khó nhưng rồi chúng ta đã làm được sau 30 năm.

Tôi có dịp gặp tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tại Hà Nội từ ngay lần đầu ông đặt chân về thăm quê hương (năm 2004). Hôm đó, bất chợt tôi nhận được cú điện thoại của ông Đào Hồng Tuyển, “chúa Đảo Tuần Châu”.

Ông Tuyển hẹn tôi đến gặp vì “có chút việc cần trao đổi gấp”. Thì ra đó là do hôm trước, báo Thanh niên nơi tôi công tác đăng trả lời phỏng vấn của ông Kỳ có đôi chút gợn khiến cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ tự ái. Ông Tuyển muốn làm cầu nối để ông Kỳ và người của báo gặp nhau tìm cách tháo "ngòi nổ" sớm nhất có thể... 

Tôi rất bất ngờ vì không biết trước có ông Nguyễn Cao Kỳ ngồi đó. Ông Kỳ vốn là người nói không bóng bẩy mà cứ thẳng băng nên chúng tôi có dịp trao đổi rất thẳng thắn.

Ông Nguyễn Cao Kỳ cho biết: “Mấy tháng trước, ông thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam sang Mỹ có gặp tôi, cùng đánh golf, ăn cơm. Ông ấy nói rằng chủ trương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước muốn người Việt Nam cả trong lẫn ngoài cùng nhau xây dựng đất nước. Thế thì tôi về. Thành thực mà nói, tôi cũng đã 75 tuổi rồi, chẳng còn tham vọng gì. Tôi chẳng đặt vấn đề vinh nhục, thắng thua gì nữa, tôi muốn bỏ dĩ vãng đi.

Nếu mình thành thực muốn phục vụ đất nước thì phải hướng tới tương lai. Cả trăm ngàn người Việt đã về nước nhưng tôi là người mà dư luận ở hải ngoại quan tâm nhất. Vậy thì có lẽ tên tuổi tôi vẫn còn một chút gì để cho người ta chú ý. Ý thức được điều ấy nên tôi nghĩ phải làm việc gì đó cho quê hương".

Ngay từ năm 2006, ông Nguyễn Cao Kỳ đã viết một lá thư tâm huyết gửi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về việc nên sớm gỡ bỏ hạn chế chuyện chăm nom tu sửa mộ phần của nghĩa trang quân nhân Việt Nam Cộng hòa, xem đây như một nghĩa trang dân sự. Chính từ lá thư nói trên, sau 1 năm, việc này được Nhà nước ta mở cửa bình thường, tạo nên tâm lý hoan hỉ cho người dân, tránh đi mặc cảm rất không đáng có.

Thế mới biết, việc đi tới hoà giải và hòa hợp dân tộc của người dân nước Việt cũng phải có cả một thời gian rất dài.

Một dân tộc muốn đi xa, muốn xoá bỏ hận thù, đoàn kết lại, yêu thương nhau để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia thật bền vững là khát vọng lớn của bao đời nay. Từ đó, chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng một quốc gia phồn vinh, năng động. Đó cũng chính là trách nhiệm của mỗi người Việt Nam yêu nước hôm nay. Thế hệ trước đã làm nhưng còn dang dở thì hôm nay, hậu thế sẽ có trách nhiệm làm tiếp để đi đến thành công.

 

BẢO VỆ LỢI ÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY


          Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và gay gắt hơn. Xu hướng đề cao sự tương đồng lợi ích đóng vai trò chi phối; tính đối tác, đối tượng trong quan hệ quốc tế đan xen, chuyển hóa linh hoạt, trên từng lĩnh vực cụ thể: “Tình hình tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh lợi ích giữa các nước diễn ra phức tạp, vừa mang lại cơ hội, vừa đặt các nước khác, nhất là các nước vừa và nhỏ trước nhiều khó khăn, thách thức. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế”. Các nước ngày càng có xu hướng thực dụng trong chính sách đối ngoại vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Lịch sử quan hệ giữa các quốc gia đã chứng minh, lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cơ bản và nhân tố quyết định trong việc hoạch định chính sách đối ngoại. Vì lợi ích của quốc gia - dân tộc mình, các nước lớn có thể thương lượng, điều hòa lợi ích với nhau bằng cách “bật đèn xanh” hay làm ngơ cho những hành động xâm lấn bằng các hình thức, thậm chí dùng sức mạnh kinh tế, quân sự... bất chấp luật pháp quốc tế tiến hành xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước... khiến luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.

