Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

CỤC DIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ MỚI - NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ ĐIỀU CHỈNH CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

 

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc./.

                                                                                            VHT.

Cái giá cho sự tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam

 

          Ngày 23/3/2022, TAND TP Hà Nội mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn Dũng (tức Dũng “vô va”, SN 1970, trú tại phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội) bị truy tố về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

          Liên quan đến vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn Son (SN 1956, trú tại xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, Hà Nội) bị TAND TP Hà Nội xét xử về tội “Che giấu tội phạm”.

          Trước đó, ngày 7/12/2021, Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội hồ sơ đối tượng Lê Văn Dũng có hành vi sử dụng không gian mạng Internet đăng tải các video, clip có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

          Theo cáo trạng, đối tượng Lê Văn Dũng có quá trình tham gia hoạt động tụ tập đông người, gây mất trật tự công cộng và thường xuyên gây rối, biểu tình chống Nhà nước. Trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2012, Lê Văn Dũng đã 3 lần bị Công an quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.

Bị cáo Dũng và bị cáo Son tại phiên tòa.

          Từ tháng 3/2017 đến tháng 9/2018, Lê Văn Dũng đã làm, đăng tải lên mạng Internet 12 video, clip có nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bị đặt gây hoang mang trong nhân dân…

          Do Lê Văn Dũng bỏ trốn, Cơ quan An ninh điều tra đã ra quyết định truy nã “đặc biệt” và đã thông tin lên các phương tiện truyền thông để quần chúng nhân dân biết, phát hiện và bắt giữ. Ngày 30/6/2021, Cơ quan An ninh điều tra đã bắt giữ Lê Văn Dũng khi đối tượng đang lẩn trốn tại nhà của Nguyễn Văn Son.

          Nguyễn Văn Son biết Lê Văn Dũng đang bị truy nã nhưng không thông báo cho cơ quan chức năng, hàng ngày vẫn nấu cơm cho Dũng ăn. Theo lời khai của Lê Văn Dũng, năm 2017, Dũng đã tạo lập tài khoản “Alfonso Vô va” trên mạng xã hội Facebook.

          Sau đó, Lê Văn Dũng đã sử dụng tài khoản trên đăng tải các video, clip liên quan đến nhiều nội dung, lĩnh vực trong xã hội. Những video, clip này Lê Văn Dũng tự làm, việc dàn dựng kịch bản, thực hiện quay phát các video, clip trên do Dũng tự thực hiện bằng hình thức quay video trực tiếp.

          HĐXX nhận định, đây là vụ án nghiêm trọng, xâm phạm tới an ninh quốc gia. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi vi phạm, lời khai phù hợp tài liệu điều tra có trong hồ sơ.

          Bị cáo Lê Văn Dũng có đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Trước đó bị cáo Lê Văn Dũng đã 3 lần bị Công an quận Hoàn Kiếm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Do vậy, HĐXX quyết định cách ly bị cáo Lê Văn Dũng ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cảnh cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

          Đối với bị cáo Nguyễn Văn Son, HĐXX xác định, bị cáo Son đã tiếp tay cho tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều tra. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Son đã thành khẩn khai báo, nhân thân chưa tiền án tiền sự, đã từng tham gia Quân đội, gia đình có công với cách mạng… nên HĐXX quyết định giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Son.

          Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét xử tại phiên tòa, HĐXX sơ thẩm TAND TP Hà Nội đã tuyên phạt bị cáo Lê Văn Dũng 5 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài hình phạt tù, bị cáo Lê Văn Dũng còn phải chịu hình phạt bổ sung là chịu sự quản chế 5 năm tại địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

          Bị cáo Nguyễn Văn Son bị tuyên phạt 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Che giấu tội phạm”.


LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

“Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi,

như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin”

Đó là lời nói của Bác trong buổi nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn

quốc vào ngày 23-3-1956; thời điểm miền Bắc nước ta vừa bước vào hòa bình,

thống nhất, xây dựng nước nhà, công tác giáo dục hết sức khó khăn.

Trong bối cảnh đó, có tư tưởng lo ngại rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin bó buộc tư

tưởng, bó buộc giáo dục. Bác đã giải thích, làm rõ những tư tưởng lo ngại không

đúng về Chủ nghĩa Mác-Lênin, “Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự

kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Chủ nghĩa

Mác-Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng

thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bất

kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin không có

gì cao xa. Muốn phát triển giáo dục phải có kế hoạch lâu dài, phải cố gắng, phải

quyết tâm thì chiến thắng được mọi khó khăn.

Thực hiện lời nói của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn

lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng để hoạch định chủ trương, đường lối lãnh

đạo đất nước, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, hết sức phụng sự nhân dân là

điều cao quý nhất. Người đã nhiều lần nói, được phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng

và cách mạng là cao quý hơn cả… trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng

phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Việc xác định rõ vai trò của nhân dân chính là

định hướng cho sự phát triển bền vững của Đảng, Nhà nước. Tất cả mọi việc đều

hướng tới lợi ích của dân, cho dân và vì dân. Chỉ khi tầng lớp nhân dân có được

đời sống thực sự ấm no, hạnh phúc thì đất nước mới có được sức mạnh hùng

cường, mới có thể bước tới đài vinh quang. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên công

chức phòng chống biểu hiện tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi đều phải quyết tâm hết lòng

phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Nếu chúng ta nhận thức đúng sẽ mở đường

cho hành động đúng và nếu nhận thức sai sẽ dẫn đến hành động sai.

Là lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của

Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí

Minh: “Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi,

như thế là trái với Chủ nghĩa Mác-Lênin”, mọi cán bộ, chiến sĩ luôn nhận thức sâu

sắc, nêu cao trách nhiệm, giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, ra sức

thi đua học tập và rèn luyện để trở thành người chiến sĩ xung kích trong mọi công

việc, góp phần cùng nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng. Đó là

việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn

dân tộc trong công cuộc phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

HAIVAN

Đề cao cảnh giác, nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng

Tự phê bình và phê bình là đặc trưng của Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, một nguyên tắc trong sinh hoạt, hoạt động của Đảng, là nhu cầu nội tại của tổ chức đảng và đảng viên; đồng thời, là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy, đề cao cảnh giác, nhận diện rõ và chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thời gian qua, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) toàn Đảng tiến hành cuộc tự phê bình và phê bình được triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, bài bản, từ Trung ương đến cơ sở, từ trong cấp ủy đến mọi cán bộ, đảng viên, đạt được nhiều kết quả tích cực, “…đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ”. Tuy nhiên, ở một số cấp ủy, tổ chức đảng trong phê bình vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, tâm lý ngại va chạm, nhất là phê bình cấp trên. Cá biệt, còn hiện tượng thiên về phê bình, coi nhẹ tự phê bình hoặc tự phê bình nhưng chỉ tập trung phân tích, luận giải những ưu điểm, kết quả, thành tích, chưa nói thẳng, nói thật, nói hết, còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận. Ở một số nơi còn hiện tượng lợi dụng phê bình để chỉ trích, phê phán với động cơ, cách làm không trong sáng, v.v. Những hiện tượng này chỉ là thiểu số, không phản ánh về bản chất, mục đích, ý nghĩa chính trị và nhân văn của tự phê bình và phê bình, càng không thể là cái cớ, là lý do để các thế lực phủ nhận những kết quả của hoạt động tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng các cấp trong thời gian qua. Từ những hạn chế trong tiến hành tự phê bình và phê bình ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao rằng: tự phê bình và phê bình trong Đảng thực chất chỉ nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “che giấu khuyết điểm”, cốt yếu để “tâng bốc”, “bợ đỡ” và “lấy lòng nhau” mà thôi. Thực chất đây là những luận điệu có ý đồ chính trị xấu, hoặc chí ít cũng là không đúng tầm, không đầy đủ, không chính xác, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, xem xét, đánh giá, nhận định phiến diện, cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích, bản chất nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng ta. Trên thực tế, với tinh thần cầu thị và thẳng thắn, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng luôn được chuẩn bị và tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ và thận trọng; những ưu điểm, thành tích được phân tích làm rõ; những hạn chế, khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, của đảng viên từ Trung ương đến cơ sở, ở các tổ chức đảng trong các ngành, các lĩnh vực đã được chỉ ra. Các trường hợp sai phạm bị kiểm điểm, kết luận rõ ràng, xử lý nghiêm minh, không bao che, không có “vùng cấm”,… được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến tháng 3/2021, thông qua hoạt động tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát, toàn Đảng “đã kiểm tra gần 265.000 tổ chức đảng và trên 1,1 triệu đảng viên. Trong đó, đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 229 đảng viên”2. Đó là minh chứng khẳng định: luận điệu xuyên tạc cho rằng tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay chỉ nhằm “thổi phồng ưu điểm”, “cốt lấy lòng nhau”, “tung hô”, “bợ đỡ nhau” là hoàn toàn sai trái. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc rằng: hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng trên thực tế là những cuộc “hạ bệ”, “thanh trừng”, “đấu đá nội bộ” không thương tiếc giữa các cá nhân bất đồng chính kiến, giữa các nhóm lợi ích trong nội bộ Đảng dù đã được thỏa hiệp nhưng không thể dung hòa. Trước hết, cần khẳng định rõ đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động, phản khoa học. Bởi, hoạt động tự phê bình và phê bình luôn diễn ra trong một tổ chức đảng nhất định, được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, công khai, minh bạch trên cơ sở các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tính đảng, vì mục tiêu lý tưởng, vì sự nghiệp, lợi ích chung, hoàn toàn trong sáng, vô tư, không bè phái, cục bộ, không bản vị cá nhân. Vấn đề cốt yếu để phân biệt giữa hoạt động tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng với hoạt động “hạ bệ”, “triệt tiêu”, “thanh trừng” lẫn nhau giữa các cá nhân, nhóm lợi ích, đảng phái, tổ chức khác trong xã hội chính là mục đích của hoạt động này. Ở đây, cần thấy rõ rằng, tự phê bình và phê bình trong Đảng nhằm chỉ rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và hướng khắc phục nhằm hướng đến sự phát triển, tiến bộ, trưởng thành của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức đảng và sự vững mạnh của toàn Đảng, vì mục tiêu chung, lợi ích chung trong sáng. Qua đó, làm cho đội ngũ đảng viên ngày càng tiến bộ trưởng thành, tổ chức đảng thêm đoàn kết, thống nhất, ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Hơn nữa, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng thường diễn ra dưới các hình thức và phương pháp công khai, minh bạch, dân chủ trên tình thương yêu đồng chí, đồng đội. Tự phê bình và phê bình luôn có tình thương yêu của con người với con người; và chính tình yêu thương của đồng chí, đồng đội đã tiếp thêm sức mạnh cho những cán bộ, đảng viên sau những vấp ngã, những sai lầm hay khuyết điểm để vươn lên trong cuộc sống, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và tổ chức giao phó. Bởi vậy, khi phê bình đồng chí mình không có thái độ công kích, đao to, búa lớn, thiếu tôn trọng nhân cách dẫn đến mặc cảm, xa lánh, tự ti. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “... phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”. Do vậy, không ai, không thể và không bao giờ có thể xuyên tạc, vu khống, phủ nhận nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ra sức rêu rao: tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi thường được tiến hành theo kế hoạch, theo định hướng, chỉ đạo bị động từ cấp trên, mang tính đối phó “dĩ hòa vi quý”; rằng, về cơ bản khi sinh hoạt, kiểm điểm, biểu quyết, xin ý kiến đều có tình trạng “nhất trí cao”, “đồng thuận xuôi chiều”, v.v. Những biểu hiện “hình thức”, “dĩ hòa vi quý” trong tự phê bình và phê bình của đảng viên, tổ chức đảng trong thời gian qua là có thật, nhưng chỉ mang tính chất cá biệt, không điển hình và không phải là đa số, phổ biến. Những hiện tượng đó không phản ánh bản chất hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng, mà bản chất tự phê bình và phê bình trong Đảng phải có tính nguyên tắc, tính giáo dục, thuyết phục, khách quan, trung thực, chân thành, công khai, cụ thể, thiết thực và kịp thời. Các quy trình, nhiệm vụ, nội dung của hoạt động tự phê bình và phê bình đều được chuẩn bị và tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, có nền nếp, bảo đảm các nguyên tắc, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Với tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), chỉ rõ: “tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu”. Đây là những minh chứng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tự phê bình và phê bình, trên cơ sở đó đề ra giải pháp thực hiện tốt hơn nguyên tắc, hoạt động tự phê bình và phê bình. Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng, nó vừa mang tính cách mạng, khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện. Đồng thời, xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình để đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; thực hiện đúng phương châm, phương pháp, nêu cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình, làm cho hoạt động này ngày càng thực chất, góp phần ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta thật là đạo đức, văn minh, là cơ sở bác bỏ mọi xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực về nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng.

NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

Ngày 23-3-1949, Báo Cứu Quốc đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Oantơ Braigơ (Walter Briggs). Trả lời câu hỏi điều kiện nào thì Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên hợp quốc, Bác trả lời: “Độc lập và thống nhất thật sự của Việt Nam”; hỏi “Cụ có phải là một người cộng sản nữa không?”, trả lời: “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi”; hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố rằng trong 24 vị trong Chính phủ, 4 vị là cộng sản. Thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt, hay là cũng như các vị khác”, trả lời: “Tất cả các Bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng quân bình”; hỏi: “Một khi độc lập đã thành công, về mặt quốc tế, Cụ sẽ đưa Việt Nam đứng với Nga và các nước đồng minh của Nga hay là với dân chủ phương Tây…?”, trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”.

HAIVAN

Những đứa trẻ bị quát

22h30, vừa chập chờn vào giấc ngủ, tôi giật bắn mình vì tiếng quát vang lên từ nhà hàng xóm: “Giời ạ, quy đồng mẫu số rồi tính, ngồi mãi đến bao giờ hả, rút gọn phân số thế này à?”.

Có tiếng trẻ con khóc òa lên. Bà mẹ đay nghiến tiếp trong tiếng đập sách xuống bàn: "Học hành thế đấy, nói như nước đổ đầu vịt".

Cứ như vậy cho đến tận 23h30, tôi mới thấy yên ắng.

Sáng hôm sau, tôi ra đại lý gần nhà mua đồ. Cô bán hàng vừa đưa đồ cho tôi vừa ngoái cổ quát con: "Vào bàn ngồi học ngay". Đứa bé lấm lét, đờ người ra. Bà mẹ gào lên: "Mày không học hành tử tế tao đuổi ra khỏi nhà đấy, suốt ngày tót đi chơi". Thằng bé sợ hãi nhìn mẹ rồi lầm lũi đi vào.

Cách đây chục năm, khi đứa con lớn của tôi học lớp 1, tôi cũng từng ngồi kè kè bên cạnh quát nạt con phải học bài, nắn nót viết chữ đẹp và thỉnh thoảng phát vào tay con khi làm bài sai. Bây giờ mỗi khi nghĩ lại, tôi đều cảm thấy ân hận thấu tâm can.

Vậy nên, tôi đã thay đổi phương pháp với đứa thứ hai. Khi con học lớp 1-2, cô giáo thông báo rằng bạn ấy viết xấu gần nhất lớp, học hành mất tập trung và tính toán ẩu, cần phải rèn giũa vào khuôn khổ. Thậm chí, có hôm con rơm rớm nước mắt kể, cô quăng vở đi bắt viết lại và cho con đứng ngoài cửa lớp. Tôi ôm con vào lòng, nói chuyện rất lâu để giúp con lấy lại được sự tự tin và vui vẻ đến trường. Tôi cũng nói chuyện với cô giáo về mong muốn con phát triển theo năng lực tự nhiên và sở thích, coi trọng phẩm chất nhân cách chứ không nhất thiết phải vở sạch chữ đẹp hay làm trơn tru các bài toán văn với điểm 9-10, nếu như điều đó là cưỡng ép quá sức. Tôi hài lòng khi thấy con đi học vui vẻ, khoẻ mạnh, kể chuyện trường lớp, bạn bè, thầy cô một cách hứng thú.

Nhưng vừa mới sáng nay thôi, từ máy tính con tôi vọng ra một tràng gắt gỏng của cô giáo: "Lê M. đâu rồi, tại sao cô gọi mãi không trả lời, Lê M. đâuuuu... Còn Gia H. nữa, anh không tập trung vào bài học vì anh đang chát chít phải không, anh không học thì ra khỏi phòng cho tôi...". Cô giáo đang đánh vật với lũ học trò lớp 4 học online.

Tôi ban đầu có cảm giác trách móc thoáng qua, nhưng nghĩ kỹ lại, thấy cô giáo và những bậc phụ huynh cũng thật đáng thương. Chắc họ đang phải chịu những áp lực của cuộc sống và những kỳ vọng với con em, học sinh của mình. Nhưng tôi thương họ một phần thì thương các con mười phần. Các con là nạn nhân hứng chịu những áp lực và kỳ vọng của người lớn giáng xuống, bất kể ở nhà hay ở trường.

Tất nhiên, giáo dục không phải là chiều theo tất cả ý muốn của các con, càng không thể mặc kệ các con muốn làm gì cũng được. Giáo dục ai đó là giúp họ tìm ra điểm mạnh, phát huy sở trường của mình. Giáo dục là làm cho người học thấy được cái hay, cái đẹp của tri thức, là kích thích trí tò mò, khám phá.

Nhưng áp lực về thành tích và rất nhiều việc "không tên" khác có thể đã dần bào mòn sức lực, khiến nhiều giáo viên không còn thời gian và tâm trí để nhận ra cái đẹp của tri thức; chưa nói đến chuyện tìm cách để kích thích bọn trẻ khám phá. Tri thức tự thân nó luôn hay ho và đẹp đẽ. Nhưng làm thế nào để khiến người khác cũng cảm nhận như vậy? Đó là vấn đề thuộc về phương pháp giáo dục.

Thế giới không ngừng đổi mới. Nhưng giáo dục hiện tại đang rập khuôn theo những phương pháp cũ đã lỗi thời với mọi đứa trẻ. Tôi tin rằng, không có đứa trẻ nào "dốt" mọi thứ, chỉ có phương pháp chưa phù hợp mà thôi.

Con trai thứ hai của tôi rất khó tập trung ngồi luyện chữ hoặc tỉ mẩn tính toán từng con số. Con tự tin nhất khi "tụ tập" với đám bạn trong xóm để chơi bóng, chơi bi, chơi lego, chơi dàn trận đánh nhau (nhẹ nhàng). Khi đó, con tự tin sáng tạo các công cụ để trò chơi vui hơn, tự tin làm "lính" hoặc làm "thủ lĩnh" để thể hiện các ý tưởng. Buổi tối, lúc rảnh, tôi thường cùng con xem video về thế giới tự nhiên, động vật hoang dã. Chúng tôi cũng xem những kênh về trái đất, vũ trụ cho tới những cách chế biến các món ăn và bàn luận sôi nổi. Đó là lúc con hào hứng, tự tin nhất và tôi biết con học hỏi được rất nhiều.

