Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA HÒA BÌNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 

          Những năm gần đây, thế giới và khu vực chứng kiến những diễn biến nhanh, phức tạp, chứa đựng các yếu tố bất an, bất định, bất ngờ, tác động đa chiều đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia, trong đó có nước ta. Nhiều nước và khu vực trên thế giới phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức và bất ổn. Đặt trong bối cảnh đó, những giá trị nhân văn cao đẹp của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh càng tỏa sáng, soi đường cho Việt Nam xây đắp hòa bình, giải quyết những vấn đề của quốc gia, khu vực và toàn cầu.

          Trên cơ sở phân tích, dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời gian tới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại;... chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, nhằm mục tiêu “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”. Về nhiệm vụ đối ngoại, Đại hội khẳng định, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại. Do đó, có thể thấy:

          Một là, giữ vững môi trường hòa bình ổn định và bảo vệ độc lập, chủ quyền là hai trong năm nhiệm vụ của ngoại giao Việt Nam. Để thực hiện hai nhiệm vụ trên, cần sử dụng các công cụ khác nhau, như chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, luật pháp, văn hóa, tư tưởng, “sức mạnh cứng”, “sức mạnh mềm”...

          Hai là, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là một nguồn “sức mạnh mềm” của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp vào sự nghiệp phát triển tư tưởng của nhân loại về một nền hòa bình bền vững. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân loại cần chung tay xây dựng một thế giới hòa bình vì đó là một khát vọng vĩnh hằng. Tuy nhiên, đó phải là “một nền hòa bình chân chính”, “trong độc lập tự do”, “bình đẳng, bác ái”, “xây trên công bình và lý tưởng dân chủ phải thay cho chiến tranh”, “phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da”, “là điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với dân tộc khác”. Cùng với đấu tranh cho hòa bình, phải kiên quyết chống chiến tranh xâm lược, chiến tranh đế quốc, chiến tranh phi nghĩa. Người cho rằng, đấu tranh và ủng hộ phong trào đấu tranh giành và bảo vệ quyền dân tộc cơ bản, giành và bảo vệ công bằng, bình đẳng, dân chủ trong quan hệ quốc tế chính là tạo ra nền tảng để xây dựng một trật tự quốc tế mới bảo đảm cho hòa bình trên thế giới. Đó chính là những yếu tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nhân loại trong tương lai.

          Ba là, Việt Nam đã thực hiện khá thành công Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 và đã ban hành Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030, với mục tiêu là sử dụng công cụ văn hóa trong ngoại giao nhằm đưa quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài, biến điều kiện thuận lợi, vị thế đất nước thành nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời dùng các biện pháp ngoại giao để tôn vinh các giá trị, vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tăng cường sức mạnh mềm, nâng cao vị thế đất nước.

          Để văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh tiếp tục là nguồn lực tinh thần vô giá, tiếp sức cho Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ hòa bình và xây dựng tương lai tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam cũng như nhân dân thế giới, cần tiếp tục lưu ý các vấn đề sau:

          Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối đối ngoại được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng. Bên cạnh đó, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là vấn đề tương đối mới, do đó cần tiếp tục được nghiên cứu sâu, nhất là việc vận dụng trong thực tế.

          Thứ hai, “sức mạnh mềm” Việt Nam là sự đóng góp tư tưởng nhân loại về một nền hòa bình bền vững, vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chiến lược ngoại giao công chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh phải được coi là một trong các vấn đề trọng tâm của ngoại giao công chúng. Ngoại giao công chúng không hẳn là ngoại giao văn hóa. Ngoại giao công chúng là phương thức ngoại giao đa chủ thể, sử dụng các phương tiện truyền thông đa dạng, nhằm tác động đến tình cảm, suy nghĩ của công chúng nước ngoài, tạo hình ảnh đẹp, hiệu ứng tích cực về đất nước mình, qua đó tác động tới chính sách, quan hệ ngoại giao với chính phủ nước ngoài. Ngoại giao công chúng bao trùm cả ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, thông tin, tuyên truyền đối ngoại... Ngoại giao công chúng cũng là thành tố tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng đầu tiên cho ngoại giao công chúng ở Việt Nam - đó chính là “ngoại giao tâm công” - ngay từ những ngày đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, nhờ đó đã giành được sự ủng hộ quý báu của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới và các tổ chức quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.

          Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh ngoại giao văn hóa - một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam - quảng bá văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh ở trong nước và nước ngoài. Năm 2020, Việt Nam đã tổng kết 10 năm Đề án “Tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa kiệt xuất, ở nước ngoài”. Thành tựu có nhiều, dư địa còn lớn, cần tiếp tục triển khai chương trình này trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp hình thành nên những giá trị trường tồn. Đây là hoạt động có ý nghĩa vô cùng lớn, thể hiện sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đấu tranh chung trên thế giới trước áp bức, bất công, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, nhất là ở các dân tộc thuộc địa; đồng thời, tôn vinh, đề cao lý tưởng cao đẹp, giá trị nhân văn sâu sắc và khát vọng của Người về một thế giới hòa bình, bình đẳng, hạnh phúc.

          Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng biện pháp tổng hợp và chống bạo lực, chiến tranh phi nghĩa.

          Thứ năm, sau những năm tháng chiến tranh, hòa bình có ý nghĩa và giá trị đặc biệt sâu sắc đối với Việt Nam, vì vậy việc xây dựng văn hóa hòa bình ngay trong lòng nhân dân cũng đóng vai trò không nhỏ. Ngày nay, hòa bình không chỉ bao hàm độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia mà còn là môi trường bền vững, an ninh con người, xã hội công bằng, hòa thuận, lối sống nhân văn. Tác động hai mặt của phát triển kinh tế, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang đặt ra thách thức về giá trị sống và quan hệ xã hội, dẫn đến tình trạng bạo lực gia tăng. Mặt khác, hướng tới một xã hội văn minh nhân ái đòi hỏi đẩy lùi bạo lực, đặt ra yêu cầu về giáo dục để trở thành một công dân tốt, góp phần vì mọi người và xã hội. Phấn đấu cho văn hóa hòa bình là phấn đấu vì chất lượng và ý nghĩa của cuộc sống. Hưởng ứng Ngày Quốc tế hòa bình của Liên hợp quốc (ngày 21-9), nhiều địa phương ở nước ta, như Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh... đã tổ chức “Ngày hòa bình, phi bạo lực”, được đông đảo người dân tham gia. Đó cũng là tư tưởng văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh cần tiếp tục nhân rộng.

          Hòa bình luôn là mong ước, là khát vọng thường trực và hiện hữu của nhân loại, là đích đến trong mọi hành trình và là sợi dây để kết nối toàn cầu. Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là “sức mạnh mềm” Việt Nam. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và bảo vệ độc lập, chủ quyền là hai nhiệm vụ đối ngoại quan trọng được Đại hội XIII của Đảng đề ra. Triển khai mạnh mẽ, hiệu quả Chiến lược ngoại giao văn hóa, Chiến lược ngoại giao công chúng đến năm 2030, mà văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là nội dung quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại trên./.

NHẬN DIỆN CÁC MỐI ĐE DỌA AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG, GÓP PHẦN THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG


          Từ quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về an ninh phi truyền thống có thể khái quát thành mấy vấn đề chủ yếu sau:

          Về biến đổi khí hậu, được biểu hiện rõ nhất là số cơn bão mạnh có chiều hướng gia tăng, quỹ đạo của bão dị thường; hạn hán có xu hướng mở rộng, xảy ra nhiều đợt nắng nóng, rét đậm, rét hại kéo dài kỷ lục. Việt Nam được đánh giá là một trong 05 quốc gia trọng điểm chịu tác động của biến đổi khí hậu; trong đó, đồng bằng Sông Cửu Long là một trong 04 khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất về hạn hán và mặn xâm nhập;

          An ninh năng lượng là vấn đề đáng báo động. Theo đó, trung bình mỗi năm, nhu cầu sử dụng năng lượng ở Việt Nam tăng gấp 02 lần, trong khi đó khả năng đáp ứng chỉ đạt khoảng 60%. Vì thế, việc nhập khẩu năng lượng là điều khó tránh, dẫn đến phụ thuộc vào một số quốc gia;

          Về an ninh lương thực, tuy là một trong các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhưng tính chất và trình độ phát triển chưa tương xứng, khiến chúng ta luôn phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực;

          Đối với an ninh nguồn nước, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia thiếu nước, với nguồn nước ngầm sụt giảm mạnh, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, bức tử nhiều dòng sông do tác động của công nghiệp hóa và xả thải bừa bãi của nhiều nhà máy, xí nghiệp;

          An ninh mạng đã, đang là vấn đề nổi cộm hiện nay khi tội phạm công nghệ cao gia tăng, diễn biến phức tạp, sử dụng không gian mạng tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tấn công phá hoại, gây đình trệ hạ tầng công nghệ thông tin, cũng như hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, v.v. Ngoài ra, còn một số biểu hiện khác, như: tội phạm xuyên quốc gia, mua, bán người, ma túy,… phức tạp nhất là tội phạm ma túy tại các địa bàn biên giới.