          Trong một số trường hợp, vì lợi ích trước mắt hoặc lâu dài của mình, nhiều nước không chỉ im lặng không lên án, phản đối hành động sai trái, mà còn lên tiếng ủng hộ những hành động sai trái, vi phạm luật pháp quốc tế... Trong giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị của thế giới, khu vực, một số nước đã thay đổi lập trường, quan điểm từ đồng thuận, ủng hộ sang quan điểm trung dung, im lặng và thậm chí là đối lập, từ đó làm thay đổi cục diện trong tương quan so sánh lực lượng, đẩy nước khác vào thế bị động, bất ngờ và bị cô lập. Đặc biệt nguy hiểm hơn là các nước lớn có thể biến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước nhỏ trở thành “vật trao đổi” lợi ích của họ trong bàn cờ chính trị thế giới... hoặc sử dụng tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự vượt trội, tiến hành các hoạt động chèn ép về kinh tế, chính trị, ngoại giao, răn đe về quân sự, thậm chí là ngang nhiên, trắng trợn xâm lấn biên giới, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước khác, bất chấp luật pháp quốc tế.

          Ở trong nước, các thế lực thù địch tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đặc biệt nguy hiểm là, các thế lực phản động ở trong nước móc nối với lực lượng phản động, thù địch ở ngoài nước lựa chọn các phần tử cực đoan để xây dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, tiến hành các hoạt động chống phá, mưu toan gây mất đoàn kết giữa các dân tộc; tạo ra các “điểm nóng”, gây ra các vụ bạo loạn, để lực lượng phản động, thù địch ở nước ngoài can thiệp, hòng lật đổ chế độ; đòi ly khai, tự trị, đòi thành lập các thực thể riêng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước, như cái gọi là: “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc...; gia tăng lợi dụng quá trình cải cách thể chế, pháp luật, thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam để từng bước tác động chuyển hóa, can thiệp công việc nội bộ của nước ta, thông qua việc câu kết với các đối tượng trong nước chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, nhằm từng bước thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam. Các vấn đề này trực tiếp đe dọa đến an ninh quốc gia và lợi ích quốc gia - dân tộc

          Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước, cần tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

          Một là, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước phải gắn chặt với bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế.

          Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước phải được thực hiện trên tinh thần độc lập, tự chủ. Việt Nam luôn nhất quán quan điểm không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, căn cứ vào tình hình, điều kiện cụ thể, “Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng được thực hiện theo phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình (đàm phán, trọng tài, tòa án quốc tế...) trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích chiến lược của đất nước gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Kêu gọi sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên tinh thần luật pháp quốc tế.

          Trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục đẩy mạnh, không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu mối quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước không chỉ sử dụng thuần túy sức mạnh nội sinh của quốc gia - dân tộc, mà cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong đó, sức mạnh quốc tế chỉ được phát huy cao độ khi Việt Nam đứng vững trên lập trường chính nghĩa, dựa trên luật pháp quốc tế, phù hợp với giá trị chung mà nhân loại cùng quan tâm, như: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích chiến lược của đất nước phù hợp với luật pháp quốc tế; phát huy vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới; mở rộng hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực, quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “đẩy mạnh đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững, tăng cường đan xen lợi ích; xử lý linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn”.

