Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022

Xây dựng đội ngũ cán bộ trong bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 TCCS - Dẫu cấu trúc tổ chức bộ máy có chặt chẽ, hợp lý đến đâu, nhưng con người trong bộ máy đó không bảo đảm chất lượng thì hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy vẫn khó có thể nâng lên. Điều đó có nghĩa là chất lượng bộ máy và con người trong bộ máy phải đồng bộ, “ăn khớp” với nhau. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ chính là đầu tư cho phát triển đất nước lâu dài và bền vững. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả.


Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và các đại biểu dự Hội nghị tổng kết công tác hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2021 và triển khai kế hoạch công tác năm 2022_Ảnh: TTXVN 

Phẩm chất, năng lực và uy tín của cán bộ

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định, phải: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước...; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài... Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(1).

Khi nói đến phẩm chất cán bộ thì phải chú ý đến cả hai mặt, đó là phẩm chất chính trị, tư tưởng và phẩm chất sinh hoạt cá nhân (đạo đức, lối sống). Phẩm chất chính trị, tư tưởng là hết sức quan trọng, nhưng nhất thiết không được coi nhẹ phẩm chất sinh hoạt cá nhân, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường. Vì từ những sai lầm về sinh hoạt cá nhân sẽ dần dần “di căn” sang phẩm chất chính trị, tư tưởng. Để quản lý, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá cán bộ đúng đắn, chuẩn xác, Đảng ta đã xác định một hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí có tính chất thước đo cho đội ngũ cán bộ, có thể tóm tắt một số điểm then chốt sau:

Về phẩm chất chính trị, tư tưởng và đạo đức, lối sống: Phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, của quốc gia - dân tộc và nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng. Có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Phải mẫu mực về phẩm chất đạo đức; sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị, bao dung; cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, lãng phí, cơ hội, vụ lợi. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm. Tuyệt đối không trục lợi và cũng không để người thân, quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

Về trình độ, năng lực và uy tín: Tốt nghiệp đại học trở lên; trình độ lý luận chính trị có bằng cử nhân hoặc cao cấp; quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; trình độ ngoại ngữ, tin học phù hợp. Có quan điểm khách quan, toàn diện, biện chứng, lịch sử, cụ thể, có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược; phương pháp làm việc khoa học; nhạy bén chính trị; có năng lực cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, phân tích và dự báo tốt. Năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, dám đương đầu với khó khăn, thách thức; nói đi đôi với làm. Là hạt nhân quy tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; được cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tin tưởng, tín nhiệm cao. Có đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ(2).

Đó cũng là mục tiêu phấn đấu của tất cả cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ta. Khi nói đến năng lực thì phải lưu ý cả ba thành tố hợp thành, đó là kiến thức, trình độ và khả năng. Riêng về khả năng, phải xem xét cả hai mặt, đó là khả năng nhận thức và khả năng hành động. Cả hai mặt đều quan trọng, nhưng hành động chính là thể hiện khả năng nhận thức. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong khả năng hành động còn phải xem xét khả năng điều hành, quản lý, lãnh đạo một tổ chức, một đơn vị ra sao?

Xem xét về năng lực thì phải tránh cho được những sự nhầm lẫn hiện vẫn đang tồn tại, có thể xem xét hai sự nhầm lẫn “đáng tiếc” sau: Một là, có lúc đem đồng nhất phẩm chất với quá trình hoạt động (đương nhiên phải đánh giá quá trình một cách đúng đắn, đầy đủ). Có nhiều cán bộ càng hoạt động lâu dài càng tôi luyện được phẩm chất sáng ngời, nhưng không hẳn cứ có quá trình công tác dài là phẩm chất tốt. Có những trường hợp ban đầu thì tốt, song về sau lại không giữ được mình, thường phát sinh “căn bệnh cuối đời”; lại có trường hợp liệt kê quá trình hoạt động để xin giảm nhẹ kỷ luật, hình phạt. Hai là, có không ít trường hợp đem học vị, học hàm, bằng cấp đồng nhất với năng lực. Đương nhiên, ở nhiều cán bộ, học vị, học hàm và bằng cấp tiến triển cùng chiều với phát triển năng lực, trình độ, nhưng lại cũng không hiếm trường hợp có đủ loại bằng cấp, học hàm, học vị, nhưng những thứ đó chỉ đọng lại ở dạng “tiềm năng”, để “đối ngoại”, làm “đối trọng” cho việc sắp xếp vị trí, tranh đua trong cất nhắc, đề bạt (đó là chưa nói đến nhiều trường hợp “dán nhãn mác rởm”).

Khi nói đến khả năng lãnh đạo, quản lý, điều hành có vấn đề khá quan trọng và tế nhị cần thiết phải nhắc lại để xem xét, đó là quan hệ giữa lãnh đạo và cấp dưới (thủ trưởng - người đứng đầu và người dưới quyền) về trình độ, năng lực trong quá trình vận hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Trên thực tế, quan hệ đó diễn ra ở nhiều cấp độ và khá phức tạp, nhưng các nhà khoa học quản lý đã khái quát thành 4 cấp độ (4 mô hình) sau:

Một là, thủ trưởng và cả đội ngũ cán bộ, công chức đều có trình độ và năng lực cao, giỏi. Trường hợp này mọi công việc, mọi nhiệm vụ đều trôi chảy, đều được giải quyết tốt nhất, nội bộ đoàn kết. Đây là mô hình tối ưu.

Hai là, thủ trưởng và cả đội ngũ cán bộ, công chức đều yếu kém về trình độ, năng lực. Trường hợp này mọi công việc, nhiệm vụ đều bê bết, không xử lý được, nội bộ mất đoàn kết, đổ lỗi cho nhau. Đây là mô hình yếu kém.

Ba là, thủ trưởng có trình độ và năng lực cao, giỏi toàn diện, nhưng đội ngũ cán bộ, công chức lại chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ (còn yếu về trình độ, kém về năng lực). Trong nhiều công việc, thủ trưởng phải sát sao, chỉ đạo từng bộ phận, từng chi tiết với thời gian tác nghiệp khá dài; nội bộ đôi khi có sự lủng củng. Đây là mô hình “chờ đợi”.

Bốn là, đội ngũ cán bộ, công chức rất giỏi (có trình độ, năng lực cao, rất thiện nghệ), nhưng thủ trưởng lại rất lơ mơ, yếu về nghiệp vụ, kém về năng lực. Mọi công việc, mọi nhiệm vụ đều bê trễ; nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng. Đây là mô hình “đường dẫn đến sụp đổ”.

Về cách xử lý: Trong 4 mô hình thì mô hình một là mô hình tồn tại và phát triển. Mô hình hai là mô hình phải cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và thay đổi người đứng đầu (thủ trưởng). Mô hình ba là mô hình có thể tạm thời chấp nhận, đây cũng là mô hình tương đối phổ biến. Theo các nhà quản lý có kinh nghiệm thì người đứng đầu có tài năng, họ sẽ biết cách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ từng bước dần dần “lớn lên” ngang tầm với công việc (đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một chức năng, một nhiệm vụ rất quan trọng của người lãnh đạo, quản lý). Còn mô hình bốn là mô hình phải xóa bỏ vì mấy lẽ sau: Trước hết, vì không có chuyên môn, năng lực quản lý yếu kém nên thủ trưởng không thể sử dụng được các cán bộ có trình độ và năng lực cao, nghĩa là sớm muộn thủ trưởng cũng sẽ làm thui chột đội ngũ cán bộ giỏi. Tiếp đó là, về mặt tâm lý, khi thủ trưởng yếu kém thì thường lo ngại bị cán bộ dưới quyền chê bai, coi thường, từ đó có thể kiềm chế, vô hiệu hóa cán bộ giỏi, làm mai một uy tín của họ, đến một lúc nào đó đội ngũ cán bộ giỏi sẽ “tan đàn, sẻ nghé” hết. Cuối cùng, thủ trưởng yếu kém thường chỉ tuyển dụng những người yếu kém hơn mình vào cơ quan, đơn vị để dễ bề sai khiến. Một đội ngũ cán bộ giỏi sẽ bị thay thế bởi một dây, một dàn cán bộ kém cỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và chỉ giỏi về “thưa bẩm”, ngoan ngoãn, vâng lời trong mọi trường hợp.

Trên thực tế thì mô hình một còn rất ít (thậm chí là hiếm), vì vậy, cần nhân rộng, phát huy mạnh mẽ để có nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị như thế. Biến đổi, cải tổ mô hình hai và mô hình ba để dần dần thành mô hình một. Và kiên quyết không để tồn tại mô hình thứ tư (đã là người đứng đầu - thủ trưởng thì phải tài cao, đức trọng song hành).

Tuyển chọn và sử dụng cán bộ

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”(3). Và theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, thì công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là đầu tư cho phát triển lâu dài và bền vững. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi thời kỳ cách mạng thông qua thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân.

Để thực hiện có hiệu quả cao Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về tuyển chọn và sử dụng cán bộ thì phải giải quyết trước một bước chất lượng người đứng đầu và bộ máy làm công tác tổ chức và cán bộ, vì mọi việc thành, bại được bắt đầu từ hai vị trí này. 

