Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022

Giữ vững rường cột nước nhà

 

Tuổi trẻ cả nước đang tổ chức đại hội đoàn các cấp, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027.

Trong lúc đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) cả nước, với vai trò, vị thế là cánh tay đắc lực, đội dự bị tin cậy của Đảng, là rường cột của nước nhà, đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, thì các thế lực thù địch cũng nhân cơ hội này đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá...

Ngụy biện thông tin, lèo lái dư luận

Giới trẻ nói chung, ĐVTN nói riêng vừa là mục tiêu, đối tượng, vừa là công cụ được các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, tập trung chống phá. Các chiến dịch tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch từ trước đến nay đều đặt giới trẻ ở vị trí trung tâm, trọng tâm. Mục tiêu của chúng là hủy hoại “cánh tay đắc lực của Đảng”, làm tan rã “đội dự bị tin cậy”, phá vỡ “rường cột” đất nước. Chúng muốn thanh niên Việt Nam bị mất phương hướng, bị kích động, quay lưng, phai nhạt lý tưởng của Đảng, đi theo con đường phản nước, hại dân... 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” xuyên suốt ấy, chúng thường bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản đã được vạch sẵn. Bám vào đại hội đoàn các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII và kỷ niệm 91 năm truyền thống của Đoàn để đẩy mạnh chiến dịch công kích, xuyên tạc, chống phá là hoạt động nằm trong chuỗi chiến lược ấy. Bình tĩnh, sáng suốt nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có phương án đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch là trách nhiệm, bổn phận trước hết của mỗi tổ chức đoàn, mỗi ĐVTN yêu nước.

Theo dõi tình hình, chúng ta thấy rõ, sau những chiến dịch truyền thông dồn dập trên không gian mạng chống phá Đại hội XIII của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19... chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào tuổi trẻ Việt Nam, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Cụ thể những ngày gần đây, bám vào tình hình thời sự nóng bỏng từ cuộc xung đột vũ trang Nga-Ukraine, tình hình phức tạp trên Biển Đông và những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nước... chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện, lèo lái dư luận xã hội nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với tuổi trẻ đất nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bằng các hình thức “tọa đàm”, phỏng vấn, lấy ý kiến thế hệ trẻ Việt Nam, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên.

Từ việc ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ còn là “cái vỏ hình thức”, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những bạn trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều phương tiện truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng lộng ngôn, ngoa ngôn, kiểu như: “Nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà phản biện xã hội” v.v.., cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời xa Đảng. Thời gian qua, có không ít đối tượng núp bóng một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường để tập hợp, lôi kéo thanh niên tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, không ít bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng, đã tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Có thể thấy, chiến lược, thủ đoạn của các  thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ở thế hệ rường cột nước nhà. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chú trọng các hình thức, giải pháp củng cố trận địa tư tưởng trong thanh niên, nhất là thanh niên giới trí thức và công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, giữ vững lực lượng rường cột nước nhà.

Khắc phục “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”

Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, bên cạnh khẳng định thành tích của tuổi trẻ Việt Nam và Đoàn là rất to lớn và đáng tự hào, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên là “tránh nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Sự chỉ đạo, lời căn dặn của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta rất súc tích, vừa mang tính khái quát cao, vừa cụ thể.

Tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” xuất phát từ thực tế công tác Đoàn và phong trào thanh niên còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới. Một số hoạt động của Đoàn còn nặng về bề nổi, dàn trải, hình thức, kết quả thiếu bền vững. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc...

Sau 5 năm nhìn lại, với tinh thần khách quan, thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta thấy rằng, nhiều mặt hạn chế, bất cập trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên vẫn chậm được khắc phục. Tại các hội nghị góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII do Trung ương Đoàn tổ chức, nhiều đại biểu đã kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên hiện nay.

Đại hội đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc nhiệm kỳ 2022-2027 là đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thanh niên cả nước. Đây cũng là giai đoạn thanh niên Việt Nam thể hiện sứ mệnh là lực lượng chủ lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trọng tâm là công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng. Với phương châm “lấy xây để chống”, việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong thanh niên phải được coi trọng, đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu, tìm kiếm các mô hình tập hợp, giáo dục thanh, thiếu niên phù hợp với nguyện vọng, mục tiêu phấn đấu của tuổi trẻ, tích cực, mạnh dạn, quyết liệt đổi mới để công tác Đoàn và phong trào thanh niên thực sự hấp dẫn, thu hút thanh niên, là những vấn đề đã và đang được Trung ương Đoàn lấy ý kiến rộng rãi.

Với tư cách là “Đội dự bị tin cậy của Ðảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Ðảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”, thanh niên Việt Nam phải luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm, khuynh hướng chính trị sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Để mỗi ĐVTN thực sự là một chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh phức tạp, nhiều thách thức này, tổ chức đoàn các cấp phải khắc phục tình trạng hình thức, hời hợt, thiếu bền vững trong các phong trào, chương trình hành động.

Biến quy trình giáo dục thành tự giáo dục để ĐVTN có ý thức tự giác, tự chủ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao ý thức, thái độ, kỹ năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng là những mục tiêu, giải pháp tổ chức đoàn các cấp dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn cần có các mô hình thực hiện một cách bài bản, kiên trì, hiệu quả.

Thanh niên vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của không gian mạng. Khi ĐVTN được giáo dục, trang bị đầy đủ lý luận chính trị, được tập hợp, thống nhất dưới ngọn cờ Đoàn, sẽ tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ, là bức tường thành vững chắc của trận địa tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi các khuynh hướng lệch lạc, giữ vững rường cột nước nhà. Giáo dục, vận động ĐVTN về thái độ sử dụng mạng xã hội, về văn hóa ứng xử trên không gian mạng để ngày hội lớn của tuổi trẻ cả nước trở thành sắc màu, nội dung chủ đạo trên các tài khoản cá nhân và các trang, nhóm trên mạng xã hội là điều cần làm của tổ chức đoàn các cấp trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là cách lấy xây để chống, ngăn chặn sự xâm nhập của các thông tin độc hại, phản động mà các thế lực thù địch đang hướng vào thanh niên.