          Sử dụng hiệu quả các biện pháp chính trị ngoại giao tại khoản 1, Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc: “Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình”. Đồng thuận, nhất quán với quan điểm đó, nhân kỷ niệm 53 năm Ngày thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (8-8-1967 - 8-8-2020), Bộ trưởng Ngoại giao của 10 nước ASEAN đã ra Tuyên bố về việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á: “Kêu gọi tất cả các nước kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình, ổn định, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực và giải quyết các khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Tôn trọng luật pháp quốc tế là cách thức hữu hiệu nhằm ngăn ngừa xung đột cũng như tìm kiếm những giải pháp lâu bền cho tranh chấp, xung đột. Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục ủng hộ mọi nỗ lực thực hiện các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, từ thương lượng, hòa giải tới việc sử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế. Tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

          Hai là, mềm dẻo, linh hoạt, kiên trì, kiên quyết trong giải quyết mối quan hệ với các nước, tổ chức quốc tế vì lợi ích chiến lược của đất nước.

          Tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực đang có sự thay đổi dẫn đến sự điều chỉnh chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, tập hợp lực lượng xung quanh các nước lớn và trật tự khu vực đang diễn ra quyết liệt, khó lường. Việt Nam, với vị thế địa - chính trị của mình cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy của thay đổi tương quan lực lượng và điều chỉnh chính sách của các nước lớn trong khu vực, đòi hỏi cũng phải có sự điều chỉnh chính sách, nhất là chính sách đối ngoại để thực hiện được mục tiêu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước theo phương châm: Kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế: “Thúc đẩy việc tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và phổ quát của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế, nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị - xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước... bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, bác bỏ hành vi cường quyền, áp đặt, gây căng thẳng và thù địch trong quan hệ quốc tế”.

          Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam cần chủ động tranh thủ, khai thác có hiệu quả những điểm tương đồng, tạo dựng mặt đồng thuận, hạn chế, khắc chế mặt bất đồng với những tác hại đến lợi ích chiến lược của đất nước. Coi trọng và xử lý đúng đắn, linh hoạt, hài hòa quan hệ giữa các nước, nhất là các nước lớn, các nước có chung đường biên giới, các nước láng giềng, các tổ chức khu vực và quốc tế dựa trên vị trí địa chiến lược, lợi ích chiến lược của đất nước. Thực hiện tốt các trọng trách quốc tế, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ hợp tác ở châu Á - Thái Bình Dương; chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh và phát triển bền vững. Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, các đảng cầm quyền ở các nước và những tổ chức, phong trào tiến bộ khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ chế, diễn đàn đa phương trong khu vực và trên thế giới. Chủ động đẩy mạnh hợp tác theo hướng thiện chí, minh bạch, tăng cường xây dựng lòng tin với các đối tác. Trong đó, cần khéo léo, không để hiểu lầm Việt Nam “bắt tay” với nước này chống nước kia, gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.

          Bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó đoán định. Do đó, cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo toàn diện tình hình và xu thế phát triển trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối ngoại, khoa học - công nghệ, quân sự... của quốc tế, khu vực, các nước lớn, các nước ở Đông Nam Á; thực trạng và xu hướng phát triển mối quan hệ giữa các nước lớn, các nước Đông Nam Á, các nước có nhiều lợi ích liên quan đối với Việt Nam. Nhận diện kịp thời, đúng đắn, thực chất mối quan hệ, sự thỏa thuận hoặc mâu thuẫn, thống nhất giữa các nước lớn với các nước ở khu vực trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực liên quan đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc lớn (chủ nghĩa sô-vanh mới), chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân tộc ly khai và chủ nghĩa dân tộc biệt lập.

          Đấu tranh, phê phán các quan điểm sai lầm, phản động trong việc tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia - dân tộc mình, xem nhẹ lợi ích của quốc gia - dân tộc khác, lảng tránh những vấn đề toàn cầu, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của nhân loại, như dịch bệnh, đói nghèo, ô nhiễm môi trường và chiến tranh... Kiên quyết, kiên trì trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biên giới trên bộ, trên biển, đảo bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích giữa các nước, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong đó, hợp tác giải quyết tốt các vấn đề về xung đột lợi ích giữa các quốc gia trên biển, nhất là việc giải quyết thỏa đáng vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia ở Biển Đông; kiên trì, kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế.

          Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, kiên quyết thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), kiên trì thông qua đối thoại giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, hạn chế, loại trừ xung đột vũ trang, tạo môi trường và điều kiện tốt nhất để bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước. Kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, lợi ích địa phương, lợi ích riêng của doanh nghiệp mình mà làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chiến lược của đất nước trong quá trình hợp tác, quan hệ với nước ngoài. Thường xuyên nâng cao năng lực nghiên cứu dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

          Ba là, tích cực, chủ động nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

          Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế đi vào chiều sâu, thực chất trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; không ngừng nâng cao uy tín và vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Điều này thể hiện Việt Nam không chỉ “là bạn, đối tác tin cậy” của các quốc gia, mà còn phải là “một thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế.

          Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong hợp tác quốc tế về pháp luật. Gia tăng sự đan xen gắn kết lợi ích, mức độ tùy thuộc lẫn nhau về mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam với các đối tác. Muốn vậy, Việt Nam cần nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia, phải có thực lực mạnh thì lợi ích chiến lược của đất nước mới được giữ vững, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Thực lực của Việt Nam là sức mạnh tổng hợp mọi mặt cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...; cả “thực lực vật chất” và “thực lực phi vật chất”, “sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm”; kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Thực tiễn cho thấy, các nước lớn luôn giữ vai trò dẫn dắt, định hình cục diện; tuy nhiên, những quốc gia tầm trung, có thực lực đủ mạnh luôn giữ được một vị thế, vai trò nhất định, ở vào một vị thế tốt hơn để bảo vệ độc lập, tự chủ, lợi ích chiến lược của đất nước.

          Tích cực và chủ động sử dụng các diễn đàn, cơ chế khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ đạo để tạo thuận lợi cho các đối tác tham gia và đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không trên Biển Đông. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị - xã hội của Việt Nam. Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Tích cực tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh của nhân dân và các tổ chức, các lực lượng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nâng cao khả năng thích ứng năng động và linh hoạt xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với quan tâm chung, tùy theo từng đối tượng, vấn đề, thời điểm cụ thể, phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử tại khu vực, trên tinh thần lợi ích quốc gia - dân tộc là tối cao.

          Giải quyết tốt những vấn đề do lịch sử để lại với các nước láng giềng, làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Chủ động hóa giải những vấn đề mới nảy sinh một cách có hiệu quả; tuyệt đối không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại nhằm kích động hận thù dân tộc, chia rẽ quan hệ hữu nghị giữa các nước, làm cho tình hình quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng trở nên phức tạp, khó lường, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, nâng cao năng lực hội nhập và mức độ hưởng lợi từ hội nhập, tiếp tục có những đóng góp xứng đáng vào việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường khu vực và quốc tế. Giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không lệ thuộc trong quan hệ với các nước, trong đó có các nước lớn. Ngoài ra, yêu cầu bảo vệ lợi ích chiến lược của đất nước đòi hỏi rất cao ý thức trách nhiệm công dân của mọi người dân Việt Nam, ý thức trách nhiệm trước Tổ quốc của các chủ thể, các lực lượng, đặc biệt là những lực lượng trực tiếp tham gia các hoạt động đối ngoại, hợp tác với nước ngoài, trong đó tập trung nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chú trọng đào tạo, sắp xếp, bố trí hợp lý đội ngũ các chuyên gia tư vấn, xây dựng chiến lược, đường lối, chính sách, pháp luật./.

 

CỦNG CỐ MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - MALAYSIA


          Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob bắt đầu thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20 đến 21-3. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Thủ tướng Malaysia đến Việt Nam kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát.

          Đưa quan hệ Việt Nam - Sierra Leone đi vào thực chất, hiệu quả

          Chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob diễn ra trong bối cảnh quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược Việt Nam-Malaysia tiếp tục phát triển tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực và đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập ngoại giao (1973-2023).

          Ngược dòng lịch sử gần nửa thế kỷ về trước, Malaysia là một trong những quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (năm 1995), mối quan hệ Việt Nam-Malaysia chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ. Tháng 8-2015, Việt Nam và Malaysia thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, mở ra một chương mới trong quan hệ giữa hai nước.