Thứ nhất, về người đứng đầu. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ dẫn: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(4). Đây cũng được coi là các tiêu chí, là yêu cầu cần đạt đến để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý - người đứng đầu. Theo các tiêu chí đó, trước hết phải “xốc” lại đội ngũ những người đứng đầu hiện có, xem có bảo đảm các tiêu chí đó không? Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, người đứng đầu phải là người có chuyên môn, nghiệp vụ giỏi; là người có phương pháp làm việc khoa học, thành thạo công nghệ thông tin, kỹ thuật số, xử lý công việc có nguyên tắc và hợp đạo lý; nói gọn hơn, thủ trưởng phải là người có tài, có đức (nếu không, đây sẽ là mảnh đất màu mỡ của tham nhũng quyền lực, sẽ cản trở việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng).

Thứ hai, phải chấn chỉnh lại các cơ quan, đơn vị làm công tác tổ chức và cán bộ. Có ý kiến cho rằng, không gì thú vị bằng làm việc về con người, nhưng cũng không có gì khó khăn, phức tạp, tế nhị bằng làm việc về con người. Bởi vì, con người không chỉ nói thật mà còn biết nói các kiểu khác nhau, tùy tình huống. Con người nói có suy nghĩ, nhưng suy nghĩ là một điều bí ẩn, chưa có công cụ đo đạc nào để biết được một người đang suy nghĩ gì. Bởi vậy, thủ trưởng và người làm công tác tổ chức và cán bộ ngoài những yêu cầu tinh thông nghiệp vụ, phẩm chất, đạo đức “trong sáng hơn người” (không tham nhũng, không ham hố quyền lực, thẳng thắn, công minh, chính trực...), nắm chắc cấu trúc bộ máy cơ quan hơn ai hết, còn phải có hiểu biết với mức độ sâu sắc lĩnh vực tâm lý quản lý, tâm lý lãnh đạo. Ở mỗi cơ quan, đơn vị, khi có được thủ trưởng -  người đứng đầu tài - đức và đơn vị làm công tác tổ chức và cán bộ vững mạnh thì mọi việc về công tác nhân sự mới có khả năng bảo đảm tính đúng đắn và chính xác theo yêu cầu.


Đoàn công tác của Chính phủ do Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành dẫn đầu làm việc với tỉnh Đồng Nai và thị sát hiện trường khu vực triển khai Dự án sân bay Long Thành_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, chú trọng công tác tuyển chọn cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ. Có hai nguồn chủ yếu để các cơ quan, đơn vị tuyển người vào làm việc, đó là, nhận người từ các cơ quan, đơn vị khác về cơ quan mình và tuyển sinh viên mới tốt nghiệp từ các trường đào tạo. Trường hợp nhận người từ cơ quan, đơn vị khác về để đáp ứng yêu cầu trước mắt (làm việc được ngay) thì phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng (người dự kiến nhận về phải đúng với chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan mình, có nhiều “sản phẩm” ở nơi đang làm việc; nghiêm túc trong thi hành nhiệm vụ, được tin dùng...). Nghĩa là phải lựa chọn được người thực sự tốt, đáp ứng yêu cầu công việc, tiếp nhận về là tác nghiệp được ngay công việc, có hiệu quả. Tuy nhiên, những cán bộ như thế thì cơ quan cũ thường tìm cách giữ lại, trừ những trường hợp đặc biệt, như hợp lý hóa gia đình theo nguyện vọng; theo yêu cầu luân chuyển của cấp quản lý cấp trên; hoặc các thủ trưởng hữu hảo giúp đỡ lẫn nhau... Phải hết sức tránh các trường hợp: thủ trưởng nơi cho đi giới thiệu và có bút phê rất hoa mỹ, nhưng khi cán bộ đó vừa ra khỏi cơ quan thì thủ trưởng vô cùng hoan hỷ vì đã “tống khứ” được “của nợ” này đi (bởi anh/chị này vừa có tư tưởng chống đối, vừa lười, vừa hay xúi bẩy ngầm, gây mất đoàn kết, làm cho cơ quan lúc nào cũng rối tung, rối mù cả lên). Cán bộ tổ chức hỏi, thế tại sao thủ trưởng lại nhận xét người đó “kêu” như chuông đồng vậy? Ừ, thì có làm như thế mới có người rước hộ đi cho!

Tuyển chọn từ nguồn các học viện, trường đại học: Đây là trường hợp tuyển chọn người vừa tốt nghiệp đại học về và tiếp tục đào tạo trong thực tế, vừa làm, vừa học, chuẩn bị kế nhiệm các lớp cán bộ sẽ nghỉ hưu hoặc thuyên chuyển công tác. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ đạo: Chủ động nắm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài. Giải pháp này ít nhiều chúng ta cũng đã có kinh nghiệm, nay cần phát huy hơn nữa. Cũng theo cách làm của một số nhà quản lý giỏi, thì họ thường lấy trong tốp 10 người đứng đầu khoa, đứng đầu lớp theo kết quả học tập và nhận xét của nhà trường, rồi giao việc từ thấp đến cao và phân công người kèm cặp, chỉ dẫn. Trong thực tế thường diễn ra các tình huống: Có người học giỏi và thực hành cũng giỏi; có người học giỏi nhưng thực hành lại kém; có người học chưa thực sự xuất sắc lắm, nhưng thực hành lại rất tốt...; từ đó, mà tổ chức thi cử phân loại, tuyển chọn. Trường hợp đủ điều kiện thì lấy vào biên chế; trường hợp cần thử thách thêm thì tiếp tục gia hạn hợp đồng; trường hợp không đạt yêu cầu thì có thể chấm dứt hợp đồng. Trong tuyển lựa thì “hiệu quả công việc” phải là tiêu chí hàng đầu.

Trong một cơ quan, đơn vị, thông thường có 4 lớp cán bộ xếp theo “đội hình 2-3-4-1”, nghĩa là: 20% cán bộ mới, vừa học, vừa làm; 30% cán bộ, làm là chính, nhưng vẫn phải tiếp tục học thêm; 40% cán bộ đã trưởng thành, rất thành thục trong mọi công việc, là “chủ công” của cơ quan, đơn vị và 10% cán bộ cao niên, nhiều kinh nghiệm, có vai trò định hướng, hỗ trợ cho các lớp cán bộ trẻ. Các lớp cán bộ đó sẽ chuyển dịch lên, thay thế các lớp tiền nhiệm. Thực hiện được như thế sẽ khắc phục được tình trạng “đông mà không mạnh” (hàng tiểu đội ngồi chơi, còn hai, ba người làm được việc thì “đầu tắt, mặt tối”). Việc sử dụng cán bộ, thông thường nhất là phải đúng, sát với chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi người. Đối với vấn đề này, chúng ta phải tiếp tục học và làm theo Bác. Ngay từ năm 1947, Bác đã dạy: “Phải khéo dùng cán bộ - Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”(5)

Tuyển lựa cán bộ quản lý, lãnh đạo: Quy luật “phát triển không đều” có ý nghĩa cả trong công tác cán bộ. Trong mỗi lớp cán bộ đều có người nổi trội, có người phát triển tốt, có người phát triển bình thường, có người cần nhiều thời gian hoạt động thực tiễn hơn mới thể hiện được năng lực. Bởi vậy, phải có quy trình tiến hành hợp lý, chắc chắn. Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, quy trình đó là: Căn cứ tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản lý từng cấp mà lựa chọn những người tiêu biểu, xuất sắc, lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện theo từng chức danh. Bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt và kỹ năng làm việc; định kỳ cập nhật kiến thức mới theo từng nhóm đối tượng. Đánh giá chính xác từng nhân sự theo chức danh dự kiến.

Việc đánh giá đúng đắn, chính xác từng nhân sự là công việc không đơn giản. Về kiến thức, trình độ thì có thể qua thi cử, qua tọa đàm, trao đổi trực tiếp mà nắm được; nhưng về phẩm chất, tư cách, đạo đức thì thật sự là khó. Đôi khi phải có những giải pháp kỹ thuật mới hóa giải được. Việc sử dụng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng, cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với họ. Hết sức tránh suy nghĩ, cứ có chức, có quyền là “hái” ra tiền, của. Ai mắc tội vơ vét, đục khoét, tham nhũng, có tội với cơ quan, với nước, với dân thì quốc pháp trừng trị đến nơi, đến chốn, hình phạt tương xứng với tội lỗi. Còn những cán bộ liêm, chính, tận tụy, tất cả vì công việc, có cống hiến nhất định cho cơ quan, cho đất nước thì phải được đãi ngộ xứng đáng. Trước mắt, theo Nghị quyết số 26-NQ/TW thì phải cải cách chính sách tiền lương gắn với giá trị sức lao động, để cán bộ, công chức có tiền lương, thu nhập phù hợp, tương ứng với sức lao động đã tiêu hao, đồng thời phải chú trọng nâng cao phúc lợi, an sinh cuộc sống cho họ. Đó cũng chính là nguyện vọng rất cơ bản, chính đáng của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay.

