Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

SUY NGẪM VỀ VẤN ĐỀ “KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC”

    Khát vọng là thuộc tính hướng thượng, hướng lên, hướng về phía trước trong năng lực sống của con người. Giống như ước ao, ham muốn cũng là mong muốn điều chưa có trong hiện tại, điều cần vươn tới trong tương lai nhưng mạnh mẽ hơn ở cường độ, cao hơn về ý chí và lớn lao hơn về nội hàm, đó chính là khát vọng. Khát vọng mang sắc thái cảm xúc cao cả, gắn liền với ngôn từ lộng lẫy, các biểu tượng có tầm vóc vừa rộng lớn, bao la, giàu mỹ cảm. Nhớ lại câu hỏi của nhà báo quốc tế về lý do và ý định của Bác khi nhận nhiệm vụ Chủ tịch nước. Bác đã trả lời ngắn gọn những câu hỏi ấy và để cho đồng bào trong nước và các nhân sĩ nước ngoài đều biết, Người đã cho công bố nội dung những câu trả lời ấy trên báo Cứu Quốc ngày 21-1-1946 "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Đó là minh chứng cho khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thời điểm tháng 01 năm 1946.

Chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh

 Phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh là chủ trương nhất quán, được khẳng định trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng. Biển nước ta có vị trí quan trọng đối với cả phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh của Tổ quốc. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh được khẳng định trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển kinh tế biển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn.

Trên thực tế, đường lối phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền của Tổ quốc là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong suốt những năm qua. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định, sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn. Đây là nguyên tắc căn bản trong sự gắn kết giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh của nước ta. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng năng động, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nước, đặc biệt cạnh tranh giữa các nước lớn và tranh chấp chủ quyền biển, đảo gia tăng, sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng nói chung, phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh nói riêng càng hết sức quan trọng. Đại hội XIII của Đảng trong đường lối phát triển đã đề cập phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là các giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.

Đặc biệt đáng chú ý là trong hơn 10 năm vừa qua, Đảng ta đã có hai nghị quyết riêng về chiến lược phát triển kinh tế biển. Đó là Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 9-2-2007, của Hội nghị Trung ương 4 khóa X, “Về chiến lược biển đến năm 2020” và Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, “Về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Cả hai nghị quyết này đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của kinh tế biển đối với nước ta và đặc biệt nhấn mạnh đến sự phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong Nghị quyết số 36-NQ/TW xác định vị trí, vai trò của biển và các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững, trong đó nhấn mạnh phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển./.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

“Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô”.
Lời nói trên, Bác Hồ nói trong buổi gặp gỡ đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, ngày 21 tháng 3 năm 1961, trong hoàn cảnh miền Bắc nước ta đang bắt tay vào việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, vừa xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tiếp tục cải tạo chủ nghĩa xã hội và củng cố quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân về mọi mặt; đồng thời, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh giữ gìn trật tự an ninh bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần thiết thực vào thực hiện sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Bác mong muốn và nhắc nhở cán bộ dù ở cấp nào, ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân, tất cả cán bộ phải một lòng, một dạ phục vụ nhân dân; phải hết sức quan tâm đến đời sống nhân dân; thực hiện theo đúng chính sách của Đảng; đồng thời, tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô. Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện chung chung. Trong mọi công việc đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu, để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ.
Hiện nay tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch đang ra sức lôi kéo, thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường đã làm thay đổi nấc thang giá trị đạo đức cách mạng. Song giá trị lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí, tham ô”, được Đảng ta quán triệt, thực hiện nghiêm túc và phát huy mạnh mẽ trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành và cả trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vây, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phải luôn coi trọng việc khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức trong sáng, kiến thức chuyên môn, trách nhiệm với công việc là vấn đề quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Là một bộ phận cán bộ trọng yếu của Đảng trong quân đội, đội ngũ cán quân đội luôn thấm nhuần lời dạy của Bác, dù trong điều kiện hoàn cảnh nào đội ngũ cán bộ trong quân đội đều nhận thức rõ điều đó, luôn giữ vững lập trường quan điểm, phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu lý tưởng chiến đấu, tích cực tự giác nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc làm đó, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.
Theo báo QĐND

 

Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”

 “Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc./.