          Có thể khẳng định Malaysia luôn là người bạn tin cậy, gần gũi của Việt Nam trong khu vực. Cả hai nước đều là thành viên quan trọng, có tiếng nói trong ASEAN, tại các diễn đàn đa phương và trên trường quốc tế. Những năm gần đây, quan hệ Việt Nam-Malaysia tiếp tục phát triển nhanh chóng, với sự tin cậy chính trị cao. Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Hai nước cũng duy trì các cơ chế hợp tác song phương. Tháng 11-2021, hai nước đã thông qua Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác chiến lược giai đoạn 2021-2025 với các định hướng lớn nhằm tăng cường hợp tác cùng phục hồi và phát triển trong giai đoạn hậu Covid-19.

          Điểm sáng trong quan hệ Việt Nam và Malaysia là hợp tác kinh tế. Hai nước đều nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn của nhau. Bất chấp tác động của dịch Covid-19, tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 12,5 tỷ USD năm 2021, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm 2020. Trong hai tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu Việt Nam-Malaysia đạt gần 2,2 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2021. Bên cạnh đó, Malaysia là nhà đầu tư lớn thứ hai trong ASEAN tại Việt Nam (sau Singapore), đứng thứ 10/140 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 668 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 13 tỷ USD.

          Hợp tác quốc phòng, an ninh song phương đã có bước phát triển về chất thông qua trao đổi đoàn các cấp và giao lưu, đào tạo, trao đổi kinh nghiệm giữa các quân, binh chủng. Trên cơ sở Hiệp định về Hợp tác quốc phòng song phương (tháng 8-2008) và Ý định thư về Hợp tác quốc phòng (tháng 2-2015), hợp tác quốc phòng hai nước đã đạt được kết quả thiết thực trên một số lĩnh vực. Hai bên tăng cường trao đổi thông tin liên quan đến công tác phòng, chống khủng bố, tội phạm mạng, tội phạm xuyên quốc gia.

          Hai nước cũng phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Ngay từ khi đại dịch bùng phát, Việt Nam đã triển khai công tác viện trợ y tế cho Malaysia trị giá 50.000USD (tương ứng 6.500 bộ đồ bảo hộ PPE) và sau đó gửi hàng chục nghìn khẩu trang y tế giúp nước bạn phòng, chống dịch.

          Cho dù phải trải qua nhiều thăng trầm lịch sử và biến thiên thời cuộc trong gần nửa thế kỷ qua, song có thể khẳng định, với tư cách là những đối tác chiến lược, vị trí địa lý gần gũi cùng các lợi ích song trùng tại khu vực và quốc tế, được sự vun đắp của các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam-Malaysia đã và đang không ngừng phát triển ngày càng tốt đẹp. Nhìn lại những thành quả đạt được trong chặng đường gần 50 năm qua, chúng ta hoàn toàn có niềm tin vào tương lai tươi sáng của quan hệ Việt Nam-Malaysia dưới “mái nhà chung” ASEAN. Đây chính là cơ sở để chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob sẽ thành công tốt đẹp, góp phần củng cố tin cậy chính trị và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược hợp tác nhiều mặt như: Chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội, đầu tư, lao động, công nghệ.         Chuyến thăm cũng góp phần đưa quan hệ Việt Nam-Malaysia ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển thịnh vượng trong khu vực.

 

VÔ HIỆU HÓA "VIÊN ĐẠN BỌC ĐƯỜNG"


          Để phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” hiệu quả thì Đảng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như: Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; làm tốt công tác dự báo, nắm chắc diễn biến thông tin, chủ động định hướng tư tưởng trong mọi tầng lớp nhân dân; lấp những “khoảng trống” thông tin trên mạng xã hội, đặc biệt là ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa theo phương châm “nơi nào nhân dân tiếp cận thông tin, nơi đó có cán bộ định hướng thông tin”.

          Trong nhiều giải pháp triển khai, theo chúng tôi, công tác phòng, chống tốt “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp mang tính then chốt. Lênin-nhà tư tưởng vĩ đại, người sáng lập nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới đã căn dặn những người cộng sản: Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta.