Phương pháp của tôi chưa hẳn đã đúng và tốt với tất cả mà chỉ tốt với những ai phù hợp. Vậy nên mới cần có nghiên cứu về các loại phương pháp giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi, thích ứng với nhu cầu của mỗi cá nhân.

Đầu tư mạnh tay cho giáo dục là việc không bao giờ nên chần chừ, bởi đó là chìa khoá để mở cánh cửa vào tương lai. Trong sự đầu tư đó, việc cần làm nhất hiện nay là nghiên cứu và áp dụng các phương pháp hiện đại, cởi mở và linh hoạt với từng nhóm học sinh khác nhau. Nhưng không nên chỉ trông chờ vào giáo viên, tại các gia đình, phụ huynh cũng cần thay đổi để hiểu và biết cách dạy dỗ nào mới hiệu quả cho con mình.

Áp đặt, quát mắng là phương pháp có thể mang lại tác dụng tức thì nhưng chưa bao giờ là phương pháp tốt đem đến hạnh phúc cho con trẻ và cả người lớn chúng ta.

Giá vé máy bay dịp 30/4 tăng cao

Dịp 30/4 - 1/5 kéo dài bốn ngày nên nhu cầu đi lại tăng, đẩy giá vé máy bay đắt gấp ba lần so với ngày thường và 10-25% so với cùng kỳ.

Việt Nam đã chính thức mở cửa du lịch cho khách quốc tế từ 15/3. Còn gần 2 tháng mới tới kỳ nghỉ nhưng giá vé đã thay đổi mỗi ngày. Đặc biệt, các chặng bay từ Hà Nội, TP HCM đến các điểm du lịch nổi tiếng như Phú Quốc, Nha Trang, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế... có mức giá lên tới gần 5 triệu đồng một lượt.

Đường bay Hà Nội - Phú Quốc, giá vé chiều đi từ ngày 29/4 và về ngày 3/5 mở bán trên hệ thống của Vietnam Airlines 9,9 triệu đồng chặng khứ hồi. Đây cũng là ngày có mức giá bán cao nhất trong dịp lễ trên. Còn với Bamboo Airways, giá vé trung bình khoảng 7,2 triệu đồng một chặng khứ hồi. Với hãng hàng không giá rẻ Vietjet Air, giá cũng lên tới 7,5 triệu một chặng khứ hồi.

So với ngày thường, mức giá trên đang cao gấp ba lần. Còn so với cùng kỳ năm ngoái giá vé trên cao hơn 10-25%.

Máy bay đỗ tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP HCM). Ảnh:  Quỳnh Trần

Máy bay đỗ tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP HCM). Ảnh: Quỳnh Trần

Chị Hoàng (Hà Nội) cho biết, năm ngoái gia đình du lịch Hà Nội - Phú Quốc mỗi cặp vé khứ hồi hạng phổ thông đi ngày 29/4, về ngày 3/5 của Vietnam Airlines chỉ 7,9 triệu đồng. Năm nay, gia đình đặt sớm hơn cả 2 tháng nhưng giá vé không rẻ hơn chút nào. Do đó, gia đình chị quyết định chuyển hướng sang Nha Trang nhưng cũng hơn 7 triệu đồng một cặp.

Tương tự, chị Oanh ở Gò Vấp (TP HCM) cho biết, giá vé dịp lễ tăng cao nhưng tranh thủ kỳ nghỉ dài ngày cả gia đình chị quyết đặt sớm chặng TP HCM – Quy Nhơn. "Hơn một năm nay, Covid-19 khiến cả nhà không được đi chơi xa, là lúc để gia đình xả stress", chị Oanh nói.

Theo chị Thu, chủ phòng vé ở Cầu Giấy (Hà Nội), lượng khách đặt dịp 30/4 – 1/5 đang tăng khoảng 10%. Không chỉ các khách đặt chặng bay có điểm đến để du lịch mà nhiều cá nhân cũng chọn dịp này để về thăm quê hương. Ngay cả vé các chặng ít khách như Hà Nội/TP HCM - Pleiku, Hà Nội/TP HCM - Quảng Nam, Hà Nội/TP HCM - Phú Yên, nhu cầu cũng tăng so với năm ngoái.

"Mọi năm, dịp lễ hết vé trước 3 ngày so với kỳ nghỉ thì năm nay, vé có thể hết sớm hơn do nhiều hãng vẫn chưa tăng chuyến mạnh như cùng kỳ các năm trước", chị Thu nói.

Các hãng hàng không cho biết, giá vé hiện cao hơn so với cùng kỳ là do nhu cầu của người dân tăng. Trước đó, hãng cũng đã tung ra nhiều vé giá rẻ nhưng đều được khách mua hết.

Mặt khác, số chuyến bay cho dịp lễ năm nay ít hơn sau khi dịch bệnh phức tạp suốt hai năm qua khiến nhiều hãng phải giảm đội tàu bay.

"Trong tuần tới, chúng tôi sẽ công bố thông tin tăng chuyến để phục vụ dịp lễ. Do đó, giá vé có thể sẽ tốt hơn hiện tại", đại diện một hãng hàng không nói.

Các hãng kỳ vọng, lượng khách vận chuyển trong dịp lễ lần này sẽ tăng hơn so với cùng kỳ khi Việt Nam không chỉ mở cửa du lịch cho khách nội địa mà cả quốc tế.

Theo thống kê, ngành du lịch cũng đang khởi sắc trở lại khi lượng khách di chuyển tăng. Tổng cục Du lịch cho biết, trong 9 ngày Tết (từ ngày 29/1 đến 6/2), du lịch đã đón 6,1 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch ước đạt hơn 25.000 tỷ đồng. Nhiều địa điểm du lịch, lượng khách tăng 5-6 lần. Trong đó, Phú Quốc, Đà Lạt là nơi mà du khách ưa chuộng. Các chuyến bay đến những địa điểm này vào dịp Tết nguyên đán 2022 cũng đã "cháy vé" từ sớm.