MẠNG XÃ HỘI – “MẢNH ĐẤT MÀU MỠ” ĐƯỢC CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHAI THÁC TRIỆT ĐỂ, PHỤC VỤ CHO ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

    Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc, tác động nhanh, sâu rộng đến mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực. Đáng chú ý là, sự gia tăng nhanh các dịch vụ công nghệ thông tin, mạng xã hội phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, bảo đảm quốc phòng, an ninh,… là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch, phần tử cơ hội phản động lợi dụng để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, ly tán lòng dân với Đảng... v.v

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

 Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

Thủ tướng Malaysia đã đến Hà Nội bắt đầu thăm chính thức Việt Nam

 

 

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Malaysia Sabri bin Yaakob diễn ra trong bối cảnh quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược Việt Nam-Malaysia đang phát triển tốt đẹp.

Chiều 20/3, Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ liên bang Malaysia đã đến Sân bay quốc tế Nội Bài, Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 20-21/3/2022 theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của ông Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob trên cương vị Thủ tướng Malaysia kể từ khi nhậm chức vào tháng 8/2021.

Các thành viên cao cấp trong Đoàn gồm Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob; Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia Dato' Sri Saifuddin bin Abdullah; Bộ trưởng Thương mại Quốc tế và Công Nghiệp Mohamed Azmin bin Ali; Tổng Chưởng lý Malaysia Tan Sri Idrus bin Harun; Thư ký riêng cấp cao của Thủ tướng Malaysia Dato’ Nor Nazimah binti Hashim; Phó Tổng Thư ký (song phương), Bộ Ngoại giao Malaysia Dato' Amran Mohamed Zin; Phó Tổng thư ký (Thương mại), Bộ Thương mại Quốc tế và Công Nghiệp Malaysia Hairil Yahri bin Yaacob.

Ông Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob sinh ngày 18/1/1960; trình độ học vấn: Cử nhân Luật, Đại học Universiti Malaya.

Năm 2008 đến 2009, ông đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao. Từ năm 2009 đến 2013, ông là Bộ trưởng Bộ Nội thương, Hợp tác xã và Quyền lợi người tiêu dùng.

Từ năm 2013-2015, ông là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp. Năm 2015-2018, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Phát triển Nông thôn. Năm 2019-2020, ông là Lãnh đạo phe đối lập Quốc hội.

Năm 2020-2021, ông đảm nhiệm chức Bộ trưởng Quốc phòng. Từ tháng 7/2021-8/2021, ông là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Từ tháng 8/2021 đến nay, ông là Thủ tướng Malaysia. Từ năm 2018 đến nay, ông cũng là Phó Chủ tịch Đảng Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO).

Sau nghi lễ tiếp đón tại Sân bay quốc tế Nội Bài, Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob lên xe di chuyển về trung tâm Hà Nội và tham dự cuộc tiếp một số doanh nghiệp Việt Nam.

Lễ đón chính thức Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob sẽ diễn ra ngày 21/3 tại Phủ Chủ tịch.

Theo chương trình dự kiến, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob sẽ cùng hội đàm, chứng kiến ký kết văn kiện giữa hai nước.

Theo lịch trình, Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob sẽ hội kiến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Malaysia Dato’ Sri Ismail Sabri bin Yaakob diễn ra trong bối cảnh quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược Việt Nam-Malaysia đang phát triển tốt đẹp.

Hai nước đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2023).

Chuyến thăm nhằm mục đích tăng cường hơn nữa quan hệ song phương, nâng cao sức mạnh tổng hợp của hai nước trong hợp tác sau đại dịch COVID-19. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để hai bên khám phá những khía cạnh mới của hợp tác song phương; thảo luận về các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm; thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư giữa hai nước.

Xây dựng TP Hồ Chí Minh là hình mẫu cải cách, đổi mới và phát triển


Chiều 20/3, tại TP Hồ Chí Minh, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh về kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành và kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội TP Hồ Chí Minh năm 2021, nhiệm vụ trọng tâm năm 2022; Kết quả triển khai Nghị quyết số 54 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Hồ Chí Minh.

