Những năm
gần đây, thế giới và khu vực chứng kiến những diễn biến nhanh, phức tạp, chứa
đựng các yếu tố bất an, bất định, bất ngờ, tác động đa chiều đến môi trường an
ninh và phát triển của các quốc gia, trong đó có nước ta. Nhiều nước và khu vực
trên thế giới phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức và bất ổn. Đặt
trong bối cảnh đó, những giá trị nhân văn cao đẹp của văn hóa hòa bình Hồ Chí
Minh càng tỏa sáng, soi đường cho Việt Nam xây đắp hòa bình, giải quyết những
vấn đề của quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Trên cơ sở
phân tích, dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước, Đại hội XIII của
Đảng đã đề ra đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời gian tới là:
“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị,
hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại;... chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối
tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”,
nhằm mục tiêu “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”. Về nhiệm vụ đối
ngoại, Đại hội khẳng định, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại.
Do đó, có thể thấy:
Một là, giữ vững môi trường hòa bình ổn định và bảo vệ độc lập, chủ quyền là hai
trong năm nhiệm vụ của ngoại giao Việt Nam. Để thực hiện hai nhiệm vụ trên, cần
sử dụng các công cụ khác nhau, như chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh,
ngoại giao, luật pháp, văn hóa, tư tưởng, “sức mạnh cứng”, “sức mạnh mềm”...
Hai là, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là một nguồn “sức mạnh mềm” của Việt Nam. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp vào sự nghiệp phát triển tư tưởng của nhân loại về
một nền hòa bình bền vững. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân loại cần chung tay
xây dựng một thế giới hòa bình vì đó là một khát vọng vĩnh hằng. Tuy nhiên, đó
phải là “một nền hòa bình chân chính”, “trong độc lập tự do”, “bình đẳng, bác
ái”, “xây trên công bình và lý tưởng dân chủ phải thay cho chiến tranh”, “phải
thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da”, “là điều cần
thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với dân tộc khác”. Cùng với đấu
tranh cho hòa bình, phải kiên quyết chống chiến tranh xâm lược, chiến tranh đế
quốc, chiến tranh phi nghĩa. Người cho rằng, đấu tranh và ủng hộ phong trào đấu
tranh giành và bảo vệ quyền dân tộc cơ bản, giành và bảo vệ công bằng, bình
đẳng, dân chủ trong quan hệ quốc tế chính là tạo ra nền tảng để xây dựng một
trật tự quốc tế mới bảo đảm cho hòa bình trên thế giới. Đó chính là những yếu
tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nhân loại trong tương lai.
Ba là, Việt Nam đã thực hiện khá thành công Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm
2020 và đã ban hành Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030, với mục tiêu là
sử dụng công cụ văn hóa trong ngoại giao nhằm đưa quan hệ của Việt Nam với các
đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, tạo lập
và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài, biến
điều kiện thuận lợi, vị thế đất nước thành nguồn lực để phát triển kinh tế - xã
hội, đồng thời dùng các biện pháp ngoại giao để tôn vinh các giá trị, vẻ đẹp
của văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó khơi dậy khát
vọng phát triển đất nước, tăng cường sức mạnh mềm, nâng cao vị thế đất nước.
Để văn hóa
hòa bình Hồ Chí Minh tiếp tục là nguồn lực tinh thần vô giá, tiếp sức cho Việt
Nam trong nỗ lực bảo vệ hòa bình và xây dựng tương lai tốt đẹp cho dân tộc Việt
Nam cũng như nhân dân thế giới, cần tiếp tục lưu ý các vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại được đề ra tại
Đại hội XIII của Đảng. Bên cạnh đó, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là vấn đề
tương đối mới, do đó cần tiếp tục được nghiên cứu sâu, nhất là việc vận dụng
trong thực tế.