          Nói chuyện với cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội năm 1954, nhiều người thắc mắc không biết về dưới xuôi rồi thì lương bổng thế nào, công tác sau này ra sao? Bác Hồ đã bổ sung thêm một điều đáng thắc mắc mà không ai nêu ra: Khi về xuôi thì đạo đức và nhân cách của mình phải thế nào? Người căn dặn: Bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy.

          Đất nước ta đang mở cửa, hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng đem lại cho đất nước ta, nhân dân ta những thành tựu to lớn. Nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường khiến không ít cán bộ, đảng viên của Đảng sa ngã, đánh mất mình.

          Nhận rõ nguy cơ này là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch thực hiện thành công chiến lược “diễn biến hòa bình”, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, Đảng ta chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết chỉ rõ suy thoái về tư tưởng chính trị trong đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

          Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất, dẫu chúng ta vô cùng đau xót khi đồng chí mình bị kỷ luật! Song vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, sự thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng và ý nguyện của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta phải xử lý nghiêm khắc những cán bộ vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

          Cựu chiến binh Nguyễn Viết Phiên, ở thị trấn Ngọc Lặc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tâm sự: “Nhìn thẳng sự thật, nhiều lãnh đạo từ cấp cơ sở đến Trung ương rất năng động, sáng tạo, luôn đau đáu lo cho dân được ấm no, hạnh phúc, đất nước ngày một phồn vinh. Nhưng có một bộ phận cán bộ chỉ lo vun vén cho cá nhân, gia đình, “nhóm lợi ích” của mình. Số cán bộ này, cái gì có lợi cho mình thì ra sức làm, ra sức bảo vệ; cái gì không thu được lợi cho mình thì thờ ơ, phó mặc. Cho nên, cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn nghĩ cho dân, cho nước là trên hết, trước hết. Đó là niềm mong mỏi chung của toàn Đảng, toàn dân ta đối với đội ngũ cán bộ các cấp”.

          Do vậy, cuộc chiến chống "viên đạn bọc đường" phải bắt đầu từ công việc tự soi, tự sửa, giống như việc đánh răng, rửa mặt hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên; phải phòng ngừa, ngăn chặn ngay những cám dỗ danh vọng, quyền lực xung quanh mình, giữ cho mình thực sự trong sạch. Khi Đảng ta đã lựa chọn, xây dựng được một Ban Chấp hành Trung ương mạnh, Bộ Chính trị mạnh, cán bộ chủ chốt mạnh, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ thì chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động không đạt mục đích.

Thay lời kết

          Khẳng định rằng: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ rõ có quan hệ chặt chẽ và nguy cơ nào cũng nguy hại, đều phải đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi, không thể chủ quan xem thường bất cứ nguy cơ nào. Muốn đẩy lùi các nguy cơ thì Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, bài bản và phải có những giải pháp rất tích cực, trong đó, xây dựng hệ thống thể chế, pháp luật và chế tài đồng bộ, đặc biệt là kiểm soát quyền lực, chế tài xử lý nghiêm minh kết hợp với giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân là trọng tâm để khắc phục các nguy cơ mà Đảng chỉ ra.

          Các thế lực thù địch luôn luôn muốn thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Đảng ta, chế độ ta. Thế nhưng, bằng sự đoàn kết, vững vàng, bản lĩnh chính trị cao, dựa trên trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân thì không thế lực nào có thể ngăn cản con đường phát triển của đất nước chúng ta.

          “...nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân”. (Trích phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng)./.

PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM

 

          Những năm gần đây, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng vẫn còn khá nghiêm trọng; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Những luận điệu đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau:

          Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ cho rằng tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam hay tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”. Do đó, “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Từ đó, các thế lực thù địch ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”. Thực chất của luận điểm này một mặt là để hạ thấp, phủ nhận vai trò của Đảng ta trong việc lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; mặt khác là nhằm kêu gọi nhân dân ta cổ xúy cho chế độ đa đảng, tam quyền phân lập. Đây tiếp tục là trò “rượu cũ bình mới” mà các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào Đảng, vào chế độ ta.