          Một số giải pháp chủ động ứng phó

          Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp, ngành, lực lượng và toàn xã hội về những biểu hiện mới và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Đây là vấn đề rất khó nhận biết ngay từ đầu, chỉ đến khi xảy ra chúng ta mới thấy hết hậu họa của nó. Vì thế, cần nâng cao nhận thức về an ninh phi truyền thống; trong đó cần thấy rõ những biểu hiện, nguy cơ và tác hại của nó cho mọi người dân, cả xã hội, nhất là hệ thống chính trị; từ đó, định hướng thái độ, hành vi và hành động ứng phó phù hợp. Thực tiễn cho thấy, đôi khi sự thay đổi thói quen, điều chỉnh hành vi của cá nhân, cộng đồng,… có thể giúp ngăn ngừa nguy cơ đến từ an ninh phi truyền thống, như: môi trường, nguồn nước, lương thực,… mạng xã hội. Vì thế, việc nâng cao nhận thức cho toàn dân về vấn đề này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục cả về bề rộng và chiều sâu theo đúng phương châm mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; đó là: coi giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để phát triển bền vững đất nước, phát triển để giữ vững an ninh, an ninh để phát triển, an ninh trong phát triển. Bên cạnh đó, cần làm rõ nhận thức về nội hàm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng như những biểu hiện mới, trọng tâm của an ninh phi truyền thống hiện nay. Trên cơ sở đó huy động sự chủ động, tích cực tham gia của mỗi người dân và cả cộng đồng vào phòng ngừa và ứng phó.

          Hai là, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ, nhất là nguy cơ gây đột biến từ an ninh phi truyền thống. Chúng ta biết, trong rất nhiều nguy cơ an ninh phi truyền thống thì các nguy cơ gây đột biến là nguy hiểm nhất, nhanh nhất và gây hậu quả lớn nhất đối với đời sống con người. Và về cơ bản, loại nguy cơ này đến từ mọi mặt của đời sống, xã hội, trọng tâm là an ninh con người. Chính vì thế, việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ này đòi hỏi trước tiên phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Để làm được điều đó, trong từng giai đoạn, cần hết sức coi trọng gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó, chú trọng và giải quyết khéo léo, tinh tế, linh hoạt, hiệu quả vấn đề dân tộc, tôn giáo,… hạn chế khả năng chuyển hóa các xung đột xã hội thành xung đột chính trị. Đồng thời, chủ động phân loại vấn đề an ninh phi truyền thống để thiết kế những mô hình, kịch bản ứng phó phù hợp, hiệu quả nhất. Cùng với đó, nâng cao năng lực dự báo để kịp thời nhận diện và nắm bắt những nguy cơ này từ sớm, từ xa, chủ động dự kiến một số tác động của nó để xây dựng các phương án sẵn sàng ứng phó kịp thời, hiệu quả.

          Ba là, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Hiện nay, các thế lực thù địch chuyển từ chống phá chủ yếu bằng biện pháp vũ trang sang phi vũ trang, nhằm gây mất ổn định bên trong, tạo cớ để sẵn sàng can thiệp vũ trang khi cần thiết. Do đó, một số vấn đề an ninh phi truyền thống, đặc biệt là vấn đề dân tộc, tôn giáo thường bị lợi dụng để đòi ly khai, gây bạo loạn chính trị, nếu ta xử lý thiếu linh hoạt, khôn khéo sẽ châm ngòi cho xung đột vũ trang, can thiệp quân sự từ bên ngoài. Vì vậy, cần quán triệt và thực hiện đầy đủ tư tưởng đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, tôn giáo đi đôi với đấu tranh với các biểu hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện đòi ly khai ngay từ khi mới nhen nhóm. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng tôn giáo của người dân đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điệu lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

          Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế phát hiện, ngăn ngừa và ứng phó với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Từ thực tiễn cho thấy, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có nhiều nguyên nhân: từ tự nhiên, do phát triển kinh tế - xã hội nóng, điều hành của chính phủ, v.v. Vì vậy, để ứng phó với vấn đề này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả cộng đồng, các tổ chức, quốc gia, khu vực và thế giới. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về vấn đề an ninh phi truyền thống, đó là chủ động, tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế ứng phó hiệu quả với những thách thức an ninh phi truyền thống. Nội dung hợp tác rất phong phú, trong đó trực tiếp nhất là chia sẻ thông tin trung thực, kịp thời về các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thông qua thiết lập cơ chế hợp tác cụ thể và hữu hiệu; thành tựu khoa học - công nghệ, đào tạo nhân lực và huy động mọi nguồn lực cho phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; các quỹ phòng, chống an ninh phi truyền thống giữa các nước, khu vực, quốc tế, tạo cơ sở, nền tảng cho sự hợp tác, xử lý nhanh và hiệu quả.

          Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống tuy ít thách thức đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhưng uy hiếp và hủy hoại trực tiếp đến các yếu tố tạo nền tảng sinh tồn và phát triển của con người, cộng đồng, xã hội, quốc phòng, an ninh, quốc gia - dân tộc và toàn nhân loại. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về những biểu hiện và tác động của an ninh phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, cần sớm tìm kiếm những giải pháp được gợi mở, chỉ dẫn từ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần tăng cường tính chủ động và hiệu quả trong ứng phó bảo đảm an ninh con người, an ninh quốc gia./.

VIỆT NAM LUÔN ƯU TIÊN HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC

 


Tại phiên thảo luận ngày 22/3, về các chủ đề khẩn cấp, trong khuôn khổ Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) lần thứ 144 đang diễn ra tại Indonesia, đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam tái khẳng định rằng, hòa bình và hợp tác luôn là ưu tiên và mục tiêu hàng đầu của Việt Nam, cũng là tôn chỉ, mục đích cao cả của IPU ngay từ những ngày đầu thành lập cách đây 133 năm.

Đại diện Việt Nam nhấn mạnh, mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng chủ quyền, tôn trọng độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.

Về tình hình xung đột vũ trang hiện nay ở Ukraine, Việt Nam bày tỏ lo ngại và kêu gọi các bên kiềm chế tối đa, chấm dứt ngay lập tức việc sử dụng vũ lực để tránh thêm thương vong và tổn thất, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh. Việt Nam ghi nhận những nỗ lực đàm phán giữa các bên và mong rằng các bên bảo vệ an toàn, an ninh của người dân, cơ sở hạ tầng dân sự thiết yếu phù hợp với luật nhân đạo quốc tế.

Trước đó, tại Diễn đàn nữ nghị sĩ trong khuôn khổ Đại hội đồng IPU lần thứ 144, đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đã chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong việc dạy và học trực tuyến để bảo đảm mục tiêu kép, vừa bảo vệ sức khỏe cho giáo viên và học sinh, vừa bảo đảm việc dạy và học liên tục. Trước thách thức ngày càng tăng, Việt Nam cho rằng, cần có các chính sách bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất của nữ giới; nâng cao nhận thức về những rủi ro đối với trẻ em gái tham gia các hoạt động trực tuyến, thu hẹp khoảng cách số về giới và nâng cao nhận thức, thông tin để giảm thiểu định kiến tiêu cực về giới. Các đại biểu quốc tế đánh giá cao ý kiến của đại biểu Việt Nam, góp phần hoàn thiện bức tranh tổng thể về tác động của Covid-19 đối với đời sống thể chất và tinh thần của phụ nữ và trẻ em gái.

Tại Diễn đàn nghị sĩ trẻ, đại biểu Việt Nam nêu bật vai trò, đóng góp của giới trẻ thúc đẩy các nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu, đồng thời chia sẻ về những thách thức đối với thanh niên trong hành động vì khí hậu, như hạn chế về tài chính, trình độ công nghệ, năng lực và kỹ năng chung. Đại biểu Việt Nam đề xuất các nước tăng cường sự tham gia, ghi nhận sáng kiến của thanh niên trong thực hiện chính sách ứng phó biến đổi khí hậu; tăng cường hoạt động của nghị viện trong lập pháp, giám sát, phân bổ ngân sách bảo đảm nguồn lực để khuyến khích vai trò, sự tham gia của thanh niên trong hành động ứng phó biến đổi khí hậu.St

 

CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN - MỐI NGUY HẠI LỚN

 


“Chủ nghĩa cá nhân” là cụm từ rất quen thuộc ở mỗi con người ta, không phải bây giờ mới có mà nó gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người, có điều, ở từng mỗi cá nhân và từng giai đoạn lịch sử cụ thể thì chủ nghĩa cá nhân được biểu hiện ở cấp độ nào mà thôi. Chính vì thế, ngay sau khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến việc rèn dũa đội ngũ cán bộ, đảng viên, vì vậy, năm 1969 Người cho ban hành tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” là vì thế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của cách mạng, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tha hoá Đảng, chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân thì cách mạng còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây, chủ nghĩa cá nhân thể hiện qua sự nể nang, né tránh, xu nịnh, thao túng quyền lực…, từ đó tìm mọi cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ mình và những nhóm người cùng cánh, cùng phe, chủ nghĩa cá nhân biến con người thành kẻ tham lam không có điểm dừng.