THANH KIM TÙNG

qdnd.vn

Thủ đoạn bôi nhọ chính sách bảo hộ công dân Việt Nam tại Ukraine

 

Chính phủ Việt Nam luôn thực thi chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài với tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ tối đa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là các điểm nóng xung đột, chiến tranh như Trung Đông, Bắc Phi và hiện nay là xung đột giữa Nga và Ukraine.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch và những thành phần tự xưng đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền luôn rêu rao các quan điểm sai lệch về chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của công dân trong và ngoài nước đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Luận điệu này thể hiện trên một số điểm sau:

- Phủ nhận vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nga và Ukraine trong hỗ trợ người dân sơ tán khỏi vùng chiến sự. Truyền thông hải ngoại như đài RFA, BBC tiếng Việt, VOA, facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân… đã vẽ ra bức tranh quy kết chính quyền Việt Nam “đứng ngoài lề, dửng dưng với những người dân đang kẹt lại tại khu vực xung đột Nga – Ukraine”. RFA ngày 11/3/2022 đăng tải bài viết về thực trạng người dân Việt Nam tại Ukraine và vu cáo “Không thấy vai trò của toà đại sứ Việt tại các quốc gia đó ở đâu! Lại cái cảnh “dân giúp dân” như tại Việt Nam thời COVID-19 hoành hành!”. Qua đó, nội dung bài viết phủ nhận những nỗ lực của các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Nga và Ukraine trong việc đưa ra các phương án bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ những người dân và cho rằng, khi chiến sự nổ ra đã không quan tâm sơ tán người dân. Đây là luận điệu nguy hiểm, đánh vào tâm lý những người dân đang kẹt lại các điểm nóng và gây hoang mang cho người dân trong nước về tình hình cộng đồng người Việt tại Ukraine.

- Làm giảm niềm tin của người dân trong nước đối với hoạt động quản lý của cơ quan chức năng liên quan đến hỗ trợ người dân tại các quốc gia đang xung đột, chiến tranh. Sau khi vụ án liên quan đến hành vi nhận hối lộ của một số cá nhân tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, các thế lực thù địch, giới dân chủ tự xưng đã khoét sâu vào những sai phạm này để quy chụp, bôi nhọ. Nhiều bài viết các đối tượng vu cáo chính quyền Việt Nam bao che, dung túng sai phạm, đồng thời rêu rao, kích động người dân không tin tưởng vào những hoạt động hỗ trợ của chính quyền đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Họ nhắc lại những chiến dịch sơ tán người dân tại Bắc Phi, Trung Đông giai đoạn 2011-2014, đưa các clip, hình ảnh, bài viết sai lệch về việc người Việt “phải tự mình xoay xở” với hoàn cảnh khó khăn, từ đó suy diễn, vu cáo cơ quan ngoại giao của Việt Nam không thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt ở nước ngoài.

- Bôi lem hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mục đích để thế giới nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề nóng trên thế giới. Việt Nam đã tham gia ký kết các Công ước về ngoại giao theo luật pháp quốc tế nên các cơ quan ngoại giao Việt Nam có cơ sở để lên tiếng yêu cầu các quốc gia đang có xung đột, chiến tranh phải có trách nhiệm đối với cộng đồng người Việt Nam. Thực tế, các cơ quan đại diện ngoại giao luôn đi đầu trong nắm diễn biến tình hình và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản, tính mạng cho công dân theo chính sách bảo hộ của pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế có những góc nhìn thiếu khách quan, trung thực trong đánh giá hoạt động của cơ quan ngoại giao của Việt Nam. Một số tổ chức thiếu thiện chí đưa ra thông tin, hình ảnh sai lệch nhằm bôi lem, hạ uy tín Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, các hội thảo đa phương, thậm chí lên án Việt Nam tại các phiên điều trần của nghị viện Mỹ, EU… Một số cơ quan truyền thông phương Tây tô vẽ góc nhìn lệch lạc, trái với bản chất, tạo ra dư luận xấu về hình ảnh của Việt Nam, mục đích làm cho quốc tế nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu tin cậy, thiếu trách nhiệm, thậm chí hướng lái thành “đứng ngoài cuộc” trong tham gia giải quyết các điểm nóng, xung đột trên thế giới.

Thực tế, những hoạt động tích cực của các cơ quan chức năng Việt Nam thể hiện xuyên suốt, từ chủ trương, chính sách đến hành động bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài. Điều đó được biểu hiện ở các nội dung:

Một là, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định công dân Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập sâu rộng với thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định chính sách nhất quán “nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân”. Nhằm cụ thể hóa tinh thần này của Đại hội XIII, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 nhấn mạnh cần “triển khai toàn diện, mạnh mẽ, kịp thời, hiệu quả công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài”; “chăm lo, hỗ trợ đồng bào ta, nhất là ở những địa bàn khó khăn”. Đối với các điểm nóng, xung đột trên thế giới như tại Ukraine hiện nay, Chính phủ đã gửi Công điện 201 ngày 26/2/2022 về việc “Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trước tình hình tại Ukraine”, yêu cầu các bộ, ngành, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận Ba Lan, Nga, Rumania, Hungaria, Slovakia phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai các phương án bảo hộ công dân, đảm bảo an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết để sơ tán công dân Việt Nam khỏi vùng chiến sự, đến các nước lân cận và về nước nếu có nguyện vọng.

Hai là, dưới góc độ luật pháp, Việt Nam cam kết thực hiện chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ” (Khoản 3, Điều 17). Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó” (Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Việt Nam cũng đã chủ động sửa đổi Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm phù hợp với Công ước quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961.

Ba là, xuất phát từ thực tế thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở các nước trên thế giới luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và xác định đó không chỉ là lợi ích của mỗi cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam đối với công dân khi công tác, học tập làm ăn ở nước ngoài theo tinh thần “không ai bị bỏ lại đằng sau”. Ngày 6/3/2022, trong cuộc làm việc với Bộ Ngoại giao liên quan đến sơ tán công dân Việt từ Ukraine khỏi vùng chiến sự, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Công tác bảo hộ công dân cần được đặc biệt quan tâm; quá trình tổ chức cần thực hiện những chuyến bay miễn phí đưa trường hợp khó khăn về nước, đồng thời phải thực hiện nhất quán “ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người già”. Đó là minh chứng cho những lời hứa thực hiện bảo hộ công dân Việt tại nước ngoài nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ với người dân trước những diễn biến phức tạp tại Ukraine.

Mặt khác, trong những năm qua, Việt Nam đã từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực như lập cầu hàng không sơ tán người lao động ở Libya năm 2011 và 2014; đưa hành khách ra khỏi châu Âu do núi lửa phun trào năm 2010; giải cứu hành khách bị kẹt tại Thái Lan do khủng hoảng chính trị năm 2008; vận chuyển công dân Việt Nam trở về từ Malaysia, Trung Đông các năm 2005-2007... Năm 2021, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức gần 600 chuyến bay đưa hơn 130.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam.