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ THAM NHŨNG ĐỂ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY Chống tham nhũng ở nước ta hiện nay có thể xác định là hết sức cam co, phức tạp, đòi hỏi sự đoàn kết, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, không chỉ thu lại tài sản, tiền bạc cho Nhà nước mà còn có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh, tạo được niềm tin lớn trong nhân dân. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các đối tượng xấu, các thế lực thù địch núp danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” lợi dụng triệt để vấn đề tham nhũng ở nước ta để xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Từ đó, tạo sự hoài nghi trong nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc phòng chống tham nhũng ở nước ta. Hơn lúc nào hết, việc nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Các thế lực thù địch lợi dụng mạng mạng xã hội như: facebook, blog… để đăng tải các luận điểm xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Đảng, Nhà nước ta. Trên những trang mạng này, các đối tượng, phần tử xấu có tư tưởng thù địch đã rêu rao như: “đang có cuộc thanh trừng, đấu đá nội bộ trong Đảng”, “cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, rồi “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”, “chống tham nhũng chỉ là hô khẩu hiệu”... Thông qua những bài viết cực đoan, suy diễn không đúng bản chất về vấn đề tham nhũng ở nước ta, số phần tử xấu này rắp tâm dựng lên một bức tranh toàn gam màu tối. Thông qua đó, phủ nhận những nỗ lực, sự quyết liệt trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã và đang chỉ đạo. Các đối tượng lợi dụng triệt để thông tin một vài vụ án tham nhũng lớn, có liên quan đến nhiều cán bộ, đảng viên bị xử lý sau đó suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm rồi cho rằng tham nhũng là bản chất, là hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, của cơ chế lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Việc đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, sai sự thật công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay trên các trang mạng xã hội do các thế lực thù địch ngụy tạo ra, chúng kích động, xúi giục, kích động nhân dân ta đứng lên đòi thay đổi cương lĩnh, thể chế chính trị, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi “đa nguyên, đa đảng”. Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, đã có nhiều vụ án về tham nhũng nghiêm trọng bị cơ quan chức năng điều tra, xử lý, nhiều cán bộ cấp cao bị kỷ luật. Từ những kết quả trên cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng trong những năm qua luôn được Đảng, Nhà nước, Chính phủ ta coi trọng; góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự nghiệp lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, để công cuộc phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta đạt kết quả cao hơn nữa cần phải có sự kết hợp chặt chẽ của các bộ ngành, địa phương. Sự vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị. Xử lý vụ việc đúng người, đúng tội, không có vùng cấm. Đặc biệt, cần nhận diện âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch lợi dụng việc phòng chống tham nhũng ở nước ta để xuyên tạc, bôi nhọ, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta, nhất là khi chúng ta đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Nhận ra khi đã muộn

Nhiều năm mới gặp lại, anh bạn có “thâm niên” làm công tác tư tưởng ở một cơ quan trung ương dốc bầu chia sẻ: “Để hiểu về lĩnh vực tư tưởng khó lắm ông ạ! Bình thường tiếp xúc với nhau hay trong sinh hoạt, khó mà biết được trong đầu mỗi người đang nghĩ gì, lời nói và việc làm của mỗi người có đi cùng với nhau hay không thì chỉ có nhìn vào hành động mới biết được”. Tôi cảm thấy rất thông cảm với anh và trả lời: “Vì vậy, hoạt động tư tưởng mới là một trong những hoạt động quan trọng nhất của Đảng còn gì”. Anh bạn gật gù: “Đúng thế, mà thực ra thì phần đông cán bộ, đảng viên đều làm đúng và làm tốt. Nhưng cũng còn một số người, trong đó có cả cán bộ chủ chốt các cấp nói một đằng nhưng làm một nẻo”.

Câu nói của bạn khiến tôi chợt liên tưởng đến câu chuyện “nhớ đời” của mình. Hồi đó, tôi mới từ cơ sở lên dự phiên họp cuối năm của cấp ủy cơ quan. Do tính tình bộc trực, thẳng thắn, tôi góp ý với đồng chí thủ trưởng là nên chú trọng việc lắng nghe ý kiến tham mưu từ mọi người, để có thể chỉ đạo xây dựng được cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Sau khi nghe tôi phát biểu, đồng chí thủ trưởng tỏ ra tiếp thu ý kiến góp ý của tôi. Nhưng sau cuộc họp, vị thủ trường này có sự thay đổi thái độ đáng kinh ngạc; gặp riêng tôi để chất vấn đủ điều, rồi kết luận rằng ý kiến của tôi có hàm ý đánh giá thấp nhận thức và năng lực của chính ông trước tập thể cấp ủy. Lúc đó, tôi khó nghĩ quá, chỉ biết nói với “Sếp” là em rất chân tình, vì trách nhiệm chung và vì anh.

Điều không ngờ hơn, dường như vì chuyện này mà tôi bị loại khỏi danh sách được cơ quan đề nghị khen thưởng trong năm. Thật lòng thì tôi không bận tâm nhiều đến việc khen thưởng, nhưng đáng nghĩ là ý kiến thẳng thắn lại làm mình trở thành “cái gai” trong mắt của thủ trưởng. Để tâm quan sát, tôi nhận thấy nhiều cuộc họp ở cơ quan khi có nội dung tự phê bình và phê bình, chỉ nghe mọi người đóng góp cho “Sếp” bằng những lời khen, còn những khuyết điểm hầu như không có; hoặc có chỉ là những lời khuyên thủ trưởng cần biết giữ gìn sức khỏe, tránh làm việc quá sức...

Thủ trưởng của tôi là người khá khéo việc “che chở, đi lại” nên đã có sự thăng tiến thần tốc. “Sếp” càng lên cao, chúng tôi càng ít được gặp. Rồi năm tháng qua đi, thủ trưởng của tôi cuối cùng lại gặp chuyện bất an, phải ra tòa vì tội tham ô và gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước.

Tôi rất quan tâm theo dõi vụ án này và thực tâm tôi cũng thấy thương ông ấy. Mỗi khi trả lời trước tòa, ông ấy đều hạ giọng, trông hiền lành và có vẻ hối lỗi thực sự. Lý do mà ông ấy đưa ra để bào chữa sai phạm của mình là do: nhận thức kém, không hiểu hết ý chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên, bản thân chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức kinh tế, quản lý đất đai… nên năng lực bị hạn chế dẫn đến sai phạm.

Nghe những điều ông nói trước tòa chắc hẳn là đúng, nhưng khi còn đang công tác thì không ai dám nói ra điều đó cho ông và ông cũng không bao giờ tự nghĩ rằng mình là người có nhận thức còn hạn chế, yếu kém ở một số khía cạnh. Điều đó khiến tôi tự hỏi, phải chăng chỉ khi có mong muốn nhẹ tội trước vành móng ngựa, người ta mới bắt đầu nói về sự thiếu sót, yếu kém của mình? Đáng tiếc, khi ngộ ra điều đó thì đã quá muộn màng.