Thứ hai, “sức mạnh mềm” Việt Nam là sự đóng góp tư tưởng nhân loại về một nền hòa
bình bền vững, vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chiến lược ngoại
giao công chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó văn hóa hòa bình Hồ
Chí Minh phải được coi là một trong các vấn đề trọng tâm của ngoại giao công
chúng. Ngoại giao công chúng không hẳn là ngoại giao văn hóa. Ngoại giao công
chúng là phương thức ngoại giao đa chủ thể, sử dụng các phương tiện truyền
thông đa dạng, nhằm tác động đến tình cảm, suy nghĩ của công chúng nước ngoài,
tạo hình ảnh đẹp, hiệu ứng tích cực về đất nước mình, qua đó tác động tới chính
sách, quan hệ ngoại giao với chính phủ nước ngoài. Ngoại giao công chúng bao
trùm cả ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, thông tin, tuyên truyền đối
ngoại... Ngoại giao công chúng cũng là thành tố tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc
gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng đầu tiên cho ngoại giao công
chúng ở Việt Nam - đó chính là “ngoại giao tâm công” - ngay từ những ngày đầu
tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, nhờ đó đã giành được sự ủng
hộ quý báu của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới và các tổ chức quốc tế đối
với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao văn hóa - một trong ba trụ cột của nền ngoại
giao Việt Nam - quảng bá văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh ở trong nước và nước
ngoài. Năm 2020, Việt Nam đã tổng kết 10 năm Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất, ở nước
ngoài”. Thành tựu có nhiều, dư địa còn lớn, cần tiếp tục triển khai chương
trình này trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp hình thành nên những giá
trị trường tồn. Đây là hoạt động có ý nghĩa vô cùng lớn, thể hiện sự công nhận
rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vào sự nghiệp đấu tranh chung trên thế giới trước áp bức, bất công, vì
độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, nhất là ở các dân tộc thuộc địa; đồng thời,
tôn vinh, đề cao lý tưởng cao đẹp, giá trị nhân văn sâu sắc và khát vọng của
Người về một thế giới hòa bình, bình đẳng, hạnh phúc.
Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền,
quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng biện pháp tổng hợp và chống
bạo lực, chiến tranh phi nghĩa.
Thứ năm, sau những năm tháng chiến tranh, hòa bình có ý nghĩa và giá trị đặc biệt
sâu sắc đối với Việt Nam, vì vậy việc xây dựng văn hóa hòa bình ngay trong lòng
nhân dân cũng đóng vai trò không nhỏ. Ngày nay, hòa bình không chỉ bao hàm độc
lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia mà còn là môi trường bền
vững, an ninh con người, xã hội công bằng, hòa thuận, lối sống nhân văn. Tác
động hai mặt của phát triển kinh tế, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự bùng nổ
của công nghệ thông tin đang đặt ra thách thức về giá trị sống và quan hệ xã
hội, dẫn đến tình trạng bạo lực gia tăng. Mặt khác, hướng tới một xã hội văn
minh nhân ái đòi hỏi đẩy lùi bạo lực, đặt ra yêu cầu về giáo dục để trở thành
một công dân tốt, góp phần vì mọi người và xã hội. Phấn đấu cho văn hóa hòa
bình là phấn đấu vì chất lượng và ý nghĩa của cuộc sống. Hưởng ứng Ngày Quốc tế
hòa bình của Liên hợp quốc (ngày 21-9), nhiều địa phương ở nước ta, như Thủ đô
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh... đã tổ chức “Ngày hòa bình, phi bạo lực”, được
đông đảo người dân tham gia. Đó cũng là tư tưởng văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh
cần tiếp tục nhân rộng.
Hòa bình
luôn là mong ước, là khát vọng thường trực và hiện hữu của nhân loại, là đích
đến trong mọi hành trình và là sợi dây để kết nối toàn cầu. Văn hóa hòa bình Hồ
Chí Minh là “sức mạnh mềm” Việt Nam. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và
bảo vệ độc lập, chủ quyền là hai nhiệm vụ đối ngoại quan trọng được Đại hội
XIII của Đảng đề ra. Triển khai mạnh mẽ, hiệu quả Chiến lược ngoại giao văn
hóa, Chiến lược ngoại giao công chúng đến năm 2030, mà văn hóa hòa bình Hồ Chí
Minh là nội dung quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại trên./.