Thực tế đó thể hiện rõ chủ trương, chính sách và hành động thiết thực của Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài; là bằng chứng sinh động phủ nhận những luận điệu sai trái, vu cáo của các thế lực xấu.

ThS Nguyễn Xuân Thịnh (Học viện An ninh nhân dân)

Cand.com.vn

Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi

 

Đây là nhận định minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của lý luận được Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947). Lý luận nói chung và LLCT nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận; rồi lại đem nó chứng minh với thực tế mới thực sự chắc chắn, chân chính.

Nhiều lần Bác căn dặn mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận và cũng đừng rơi vào lý luận suông. Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến LLCT thật gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi chính Bác là tấm gương sáng về học tập, nghiên cứu và vận dụng LLCT để hậu thế noi theo. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với bao học thuyết chính trị mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trở lại thời điểm đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận ra con đường cách mạng Việt Nam phải đi, đó là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư duy độc lập, sáng tạo không rơi vào lý luận suông, không áp dụng lý luận cứng nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Ngày nay, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cho nên việc học tập, nghiên cứu LLCT là để hiểu sâu sắc, đầy đủ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, người lao động có tư tưởng tiến bộ. Chỉ có trang bị đầy đủ về LLCT mới có thể tạo ra hành động cách mạng tích cực, hiệu quả như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”.

Như vậy, việc học tập LLCT trước tiên là để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chỉ có nghiên cứu, học tập LLCT thực chất, với động cơ tích cực, trong sáng mới giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, hoàn thành công việc được giao phó.

Với tầm quan trọng của LLCT giải thích vì sao trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị nhiều năm qua luôn nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT. Đồng thời, nhận định biểu hiện nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị./. (X.T) 

Sáng đẹp tinh thần, phẩm chất người lính Quân y

 

Cùng với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và lực lượng vũ trang, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; chủ động phòng, chống giảm nhẹ và khắc phục hậu quả tình huống khẩn cấp như dịch bệnh, thảm họa, thiên tai…, đặc biệt, trước cơn sóng đại dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát phức tạp, khó lường, thời gian qua, cán bộ, nhân viên tại các Bệnh viện Quân dân y (BVQDY) trên địa bàn Quân khu 9 luôn nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ trên tuyến đầu phòng, chống dịch bệnh.

Đầu tháng 7-2021, trên địa bàn Thành phố Cần Thơ phát hiện ca lây nhiễm SARS-CoV-2 trong cộng đồng, sau đó ít ngày số ca mắc liên tục tăng. Các cơ sở điều trị quá tải, thành phố phải gấp rút thành lập thêm các bệnh viện dã chiến (BVDC) để điều trị những bệnh nhân bị nhiễm. Được sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch thành phố, BVQDY TP Cần Thơ nằm tại huyện Cờ Đỏ nhanh chóng chuyển đổi toàn bộ công năng thành BVDC Quân dân y từ tầng 1 lên tầng 2, nhiệm vụ thu dung, điều trị cho người nhiễm Covid-19 vừa và nhẹ trên địa bàn, với quy mô 150 giường.

“Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, chúng tôi khẩn trương rà soát lực lượng, trang thiết bị y tế, xây dựng các kế hoạch, quy chế hoạt động; tuyên truyền cho cán bộ, nhân viên nắm rõ được chức năng, nhiệm vụ hoạt động của BVDC. Đồng thời, tổ chức diễn tập tiếp nhận, điều trị bệnh nhân nhiễm Covid-19, các quy định mang mặc trang phục bảo hộ, quy trình xử lý rác thải, nước thải cho cán bộ, nhân viên. Đến nay, qua 2 đợt, chúng tôi đã phối hợp với ngành y tế địa phương tiếp nhận hơn 850 bệnh nhân Covid-19, điều trị khỏi ra viện 754 bệnh nhân, chuyển lên tuyến trên 90 bệnh nhân. Tất cả đều bảo đảm an toàn tuyệt đối; công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, chống lây nhiễm chéo cũng được thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình của Bộ Y tế”, Thượng tá, Bác sĩ CKII Nguyễn Minh Phong, Giám đốc BVDC Quân dân y TP Cần Thơ cho biết.

Là một cán bộ tham gia BVDC từ những ngày thành lập cho đến nay, Thượng úy, Bác sĩ CKI Dương Thị Tố Trinh, Khoa Điều trị đã không quản ngại khó khăn, vất vả, tận tình chữa trị cho người bệnh. Chồng chị Trinh cũng tham gia tuyến đầu tại Bộ CHQS TP Cần Thơ, đứa con nhỏ chị phải mang gửi ông bà ngoại chăm sóc. “Làm việc trong khu điều trị rất áp lực, nguy cơ lây nhiễm cao, do vậy trong quá trình thăm khám tôi phải luôn cẩn trọng, tỉ mỉ, chính xác. Lúc nào cũng phải mặc đồ bảo hộ kín mít, hôm nào thời tiết mát mẻ thì đỡ vất vả, còn trời nắng rất nóng bức, ngột ngạt, di chuyển khó khăn. Nhiều lúc kiệt sức vì công việc, nhớ nhà, nhớ con nhưng tôi luôn xác định phải cố gắng, đem hết khả năng để chăm sóc, chữa trị tốt nhất cho người bệnh”, chị Trinh chia sẻ.

Ngày 22-7-2021, ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh Trà Vinh đã ký quết định về việc chuyển BVQDY tỉnh thành BVDC số 2 để thu dung, sàng lọc, cách ly, điều trị, cấp cứu các trường hợp mắc bệnh Covid-19. Trung tá Đoàn Văn Tân, Giám đốc BVDC số 2 tỉnh Trà Vinh, chia sẻ: “Điều kiện thuận lợi để BVDC số 2 nhanh chóng hoạt động là được sử dụng toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, nhân lực sẵn có của BVQDY, cùng với tinh thần trách nhiệm vì nhân dân phục vụ của cán bộ, nhân viên. Qua hai đợt tiếp nhận, chúng tôi đã điều trị cho hơn 300 bệnh nhân khỏi bệnh, hơn 30 trường hợp chuyển viện lên tuyến trên, không có bệnh nhân nào tử vong. Cán bộ, nhân viên của BVDC còn tăng cường cho BVDC số 1, BVDC số 7 và các khu cách ly, hỗ trợ lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2 trên địa bàn TP Trà Vinh”.