Tôi nhớ lại lời Bác Hồ dặn: “Đảng viên và cán bộ cũng là người, ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu” và “Tự phê bình và phê bình là vũ khí rất cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Những lời dạy của Người còn giá trị bền lâu đối với bản thân mỗi cán bộ, công chức, những người đang nhận trách nhiệm quản lý, xây dựng đất nước ngày một tươi đẹp./ 

ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, CHÍNH TRỊ Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội trong và ngoài nước đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ của ta. Trong đó, trọng tâm là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. “Tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, là xu hướng chính trị tiêu cực, phản cách mạng, xa rời mục tiêu, lý tưởng, định hướng chính trị; dao động, mơ hồ, mất phương hướng, thực chất là sự biến đổi về chính trị theo chiều hướng xấu dần, từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. “Tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị là sự phai nhạt, từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhận thức sai lệch, từng bước phủ nhận những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Do đó, tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, đó cũng là nhiệm vụ cấp bách, sống còn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Từ những vấn đề trên, để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng, cần phải tập trung các nhiệm vụ, giải pháp sau: Một là, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển. Hai là, đề cao tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Triển khai có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Tích cực đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá trong nội bộ”. Ba là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có tính định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại… quan trọng của đất nước; chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cần đến những chủ trương, giải pháp hành động mạnh mẽ, đồng bộ. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong Đảng và trong xã hội với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Bốn là, giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”. Phải giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng đồng thời tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng, lý luận; tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng hợp lý, có hiệu quả. Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại. Chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” của mọi cán bộ, đảng viên trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực chủ động nhất để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực. Cần giữ vững và tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa với chủ động tiến công làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch từ khi còn manh nha là phương châm đúng đắn, thể hiện rõ tư tưởng cách mạng tiến công trong chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta. Công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Với sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thì công tác này nhất định thành công.

Xu nịnh

 Thời sinh viên, anh và tôi là đôi bạn thân chí cốt. Sau khi tốt nghiệp, mỗi người làm ở một thành phố khác nhau, nên mãi tới hôm nay nhân buổi họp lớp mới có dịp ngồi với nhau. Tôi trút bầu tâm sự những bức xúc về công việc và đặc biệt là vị sếp của mình. Nào là ông ta thiên vị, nhớ dai, thù vặt. Kẻ nào tuân thủ và phục tùng thì ông ấy nâng đỡ, méo cũng thành tròn, công danh thăng tiến vù vù. Anh cười: “Ông biết thế sao không điều chỉnh để thăng tiến?”

- Thú thực, tôi khó điều chỉnh được tính cách thẳng như ruột ngựa đã ăn vào tim gan. Tôi an phận vì trót trung thành với sự thật và ghét sự lươn lẹo nên chỉ giậm chân tại chỗ.

Anh cười và bảo, ngày nay, nịnh là xu thế, là nghệ thuật. Người nào khéo nịnh, khéo chiều ý thích người khác, khéo chiều lãnh đạo, thủ trưởng thì kiểu gì cũng trong ấm ngoài êm, công danh thành đạt, nhiều lợi ích, quan hệ mở rộng, thăng quan tiến chức. Anh truyền đạt cho tôi kinh nghiệm nhờ biết cách nịnh sếp mà từ nhân viên bình thường phát triển lên đến phó giám đốc.

Mặt tôi nghệt như ngỗng... Trong đầu ngổn ngang đủ thứ suy nghĩ về sự thay đổi của anh. Hiểu băn khoăn ấy, anh hạ tông: “Bây giờ ở đâu mọi người cũng thích nịnh cả. Nịnh để giữ hòa khí gia đình, hàng xóm. Ở cơ quan cũng vậy. Đố cậu tìm được buổi họp trong các cơ quan, đơn vị, địa phương có tranh luận, phê bình thủ trưởng, lãnh đạo gay gắt đấy. Tất cả đều “dĩ hòa vi quý”, “chạy theo chiều gió” hoặc “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Chẳng ai dại mà đi nói thật cả”.

Những tâm sự, đúng hơn là những suy nghĩ của anh, người bạn chí cốt mà tôi thuộc tâm tính từ thời sinh viên như một dấu hỏi treo lơ lửng trong đầu. Bởi từ lâu, xu nịnh được xem là tàn dư của xã hội cũ. Những thế hệ đi trước quyết liệt đấu tranh loại bỏ xu nịnh ra khỏi đời sống. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khi nền tảng xã hội mới đã hình thành và phát triển thì xu nịnh vẫn phát triển, khó kiểm soát, trở thành vấn nạn trầm kha ở nhiều nơi. Có chuyên gia khẳng định, xu nịnh là “bệnh”, là biểu hiện của tiêu cực và có liên hệ chặt chẽ với tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, xu nịnh len lỏi vào nhiều ngõ ngách đời sống xã hội, với nhiều kiểu, nhiều cách, nhiều cấp độ, hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Không chỉ nịnh lãnh đạo mà họ còn nịnh cả bố mẹ, vợ con, người thân của lãnh đạo bằng lời nói, phương tiện, quà, tiền bạc giá trị.

Xu nịnh khiến cấp trên không phân biệt được đúng - sai, phải - trái rồi dẫn đến nhiều hệ lụy mà nổi bật là lờ đi hoặc bật đèn xanh cho cấp dưới làm những việc trái pháp luật; tin tưởng, nghe theo sự tham mưu, sắp đặt của cấp dưới để đưa ra các quyết sách “tư duy nhiệm kỳ”; cất nhắc, sắp đặt, bổ nhiệm “đệ tử” vào những vị trí chủ chốt, khiến cho người có năng lực, có tâm huyết phấn đấu cũng nản chí, nản lòng, khiến mâu thuẫn trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương tích tụ thành “ung nhọt” sẽ phát tác bất kể lúc nào khi có “ngòi nổ”. Như vậy, xu nịnh đã “triệt tiêu” ý chí phấn đấu những cán bộ, đảng viên có năng lực, khiến cho cái tốt, cái đẹp bị lấn át bởi những mưu mô, thủ đoạn thông qua “luật ngầm”.

Mấy tháng gần đây, khi gặp anh, câu chuyện giữa tôi và anh dần nhạt nhẽo chứ không bốp chát, thoải mái như xưa. Giờ anh đã là giám đốc một trung tâm nhiều bổng lộc. Chỉ khổ cho những cấp dưới của anh cũng phải luôn luôn “trau dồi” kiến thức nịnh để “đẳng cấp” hơn. Khổ cho những cấp trên của anh không cưỡng được những sự nịnh ngày càng tinh vi, nên dễ bịt mắt, bịt tai và bị điều khiển mà không biết.