Nâng tầm chất lượng đội ngũ  cán bộ lãnh đạo, quản lý

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; cán bộ, đảng viên phải thực hiện trách nhiệm nêu gương theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”(6).

Một là, lãnh đạo phải là ngọn cờ của niềm tin.

Để thực thi có hiệu quả cao nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã quyết định thì về quan điểm là phải nhìn thẳng vào sự thật của đội ngũ cán bộ, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao và nỗ lực lớn. Điều quan trọng bậc nhất đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý lúc này là phẩm chất chính trị, tư tưởng. Đó là nhận thức sâu sắc và kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Các nhà lãnh đạo, quản lý quyết không thể thiếu hụt những phẩm chất này. Vì chỉ một thoáng chần chừ trong suy nghĩ, chỉ một hành vi nhỏ trong hành động tỏ ra thiếu vững vàng, do dự ở niềm tin là đã có tác động “công phá” đối với lòng tin của đội ngũ cán bộ, công chức dưới quyền và nhân dân.

Đã là cán bộ lãnh đạo thì phẩm chất phải trong suốt, sáng ngời. Năng lực phải dồi dào, đủ sức xử lý được công việc trong mọi tình thế; sớm tìm ra hướng giải quyết trong những tình huống khó khăn, phức tạp nhất. Uy tín cao, luôn luôn là niềm tin vững chắc cho người dưới quyền. Người lãnh đạo phải là tấm gương mẫu mực mà bình dị, bất kỳ ai cũng có thể học tập được. Về tâm lý, cán bộ cấp dưới bao giờ cũng mong muốn học được ở lãnh đạo cấp trên một điều gì đó về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, lối sống, ứng xử, hoặc là một “nét tinh tế”, thành thạo, uyển chuyển trong xử lý chuyên môn nghiệp vụ hay là một “vẻ đẹp” trong lối sống giản dị đời thường.


Đồng chí Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang cùng các đại biểu thảo luận bên lề cuộc họp trực tuyến về dự án Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi)_Ảnh: TTXVN

Hai là, chú trọng những giải pháp thiết yếu.

Chúng ta đã thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác, một hành động thực tế đem lại hiệu quả thiết thực có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn, thuyết giảng hùng hồn. Nhân dân ta cũng có câu: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Thực tiễn hoàn toàn đúng như thế! Những nhiệm kỳ vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, nhân dân làm chủ, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong điều kiện khó khăn, phức tạp nhiều mặt. Điển hình là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, kết quả tuy mới chỉ là bước đầu song người dân vô cùng phấn khởi và tin tưởng. Trong hoàn cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành khắp toàn cầu, tác hại lớn gấp nhiều lần so với các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tác động nhiều mặt tới đời sống các tầng lớp dân cư... bởi vậy, đi đôi với giữ vững, củng cố và nâng cao niềm tin là hành động cụ thể, thiết thực của đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp. Cụ thể, trong nhiệm kỳ này là tổ chức, chỉ đạo, thực thi có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, để đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trước mắt, thực hiện thắng lợi mục tiêu kép, vừa phòng, chống đại dịch COVID-19 thành công, vừa phát triển kinh tế - xã hội thắng lợi.

Trên quan điểm “xây” và “chống”, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh, phải có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân. Để thực hiện đúng đắn các biện pháp sàng lọc thì hằng năm phải đánh giá cán bộ một cách chính xác nhất. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ ra 5 nhóm khuyết điểm của cán bộ, đó là: Năng lực hạn chế, yếu kém; phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí; thiếu gương mẫu, uy tín thấp; cố ý làm trái, trục lợi và các ngả đường “chạy”. Có thể coi đây là “tiêu đề” về khuyết điểm và căn cứ vào những hậu quả của những khuyết điểm để sàng lọc. Cụ thể 5 nhóm khuyết điểm trên và cách sàng lọc như sau:

1- Năng lực hạn chế, yếu kém: Nghị quyết số 26-NQ/TW chỉ rõ, nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế... Cách sàng lọc đối với những lãnh đạo mắc vào nhóm khuyết điểm này có thể là: phân loại cụ thể, nếu cán bộ mắc “toàn diện” các khuyết điểm, nhất là kỹ năng làm việc quá yếu kém thì thay thế ngay, vì nhiệm kỳ chỉ có 5 năm, khó có thể khắc phục một sớm, một chiều tất cả. Những cán bộ chỉ mắc một, hai khuyết điểm thì gia hạn thời gian khắc phục không quá một năm.

2- Phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí: Nghị quyết số 26-NQ/TW đã vạch ra, không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo dư luận xã hội, trong số này có không ít những người thuộc diện “con cha, cháu ông” ở nhiều cấp, nhiều ngành được đưa vào “hàng ngũ”, rồi cứ thể đẩy lên (chẳng phải nhọc công phấn đấu gì!). Thậm chí có lãnh đạo cấp dưới còn phát biểu rằng, các anh bên trên làm được thì “chúng em” bên dưới cũng làm theo thôi! Đây là một thực tế đáng buồn, cần quan tâm xử lý ngay. Với cán bộ trong nhóm khuyết điểm này, sau khi đánh giá, những cán bộ xét thấy chưa có thành tích gì, không có triển vọng thì điều chuyển khỏi vị trí công tác, tiếp tục rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách.

3- Thiếu gương mẫu, uy tín thấp, Nghị quyết số 26-NQ/TW đã cụ thể hóa: Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”... Các khuyết điểm trong nhóm này là rất trầm trọng, mất uy tín chính là hậu quả của khuyết điểm, là kết cục của việc lâm vào một hay nhiều khuyết điểm trong nhóm. Cách sàng lọc cán bộ mắc vào nhóm khuyết điểm này có thể là, trước hết, những ai đã mắc vào các tội phạm về tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tốt nhất là “dũng cảm” tự nguyện rút lui - từ chức; xử lý hành chính hoặc hình sự tùy mức độ vi phạm, vì đây là những trọng tội, là một trong những nguyên nhân gây nên những bức xúc cho xã hội. Không nên để người dân bị ám ảnh bởi trong đội ngũ lãnh đạo, quản lý lại vẫn tồn tại những người có hành vi tham nhũng, “lợi ích nhóm”...

4- Cố ý làm trái, trục lợi, Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định: Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là lĩnh vực “đặc thù”, người lãnh đạo, quản lý trực tiếp nắm giữ, quản lý tiền của, tài sản của Nhà nước. Lẽ ra, số cán bộ lãnh đạo, quản lý này phải góp phần đắc lực giúp Đảng, Nhà nước tổng kết hoạt động thực tiễn đổi mới từ cơ sở để có thể có những quyết sách mới về lãnh đạo, quản lý cho sản xuất - kinh doanh ở doanh nghiệp thì ngược lại, chẳng những họ không làm tròn nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao mà còn cố ý làm trái, trục lợi, vì lợi ích cá nhân, cục bộ. Chính họ là một trong những nguyên nhân của sự trì trệ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cách sàng lọc số cán bộ lãnh đạo, quản lý này là tiếp tục xử lý bằng kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước như đã làm, nhưng họ phải chịu trách nhiệm về hành vi làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Tiếp đó là tuyển chọn, thay thế bằng những lãnh đạo, quản lý có tâm huyết, có đức độ, có năng lực và đặc biệt là phải có trình độ nghiệp vụ quản lý sản xuất - kinh doanh.

5- Về nhóm người chạy đua các ngả: Nghị quyết số 26-NQ/TW đã liệt kê khá cụ thể các “con đường chạy”, đó là: Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Riêng nhóm khuyết điểm này phải “giải mã” cả hai chiều, “ai chạy” và “chạy ai”? Hai chiều có mối quan hệ nhân quả, “có chạy được thì người ta mới chạy”. Nhìn vào các “tuyến đường chạy”, khắc biết ai - cơ quan nào phụ trách các tuyến đường đó. Nhiều câu hỏi cần phải trả lời như: Vì sao họ chạy được, vô tư hay có điều kiện, điều kiện đó là gì? Đối với người chạy, phải kiểm tra xem “sức khỏe” của anh ta thế nào? Nghị quyết cũng đã khẳng định giải pháp này, đó là: Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương.../.

 

Văn hóa hòa bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh - ý nghĩa dân tộc và thời đại, giá trị vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay

Những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có giá trị về văn hóa hòa bình, thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng của Người đối với việc thiết lập một tương lai lâu dài trong quan hệ đối ngoại và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Giá trị của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh đã đi trước thời đại và càng phát huy mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Văn hóa hòa bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ nhất, hòa bình là khát vọng của mỗi con người, của bất kỳ dân tộc nào và của cả nhân loại, bởi trong mấy nghìn năm qua, loài người luôn mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình. Giải thích về nguồn gốc của khát vọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”. Có thể nói, tư tưởng hòa bình của Hồ Chí Minh - người chiến sĩ hòa bình quốc tế chân chính - đã được hình thành từ rất sớm và Người luôn kiên định theo đuổi tư tưởng này trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình.