Phục vụ tại BVDC số 2, chị Bùi Thị Phương Châm, Nhân viên phòng Tổ chức -  Hành chính, tâm sự: “Mỗi ngày tôi phải ra vào, lên xuống cầu thang hàng chục lần để đưa nhu yếu phẩm phục vụ cho bà con; thu dọn vệ sinh, hỗ trợ lực lượng y tế lấy mẫu xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe người bệnh… Phải tiếp xúc với người bệnh, chất thải y tế mang mầm bệnh nên tôi luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chống nhiễm khuẩn. Nếu không cẩn thận, chỉ cần lơ là, chủ quan thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mình và những người xung quanh”.

Là BVDC đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng được giao nhiệm vụ thu dung, điều trị bệnh nhân Covid-19, ngay sau khi nhận nhiệm vụ, BVQDY tỉnh Sóc Trăng đã thông báo về việc tạm dừng tiếp nhận bệnh nhân đến khám ngoại trú, điều trị nội trú để sử dụng làm cơ cơ sở điều trị bệnh nhân nhiễm Covid-19. “Để quản lý, điều hành BVDC, chúng tôi chia theo kiểu “vùng xanh”, “vùng đỏ”. “Vùng xanh” gồm Ban giám đốc, bộ phận hành chính, hậu cần, tổ điều trị cấp cứu thăm khám bệnh nhân qua điện thoại, hoặc zalo. “Vùng đỏ” là các bộ phận tiếp xúc với FO như: Nhận bệnh, khám sàng lọc, phân luồng người bệnh, lấy mẫu xét nghiệm, vận chuyển thuốc, thức ăn, nhu yếu phẩm, vệ sinh, xử lý rác thải y tế. Chúng tôi sử dụng cách điều hành này nhằm hạn chế khả năng lây nhiễm chéo, vừa tạo phương án dự phòng nguồn nhân lực trong mọi tình huống để có thể bổ sung cho đội ngũ điều trị trực tiếp ở khu cách ly”, Thượng tá, BSCKII Nguyễn Bích Phượng, Phó giám đốc BVDC tỉnh Sóc Trăng chia sẻ.

Nhờ sự nỗ lực của cán bộ, nhân viên BVDC, trong tổng số trên 1.100 ca nhiễm Covid-19 nhập viện đã có hơn 900 bệnh nhân được điều trị khỏi và xuất viện, trong đó có nhiều bệnh nhân là trẻ em. “Mục tiêu là giúp người bệnh hồi phục nhanh, xuất viện sớm, do vậy chúng tôi luôn xem bệnh nhân như người thân của mình. Ngoài nhiệm vụ điều trị cứu chữa, chúng tôi thường xuyên tiếp cận bệnh nhân để an ủi, tư vấn nhằm giảm sự căng thẳng, ổn định tâm lý để họ sớm khỏi bệnh, trở về đoàn tụ với gia đình, người thân”, Đại úy Huỳnh Hữu Nghĩa, Kỹ thuật viên xét nghiệm tâm sự.

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ tại BVDC, cán bộ, nhân viên còn tham gia các tổ quân y phục vụ tại 5 khu cách ly do Bộ CHQS tỉnh Sóc Trăng quản lý, lấy mẫu test nhanh SARS-CoV-2 cho các quân nhân. Ngoài ra, còn tham gia nghiên cứu thuốc điều trị kháng virus Molnupiravir trên bệnh Covid-19 với Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. Với ưu điểm hạn chế bệnh chuyển nặng, rút ngắn thời gian điều trị, đã có 499 bệnh nhân sử dụng thuốc Molnupiravir, trong đó 429 bệnh nhân khỏi bệnh ra viện.

Nằm tại xã Tân Thành, huyện Bình Tân, từ khi đợt dịch thứ tư bùng phát đến nay, Bệnh viện Đa khoa khu vực kết hợp Quân dân y tỉnh Vĩnh Long đã chuẩn bị tốt các phương án ứng phó với dịch bệnh. “Chúng tôi tổ chức tập huấn, luyện tập các phương án để cán bộ, nhân viên thuần thục và ứng phó hiệu quả khi có tình huống xảy ra. Ngoài tham gia cùng lực lượng y tế địa phương để xét nghiệm sàng lọc trong cộng đồng, tiêm vắc xin ngừa Covid-19, cán bộ, nhân viên còn được cử đến các BVDC trên địa bàn tỉnh để điều trị cho bệnh nhân nhiễm Covid-19. Tuy phải làm việc trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao, nhưng mỗi khi vào ca trực ai cũng đều thể hiện ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm cao nhất để cứu chữa người bệnh. Có những cán bộ, nhân viên dù hết thời gian được phân công, nhưng vẫn tình nguyện ở lại tiếp tục phục vụ ở các BVDC”, Thiếu tá Nguyễn Quốc Đạt, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa khu vực kết hợp Quân dân y Vĩnh Long nói.

Nằm trong khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, khi dịch Covid-19 chưa bùng phát, bếp ăn từ thiện BVQDY Sóc Trăng mỗi ngày đều phục vụ hằng trăm suất ăn và nước sôi miễn phí cho bệnh nhân và thân nhân người bệnh. Từ khi chuyển đổi thành BVDC, mỗi ngày Thượng úy QNCN Lâm Sương, Nhân viên quản lý và bộ phận phục vụ đều phải chuẩn bị từ 4 giờ sáng để nấu hằng trăm suất ăn cho người bệnh. “Chế độ ăn uống cho người đang điều trị bệnh là 80.000 đồng/người/ngày. Để mọi người ăn ngon miệng, tổ phục vụ đều lên thực đơn khác nhau. Bữa ăn sáng thường là các món bánh canh, phở, bánh lọt; buổi trưa và tối sẽ phục vụ cơm đều đầy đủ rau xanh, canh, thịt cá, nguồn thực phẩm luôn tươi sống, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở BVDC có nhiều trẻ em nên chúng tôi cũng nấu riêng để phục vụ”, Thượng úy QNCN Lâm Sương chia sẻ.

Anh Dương Văn Phước, Nhân viên phục vụ, BVDC tỉnh Sóc Trăng nói: “Để đảm bảo công tác chống nhiễm khuẩn, các phần ăn sẽ được bỏ vào hộp xốp và bọc kín lại, sau đó tổ phục vụ sẽ chuyển cho bộ phận khác đưa vào cho người bệnh. Công việc cũng hơi vất vả, nhưng thấy bệnh nhân ăn hết những phần ăn là động lực để chúng tôi sẽ cố gắng phục vụ tốt hơn nữa. Qua tìm hiểu hầu hết bệnh nhân đều nhất trí, đồng tình việc nấu ăn rất ngon miệng, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng. Sự quan tâm chu đáo, tận tình phục vụ là động lực để người bệnh ổn định sức khỏe, vững vàng tâm lý, mau chóng hồi phục”.