Ngẫm ra, khi xu nịnh thành xu thế thì nguy hại vô cùng, cái tốt, cái đẹp sẽ bị lấn át. Nó giống như kẻ thù vô hình bào mòn tính cách tốt đẹp của con người. Nó tước đi cơ hội của những người trung thực, tài năng, luôn muốn khẳng định mình bằng năng lực và chất lượng công việc./.

“Khiêm tốn”

 Một trong những bài học đầu tiên, mà ai cũng thuộc lòng ngay từ thuở ấu thơ, đó là cần rèn đức tính khiêm tốn (cùng với thật thà, dũng cảm). Ấy vậy mà trong xã hội, nhiều người dù thành đạt, thậm chí đến tuổi “lên lão” lại chưa hiểu đúng, đủ về hai chữ “khiêm tốn”.

Có hiện tượng hạ thấp ý nghĩa của sự khiêm tốn, cũng như hiểu sai về vấn đề lễ nghĩa, văn hóa, để rồi cho rằng khiêm tốn là không được thể hiện mình, không được đi trước người khác trong công việc. Thậm chí lấy đó làm lý do buộc người khác (thường là cấp dưới, người yếu thế hơn,...) phải nín nhịn, nghe theo, vâng lệnh răm rắp.

Có những người lại dùng vỏ bọc “khiêm tốn” để trốn tránh trách nhiệm, ra vẻ đề cao người khác cốt để bản thân “ngồi mát”. Ngược lại, có những người lại cho rằng khiêm tốn làm mất đi giá trị cá nhân nên phải thể hiện sự “sáng chói” của mình, đầy hãnh tiến, kiêu ngạo.

Cũng thật lạ khi đức tính vô cùng tốt đẹp là khiêm tốn lại bị lạm dụng với ý nghĩa là “hạn chế”, “nhỏ bé”. Chúng ta thường xuyên được nghe những câu đại loại như: thành tích còn khiêm tốn, kết quả còn khiêm tốn,... với ý nghĩa là những gì đạt được còn nhỏ bé, chưa xứng tiềm năng.

Vậy, cần hiểu khiêm tốn sao cho đúng; vì sao khiêm tốn là một đức tính quan trọng hàng đầu, nhất là đối với cán bộ, đảng viên?

Trong Từ điển tiếng Việt, khiêm tốn là “có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho là mình hơn người”; trái nghĩa với nó là kiêu căng, kiêu ngạo. C. Mác cho rằng: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút cũng là thừa. Ph. Ăng-ghen cũng từng nói: Hành trang quan trọng nhất của con người là khiêm tốn và giản dị. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi được hỏi về khiêm tốn đã trả lời rằng: Khiêm tốn là nền tảng đạo đức của cả dân tộc Việt Nam; đối với bản thân thì bao giờ cũng nhìn ra điều kém cỏi của mình; đối với đồng chí và bạn bè thì ai cũng là thầy học của mình, tìm cho được điều mình phải học tập; đối với kẻ thù cần biết cái mạnh của địch, cái yếu của ta. Đảng ta khi xây dựng khung tiêu chí đánh giá cán bộ cũng nêu rõ yêu cầu: Có lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị.

Khiêm tốn luôn gắn với thật thà, trung thực, với văn hóa, với lối sống nghĩa tình, thủy chung, lễ nghĩa, tôn trọng người khác, nhất là với những người hiền tài và với nhân dân. Khiêm tốn giúp xử thế giữa con người với nhau, giữa đảng viên với nhân dân, giữa lãnh đạo với cấp dưới,... chan hòa tình đồng chí, đồng tình, đồng thuận.

Khiêm tốn cũng luôn gắn với dũng cảm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tận tụy với công việc, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; lấy cái chung đặt trên cái riêng nhưng cần nỗ lực bởi từ sự cống hiến của mỗi cá nhân mới đem tới thành công chung của tập thể.

Khiêm tốn là hết lòng, hết sức trong công việc, vì việc công, vì xã hội, vì mục tiêu, lý tưởng nhưng không khoe khoang thành tích, không tự đề cao, tôn vinh bản thân. Khiêm tốn là để tập thể đánh giá, suy tôn mình; để tự những thành công của mình được tỏa sáng theo kiểu “hữu xạ tự nhiên hương”. Nó khác xa với các thói kiêu ngạo, tự mãn lẫn tự ti, né tránh.

Khiêm tốn đó là sự tự đánh giá về bản thân mình, về công việc mình làm một cách công tâm, khoa học, đủ lý lẫn tình, thể hiện sự khiêm nhường. Chẳng hạn như câu nói mà người đứng đầu Đảng ta hiện nay thường nhắc khi đánh giá sự phát triển của đất nước: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Lời nói đó thực sự mang đúng ý nghĩa khiêm tốn, đồng thời cũng khẳng định những kết quả, thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đạt được qua hơn 35 năm đổi mới, khẳng định sự kiêu hãnh của dân tộc ta trên bước đường thành công./.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế.

* Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào

Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng phân tích: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, không ít liên minh quân sự đã ra đời như: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ra đời từ 1949; Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á; Tổ chức Hiệp ước Trung tâm Baghdag; Tổ chức Hiệp ước Trung Đông, (CENTO); Tổ chức Hiệp ước Varsawa do Liên Xô đứng đầu. Như vậy, liên minh quân sự là một vấn đề khá phổ biến với nhiều nước.

Những liên minh quân sự nói trên có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng của các nước thành viên; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh trong những thời điểm nhất định. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tồn tại các liên minh quân sự trên, tình hình khu vực, thế giới luôn căng thẳng, bởi các liên minh này đối đầu nhau, nhất là khi giữa họ có những mâu thuẫn về lợi ích. Họ công khai hoặc ngầm chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh hoạt động khiêu khích, lôi kéo các quốc gia, khu vực đến gần hiểm họa chiến tranh. Mà Việt Nam chúng ta cũng là nạn nhân của cuộc chiến tranh nóng đó vào những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.

Trong chính sách quốc phòng, Việt Nam, chúng ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng của triệu triệu con người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này.

“Chúng ta không đứng về bên nào, chúng ta bảo vệ lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đồng thời, Việt Nam không chấp nhận để nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, hoặc là sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba. Lịch sử hiện đại cho chúng ta thấy rõ, nếu có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của mình, dễ biến Tổ quốc ta thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, ít nhất thì cũng khiến đất nước ta khó tránh khỏi bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh giữa các nước”- Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân phân tích.