Cùng dự buổi làm việc có các Ủy viên Bộ Chính trị: Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Nên; các Ủy viên Trung ương Đảng: Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường; Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh; Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách Nguyễn Phú Cường; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh - Thiếu tướng Lê Tấn Tới; Trưởng Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội Dương Thanh Bình; Trưởng Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Thị Thanh; Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Thể; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà; Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên; Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành uỷ TP Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN

TP Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế của cả nước với khoảng 13% dân số, đóng góp khoảng 22-25% GDP, chiếm khoảng 25-27% tổng thu ngân sách nhà nước, có vị trí thuận lợi, nguồn nhân lực chất lượng cao, thị trường rộng lớn. Là thành phố trẻ rất năng động, thường xuất hiện nhiều mô hình, cách làm mới, hiệu quả, có sức lan tỏa cao. Thành phố cũng là nơi đầu tiên thực hiện tổ chức chính quyền đô thị; xây dựng mô hình “Thành phố trong thành phố” đối với TP. Thủ Đức; tiên phong trong xây dựng đô thị thông minh; thu hút được nhiều nhóm cá nhân, tổ chức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, chiếm hơn 42% Startup cả nước.

Năm 2021 là năm đầy khó khăn, đại dịch COVID-19 đã gây nhiều tổn thất, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến phần lớn người lao động thành phố. Tuy nhiên, thành phố đã khắc phục mọi khó khăn, thách thức, thể hiện sức mạnh đoàn kết của cả hệ thống chính trị, có nhiều mô hình hay, từng bước kiểm soát được dịch bệnh để trở lại điều kiện bình thường mới, các hoạt động xã hội, sản xuất kinh doanh được khôi phục và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 381.000 tỷ đồng (đạt 104,5% dự toán), thu hút FDI đạt 7,23 tỷ USD (bằng 138,6% so 2020), kiều hối, xuất khẩu tăng; có 05/09 ngành dịch vụ có mức tăng trưởng cao hơn cùng kỳ.

Tình hình kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2022 đạt được nhiều kết quả tích cực, phục hồi tốt so với các tháng trước, một số chỉ tiêu đạt bằng cùng kỳ, một số ngành đạt mức bằng như trước dịch. Kiểm soát dịch có hiệu quả, đã triển khai tốt Chiến dịch bảo vệ nhóm người có nguy cơ cao, bước đầu có hiệu quả chiến dịch bảo vệ trẻ em.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ ghi nhận, biểu dương nỗ lực của lãnh đạo, cấp ủy đảng, chính quyền, quân và dân TP Hồ Chí Minh đã đạt được trong thời gian qua, đóng góp quan trọng vào thành công chung của cả nước.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho rằng, lãnh đạo thành phố đã thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, hạn chế trong năm 2021, một số chỉ tiêu chưa đạt theo mục tiêu đề ra và dường như TP Hồ Chí Minh như một “chiếc áo đã chật”, động lực tăng trưởng đang bị bào mòn. Vì thế, lãnh đạo TP cần nhận thức được những khó khăn trong chuỗi cung ứng, thương mại, đầu tư, ảnh hưởng của giá dầu tăng và lạm phát để tiếp tục duy trì động lực tăng trưởng cũ và tìm kiếm những động lực mới.

Về phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lưu ý lãnh đạo TP Hồ Chí Minh cần tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng nội bộ đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả phục vụ doanh nghiệp và nhân dân. Tập trung công tác xây dựng thể chế, bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XI, rà soát các chương trình hành động, sớm có các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội, các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ để điều chỉnh, bổ sung bảo đảm phù hợp, khả thi.

Đồng thời tập trung hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, triển khai các chính sách phục hồi kinh tế, nhất là các chính sách về tài khóa, tiền tệ vừa được Quốc hội thông qua; tập trung tháo gỡ những khó khăn, hoàn thành các dự án đã kéo dài nhiều năm, các công trình, dự án trọng điểm của thành phố, có tác động liên ngành, liên vùng, hoàn chỉnh hệ thống giao thông công cộng như: Tuyến metro số 1 và số 2, dự án nhà T3, dự án cao tốc TP Hồ Chí Minh - Mộc Bài, dự án chống ngập.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lưu ý, TP Hồ Chí Minh cũng cần đẩy mạnh cải cách hành chính; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh; tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Thu hút, trọng dụng nhân tài trong và ngoài nước, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế.

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tặng TP Hồ Chí Minh 5 chữ T đó là “Tự hào, tự tin, trí tuệ, toàn tâm, toàn ý” để khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng thành phố thành nơi đáng sống, là đầu tàu, là hình mẫu của cải cách, đổi mới và phát triển của cả nước.