Ngày 18-6-1919, trong thời gian hoạt động ở Pháp, thay mặt những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị Hòa bình Véc-xây (Pháp), bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Đây là hội nghị của các nước thắng trận trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bàn về phân chia lại thế giới và thiết lập một trật tự hòa bình, an ninh mới, được khai mạc vào ngày 18-1-1919, kéo dài trong vòng hai năm. Các nước thắng trận đã tuyên bố trước thế giới cuộc đấu tranh của họ là “văn minh chống dã man”, là trao trả độc lập thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã nêu tám yêu sách với những lời lẽ ôn hòa cùng cách ứng xử hòa bình. Đây là bản Tuyên ngôn văn hóa hòa bình đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thế nhưng, bản yêu sách đã không nhận được hồi âm. Tiếp đó, ngay trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đưa ra đề nghị năm điểm thông qua cựu sĩ quan tình báo người Pháp Giên Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny) gửi tới Chính phủ Pháp, đề xuất bầu một nghị viện do một người Pháp làm chủ tịch qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Sau năm năm, muộn nhất là 10 năm, nước Pháp sẽ trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, Pháp sẽ được hưởng những ưu tiên về kinh tế. Chính phủ Pháp vẫn “im lặng”. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương (ngày 20-10-1945), Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, cống hiến của nước Pháp cho văn hóa, khoa học văn minh và nêu lên những điểm tương đồng giữa hai dân tộc là khát vọng độc lập, tự do, đồng thời kêu gọi: “Hỡi những người Pháp ở Đông Dương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình - một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da ư”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thay mặt nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi thông điệp hòa bình hữu nghị đối với nhân dân toàn thế giới. Việt Nam muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam”. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, trong thời gian từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tám lần gửi thông điệp cho Tổng thống, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, đề nghị hòa bình. Đặc biệt trong thư ngày 10-1-1947, Người nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau”. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đường lối thống nhất đất nước bằng con đường thi hành hiệp định. Người vẫn bày tỏ: “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hòa bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”.

Đối với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư cho các tổng thống Mỹ, đề nghị Mỹ đàm phán để tìm giải pháp hòa bình. Trong lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ (tháng 11-1968), Người phân tích: “Trải qua gần một trăm năm dưới ách nô lệ thực dân và hơn 20 năm chống chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc, hơn ai hết, nhân dân ta rất thiết tha yêu quý hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng phải là hòa bình thật sự trong độc lập, tự do”.

Thứ hai, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh thấm đậm tinh thần nhân ái, khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hòa bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung. Người nhận xét: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Người có niềm tin vào cái thiện trong mỗi con người: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Người tin rằng, những con người lầm lạc vẫn có thể cải tạo, trở thành có ích cho xã hội: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,/ Phần nhiều do giáo dục mà nên”.

Khoan dung Hồ Chí Minh được dựa trên công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác và bất công xã hội, với những vi phạm quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lựa chọn giải pháp hòa bình, tránh bạo lực trong xung đột Pháp - Việt Nam. Người đã khôn khéo ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, rồi Tạm ước ngày 14-9-1946 với Pháp, mặc dù phải nhân nhượng rất nhiều. Người phân biệt nhân dân Pháp và thực dân Pháp, theo đó “chỉ đánh bọn thực dân, còn đối với những kiều dân không làm hại gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ phải bảo vệ tính mệnh và tài sản của họ”. Người đã tìm mọi cách để hạn chế những thương vong trên chiến trường cho cả hai phía. Người khẳng định “trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”. Để hạn chế thương vong, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng binh vận, địch vận. Tại Hội nghị quân sự lần thứ năm (tháng 8-1948), Người nhắc nhở: “Địch vận là tìm cách làm sao phá được địch mà không phải đánh. Cái đó là việc chính trị”. Mặt khác, Người cũng luôn nhắc nhở nhân dân và chiến sĩ phải đối xử nhân văn với tù binh Pháp. “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng... Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh”, “một dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý, nhân đạo”.

Đối với người Việt Nam “ở phía bên kia”, Người nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài... Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta... Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ”. Tấm lòng khoan dung, độ lượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ. Họ đã đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ, hy sinh. Không chỉ với những người lầm lạc mà cả với những người đối lập, Người cũng thể hiện một tấm lòng khoan dung, độ lượng khi họ đã ăn năn, hối cải.

Thứ ba, hòa bình trong văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là hòa bình chân chính trong độc lập, tự do. Hòa bình không có nghĩa là đầu hàng, nhân nhượng trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc. Trước hết, hòa bình phải đi liền với độc lập dân tộc, là chân lý, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời đấu tranh cho độc lập và củng cố độc lập dân tộc. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Người đã trích bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 và khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, Người nói rõ: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do... Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”. Người kêu gọi nhân dân Pháp: “Hỡi những người Pháp ở Đông Dương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình - một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da ư”. Ngày 1-1-1966, trong bức thư chúc mừng nhân dân Mỹ nhân dịp đầu năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình, nhưng hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thực sự. Vì đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cho nên nhân dân Việt Nam phải chống lại để bảo vệ độc lập và gìn giữ hòa bình”. Đáp lại luận điệu vu cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “phá hoại hòa bình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với thế giới: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, nhưng hòa bình không thể tách rời độc lập dân tộc. Nhân dân Việt Nam biết rằng muốn có hòa bình thực sự thì phải có độc lập thực sự; và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình”. Trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn, Người khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự”.

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ mọi cơ hội hòa bình, nhưng kiên quyết đấu tranh chống chiến tranh. Người là hiện thân cho ý chí quyết tâm giành độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức. Tháng 7-1945, Người nói: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Tinh thần đó được thể hiện mạnh mẽ trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Ngay sát thời điểm nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc do thực dân Pháp gây hấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh... Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách... Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi... Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy”. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Tha thiết với hòa bình nên khi xung đột xảy ra, Người kiên trì thuyết phục Chính phủ Pháp “lập lại ngay nền hòa bình để tránh cho hai nước chúng ta khỏi bị hao người thiệt của, và để gây lại sự cộng tác và tình thân thiện giữa hai dân tộc chúng ta”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người đã đưa ra nhiều sáng kiến chấm dứt cuộc chiến. Đặc biệt, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn, ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”. Về giải pháp giải quyết cuộc chiến tranh, Người khẳng định: “Chỉ cần để quốc Mỹ chấm dứt xâm lược, chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam giải quyết lấy công việc của mình như Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định, thì tức khắc có hòa bình ở Việt Nam”.

Thứ năm, một nét đặc biệt của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là trong chiến tranh sẵn sàng tạo điều kiện cho kẻ thù rút lui trong danh dự. Người cho rằng, đối với kẻ thù, cái chính là đánh bại ý chí xâm lược của chúng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi xuất hiện khả năng thương lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “nếu Chính phủ Pháp muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng, và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình, thì nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sẵn sàng nói chuyện”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi ý chí xâm lược của Mỹ bị đánh bại, Việt Nam đã cùng Mỹ thương lượng hòa bình để chấm dứt chiến tranh. Người cũng nêu ra một cách giải quyết mang đậm tính nhân văn, đó là sẵn sàng “trải thảm đỏ” hay nối “nhịp cầu vàng” để Mỹ rút quân về nước.

Trong công tác tuyên truyền, sau Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các chiến sĩ: Ta chiến thắng rồi công tác tuyên truyền chỉ nên biểu dương tinh thần anh dũng của quân dân ta, không nên sỉ nhục Pháp. Vì như thế sẽ kích động tinh thần tự ái dân tộc của họ. Sau này đối với Mỹ, Bác cũng căn dặn như thế.

Ý nghĩa dân tộc thời đại của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh - giá trị vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Tiếp thu truyền thống dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng hòa hiếu, hòa bình, đề cao văn hóa đối thoại trong quan hệ với các nước, kể cả với kẻ thù xâm lược.

Năm 1923, nhà báo Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam, đã nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai... Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”. Văn hóa của tương lai mà Ô-xíp Man-đen-xtam nói đến chính là văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh, là sự kết tinh hoàn hảo nhất tinh hoa của văn hóa phương Đông và phương Tây, các giá trị truyền thống và hiện đại của nhân loại.

Tư tưởng về văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh đã đi trước thời đại và tỏa sáng mạnh mẽ. Tháng 9-1981, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công bố “Ngày Quốc tế Hòa bình” dành cho việc kỷ niệm, củng cố những lý tưởng hòa bình, và năm 1982, đã quyết định lấy Ngày 21-9 là Ngày Quốc tế hòa bình. Ngày 13-9-1999, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên bố và Chương trình hành động về văn hóa hòa bình. Những nội dung này đã được phản ánh trong văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh cả trong tư tưởng và hành động thực tế.