Thời gian trước, BVQDY TP Cần Thơ đã duy trì hiệu quả mô hình bếp ăn tình thương kết hợp với Hội Chữ thập đỏ huyện Cờ Đỏ, với hơn 50 tình nguyện viên tham gia, được chia làm 13 tổ nấu ăn thường xuyên trong ngày. Khi BVDC Quân dân y thành lập, việc phục vụ các bữa ăn cho bệnh nhân đã gặp không ít khó khăn, nhất là phải đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh. “Để có những phần ăn ngon miệng, giúp bệnh nhân mau hồi phục sức khỏe, chúng tôi phải lên thực đơn chi tiết theo tuần, những bệnh nhân có bệnh nền được chỉ định chế độ ăn kiêng phù hợp. Trước khi đưa về đơn vị, lương thực, thực phẩm đều được kiểm duyệt, phun khử khuẩn. Chúng tôi liên kết với các doanh nghiệp trên địa bàn để cung ứng nguồn thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn phòng dịch”, Thượng tá, BSCKII Nguyễn Minh Phong cho biết.

Bà Huỳnh Thị Ngọc Diễm, Phó chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng khẳng định: ‘Việc thành lập BVDC trên địa bàn tỉnh phải nói rằng rất là kịp thời, đặc biệt là tinh thần tự nguyện lên tuyến đầu chống dịch đã làm sáng ngời hình ảnh Thầy thuốc mặc áo lính. Càng trong khó khăn, vất vả thì phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lại càng tỏa sáng. Những phẩm chất tốt đẹp ấy đang được cán bộ, nhân viên BVDC tô thắm bằng chính sự hài lòng của bệnh nhân. Tình cảm, tình thương và trách nhiệm của họ đều hướng tới mục tiêu Tất cả vì nhân dân, tất cả vì cộng đồng, chung tay đẩy lùi dịch Covid-19”.

Nguồn: Báo QĐND

Giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới thể hiện tư duy rất toàn diện và đặt ra yêu cầu cao về việc xây dựng, giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng.

Yêu cầu này cần được nhận thức đầy đủ và triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt ở tất cả các cấp. Chúng ta biết rằng, giá trị cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ là sự hội tụ và kết tinh nhiều phẩm chất cao quý. Trong đó, một phẩm chất rất đáng quý là phải có bản lĩnh chính trị vững vàng. Gần 8 thập niên xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hun đúc, tôi luyện nên những cán bộ, chiến sĩ có "bản lĩnh sắt thép", luôn sẵn sàng “Đạp quân thù xuống đất đen/ Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”.

Đức tính của mỗi con người được tạo nên bởi nhiều phẩm chất xã hội khác nhau. Trong đó “bản lĩnh” là phẩm chất cơ bản được hình thành qua quá trình rèn luyện bền bỉ, lâu dài. Trong ngôn ngữ, từ “bản” nghĩa là gốc, nền tảng; yếu tố “lĩnh” thường gắn với ý nghĩa là đứng đầu, chỉ huy như “thủ lĩnh”, “tướng lĩnh”. “Bản lĩnh” có thể hiểu là phẩm chất của người có năng lực, tự tin, dám đi đầu, dám xông pha, bứt phá, dám chịu trách nhiệm, không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách. Với mỗi quân nhân, được rèn luyện tổng hợp trong môi trường quân ngũ là điều kiện thuận lợi để hình thành nên bản lĩnh vững vàng. Đặc biệt, hoạt động quân sự có tính đặc thù cao, diễn ra trong điều kiện khó khăn, phức tạp, gian khổ, ác liệt, nếu không có bản lĩnh thì con người không thể vượt qua. Chính vì vậy, bản lĩnh được hình thành từ thực tiễn chiến đấu, lao động và công tác. Có bản lĩnh, bộ đội sẵn sàng thực hiện lời thề thiêng liêng “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam...”. Bản lĩnh của người quân nhân cách mạng được tôi rèn thì “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”.

“Bản lĩnh” là một phẩm chất chung gắn với nhiều yếu tố, như: “Bản lĩnh chính trị”, “bản lĩnh chiến đấu”, “bản lĩnh công tác”, “bản lĩnh khoa học”... Trong phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bản lĩnh chính trị là yếu tố đầu tiên. Đó là khả năng nhận thức chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, là ý chí và niềm tin vào giai cấp và chế độ. Đó cũng là yếu tố để mỗi quân nhân tự trả lời câu hỏi phục vụ lợi ích của ai? Chiến đấu, hy sinh vì cái gì? Quân đội ta là đội quân trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân, “sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, Quân ủy Trung ương chỉ rõ bản lĩnh chính trị là “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Bản lĩnh chính trị vững vàng giúp bộ đội kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ được giao, giữ vững trận địa tư tưởng, tạo ra sức mạnh quân sự, có khả năng “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc và hành động chống phá của các thế lực thù địch.

Thực tế trong chiến đấu, trong những tình huống cam go, ác liệt nhất, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trở thành biểu tượng sáng ngời về hình ảnh con người Việt Nam. Bác Hồ từng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội phải luôn kiên định, vững vàng “lúc có địch cũng trấn tĩnh như không có địch, xa địch cũng nghiêm ngặt như gần địch”. Thế nên nhờ có bản lĩnh tuyệt vời, phi công Phạm Tuân mới vững tay lái Mic-21 hạ gục cả "pháo đài bay" B-52 trong tích tắc, bản lĩnh làm nên kỳ tích “1 thắng 20” của Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ, bản lĩnh giúp Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân dẫu bị thương nát đùi vẫn bám trụ trận địa động viên bộ đội “nhằm thẳng quân thù mà bắn”... Và hàng triệu người con ưu tú khác đứng trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam với bản lĩnh vững vàng đã làm nên lịch sử. Họ là những tượng đài bất tử được nhân dân ngợi ca: “Hoan hô anh Giải phóng quân/ Kính chào anh, con người đẹp nhất!/ Lịch sử hôn anh, chàng trai chân đất/ Sống hiên ngang, bất khuất trên đời” (Tố Hữu).