Chủ tịch Quốc hội cũng đồng tình với Đề án phát triển TP Hồ Chí Minh trở thành Trung tâm Tài chính quốc tế, đây không chỉ là trung tâm tiền tệ, ngân hàng mà sẽ bao gồm cả thị trường vốn, dịch vụ quản lý quỹ đầu tư, tài sản và thị trường hàng hoá phát sinh. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, nên có Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 54; Quốc hội sẽ tiếp thu và nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung một số dự án Luật liên quan theo kiến nghị của thành phố. 

Thực trạng việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng

 Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá việc phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, rút ra bài học kinh nghiệm; trong đó, nhấn mạnh Đảng phải thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định những ưu điểm: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định liên quan trực tiếp đến phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Trước đó, Đảng cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ này. Nhờ đó, công tác tiếp dân và đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp từng bước đi vào nền nếp. Các cấp ủy đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức hơn 90.000 hội nghị đối thoại giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân.

Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân được đẩy mạnh, có chuyển biến tích cực. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 10 chương trình giám sát về các vấn đề, lĩnh vực có ý nghĩa cấp bách đối với toàn xã hội; phản biện một số văn bản quan trọng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh tổ chức 721 cuộc giám sát, 784 hoạt động phản biện; cấp huyện tổ chức 6.404 cuộc giám sát, 4.403 hoạt động phản biện và cấp xã tổ chức 49.564 cuộc giám sát, 25.834 hoạt động phản biện. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp và nhân dân đã có 32.064 ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Bên cạnh những kết quả và thành công đó, Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm: “Công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế; một số cấp ủy, tổ chức đảng còn xem nhẹ công tác dân vận; việc nắm, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở những địa bàn phức tạp chưa kịp thời, sâu sát. Công tác vận động, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và trách nhiệm của nhân dân còn một số bất cập. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tập hợp, phát triển đoàn viên, hội viên; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp, nhất là giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII tại Đại hội XIII của Đảng rút ra năm bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai là bài học về vị thế, vai trò của nhân dân: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII cũng rút ra 5 bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai có đoạn nhấn mạnh việc cần thường xuyên tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.


Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, hình thành nên tư tưởng về dân vận, về phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Người khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Đảng không chỉ là công việc quan trọng, sống còn của Đảng, mà còn là công việc, trách nhiệm của nhân dân, bởi Đảng ta không có mục tiêu nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhân dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn gốc mọi sức mạnh của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu duy nhất, mục tiêu tối thượng, là bản chất của Đảng. Phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng là một nguyên tắc xây dựng Đảng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Đảng ta luôn thấm nhuần và hết sức coi trọng việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá thực trạng về phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng Đảng, cũng như xác định phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ này trong thời gian tới.

CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA NGA Ở UKRAINA LÀM THẾ GIỚI TỈNH NGỘ

 

Sau khi xung đột quân sự Nga-Ukraine bùng nổ, hành vi ăn cướp của toàn bộ thế giới phương Tây đã phá vỡ nhận thức của nhiều người, khiến họ cảm thấy lo lắng mãnh liệt và sâu sắc.

Thứ nhất, trước đây, mọi người thường tin rằng tất cả các nền tảng công cộng là trung lập và sẽ không bị gián đoạn cho dù có chuyện gì xảy ra. Tuy nhiên, sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ, một số nền tảng được gọi là công cộng đã ngay lập tức tuyên bố tham gia vào các lệnh trừng phạt chống lại Nga. Một số lượng lớn các nhà khai thác dịch vụ Internet nước ngoài do Hoa Kỳ đứng đầu đã công bố các biện pháp trừng phạt chống lại Nga và thực hiện một "hành động ngắt kết nối" chống lại Nga. Sau đó là việc loại bỏ các ngân hàng lớn của Nga khỏi hệ thống SWIFT do Hoa Kỳ kiểm soát, khiến các ngân hàng lớn của Nga không thể thực hiện các giao dịch và thanh toán toàn cầu. Cả hệ thống thư mục gốc của mạng và hệ thống thanh toán bằng đô la Mỹ đều được gọi là nền tảng công cộng do Hoa Kỳ kiểm soát. Một khi chiến tranh nổ ra, tất cả sẽ trở thành vũ khí chiến tranh, thậm chí trở thành nhân tố mấu chốt quyết định thắng bại. Độ phụ thuộc vào các hệ thống này càng lớn thì mức độ thiệt hại càng sâu.