Còn theo Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Hải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (Bộ Quốc phòng), sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mà chính đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ, hòa bình, chính nghĩa, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc mới là điều mà các quốc gia, dân tộc tiến bộ đều đang hướng tới. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và luật pháp quốc tế. Việt Nam không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, không phải là Việt Nam tự “trói tay” mình, trái lại, nó có tác dụng “cởi trói” cho chúng ta, cả trong tư duy và hành động để ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập, sáng tạo và không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức không bị người khác trói mình.

* Mở rộng quan hệ quốc tế nhưng không tham gia liên minh quân sự

Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng nhấn mạnh: Chúng ta mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, không hề mâu thuẫn với việc chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy rõ: Tuy có quan hệ thân thiết với nhau, thậm chí liên minh quân sự với nhau, nhưng khi gặp vấn đề liên quan tới lợi ích quốc gia, dân tộc của nước lớn, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo triết lý ưu tiên lợi ích của họ là trước hết, là trên hết.

Trên thế giới chưa bao giờ có nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Chính vì vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù là thời bình hay thời chiến, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự với nước khác. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, đồng thời phải tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, xây dựng thực lực sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình. Chính vì vậy, chúng ta không hề mâu thuẫn khi một mặt mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia.

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Hải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự cho rằng, liên minh quân sự không phải là giải pháp tối ưu trong bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Thứ hai, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc là thiêng liêng và tối cao, không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường quốc. Thứ ba, không tham gia liên minh quân sự bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Thứ tư, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là sức mạnh nội lực của dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Thứ năm, thực tiễn luôn chứng minh điều đó là hoàn toàn đúng. Cho nên, với Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, sức mạnh nội sinh của đất nước, kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, càng không thể trông chờ vào nước ngoài. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc.

 “Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải xuất phát từ xây dựng, củng cố, phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Thực tiễn Việt Nam chỉ ra rằng: Khi nào kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, “cả nước chung sức”, “trên dưới đồng lòng”, thì chủ quyền đất nước được giữ vững. Trong tình hình mới, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; làm sâu sắc, hiệu quả hơn đối ngoại quốc phòng, kiên định về chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc; làm bạn, làm đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đó không những là bài học kinh nghiệm, mà còn là yếu tố căn bản, cội nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước” – Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân nêu quan điểm.

* Việt Nam có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia

Cũng theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân, chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để kiểm soát được tình hình an ninh, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, khi đất nước xảy ra nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước ta sẽ hoạch định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế. ST

VẬN DỤNG PHƯƠNG CHÂM "DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI HIỆN NAY

Là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà ngoại giao thiên tài. Tư tưởng ngoại giao của Người được kết tinh từ các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và có giá trị phổ quát, bền vững của nhân dân các dân tộc toàn toàn thế giới.Vận dụng tư tưởng của Người trong xây dựng đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế để tạo nên sức mạnh to lớn, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, thực hiện công cuộc đổi mới thành công, đưa đất nước ngày phát triển là yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển đối ngoại và hội nhập quốc tế hiện nay.

Trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mang ý nghĩa hết sức sâu sắc. Trước những biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, cần thực hiện phương châm ấy một cách thích hợp để mang lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc.

Trước hết cần xác định cái “bất biến” trong đối ngoại và hội nhập quốc tế là: lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong đường lối của Đảng, hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác từng bước mở rộng, tuân thủ các cam kết quốc tế, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là yếu tố quan trọng hàng đầu, không thể nhượng bộ. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, luôn luôn phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết và trước hết. Đó là cái “bất biến”.

 Đồng thời với xác định cái “bất biến”, phải nhận rõ cái “vạn biến” để có cách ứng xử phù hợp. Môi trường quốc tế là môi trường không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển. Trong khi các nước lớn thay đổi chiến lược vừa hợp tác thỏa hiệp vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến tình hình thế giới và khu vực, các nước đang phát triển đứng trước những cơ hội mới và thách thức mới. Quá trình toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức. Cạnh  tranh kinh tế, thương mại, tội phạm xuyên quốc gia diễn biến phức tạp; thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt đại dịch Covid - 19 đang diễn biến hết sức phức tạp. Khu vực Châu Á - Thái bình dương có vị trí quan trọng; là khu vực có tiềm năng phát triển và tồn tại nhiều nhân tố bất ổn, tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thường xuyên diễn ra.

Từ nhận thức đúng đắn về cái “bất biến” và cái “vạn biến”, Đảng ta đã có những đối sách linh hoạt, uyển chuyển, thực tế, thích hợp. Từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Về hợp tác và đấu tranh, từ quan niệm “địch”, “ta”, chuyển sang cách nhìn nhận về đối tác, đối tượng. Những đối sách trên đã tạo cho Việt Nam một sức mạnh đối ngoại mềm dẻo, được các nước trên thế giới đánh giá cao. Với một loạt các sự kiện đối ngoại thành công từ năm APEC Việt Nam mà đỉnh cao là Tuần lễ cấp cao tháng 11/2017; Hội nghị Thượng đỉnh WEF-ASEAN năm 2018; Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên năm 2019 và một chuỗi những sự kiện trong năm Chủ tịch ASEAN 2020, Việt Nam được đánh giá cao việc tổ chức, điều phối, đặc biệt vai trò chủ trì của Việt Nam tại các Hội nghị. Trên phạm vi toàn cầu, với số phiếu cao kỷ lục khi được bầu làm Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc, nước ta được dư luận quốc tế đánh giá cao, nhận định Việt Nam trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, khẳng định vị trí địa - chính trị và tầm quan trọng của Việt Nam đối với an ninh khu vực.

Quan hệ Việt Nam với các nước lớn cũng được dư luận quốc tế ghi nhận. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Việt Nam đang đóng vai trò tích cực trong khu vực Đông Nam Á và trở thành một trọng tâm chiến lược ở Ấn độ - Thái Bình Dương, ghi nhận Việt Nam đã có một “chiến lược cân bằng tinh tế”; “sự cân bằng đa cực trong quan hệ với các cường quốc”, song vẫn giữ độc lập để góp phần tích cực vào an ninh khu vực và toàn cầu.

Sức mạnh mềm và năng lực ngoại giao của nước ta trong năm 2020 theo đánh giá của Viện Lowy (Australia) là đã gia tăng vượt bậc, xếp hạng 9/26 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát tại Châu Á. Vận dụng phương châm ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và khả năng xử lý các vấn đề ngoại giao phức tạp, ngoại giao Việt Nam đã góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước để nước ta có được “cơ đồ và vị thế” như hôm ST