Không chỉ trong chiến đấu, bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ còn được biểu hiện trong quá trình công tác. Quân đội ta đóng quân trên khắp mọi miền Tổ quốc, ở đâu cũng có bóng dáng cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm canh giữ biển trời, biên cương đất nước. Họ là những chiến sĩ biên phòng dầm sương giá rét tuần tra biên giới, phòng, chống tội phạm. Là chiến sĩ hải quân vượt trùng dương đóng quân trên các nhà giàn, các điểm đảo. Là những bác sĩ quân y lao vào tâm dịch cứu chữa người nhiễm Covid-19... Họ còn là những người lính công nghệ của Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội đã chung sức đưa tập đoàn trở thành đơn vị cung cấp viễn thông lớn nhất Việt Nam và đầu tư kinh doanh tại hàng chục quốc gia ở 3 châu lục. Những cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị khác nhau sẵn sàng làm việc trong những điều kiện đặc biệt, độc lập công tác, xa gia đình, người thân, đời sống thiếu thốn... Tất cả những trở ngại đó nếu không có bản lĩnh chắc chắn sẽ không thể vượt qua.

Mỗi quân nhân không chỉ thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị mà còn tham gia các hoạt động ngoài xã hội. Đó là điều kiện thuận lợi để bộ đội hòa nhập với môi trường xung quanh. Đất nước bước vào thời kỳ phát triển kinh tế, đời sống xã hội được nâng lên, điều kiện công tác của bộ đội cũng được cải thiện. Bên cạnh những thuận lợi cũng đặt ra những thách thức lớn, trước hết là về nhận thức. Lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng, thích những nơi công tác thuận lợi, vị trí có điều kiện thăng tiến, ngại đi vùng sâu, vùng xa, ngại phấn đấu, rèn luyện đang tác động đến tâm tư, nguyện vọng của bộ đội. Những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội, sản phẩm phi văn hóa, thông tin phản động đang từng ngày len lỏi vào trong suy nghĩ, lối sống của cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, các chiến sĩ trẻ là thành phần dễ chịu ảnh hưởng, tác động của các yếu tố trên. Vậy điều gì có thể tạo ra “sức đề kháng” để vượt lên trên mọi cám dỗ, tệ nạn, thói hư tật xấu? Có thể khẳng định, đó chính là bản lĩnh. Bản lĩnh thời nay của Bộ đội Cụ Hồ là sức mạnh để tiếp nhận những yếu tố mới tiến bộ, tránh xa những tiêu cực, lạc hậu, thói hư tật xấu. Bản lĩnh giúp bộ đội tự tin dấn thân trong công tác và lao động, bản lĩnh để sáng tạo và cống hiến.

Hiện nay, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đòi hỏi mỗi quân nhân không chỉ giữ vững bản lĩnh chính trị, bản lĩnh cách mạng mà cần phải có bản lĩnh trong xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, trong học tập, công tác, nghiên cứu khoa học mới có thể xây dựng quân đội vững mạnh, tinh nhuệ và hiện đại. Nét đẹp bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ trong chiến đấu phải được kế thừa và phát triển lên tầm cao mới, bản lĩnh để làm giàu thêm tri thức, để hội nhập và phát triển.

Có thể khẳng định, bản lĩnh đã tạo nên nét đẹp văn hóa trong nhân cách Bộ đội Cụ Hồ. Bản lĩnh là thước đo phẩm chất, là yếu tố tiên khởi để đánh giá người quân nhân cách mạng. Chính vì vậy, việc rèn luyện bản lĩnh là yêu cầu tự thân của mỗi quân nhân. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần luôn quan tâm đến việc xây dựng, rèn luyện bản lĩnh cho bộ đội thông qua học tập, bồi dưỡng lý tưởng, kiến thức, truyền thụ kinh nghiệm, giao nhiệm vụ thực tế, đưa bộ đội vào từng hoàn cảnh cụ thể sát với yêu cầu nhiệm vụ. Có bản lĩnh, bộ đội sẽ vững vàng trong mọi điều kiện, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, từ đó, ngày càng trưởng thành và tiến bộ. Bản lĩnh vững vàng trong mọi hoàn cảnh sẽ mãi là phẩm chất cao quý của người quân nhân cách mạng, nét đẹp văn hóa ngời sáng Bộ đội Cụ Hồ.

Nguồn: Báo QĐND

KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT

  V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”.

Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.

 Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

 Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”.

Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết.

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.

Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc, và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng!

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ trong Quân đội

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ trong Quân đội

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.

Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.

Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Một làtăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.

Hai làthực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.

Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.

Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.

Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi. 

Ba2505

Lịch sử và ý nghĩa sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930)

 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930, là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.

Bối cảnh ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước vừa xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Mười Nga đã nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức.

Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại Việt Nam, năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến.

Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam.

Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.

Về văn hoá, thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan. Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.

Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hoá sâu sắc. Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hoá. Một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau.

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh bần cùng khốn khổ của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân, bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột.

Giai cấp tư sản Việt Nam bị tư sản Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép, do đó thế lực kinh tế và địa vị chính trị nhỏ bé và yếu ớt, có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm học sinh, trí thức, những người làm nghề tự do… đời sống bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành người vô sản, có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, có khả năng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào.

Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân; Hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương - phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến, do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Sang đầu thế kỷ XX, khuynh hướng này không còn là khuynh hướng tiêu biểu nữa. Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại. 

Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. 

Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.

Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn thành công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; Đảng phải có hệ tư tưởng tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.

Người đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định, muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có vững, cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.

Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ. Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu (Trung Quốc) và gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (ở Liên Xô trước đây) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc) nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.

Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.

Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930.

Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng. 

Ba2505

“Phi chính trị hóa” quân đội – thủ đoạn cũ nhưng ngày càng tinh vi, sảo quyệt

“Phi chính trị hóa” quân đội là một chiêu bài, âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi, sảo quyệt, thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trở thành tất yếu khách quan, một nội dung đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng chỉ rõ một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”.

Mục đích của âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội là tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội, xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất, truyền thống của quân đội ta… từ đó làm mất bản chất giai cấp công nhân của quân đội, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn này.
“Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nói chung, “phi chính trị hóa” quân đội nói riêng là một thủ đoạn không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm, bởi nội dung của âm mưu này hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Thực chất của những toan tính phản động đó là phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam. Để thực hiện điều đó, lực lượng thù địch, phản động ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta. Đặc biệt, thời gian gần đây, chúng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận chức năng, nhiệm vụ của quân đội nhân dân; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác QP-AN, xây dựng LLVT nhân dân, xây dựng nền QPTD gắn với thế trận ANND…
Để âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch không từ bỏ bất cứ một phương thức, biện pháp nào, trong đó, chúng triệt để lợi dụng mạng internet để thực hiện mưu đồ đen tối, như: Sử dụng các website, các trang mạng xã hội, blogger… để lôi kéo, tuyên truyền kích động bạo lực, khủng bố, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; cổ xúy tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục; đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân… Hoạt động chống phá diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi vì đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền những thông tin, luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là thế hệ trẻ, trong đó có quân đội.