Thứ hai, một số tuyên truyền trước đây đã nói rằng các vệ tinh trong không gian là an toàn và sẽ không bị tấn công và chiến tranh không gian sẽ không nổ ra. Tuy nhiên, ngay sau khi chiến tranh Nga-Ukraine bùng nổ, một nhóm hacker bí ẩn (rõ ràng là hành vi quân đội mạng của một số tổ chức chính phủ) đã tấn công vào trung tâm điều khiển vũ trụ của Nga, và tuyên bố đã đóng cửa trung tâm vũ trụ của Nga và thành công làm cho toàn bộ vệ tinh Nga mất kiểm soát. Trung tâm kiểm soát không gian của Nga cho biết nó thực sự đã bị tấn công, nhưng hệ thống an ninh đã tự động che khuất cuộc tấn công và đẩy lùi nó. Điều này có cho thấy rằng chiến tranh đã mở rộng ra ngoài không gian? Các trận chiến không gian vẫn luôn đang được tiến hành?

Thứ ba, mọi người thường tin rằng ngân hàng ở các nước phương Tây an toàn hơn ngân hàng trong nước và các nước phương Tây rất coi trọng quyền bất khả xâm phạm của tài sản tư nhân. Nhưng sau khi chiến tranh Nga-U nổ ra, các nước tây phương đột nhiên bộ lộ hành vi sói đói vồ mồi hung ác, tất cả tài sản của chính phủ và tư nhân Nga ở nước ngoài đều bị cướp sạch không còn, không chỉ tài sản ngân hàng bị đóng băng mà ngay cả du thuyền sang trọng và tư gia của người Nga ở nước ngoài cũng bị lấy đi. Theo thống kê sơ bộ, tổng số tài sản Nga ở nước ngoài bị các nhóm phương Tây phong tỏa lần này là khoảng 8 nghìn tỷ đô la Mỹ.

Thứ tư, trong ý thức của mọi người, Thụy Sĩ là một quốc gia trung lập, an toàn tuyệt đối khi cất giữ tiền ở Thụy Sĩ, tuy nhiên, sau khi chiến tranh Nga-Ukraine bùng nổ, Thụy Sĩ đã ngay lập tức từ bỏ quan điểm trung lập, tuyên bố tham gia vào các lệnh trừng phạt chống lại Nga, và đóng băng tất cả các quỹ của Nga trong các ngân hàng Thụy Sĩ, do đó bóc trần tấm mặt nạ giả dối rằng Thụy Sĩ là một vùng đất tài chính thuần túy. Những tài sản này bây giờ có lẽ không còn an toàn nữa.

Thứ năm, sau khi chiến tranh Nga-Ukraine bùng nổ, hầu như tất cả các công ty công nghệ cao của Mỹ và các nhóm phương Tây đều tuyên bố tham gia các lệnh trừng phạt nhằm vào Nga, cắt nguồn cung cấp chip và tất cả các sản phẩm công nghệ cao cho Nga. Starlink của Elon Musk cũng tham gia vào lệnh trừng phạt chống lại Nga và ủng hộ Ukraine, Apple cũng tham gia vào các lệnh trừng phạt. Độ sâu và bề rộng của lệnh trừng phạt công nghệ mà phương Tây áp đặt lên Nga nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Lệnh trừng phạt được áp dụng cho bất cứ thứ gì có thể gây nhức nhối hoặc giết Nga, mọi thủ đoạn được áp dụng đến cùng cực. Tuyên bố khoa học không có biên giới chỉ là trò nhảm nhí.

Thứ sáu, nhiều người cho rằng dư luận phương Tây là tự do nhất và tin tức phương Tây là trung thực nhất. Nhưng sau khi chiến tranh Nga-U xảy ra, toàn bộ dư luận phương Tây biến thành 1 cỗ máy phát động chiến tranh dư luận với Nga. Các nền tảng Internet lớn ở Hoa Kỳ và Châu Âu đã đóng các kênh truyền thông bên ngoài của Nga, họ kiểm soát toàn bộ việc phát tán dư luận, hướng dẫn dư luận theo hướng có lợi cho Hoa Kỳ và phương Tây, và họ tiếp tục tạo ra các tin tức giả.