Những năm gần đây, thế giới và khu vực chứng kiến những diễn biến nhanh, phức tạp, chứa đựng các yếu tố bất an, bất định, bất ngờ, tác động đa chiều đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia, trong đó có nước ta. Nhiều nước và khu vực trên thế giới phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức và bất ổn. Đặt trong bối cảnh đó, những giá trị nhân văn cao đẹp của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh càng tỏa sáng, soi đường cho Việt Nam xây đắp hòa bình, giải quyết những vấn đề của quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Trên cơ sở phân tích, dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời gian tới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại;... chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, nhằm mục tiêu “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”. Về nhiệm vụ đối ngoại, Đại hội khẳng định, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại. Do đó, có thể thấy:

Một là, giữ vững môi trường hòa bình ổn định và bảo vệ độc lập, chủ quyền là hai trong năm nhiệm vụ của ngoại giao Việt Nam. Để thực hiện hai nhiệm vụ trên, cần sử dụng các công cụ khác nhau, như chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, luật pháp, văn hóa, tư tưởng, “sức mạnh cứng”, “sức mạnh mềm”...

Hai là, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là một nguồn “sức mạnh mềm” của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp vào sự nghiệp phát triển tư tưởng của nhân loại về một nền hòa bình bền vững. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân loại cần chung tay xây dựng một thế giới hòa bình vì đó là một khát vọng vĩnh hằng. Tuy nhiên, đó phải là “một nền hòa bình chân chính”, “trong độc lập tự do”, “bình đẳng, bác ái”, “xây trên công bình và lý tưởng dân chủ phải thay cho chiến tranh”, “phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da”, “là điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với dân tộc khác”. Cùng với đấu tranh cho hòa bình, phải kiên quyết chống chiến tranh xâm lược, chiến tranh đế quốc, chiến tranh phi nghĩa. Người cho rằng, đấu tranh và ủng hộ phong trào đấu tranh giành và bảo vệ quyền dân tộc cơ bản, giành và bảo vệ công bằng, bình đẳng, dân chủ trong quan hệ quốc tế chính là tạo ra nền tảng để xây dựng một trật tự quốc tế mới bảo đảm cho hòa bình trên thế giới. Đó chính là những yếu tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nhân loại trong tương lai.

Ba là, Việt Nam đã thực hiện khá thành công Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 và đã ban hành Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030, với mục tiêu là sử dụng công cụ văn hóa trong ngoại giao nhằm đưa quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài, biến điều kiện thuận lợi, vị thế đất nước thành nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời dùng các biện pháp ngoại giao để tôn vinh các giá trị, vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tăng cường sức mạnh mềm, nâng cao vị thế đất nước.

Để văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh tiếp tục là nguồn lực tinh thần vô giá, tiếp sức cho Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ hòa bình và xây dựng tương lai tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam cũng như nhân dân thế giới, cần tiếp tục lưu ý các vấn đề sau:

Thứ nhất,  tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng. Bên cạnh đó, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là vấn đề tương đối mới, do đó cần tiếp tục được nghiên cứu sâu, nhất là việc vận dụng trong thực tế.

Thứ hai, “sức mạnh mềm” Việt Nam là sự đóng góp tư tưởng nhân loại về một nền hòa bình bền vững, vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chiến lược ngoại giao công chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh phải được coi là một trong các vấn đề trọng tâm của ngoại giao công chúng. Ngoại giao công chúng không hẳn là ngoại giao văn hóa. Ngoại giao công chúng là phương thức ngoại giao đa chủ thể, sử dụng các phương tiện truyền thông đa dạng, nhằm tác động đến tình cảm, suy nghĩ của công chúng nước ngoài, tạo hình ảnh đẹp, hiệu ứng tích cực về đất nước mình, qua đó tác động tới chính sách, quan hệ ngoại giao với chính phủ nước ngoài. Ngoại giao công chúng bao trùm cả ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, thông tin, tuyên truyền đối ngoại... Ngoại giao công chúng cũng là thành tố tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng đầu tiên cho ngoại giao công chúng ở Việt Nam - đó chính là “ngoại giao tâm công” - ngay từ những ngày đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, nhờ đó đã giành được sự ủng hộ quý báu của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới và các tổ chức quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao văn hóa - một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam - quảng bá văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh ở trong nước và nước ngoài. Năm 2020, Việt Nam đã tổng kết 10 năm Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất, ở nước ngoài”. Thành tựu có nhiều, dư địa còn lớn, cần tiếp tục triển khai chương trình này trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp hình thành nên những giá trị trường tồn. Đây là hoạt động có ý nghĩa vô cùng lớn, thể hiện sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đấu tranh chung trên thế giới trước áp bức, bất công, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, nhất là ở các dân tộc thuộc địa; đồng thời, tôn vinh, đề cao lý tưởng cao đẹp, giá trị nhân văn sâu sắc và khát vọng của Người về một thế giới hòa bình, bình đẳng, hạnh phúc.

Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng biện pháp tổng hợp và chống bạo lực, chiến tranh phi nghĩa.

Thứ năm, sau những năm tháng chiến tranh, hòa bình có ý nghĩa và giá trị đặc biệt sâu sắc đối với Việt Nam, vì vậy việc xây dựng văn hóa hòa bình ngay trong lòng nhân dân cũng đóng vai trò không nhỏ. Ngày nay, hòa bình không chỉ bao hàm độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia mà còn là môi trường bền vững, an ninh con người, xã hội công bằng, hòa thuận, lối sống nhân văn. Tác động hai mặt của phát triển kinh tế, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang đặt ra thách thức về giá trị sống và quan hệ xã hội, dẫn đến tình trạng bạo lực gia tăng. Mặt khác, hướng tới một xã hội văn minh nhân ái đòi hỏi đẩy lùi bạo lực, đặt ra yêu cầu về giáo dục để trở thành một công dân tốt, góp phần vì mọi người và xã hội. Phấn đấu cho văn hóa hòa bình là phấn đấu vì chất lượng và ý nghĩa của cuộc sống. Hưởng ứng Ngày Quốc tế hòa bình của Liên hợp quốc (ngày 21-9), nhiều địa phương ở nước ta, như Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh... đã tổ chức “Ngày hòa bình, phi bạo lực”, được đông đảo người dân tham gia. Đó cũng là tư tưởng văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh cần tiếp tục nhân rộng.

Hòa bình luôn là mong ước, là khát vọng thường trực và hiện hữu của nhân loại, là đích đến trong mọi hành trình và là sợi dây để kết nối toàn cầu. Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là “sức mạnh mềm” Việt Nam. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và bảo vệ độc lập, chủ quyền là hai nhiệm vụ đối ngoại quan trọng được Đại hội XIII của Đảng đề ra. Triển khai mạnh mẽ, hiệu quả Chiến lược ngoại giao văn hóa, Chiến lược ngoại giao công chúng đến năm 2030, mà văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là nội dung quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại trên./.

Xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân.


NHỮNG CHUẨN MỰC CỦA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ được coi là những điều quy định làm căn cứ để đánh giá phẩm chất, nhân cách của người đảng viên, để xem người đó có xứng đáng là thành viên trong đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân, xứng đáng đảm nhận trọng trách với sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng, những nhà tư tưởng quan tâm và bàn luận nhiều nhất vấn đề đạo đức, đặc biệt là đạo đức cách mạng. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, các lĩnh vực hoạt động của đời sống, trong các mối quan hệ và bản chất của con người, Hồ Chí Minh đã nêu lên chuẩn mực, những giá trị chung nhất, cơ bản nhất mang tính phổ quát của nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng.

Người khái quát nội hàm đạo đức cách mạng là: “Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(1); “Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân”(2). Người nêu bật những phẩm chất của người cách mạng cần được bồi đắp là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(3). Như vậy, chuẩn mực đạo đức cách mạng theo Hồ Chí Minh không nằm ngoài những yêu cầu trong các chuẩn mực, hành vi đạo đức thông thường, mà là sự đòi hỏi cao hơn, trách nhiệm hơn đối với cái chung và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng.

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, người đảng viên chịu không ít những tác động tiêu cực, trong đó tác động trực tiếp và mạnh nhất đối với cán bộ, đảng viên chính là mặt trái của quyền lực, mặt trái của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế.Cần đặc biệt lưu ý là mặt trái của quyền lực kết hợp với mặt trái của kinh tế thị trường, đã tạo thành một sự cộng hưởng gây nên những tiêu cực, suy thoái về đạo đức trong cán bộ, đảng viên hết sức nghiêm trọng. Tình hình đó đòi hỏi chuẩn mực đạo đức của người đảng viên cần có sự phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Văn kiện XIII của Đảng nêu yêu cầu phải “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”(4).

PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC TIÊU BIỂU CỦA MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Để thực hiện có hiệu quả và thực chất chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; một trong những vấn đề mang tính căn cốt là phải xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó nền tảng, tạo sức mạnh nội sinh để mỗi cán bộ, đảng viên đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, những thói hư tật xấu, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là người lãnh đạo trung thành và tận tụy của nhân dân. Có thể đề xuất một số phẩm chất đạo đức tiêu biểu của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay như sau:

Thứ nhất, bản lĩnh chính trị.

Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là thành viên của một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Sứ mệnh đó đòi hỏi Đảng và mỗi đảng viên phải rất vững vàng, độc lập, sáng tạo trong việc đề ra và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách cũng như xây dựng nội bộ Đảng đoàn kết, vững mạnh; không dao động trước khó khăn, thử thách.Bởi vậy, bản lĩnh chính trị là phẩm chất chính trị tuyệt đối cần thiết đối với Đảng Cộng sản cũng như đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng.

Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên biểu hiện ở nhiều phương diện, trong đó nổi bật là sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của cách mạng xã hội chủ nghĩa; sự trung thành với Tổ quốc, Đảng; sự vững vàng trước mọi tình huống, sự quyết tâm phấn đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ, vì lợi ích của Đảng, của giai cấp, dân tộc và nhân dân. Hồ Chí Minh căn dặn mỗi đảng viên “phải giữ chủ nghĩa cho vững”(5), "Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới"(6). Kiên định mục tiêu, lý tưởng, tức là vô luận lúc nào, vô luận việc gì, cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau, nếu khi "lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng"(7). Người phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động. “Suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân"(8) là phẩm chất cao quý của người cách mạng” - đó là “tính Đảng”, là nguyên tắc cao nhất của Đảng mà mỗi đảng viên phải tuyệt đối chấp hành. Đó cũng là điều kiện tiên quyết hình thành những tình cảm tốt đẹp, cao cả, nhiệt huyết cách mạng, tình cảm và ý chí cách mạng của người đảng viên không ngừng phấn đấu cho sự nghiệp chung, phấn đấu đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đóng góp trí tuệ, sức lực, tài năng cho việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhằm tạo cơ chế, góp phần xây dựng và tăng cường bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Hồ Chí Minh đã từng lưu ý cán bộ, đảng viên: “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(9). Công cuộc Đổi mới mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thực hiện là một cuộc vận động mang tính cách mạng toàn diện và sâu sắc, diễn ra trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là một quá trình khó khăn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa có mô hình định sẵn. Mặt khác, trong thời đại công nghệ và toàn cầu hóa hiện nay, thế giới đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, nhiều vấn đề phức tạp mới nảy sinh. Từ đó, đòi hỏi Đảng Cộng sản lãnh đạo sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tiềm lực tư tưởng, khoa học mạnh mẽ ở trình độ cao của trí tuệ xã hội và thời đại, trong đó đảng viên phải là người có học thức, có năng lực trí tuệ và sáng tạo, có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Cầu tiến bộ, ham học hỏi là phẩm chất đạo đức cách mạng rất căn bản, bởi chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt thì Đảng mới không bị lạc hậu, mới đủ sức mạnh trí tuệ để lãnh đạo dân tộc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Phẩm chất này đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nhanh chóng nắm bắt kiến thức khoa học hiện đại, trước hết là trong lĩnh vực hoạt động của mình, bắt kịp những thành tựu mới trong lĩnh vực chuyên môn mà mình đảm nhiệm. Phẩm chất này đòi hỏi mỗi người phải chống lại thái độ chây lười, ngại học tập, nâng cao trình độ, thoả mãn với vốn kiến thức đã có, coi thường khoa học, lý luận, đề cao kinh nghiệm, chống lại tình trạng cán bộ, công chức, đảng viên mà không thành thạo chuyên môn, chức trách, công việc được giao, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như sự tin tưởng của nhân dân với cán bộ, đảng viên. Xã hội càng hiện đại càng đòi hỏi trình độ kiến thức cao. Với sự nỗ lực học tập không ngừng, cán bộ, đảng viên mới có đủ khả năng lãnh đạo, quản lý xã hội phát triển.

Thứ ba, giữ vững kỷ luật Đảng và nghiêm chỉnh thực thi pháp luật của Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật”(10). Người yêu cầu “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(11). Là đảng viên cộng sản, thì khi nào và ở đâu cũng phải chịu sự phân công, quản lý của tổ chức Đảng, phải hành động theo phạm vi kỷ luật của tổ chức. Đảng viên chẳng những phải giữ gìn kỷ luật của Đảng mà còn phải giữ gìn kỷ luật của chính quyền, của cơ quan, đoàn thể cách mạng, của nhân dân, bởi “kỷ luật của chính quyền, của đoàn thể, nhân dân và Đảng cũng là một”(12). Đối với cán bộ, đảng viên càng có công thì càng phải khiêm tốn, đảng viên giữ vị trí càng cao, càng phải gương mẫu và nếu mắc sai phạm càng phải chịu kỷ luật nghiêm khắc. Trong bất kỳ trường hợp nào, mọi đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và bình đẳng về mặt công dân trước pháp luật, không được “tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật”(13). Mọi đảng viên có quyền trình bày ý kiến riêng của mình. Song, khi đã có nghị quyết của tập thể thì phải làm theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức. Phục tùng kỷ luật, đó là “bổn phận”, là “nghĩa vụ” của đảng viên, ngược lại “không giữ vững kỷ luật của Đảng, không kiên quyết chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng, không thiết tha quan tâm đến lợi ích của Đảng - là trái với nghĩa vụ của đảng viên”(14).

Ý thức tổ chức kỷ luật của đảng viên phải được thể hiện cả trong suy nghĩ lẫn trong hành động, cả trong cách nói lẫn trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày và trong công việc. Đảng viên phải gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất đặc biệt là bệnh tham ô, tham nhũng.

Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là ăn cắp của công, là nhũng nhiễu, gian lận, đục khoét nhân dân, là tham lam, là trộm cướp. Trong công cuộc Đổi mới, từ Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta đã nhận thức một cách sâu sắc thực trạng và những tác hại sâu sắc của căn bệnh này: “Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân (...). Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng”(15). Văn kiện Đại hội XIII thẳng thắn nêu lên khuyết điểm, hạn chế trong Đảng “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn phức tạp… Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”(16). Bởi vậy, bên cạnh việc nêu cao đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên thì việc tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật của Đảng; xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nghiêm minh là biện pháp cực kỳ cần thiết nhằm làm trong sạch hóa đội ngũ cán bộ.

Tăng cường ý thức kỷ luật không có nghĩa là thủ tiêu sự sáng tạo cá nhân của các cán bộ, đảng viên, đặc biệt trong công cuộc đổi mới toàn diện hiện nay rất cần tư duy, nhận thức mới có tính đột phá, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, nhanh chóng đời sống kinh tế xã hội. Song điều đó không có nghĩa đảng viên có thể là vượt qua các nguyên tắc, vi phạm các quy chế của Đảng, đặt mình ra ngoài tổ chức, đứng trên tổ chức, vi phạm các nguyên tắc tổ chức. Ý thức tổ chức, kỷ luật, đoàn kết nội bộ là một phẩm chất tiên quyết của đạo đức cách mạng. Nó bảo đảm cho các phẩm chất khác có thể thực hiện được trọn vẹn, đầy đủ và hoàn chỉnh.

Thứ tư, trọng dân, yêu dân, tin dân, gần dân, học dân.

Đảng ta đã xác định chế độ chính trị của nước ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, trau dồi quan điểm và thái độ đúng đắn đối với quần chúng, coi việc tôn trọng, học hỏi, có quan hệ mật thiết với quần chúng là một vấn đề thuộc về phẩm chất, tư cách, đạo đức của đảng viên.

Đảng ta là đảng cầm quyền, vì vậy, nhiều cán bộ, đảng viên là những người lãnh đạo, quản lý. Cán bộ, đảng viên còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, là người tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước. Bởi vậy, có yêu dân, có tin dân, có trọng dân, đảng viên mới hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mới tích cực lắng nghe ý kiến của nhân dân, mới có thể khơi dậy và phát huy sức mạnh trí lực, nhân lực và tài lực của nhân dân. Có gần dân, đảng viên mới hiểu đời sống xã hội thực tiễn phong phú, sinh động đang diễn ra; mới nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân để đề ra các chủ trương, biện pháp phù hợp cũng như làm cho dân hiểu, dân tin vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có học hỏi dân, đảng viên mới mở mang, làm giàu thêm hiểu biết của mình bằng trí tuệ sáng tạo và kinh nghiệm phong phú của nhân dân.

Đương nhiên, trong quá trình phát huy dân chủ phải chống thái độ theo đuôi quần chúng. Đặc biệt với sự bùng nổ công nghệ thông tin, sự phổ biến rộng rãi của các mạng xã hội như hiện nay, một vấn đề đưa có rất nhiều quan điểm, nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên với tư cách là người lãnh đạo quần chúng, cần phải có đủ tầm, đủ tâm, đủ bản lĩnh để biết lắng nghe, chắt lọc những gì là thích hợp và đúng đắn. Sâu xa hơn, mỗi cán bộ, đảng viên cần luôn phải tự ý thức một chân lý hiển nhiên: có nhân dân thì mới có cán bộ, đảng viên; nhân dân bầu ra cán, trả lương cho cán bộ; không "trọng" dân, tức là đã phản bội người đã bầu mình, nuôi mình. Không “gần dân, trọng dân”, đó không chỉ là sự vi phạm đạo đức đảng viên mà rộng hơn là sự tha hóa của đạo đức “làm người”.

Thứ năm, phòng chống chủ nghĩa cá nhân.