Ba2505 

Thiên tai, đất vàng của những kẻ “bới lông tìm vết”

 

Thiên tai, đất vàng của những kẻ “bới lông tìm vết”

Việc lợi dụng thiên tai, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, bôi xấu quân đội, chia tách quân đội với nhân dân với Đảng không mới nhưng nguy hiểm bởi cường độ, tần suất ngày càng tăng lên giống như nước chảy đá mòn, phá vỡ tinh thần đoàn kết quân dân cá nước, phá vỡ sự lãnh đạo tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng với quân đội.

Ngày 19-12-2021, khi những hình ảnh và thông tin gần 400 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 141 (Sư đoàn 312, Quân đoàn 1) tham gia chữa cháy rừng tại khu vực dãy núi Đền thuộc thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội thì trên mạng xuất hiện một số bình luận ác ý, thiếu tính xây dựng.

Họ cho rằng, chiến sĩ cầm cuốc, cầm cành cây để dập lửa là biểu hiện hình thức, là “đùa vui với bà hỏa”. Bởi những dụng cụ chữa cháy cầm tay thô sơ ấy không ngăn được lửa bùng phát trong tiết trời và gió mùa Đông Bắc hanh khô thổi mạnh.

Họ kết luận, quân đội sinh ra là để bảo vệ Tổ quốc chứ không phải để điều đi chữa cháy rừng. Có tài khoản mạng xã hội còn đặt ra tình huống, nếu chiến sĩ đi làm nhiệm vụ này không có phương tiện đặc chủng, không có các thiết bị bảo hộ và chẳng may bị tai nạn thương vong thì sẽ tính thế nào?

Một số bình luận rằng, tiền mua phương tiện, mua trang bị đã được các “quan” nấu thành đường và chảy vào túi quan trên. Lính chỉ được phân “cuốc, xẻng” thôi. Tội đâu lính chịu... Họ so sánh, ở nước ngoài, nhất là ở Mỹ, chữa cháy rừng là công việc của lực lượng dân sự chuyên trách và được trang bị nhiều phương tiện hiện đại, nhất là máy thổi khí dập lửa. Họ được huấn luyện bài bản nên xử lý tình huống và có khả năng dập tắt đám cháy rất nhanh. Ở ta, sau bao năm hô hào xây dựng chính quy, hiện đại, quân đội vẫn đi chữa cháy bằng dụng cụ thô sơ. Làm như vậy thà không đi làm còn hơn!

Việc phê phán quân đội yếu kém, chỉ làm mầu, không có khả năng thực chiến trên chiến trường, trong thực hiện các nhiệm vụ đã có từ lâu, nhất là khi một vài đơn vị quân đội có quân nhân bị sự cố, bị tai nạn trong huấn luyện hoặc trong tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn một việc cụ thể.

Còn nhớ vào năm 2016, trên đường đi tìm kiếm, cứu nạn phi công lái máy bay Su-30 thuộc Trung đoàn không quân 923 (Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không-Không quân) bị rơi trên biển, máy bay tuần thám CASA mang số hiệu 8983 của Trung đoàn 918 (Quân chủng Phòng không-Không quân) bị mất tích cách đảo Bạch Long Vỹ hơn 40 hải lý về hướng Nam Tây Nam, khiến 9 cán bộ, chiến sĩ và phi hành đoàn hy sinh.

Lợi dụng thông tin này, nhiều kẻ bất đồng chính kiến trong và ngoài nước đã lợi dụng và tung tin bịa đặt rằng, quân đội bớt xén kinh phí, mua hàng đểu do hãng Airbus sản xuất nên “chim cắt” về quân đội Việt Nam sử dụng trở thành “chim cút”.

Hiện nay, những bình luận, đồn thổi hạ thấp vai trò, uy tín của quân đội trên lĩnh vực phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn đã không còn là hiếm trên mạng xã hội, nhất là trên Facebook và Zalo vốn được nhiều người Việt Nam ưa sử dụng.

Gần đây, khi trò chuyện với Đại tá Mai Văn Thanh, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 414 (Quân khu 4) chúng tôi nghe được câu chuyện hết sức phi lý. Chuyện là, sáng 7-8-2019, sau khi lực lượng của Lữ đoàn 414 bắc cầu phao VSN-1500 vượt qua sông Luồng vào vùng lũ Sa Ná (Quan Sơn, Thanh Hóa) thì đến tối mưa nguồn đổ về rất mạnh, lưu tốc dòng chảy lớn, buộc chỉ huy lữ đoàn phải nhả liên kết, di chuyển các đốt cầu vào gần bờ để neo giữ. Sáng 8-8-2019, khi không thấy cầu phao nữa, đoàn người đi từ thiện giúp nhân dân vùng lũ bị ùn tắc.

Từ đây trên mạng xã hội xuất hiện hàng loạt các thông tin chỉ trích. Họ cho rằng, chính quyền, và quân đội đang ngăn cấm hoạt động tiếp tế, từ thiện cho nhân dân vùng lũ, trái với những gì đã được đưa trên truyền hình Trung ương sau khi cầu phao được bắc xong ngày 7-8. Họ lớn tiếng đòi quân đội phải bắc cầu trở lại để nhân dân đi tiếp tế, từ thiện thay vì ưu tiên phục vụ các đoàn cán bộ lãnh đạo địa phương và Trung ương.

Từ những thông tin trên, các đối tượng ở nước ngoài cũng liên tục tung những công kích cho dù không nắm chắc tình hình thực tế. Anh Thanh kể, lúc ấy dư luận dồn ép khiến lãnh đạo tỉnh và quân khu hết sức bức xúc, lệnh cho Lữ đoàn 414 phải gấp rút tổ chức lại cầu phao nối liền hai bờ trong điều kiện lưu tốc dòng chảy vượt quá yêu cầu kỹ thuật của bộ khí tài.