Thứ bảy, còn nhiều biện pháp trừng phạt khác, ví dụ như ngành thể thao, văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc đã áp dụng lệnh trừng phạt đối với Nga, thậm chí cả mèo Nga và cây Nga cũng bị xử phạt. Điều này trông có vẻ buồn cười, nhưng thực ra không hề buồn cười. Đó biểu hiện của bá quyền chính trị và văn hóa của phương Tây, cho ta thấy tầm ảnh hưởng và sự kiểm soát của bá quyền phương Tây sâu và rộng đến mức nào. Những lĩnh vực này mới nhìn thì không có liên quan gì đến chính trị nhưng một khi chiến tranh xảy ra thì chúng đều sẽ trở thành vũ khí chiến tranh, đều trở thành công cụ chiến tranh giết người không thấy máu, đây có lẽ là lần đầu tiên chúng ta được cảm nhận sâu sắc như vậy.

Những điểm trên nên cho chúng ta một cảm giác thức tỉnh đột ngột. Bây giờ chúng ta sẽ thực sự nhận ra rằng chiến tranh Nga-Ukraine thực sự là một cuộc chiến tranh toàn phương diện thực sự do toàn khối phương Tây tiến hành chống lại Nga. Tập đoàn tây phương không chỉ tài trợ vũ khí và tiền bạc cho Ukraine, mà còn tiến hành CHIẾN TRANH TOÀN DIỆN chống lại Nga. Nếu không phải Mỹ và khối phương Tây e sợ hàng nghìn quả bom hạt nhân của Nga, e sợ cá tính dám nói dám làm của Putin, thì chắc hẳn họ đã lao vào cắn xé trực tiếp Nga./.

                                                                                            ĐLDT & CNXH

VIỆC HOA KỲ TRAO GIẢI THƯỞNG CHO PHẠM THỊ ĐOAN TRANG LÀ THIẾU KHÁCH QUAN

 “Chính sách nhất quán của Việt Nam là luôn bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân, trong đó có quyền của phụ nữ”. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định như vậy tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao diễn ra theo hình thức trực tuyến chiều 17-3.

Xây dựng văn hóa phải bắt đầu từ trong tổ chức đảng và đảng viên.

 


Cán bộ, đảng viên phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp của Đảng cầm quyền, đó là cách thể hiện văn hóa đảng một cách sinh động nhất. Xây dựng văn hóa trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là xây dựng văn hóa đạo đức cán bộ đảng viên, nhất là việc nêu cao tinh thần gương mẫu, thường xuyên rèn luyện đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, trung thực, tiên phong trong mọi hoạt động và phong trào.

GIỌT NƯỚC MẮT RƠI VÀO LỊCH SỬ


“Nước mắt rơi vào lịch sử” hẳn chúng ta nhớ lại sự kiện diễn ra cách đây 10 năm (10/2012), khi đọc bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6, thay mặt Bộ chính trị, Ban bí thư, TBT Nguyễn Phú Trọng đã nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn Dân về “một số khuyết điểm lớn” cả hiện tại lẫn các nhiệm kỳ trước, giọng ông bỗng nghẹn ngào

CÂU TRẢ LỜI NGẮN GỌN MÀ SÂU SẮC CỦA THỦ TƯỚNG VỀ UKRAINA

 

Về vấn đề Ukraina mà Đại sứ New Zealand Tredene Dobson đề cập, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh:

- Việt Nam là đất nước từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, chịu nhiều hậu quả nặng nề và đến giờ vẫn đang phải giải quyết. Vì vậy, Việt Nam là đất nước yêu chuộng hòa bình, luôn đóng góp tích cực và hành động vì hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và thế giới.

- Thủ tướng khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc, nhất là tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

- Việt Nam luôn theo dõi sát và hết sức quan ngại trước tình hình xung đột vũ trang tại Ukraine, kêu gọi các bên kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, tránh gây thương vong, tổn thất cho dân thường.

- Việt Nam mong các bên sớm tìm giải pháp hòa bình cho các bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế và tính đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên liên quan, bảo đảm an ninh, an toàn và nhu cầu thiết yếu dành cho người dân, đồng thời thúc đẩy cứu trợ nhân đạo./.

MỸ KHÔNG ĐỦ TƯ CÁCH NÓI VỀ NHÂN QUYỀN


“Bản chất của Mỹ là một con buôn thượng hạng, ở đâu có Mỹ nhúng tay là ở đó có chiến tranh. Ngay tại cuộc xung đột giữa Nga và Uca cũng vậy, các tập đoàn vũ khí của Mỹ đã có được rất nhiều hợp đồng béo bở. Tạo xung đột quảng cáo và bán vũ khí “


CHÍNH TRỊ GIA ROMANIA ĐÃ HỎI KHÓ LÃNH ĐẠO NƯỚC MỸ NHỮNG CÂU GÌ?