Ngay sau khi Đảng trở thành Ðảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước hoàn cảnh mới, người cán bộ, đảng viên rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân. Người chỉ rõ: Chủ nghĩa cá nhân là trong bất cứ công việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết, muốn cho mọi người vì mình trước khi mình vì mọi người. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, mệnh lệnh, v.v.... Từ đó, Người đặt ra nhiệm vụ “xoá sạch chủ nghĩa cá nhân”(17) là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục trong công tác xây dựng Đảng.

Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo duy nhất và nhất từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng có điều kiện phát triển. Mục tiêu làm giàu bằng mọi giá, coi trọng lợi ích vật chất đã và đang trở thành cái đích hướng tới của không ít người. Do vậy, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với một số người có chức, có quyền nếu thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng, họ rất dễ bị cám dỗ và sa ngã bởi lợi ích vật chất "che mắt", việc lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, tham nhũng, làm giàu bất chính dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biến chất về phẩm chất chính trị là hệ quả tất yếu. Chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phục tùng kỷ luật tập thể, biết đặt “việc công, lợi ích công” lên trên hết và trước hết, kiên quyết loại bỏ ham muốn không chính đáng, làm phương hại đến lợi ích tập thể, lợi ích của Đảng, của nhân dân và dân tộc.

Nêu cao chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là hy sinh lợi ích chính đáng của cá nhân, xóa bỏ cá tính cá nhân. Chủ nghĩa tập thể kết hợp hài hoà quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Giữ vững kỷ luật tập thể, tổ chức đồng thời tôn trọng sáng kiến cá nhân, phát triển cá tính, phát triển nhân cách và năng lực sáng tạo, đóng góp riêng của mỗi cá nhân. Làm được điều đó, mới có thể gắn bó, đoàn kết mọi người trong tổ chức và tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng.

Ở bất kỳ giai đoạn nào, sự hoàn thiện đạo đức trong Đảng với những tấm gương sáng về đạo đức của cán bộ, đảng viên luôn có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến những giá trị đạo đức của toàn xã hội, của dân tộc. Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có một thực tế là, hệ thống thang giá trị chuẩn mực xã hội được hình thành trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã và đang biến đổi. Bởi vậy, để thực hiện nhiệm vụ cao cả, cần thiết nhưng hết sức khó khăn và phức tạp hiện nay là xây dựng Đảng về đạo đức, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải định hướng những chuẩn mực đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đạt được. Đạt được những chuẩn mực đó, sẽ làm trong sạch Đảng, giải quyết những bức xúc của nhân dân, củng cố lại niềm tin của dân với Đảng, nâng Đảng lên tầm cao mới, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. 

TS. Lê Thị Hằng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

--

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.9, tr. 354.

(2) (11) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr.169, 611, 169

(3) (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292, 291.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.184.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 280.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 467.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.611.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 333.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 17.

(12) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 11, 284

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 67

(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 15, 76

(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, tập II, tr. 222

Tuyengiao.vn

Sáng mãi đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng

 

Lợi dụng những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình quân sự, an ninh mới đây trên thế giới, nhất là tranh chấp, xung đột trên Biển Đông, các thế lực thù địch (TLTĐ) đã tung ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) của Đảng. Cả lý luận và thực tiễn đã cho thấy, đường lối QPTD do Đảng ta xác lập từ trước đến nay là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nhận diện luận điệu, bản chất quan điểm sai trái, thù địch

  Từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) của nhân dân ta luôn thu được những thành tựu rực rỡ, tô thắm lịch sử hào hùng của dân tộc, chẳng những được cả thế giới ca ngợi, mà kẻ thù đều phải nể phục. Nhân dân ta không chỉ giành được độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ do cha ông để lại, mà còn xây dựng đất nước giàu mạnh, “chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nguyên nhân của mọi thắng lợi đó là do có một Đảng Cộng sản Việt Nam chân chính và cách mạng lãnh đạo, với đường lối xây dựng và BVTQ đúng đắn, nhất là đường lối QPTD, chiến tranh nhân dân BVTQ; được hết thảy mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng và đi theo, bạn bè quốc tế hết lòng ủng hộ.

Thấy được nguồn gốc tạo nên sức mạnh và thành tựu vĩ đại đó, cay cú với thành quả của đất nước và nhân dân ta xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng, các TLTĐ đã tung ra những luận điệu như: Đường lối quốc phòng và chiến tranh nhân dân là “sự khai thác, hoang phí, tận dụng” sức dân cho “lợi ích của Đảng”, nguyên nhân của mâu thuẫn, bất hòa giai cấp, tầng lớp nhân dân, nguồn gốc của chia rẽ dân tộc, chia cắt lãnh thổ, xung đột, chiến tranh hai miền Nam - Bắc trước đây...; đó là đường lối quốc phòng “không phù hợp với Việt Nam”; làm “suy yếu” khả năng quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, biển đảo; quốc phòng, an ninh là việc riêng của nhà nước, LLVT,  phải “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, xây dựng quân đội “chuyên nghiệp”, “nhà nghề”, liên minh quân sự…

Thực chất đó là những lời man trá, tráo trở, “đổi trắng thay đen” lịch sử cách mạng quốc phòng Việt Nam, sự xuyên tạc lịch sử, lật sử, phủ nhận thành tựu QPTD, BVTQ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mục đích của nó: Về tư tưởng, nhằm tạo nên sự nhận thức mơ hồ, sai lệch, thay đổi niềm tin của nhân dân đối với đường lối QPTD của Đảng và sự nghiệp xây dựng nền QPTD của nhân dân ta. Về chính trị, nhằm lợi dụng ý chí, chiếm đoạt sức mạnh chính trị, tinh thần của nhân dân, thiết chế của Nhà nước để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, thay đổi đường lối QPTD, thiết lập đường lối quốc phòng “chuyên nghiệp”, “hiện đại” - vì lợi ích của giai cấp tư sản, tư nhân, thế lực dân tộc cực đoan, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Về quân sự, sẽ dùng chính sức mạnh quân sự, vũ trang nhân dân để thủ tiêu Đảng Cộng sản và chế độ XHCN, thành quả cách mạng của nhân dân.

Đối tượng tác động chủ yếu của nó là bộ phận người thiếu hiểu biết về nền QPTD, nghĩa vụ, trách nhiệm BVTQ; con cháu người chế độ cũ; thành phần tiêu cực, bất mãn, cơ hội, vi phạm luật pháp…, nhất là bộ phận công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước, người có khả năng đưa ra khuyến nghị, sáng kiến pháp luật về quốc phòng, an ninh… Con đường chủ yếu của nó là tận dụng phương tiện truyền thông, cả truyền thống và hiện đại, nhất là internet, mạng xã hội… để thẩm thấu thông tin sai lạc, nuôi dưỡng tư tưởng, ý chí quốc phòng đối lập; lợi dụng các sự kiện lập pháp, pháp lý, sự cố về quốc phòng, an ninh để kích động tư tưởng, hành động chống đối nghĩa vụ quân sự, trách nhiệm quốc phòng, BVTQ của thanh niên, người dân, doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nhà nước… Bản chất của các luận điệu đó là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quốc phòng, nhằm hướng lái nền quốc phòng Việt Nam theo tư tưởng, đường lối quốc phòng tư sản; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, xây dựng LLVT, nhất là với Quân đội nhân dân; triệt tiêu nguồn lực sức mạnh toàn dân BVTQ.

Nhận thức đúng đắn về đường lối quốc phòng toàn dân

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam. Sứ mệnh lịch sử của Đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, tiến theo con đường XHCN. Ngoài lợi ích của nhân dân và của cả dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Vì vậy, đường lối chung của Đảng, nhất là đường lối quốc phòng đều là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và của cả dân tộc.

Đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng về bản chất là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo truyền thống văn hóa giữ nước, toàn dân đánh giặc của dân tộc, trên nền tảng lý luận Mác - Lênin về vũ trang toàn dân, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân và tinh hoa quốc phòng của nhân loại vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó không phải là một sự sao chép y nguyên, mà là sự kế thừa có chọn lọc, là sự vận dụng nhưng rất sáng tạo những tư tưởng quân sự, quốc phòng, BVTQ của dân tộc và thời đại trong cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, bành trướng xâm lược, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cường quyền đã và đang nổi lên nhằm giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm, BVTQ và xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam.

Từ thời các vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, dân tộc ta luôn đứng trước những thế lực ngoại xâm hùng mạnh gấp nhiều lần, trong điều kiện đất không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển… thì lấy đâu ra nhân lực và nguồn lực dồi dào để có quân đội thường trực hùng hậu. Thánh Gióng - biểu tượng của tráng sĩ, chiến sĩ chống ngoại xâm, nếu không có cha mẹ sinh ra, không có dân làng góp gạo thổi cơm, không có triều đình lo đúc, rèn ngựa, giáp, roi sắt cho… thì dù có tài giỏi đến mấy cũng làm sao có thể đánh tan được giặc Ân… Do vậy, “tận dân vi binh”, “cả nhà cha con đều là lính”, “cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc”… là những tư tưởng quân sự, quốc phòng tiêu biểu, tinh hoa nhất của cha ông ta đã xác lập và được thực tiễn quốc phòng chứng minh là đúng đắn. Vậy, hà cớ gì mà lại đưa ra những lời lẽ phủ nhận những tư tưởng đó trong đường lối QPTD của Đảng.