          Thứ hai, từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy tấm gương đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để so sánh với tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ trích Đảng đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

          Thứ ba, cố tình xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “cộng sản chỉ nói chứ không dám làm”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi”… Có ý kiến còn cho rằng việc Đảng và Nhà nước nhiều lần phát động đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực chất chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái”... Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu sai trái, thù địch trên được tung ra khắp nơi, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Theo thống kê, trong giai đoạn Đảng ta chuẩn bị tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ XIII có khoảng 36% các thông tin sai trái, thù địch liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Đây là kiểu “đến hẹn lại lên” của các phần tử cơ hội chính trị nhằm phủ nhận quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng và trong đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nói chung.

          Những luận điệu đó còn nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; gây mất đoàn kết nội bộ, kích động xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có tâm lý bất mãn. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch qua các luận điệu đó; đồng thời có luận cứ xác thực, có tính thuyết phục để đấu tranh phản bác.

          Luận cứ đấu tranh phản bác

          Trên cơ sở nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta, cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác bằng những lập luận xác thực, vừa đảm bảo tính lý luận, vừa bám sát thực tiễn.

          Có thể hiểu “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi”. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, tồn tại ở mọi quốc gia do quyền lực nhà nước bị tha hóa, bị lợi dụng.

          Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Ở một số nước châu Á, tình trạng tham nhũng còn xảy ra ở cả những nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Ma-lay-xi-a.... Do đó, không thể cố tình xuyên tạc, bóp méo rằng tham nhũng chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xoá tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”.

          Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), một mặt ra sức xây dựng, củng cố chính quyền; mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những cán bộ, công chức nhà nước - những người được gọi là “công bộc của nhân dân” phải luôn răn mình, sửa mình để không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không mắc phải những thói hư tật xấu. Một trong những thói tật được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều nhất là tình trạng tham ô, tham nhũng. Người đã chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là lấy của công làm của tư, là gian lận, tham lam. Người gọi tham ô cũng là một dạng trộm cướp.

          Do đó, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, còn nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên quyết xử lý những vụ tham ô, tham nhũng để làm trong sạch bộ máy cán bộ. Kế thừa tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Người, trong những năm gần đây, Đảng ta cũng đặc biệt chú trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

          Trong những nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Trong những nhiệm kỳ tiếp theo, không có nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng không có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng. Tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa IX về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Mới đây nhất là Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

          Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước cũng ban hành cả hệ thống các văn bản pháp luật để tạo sự đồng bộ trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý những vụ việc tham nhũng.

          Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Ban Nội chính Trung ương được thành lập và hoạt động ngày càng có hiệu quả, thực chất. Nhà nước cũng ban hành Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Do đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhận được sự quan tâm của tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội.

          Có thể nhận thấy, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Tham nhũng được coi là một loại “giặc nội xâm” cần được xử lý một cách quyết liệt. Quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét từ người đứng đầu Đảng, Nhà nước cho tới cả hệ thống chính trị. Thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

          Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”.

          Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đồng thời cũng chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý tình trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung.

Vì thế, những luận điệu phủ nhận năng lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hay cố tình xuyên tạc công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng của Việt Nam là kiểu “giật gấu vá vai”, “che mắt thế gian”, “thanh trừng bè phái”... đều bắt nguồn từ những dã tâm thâm độc của những kẻ phản động, cơ hội chính trị.

          Ngoài ra, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn được thể hiện ở việc Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống tham nhũng như Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng (năm 2003); tham gia Chương trình hành động chống tham nhũng Châu Á - Thái Bình Dương (năm 2004); tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng với một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Ấn Độ, Xin-ga-po... Theo đó, một số luật hay quy định về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam cũng từng bước được hoàn thiện theo Công ước quốc tế và có sự kế thừa quy định của các nước có nền tư pháp tiên tiến trên thế giới. Vì thế, những luận điệu cho rằng những quy định về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam còn lạc hậu là cố tình bóp méo, xuyên tạc những nỗ lực của Việt Nam trong công tác này.

          Hiện nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế, tuy nhiên không vì thế mà Đảng ta nao núng, chùn bước. Ở Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đảng xác định công tác phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; làm gia tăng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

          Đồng chí Tổng Bí thư từng khẳng định “Chúng ta càng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ - một đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu./.