Ông Laurentiu Primo, 55 tuổi, sinh ra ở Brasov (Romania), là ứng cử viên tổng thống Romania vào năm 2019. Ông là Kỹ sư, Thạc sĩ Quản lý và Chiến lược, nhà phát minh, IQ 148, doanh nhân từ năm 1994, tác giả của một số cuốn sách: Chế độ công đức và chủ nghĩa công đức, Hiến pháp dân chủ, Trước Chúa...Gần đây, ông có gửi tới Đại sứ quán Mỹ một bức thư, trong đó có nhiều câu hỏi, nhưng không được phản hồi.

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2022

CẨN TRỌNG TRƯỚC THÔNG TIN ĐIỀU TRỊ, CHỐNG DỊCH TRÊN MẠNG

 


Do đặc tính của biến thể Omicron, đặc biệt là nhờ độ bao phủ vắc-xin cao, cho nên hiện nay số ca mắc Covid-19 chuyển nặng phải nhập viện và tử vong vẫn ở trong tầm kiểm soát.

Điều đó cũng có nghĩa là số F0 điều trị, cách ly tại nhà tăng cao, tạo ra "cơn sốt" mua bán kit xét nghiệm, thuốc kháng vi-rút. Với sự vào cuộc của cơ quan chức năng, tình trạng trên đang từng bước được khắc phục.

Tuy nhiên, một vấn đề khác lại nảy sinh, đó là thông tin nhiễu loạn trên mạng xã hội về thuốc điều trị Covid-19, kit xét nghiệm, cách chữa, cách phòng, chống... khiến người dân, nhất là các F0 điều trị tại nhà hoang mang. Không khó để tìm những thông tin quảng cáo tràn lan trên mạng về những loại thuốc "chỉ cần uống 3 ngày là âm tính, hết Covid-19", cũng không ít người tự xưng là bác sĩ, lương y để tư vấn về điều trị bệnh, di chứng hậu Covid-19 bằng phương pháp đông y... Rất nhiều trường hợp nghe theo lời chữa bệnh kiểu truyền miệng trên mạng xã hội như ăn nhiều tỏi, uống nước gừng, dùng xuyên tâm liên, cảm xuyên hương, thậm chí uống kháng sinh ngay từ ngày đầu có triệu chứng ho, hắt hơi, sổ mũi... Nhiều người dân tin theo, vội vã chia sẻ thông tin khi chưa kiểm chứng.St

 

Việt Nam mong muốn phát triển hợp tác sâu rộng hơn nữa với Hàn Quốc

 

Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Hàn Quốc từ ngày 9 và 11-2, sáng 10-2, Bộ trưởng Ngoại Việt Nam giao Bùi Thanh Sơn đã hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Chung Eui Yong.

Trong không khí hữu nghị, tin cậy, chân thành, hai bên cùng điểm lại những thành tựu nổi bật trong quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong 30 năm qua, đi sâu thảo luận các biện pháp thúc đẩy quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc phát triển lên tầm cao mới, cũng như trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Hai bên nhất trí các trọng tâm trong năm 2022 như triển khai các hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, nâng cấp quan hệ hai nước lên “Đối tác chiến lược toàn diện”, tổ chức tốt các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho hai nước.

Bộ trưởng Chung Eui Yong bày tỏ vui mừng đón Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn thăm chính thức Hàn Quốc ngay sau khi hai nước vừa đón Tết cổ truyền, kỳ lễ quan trọng nhất trong năm; nhấn mạnh chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng mở đầu cho các hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc trong năm 2022, là dịp hai bên trao đổi về những phương hướng lớn nhằm làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hai nước thời gian tới.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định Việt Nam hết sức coi trọng và mong muốn phát triển hợp tác sâu rộng hơn nữa với Hàn Quốc; đề nghị hai bên tiếp tục phát huy các cơ chế hợp tác hiện có về ngoại giao, quốc phòng, an ninh; nâng cao chất lượng hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, phấn đấu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2023 và hướng tới mục tiêu đạt 150 tỷ USD vào năm 2030; mong muốn doanh nghiệp Hàn Quốc tăng cường, mở  rộng đầu tư vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng tái tạo, chuyển đổi số, các ngành công nghiệp tương lai; đồng thời tăng cường chuyển giao công nghệ, xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; đề nghị Hàn Quốc tiếp tục xem xét cung cấp những khoản vay lớn, điều kiện ưu đãi cho những dự án cơ sở hạ tầng lớn và dự án hỗ trợ nâng cao năng lực ứng phó biến đổi khí hậu; tiếp tục làm sâu sắc hợp tác về lao động, du lịch, giáo dục và giao lưu nhân dân...