Ngay lập tức, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 414 phải tổ chức tìm mua một loại dây thuyền đặc biệt có khả năng chịu lực tốt to hơn cổ tay mãi tận vùng giáp biển, cách nơi thi công cầu phao cả trăm ki-lô-mét. Đêm đó, họ tích cực làm việc trên dòng sông có lưu tốc lớn bất chấp nguy hiểm để bắc cầu. Cuối cùng, sáng 9-8-2019, chiếc cầu được nối lại. Để bảo đảm an toàn trong di chuyển, cán bộ, chiến sĩ lữ đoàn đã phối hợp với công an địa phương, tổ chức duy trì kỷ luật nghiêm ngặt cho nhân dân đi tiếp tế và từ thiện qua cầu phao an toàn. Những luồng dư luận trái chiều cũng từ đó giảm mạnh rồi mất hẳn.

Cuối năm 2020, thời tiết cực đoan, thiên tai, bão lụt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân khu vực miền Trung. Đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bão lụt, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, trong đó có cả những đồng chí mang cấp hàm thiếu tướng.

Tuy nhiên, sau sự cố sạt lở đất rạng sáng ngày 13-10-2020 tại xã Phong Xuân (Phong Điền, Thừa Thiên Huế) khiến 13 cán bộ bị vùi lấp mấy ngày thì trên mạng xã hội xuất hiện rất nhiều “thuyết âm mưu”, gây ra những nghi ngờ, hoang mang trong dư luận. Điển hình là tài khoản facebook có tên “Thanh Hiếu Bùi”-Bùi Thanh Hiếu (Người buôn gió) đã tung tin đồn rằng, Thiếu tướng Nguyễn Văn Man, Phó tư lệnh Quân khu 4 là 1 trong số 13 cán bộ gặp nạn trong đoàn cứu hộ tại Tiểu khu 67 có quan hệ hàng xóm với Nguyễn Đại Lợi, Giám đốc Công ty Tư vấn xây dựng Trường Sơn, đơn vị đang tiến hành xây dựng thủy điện Rào Trăng 3. Từ đây dẫn đến một loạt các đồn đoán, suy diễn cho rằng, thủy điện Rào Trăng 3 là doanh nghiệp “sân sau”, được lãnh đạo Quân khu 4 bảo kê...

Trong trận lũ lịch sử ở các tỉnh miền Trung hồi tháng 10-2020, nhiều tài khoản mạng xã hội, đặc biệt là những người đi “từ thiện tự do” đã vu cho các đơn vị quân đội và chính quyền tội ngăn cấm đường vào, không cho người dân từ thiện. Thậm chí có kẻ còn độc mồm độc miệng cho rằng, việc ngăn cấm đó là nhằm để quân đội và lực lượng vũ trang được “độc quyền” phân phối các loại mặt hàng từ thiện, qua đó để dễ bề bớt xén.

Cũng trong thời điểm này, khi Thượng tướng Lê Chiêm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đưa ra quyết định cấp lương khô cứu trợ cho đồng bào vùng lũ thì xuất hiện hàng loạt các tin đồn ác ý, suy diễn rằng cán bộ ở Quảng Trị chia nhau hàng cứu trợ lương khô quân đội. Từ sự việc này, một số tờ báo trong nước đã bình luận, phỏng vấn chuyên gia, đại biểu Quốc hội như là sự việc có thật và đã xảy ra.

Từ đây, các thế lực thù địch chống phá trong và ngoài nước liên tục công kích, chia rẽ quân đội với các cấp ủy, chính quyền địa phương. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, ông Đào Mạnh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị đã khẳng định trên truyền thông rằng, thông tin lan truyền trên mạng xã hội về việc cán bộ ở Quảng Trị chia nhau hàng cứu trợ lương khô quân đội là không đúng sự thật.

Mục đích của những thông tin bẩn, suy diễn trên là gì nếu không phải là để chia rẽ quân đội, lực lượng vũ trang với nhân dân và với Đảng, với cấp ủy, chính quyền địa phương. Về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của chúng là nhằm chuyển hướng chính trị từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Từ đó, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu: “Mùa xuân A-rập”, “Cách mạng Hoa hồng”, “Cách mạng Đường phố”, “Cách mạng Cam”,... mà chúng đã thành công ở hàng loạt nước trên thế giới.

Thực hiện mục tiêu này, trong những năm qua, bất kể một hiện tượng gì xảy ra trong quân đội, các thế lực thù địch, nhất là những kẻ bất đồng chính kiến ở trong và ngoài nước, đặc biệt là những trang web tiếng Việt có máy chủ ở nước ngoài luôn tìm cớ và phương cách tạo ra những thông tin trái chiều để bôi xấu hình ảnh, gây nghi ngờ trong xã hội.

Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch xác định “phi chính trị hóa” quân đội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục. Chúng đưa ra các thông tin bẩn để cán bộ, chiến sĩ xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Chúng chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị và lập luận: Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ cần bảo vệ biên giới lãnh thổ, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định, thông qua diễn đàn Quốc hội.

Chúng lợi dụng những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội để kích động, gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, phá hoại khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ quân đội. Rõ nhất là sau sự việc quân nhân Trần Đức Đô ở Trường Quân sự Quân khu 1 và Nguyễn Văn Thiên ở Bộ CHQS tỉnh Gia Lai tử vong. Nguy hiểm hơn, chúng còn sử dụng không gian mạng để tán phát những bài viết, clip, thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn,... nhằm kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; kêu gọi Quân đội ta từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề” như quân đội các nước tư bản...

Những bịa đặt, vu khống từ thuyết âm mưu của những cái đầu “siêu ảo tưởng” nhằm đạt tham vọng “phi chính trị hóa”, ly khai quân đội thoát khỏi sự lãnh đạo của Đảng được các thế lực thù địch tập trung đẩy mạnh, nhất là mỗi khi có sự cố như đã trình bày ở trên. Để lấp vào khoảng trống ấy, những đối tượng bất đồng chính kiến đề xuất giải pháp thay thế quân đội bằng lực lượng dân sự chuyên trách trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.

Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, trong thực tế thấy rằng, thiên tai, sự cố thường đến bất ngờ và việc khắc phục phải khẩn trương, nhanh chóng. Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng lực lượng dân sự chuyên trách đảm bảo dịch vụ trong phòng, chống thiên tai là không phù hợp vì chi phí rất lớn và tốn công sức. Thế nên, việc đề xuất một lực lượng có thể thay thế quân đội là không khả thi và đó là một phương án “siêu ảo tưởng”.

Có thể thấy, những vấn đề trình bày ở trên là hết sức nguy hiểm, dễ tác động đến tâm tư, tình cảm và tư tưởng của lớp trẻ và nhân dân trong xã hội. Đoán trước âm mưu của chúng để có cách đấu tranh, phòng, chống hiệu quả đang trở thành vấn đề quan trọng và cấp thiết, không thể lơ là.

Ba2505