Thời kỳ thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ và chư hầu xâm lược Việt Nam (1945 - 1975), dân số nước ta có khoảng 20-30 triệu người; nền kinh tế lạc hậu, không đồng nhất, đất nước bị chia cắt, chiến tranh tàn phá khắp nơi; trong khi thế lực ngoại xâm không chỉ quân đông, vũ khí hiện đại, tiềm lực quân sự dồi dào, được cả thế giới tư bản hậu thuẫn, “trang bị đến tận răng”… nếu nhân dân ta không dựa vào đường lối xây dựng QPTD, chủ trương toàn dân đánh giặc của Đảng, không kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận tiến bộ của thời đại - Học thuyết Mác - Lênin về BVTQ XHCN, vũ trang toàn dân, không nhờ vào sự ủng hộ của bạn bè, nhân dân, chính phủ tiến bộ thế giới, đặc biệt là huy động hết sức mạnh tiềm tàng của toàn thể dân tộc Việt Nam… thì làm sao có thể đánh đuổi được thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Sau năm 1975, tuy đất nước đã thống nhất, non sông liền một dải, nhưng thực sự nền kinh tế đã kiệt quệ, cơ sở hạ tầng bị cuộc chiến 21 năm tàn phá nặng nề, nhân dân còn thiếu đói, tàn dư của chế độ cũ, thế lực phản động nổi dậy chống phá ở nhiều nơi; chủ nghĩa đế quốc, bành trướng, dân tộc cực đoan cấu kết với nhau, bao vây, cấm vận, tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt nước ta; nguồn viện trợ của các nước XHCN bị thu hẹp, chấm dứt sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Cũng từ năm 1975, nhân dân cả nước ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược mới của bè lũ diệt chủng Polpot câu kết với thế lực bành trướng gây ra suốt nhiều năm ròng rã… Thử hỏi, nếu không có đường lối QPTD, nếu nhân dân không tham gia vào nền QPTD… thì liệu có được một Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất và giàu mạnh như ngày hôm nay hay không? Quả thực, chỉ có sự tham gia của toàn dân vào sự nghiệp quốc phòng thì mới có được một đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân cả nước thực hiện QPTD, tham gia chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966.

Ngày nay, tuy thế và lực của cách mạng nước ta, trong đó có tiềm lực quân sự, quốc phòng đã lớn mạnh hơn nhiều nhờ thành tựu của hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, nhưng so với tiềm lực của các thế lực ở khu vực và trên thế giới có tham vọng về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, chia cắt, thôn tính, cướp đoạt lợi ích quốc gia - dân tộc… thì còn vô cùng nhỏ bé. Đặc biệt là trước những “mưu ma chước quỷ” của các TLTĐ của đối tượng có mưu đồ chống phá nền độc lập dân tộc, con đường phát triển của nhân dân Việt Nam… thì việc tiếp tục thực hiện đường lối QPTD, tham gia xây dựng nền QPTD là lẽ tự nhiên của mọi người dân Việt Nam, không thể tranh cãi.

Toàn dân tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Để làm thất bại những mưu đồ phủ nhận đường lối QPTD của Đảng, con đường đúng đắn và hiệu quả nhất chính là tiếp tục đẩy mạnh “Phong trào toàn dân BVTQ”, tham gia xây dựng nền QPTD. Cụ thể là:

Nâng cao nhận thức của nhân dân về đường lối QPTD. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, hệ thống tuyên giáo, tuyên huấn đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về đường lối QPTD - tổng thể phương hướng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm chỉ đạo, chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền QPTD; bản chất “vì dân, do dân, của dân”, tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường, ngày càng hiện đại của nền quốc phòng; sự kết hợp chặt chẽ mọi lĩnh vực của đất nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển bền vững đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược, bạo loạn lật đổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Nội dung quan trọng là xây dựng nền QPTD vững mạnh toàn diện, bao gồm: Xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, xác lập, thực thi đúng đắn cơ chế lãnh đạo và quản lý quốc phòng. Xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần là cơ bản, thực hành tư tưởng “người trước, súng sau”, lấy con người làm trung tâm của công cuộc giữ nước; xây dựng tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ là nền tảng; xây dựng tiềm lực quân sự, nâng cao khả năng sức mạnh chiến đấu của quân đội, dân quân tự vệ và khả năng huy động nhân lực, vật lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.

Xây dựng nền QPTD không chỉ đã được thực tiễn lịch sử dân tộc chứng minh là hoàn toàn đúng đắn, khai thác và phát huy sức mạnh toàn dân BVTQ, là phát huy giá trị giữ nước đặc sắc, niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, cái mà không phải quốc gia - dân tộc nào cũng có thể có được; mà còn là vũ khí vô địch của nhân dân ta khiến mọi mưu đồ phá hoại nền quốc phòng, dã tâm thôn tính, xâm lược đều phải thất bại; công cụ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giữ vững hòa bình, bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta ngày nay. 

Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh tư tưởng, lý luận với đấu tranh hành chính -  pháp lý chống “diễn biến hòa bình”, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quốc phòng. Đi liền với tích cực vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các luận điệu sai trái về quốc phòng, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực báo chí, tuyên truyền, phòng chống tác động về nhận thức, tư tưởng của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quốc phòng; cả hệ thống chính trị cần tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng ngừa thủ đoạn thâm nhập, tình báo, gián điệp, “câu nhử” từ bên ngoài. Thực hiện nghiêm quy trình của công tác cán bộ, phòng ngừa thủ đoạn “chui sâu, leo cao” của các phần tử thoái hóa, biến chất, phản động; ngăn ngừa mầm mống sai lệch, phản động về quốc phòng, mưu đồ hướng lái quốc phòng Việt Nam chệch khỏi đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước từ hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhất là cái gọi là “kiến nghị”, “sáng kiến pháp luật” về quốc phòng.

Nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ BVTQ của hệ thống chính trị và toàn dân. Mọi cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phải thực hiện hết nghĩa vụ và trách nhiệm quốc phòng theo pháp luật quy định. Mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, Mặt trận Tổ quốc… bằng nhiều hình thức, biện pháp cụ thể thực hiện nghĩa vụ, tham gia sâu rộng vào các hoạt động quốc phòng. Mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, vùng miền, ở trong hay ngoài nước nhiệt tình tham gia thực hiện đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ BVTQ, làm cho “Phong trào toàn dân BVTQ” ngày càng sinh động và hiệu quả hơn. Nhờ sự tham gia của toàn dân, toàn diện của các lĩnh vực của đất nước, thì chẳng những ý chí tự lực, tự cường về quốc phòng của nước ta được nâng lên, mà còn sẽ nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp quốc phòng của nước ta.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, xây dựng LLVT nhân dân. Trong mọi tình huống về kinh tế, xã hội, an ninh, nhất là về quốc phòng, đều phải kiên quyết giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Phương thức cơ bản nhất không chỉ là khẳng định sự đúng đắn của các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước về quốc phòng, mà còn là vừa phòng ngừa những nguy cơ sai lầm về đường lối, thay đổi bản chất quốc phòng “của dân, do dân, vì dân”; vừa tăng cường cụ thể hóa, hiện thực hóa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng. Kiên trì và kiên quyết triển khai thực hiện nghiêm những chủ trương, chính sách về quốc phòng mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; thể chế hóa, cụ thể hóa hệ thống pháp luật về quốc phòng trong đời sống của xã hội, làm cơ sở nâng cao ý thức chính trị, trách nhiệm pháp lý về quốc phòng cho xã hội và toàn dân thực hiện.

Huy động sức mạnh của cả nước và toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt xây dựng nền QPTD. Quân đội ta là “Quân đội nhân dân”, chiến đấu hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Để thực hiện đường lối, chủ trương xây dựng Quân đội trong thời kỳ mới của Đảng, không chỉ nhờ vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, mà còn phải trông cậy vào toàn dân, sức mạnh nhân dân mọi miền đất nước. Mọi thành phần, lực lượng, binh chủng cấu thành của Quân đội, không chỉ phải nỗ lực hết hình giương cao ngọn cờ “Quyết chiến, quyết thắng”, “tự lực, tự cường”, nâng cao bản lĩnh, khả năng và trình độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong hoàn cảnh mới của đất nước, thế giới, mà còn phải nhờ cậy vào sự giúp đỡ của toàn dân và cả nước. Ý thức, trách nhiệm, những hành động cụ thể, thường xuyên, hằng ngày của nhân dân, nhất là thanh niên và các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể tham gia ủng hộ và xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh chính là con đường đúng đắn nhất mà nhân dân ta đang rèn đúc nên công cụ, “vũ khí” cho nền QPTD của mình.

Quốc phòng toàn dân vừa là đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, vừa là ý chí, nguyện vọng, hành động chính đáng của nhân dân ta. Đường lối QPTD của Đảng mãi mãi là ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối cho toàn dân ta xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu./. 

Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Quang

Dangcongsan.vn