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của công dân và doanh nghiệp hai nước, góp phần thực hiện mục tiêu kép vừa kiểm soát tốt dịch bệnh vừa phát triển kinh tế ở mỗi nước, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đề nghị Hàn Quốc sớm hoàn thành các thủ tục công nhận Hộ chiếu vắc xin của Việt Nam, tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực phòng chống Covid-19. Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng đề nghị phía Hàn Quốc tiếp tục quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam làm ăn, sinh sống, học tập tại Hàn Quốc, nhất là hỗ trợ các gia đình Hàn-Việt.

Bộ trưởng Chung Eui Yong đánh giá cao và chia sẻ những ý kiến của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn, khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu của Hàn Quốc, cho rằng những thành tựu quan trọng đã đạt được sau 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao là nền tảng vững chắc để mở ra triển vọng tốt đẹp cho phát triển quan hệ hai nước trong thời gian tới. Bộ trưởng Chung Eui Yong nêu các đề xuất cụ thể làm sâu sắc hợp tác hai bên trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế - thương mại, y tế - khoa học kỹ thuật, văn hóa và giao lưu nhân dân hai nước và khẳng định Bộ Ngoại giao Hàn Quốc sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao và các cơ quan hữu quan của Việt Nam tiếp tục đóng góp thiết thực vào thúc đẩy quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc thời gian tới, trước hết là tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước trong năm nay.

Hai Bộ trưởng cũng đã thảo luận về tình hình khu vực và quốc tế. Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn chúc mừng Hàn Quốc tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng đầu tiên của Chương trình Khu vực Đông Nam Á của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) tại Seoul ngày 9-2, hoàn thành xuất sắc vai trò đồng Chủ tịch của chương trình giai đoạn 2018-2022. Bộ trưởng cũng khẳng định Việt Nam sẽ tích cực phát huy vai trò điều phối quan hệ ASEAN - Hàn Quốc, chung tay thúc đẩy quan hệ phát triển, hướng tới thiết thực kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ASEAN - Hàn Quốc năm 2024. Hai bên nhất trí sẽ tăng cường phối hợp tại các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cho biết Việt Nam sẵn sàng phối hợp thúc đẩy đối thoại, hợp tác liên Triều, góp phần vào tiến trình hòa bình, phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên. Bộ trưởng bày tỏ mong muốn Việt Nam và Hàn Quốc kiên trì lập trường tích cực trong duy trì hòa bình, ổn định, trật tự pháp lý trên biển, tôn trọng tự do hàng hải, hàng không, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982; ủng hộ ASEAN và Trung Quốc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) thực chất, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982.

THƯỜNG XUYÊN QUÁN TRIỆT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN THẮNG LỢI NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ, PHÁT HUY VAI TRÒ NÒNG CỐT CỦA QUÂN ĐỘI TRONG GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ

 


Hồ Chí Minh khẳng định: Chính trị của lực lượng vũ trang phải được thể hiện trong lúc đánh giặc. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị được thực hiện bằng những hoạt động chính trị, giải quyết các mối quan hệ chính trị, được hội tụ ở việc tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

Cần nhận thức thống nhất và thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác của quân đội trong thời kỳ mới. Thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội. Tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu. Ngăn chặn làm thất bại mọi mưu đồ xâm lược, “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc vững mạnh. Kết hợp chặt chẽ và phát huy vai trò của quốc phòng trong phát triển kinh tế, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị để phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tổ chức cho các đơn vị quân đội lao động sản xuất, phát triển kinh tế, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

Quân đội ta là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, là chỗ dựa của chế độ chính trị - xã hội ở nước ta. Mọi hoạt động của quân đội đều gắn liền với chính trị, với những vấn đề rất nhạy cảm về chính trị, đến sự ổn định chính trị của đất nước. Xây dựng quân đội vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị là trực tiếp giữ vững ổn định chính trị của đất nước.