Chủ nghĩa cá nhân với nhiều biểu hiện khác nhau nhưng đều mang lại những hệ luỵ lớn, tiềm ẩn nguy hại lớn cho quốc gia và dân tộc, vì vậy, chúng ta phải áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ cả về giáo dục chính trị tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên lẫn các chế tài pháp lý, cùng với đó là sự giám sát, kiểm tra từ bên trong lẫn bên ngoài…

Một trong những vấn đề là phải xây dựng cho được phẩm chất chính trị đạo đức của cán bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến công tác kiểm tra, giám sát , rồi xử lý nghiêm, kiên quyết.

Nhưng hơn cả, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thấy được trách nhiệm của mình, phải thực sự gương mẫu, các tổ chức đảng phải công tâm trong công tác cán bộ nhất là khâu đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ và điều quan trọng là huy động được sự tham gia tích cực, rộng rãi hơn từ nhân dân, cán bộ chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị chắc chắn chúng ta sẽ hạn chế, tiến tới đẩy lùi được chủ nghĩa cá nhân.

St

Đại tướng Phan Văn Giang chủ trì Hội nghị Quân ủy Trung ương

 


Chiều 23-3, tại Hà Nội, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị Quân ủy Trung ương.

Dự hội nghị có Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thượng tướng Võ Minh Lương, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Thượng tướng Vũ Hải Sản, Thượng tướng Phạm Hoài Nam.

Dự hội nghị còn có các đồng chí: Trung tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng; Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Thượng tướng Đỗ Căn, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng tham mưu trưởng.

Tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang thông báo nhanh một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, các đại biểu đã tập trung thảo luận, phân tích làm rõ những ưu điểm, hạn chế; đồng thời đề xuất những giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Hội nghị cũng cho ý kiến xem xét thông qua các đề án về quốc phòng để báo cáo Bộ Chính trị, trong đó có Đề án Chiến lược phòng thủ dân sự quốc gia.St

 

THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ THỰC CHẤT, HIỆU QUẢ, TRÁNH HÌNH THỨC

 


Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 9, sáng 23/3, tại Nhà Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Trình bày tờ trình của Chính phủ về dự án Luật, Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tiếp tục khẳng định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là người chủ của đất nước; bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động và trách nhiệm giải trình của chính quyền cơ sở, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp.

Dự thảo Luật có các điểm mới, gồm: bổ sung nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó bổ sung quy định về ủy quyền thực hiện dân chủ ở cơ sở; quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và nghĩa vụ kịp thời phản ánh, kiến nghị, báo cáo cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, quyền thụ hưởng thành quả phát triển kinh tế-xã hội của đất nước…

Trình bày báo cáo thẩm tra về dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng cho biết, Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở với những lý do như đã được nêu trong Tờ trình của Chính phủ. Trong việc xác định địa bàn nào là cơ sở, đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Pháp luật đề nghị cần xác định thôn, tổ dân phố cũng là đơn vị cơ sở để người dân thực hiện dân chủ bởi tuy thôn, tổ dân phố không phải là một cấp chính quyền cơ sở nhưng đây là thiết chế có tính chất tự quản quan trọng nhất của cộng đồng dân cư, là nơi gần dân nhất, thuận lợi cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở nhất.

Về thực hiện dân chủ ở cơ sở tại doanh nghiệp, một số ý kiến tán thành với đề xuất của Chính phủ là Luật này chỉ quy định có tính nguyên tắc về việc thực hiện dân chủ tại doanh nghiệp nhưng để bảo đảm tương xứng, cân bằng với các loại hình dân chủ ở cơ sở khác, đề nghị bổ sung vào dự thảo Luật một chương riêng quy định về thực hiện dân chủ tại doanh nghiệp, trong đó có thể luật hóa một số nội dung về thực hiện dân chủ tại nơi làm việc (doanh nghiệp) hiện được quy định trong nghị định của Chính phủ.

Bên cạnh đó, đa số ý kiến cho rằng, về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở yêu cầu tập trung nghiên cứu xây dựng và ban hành các quy chế dân chủ cho ba loại hình cơ sở là xã, phường, thị trấn; doanh nghiệp nhà nước và cơ quan hành chính sự nghiệp. Các loại hình cơ sở khác căn cứ vào quy chế của ba hình loại cơ sở trên để vận dụng thích hợp. Do đó, dự thảo Luật nên tập trung quy định việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đối với doanh nghiệp nhà nước, là nơi trực tiếp quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đầu tư của Nhà nước và kiểm soát tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Cho ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, đây là dự án Luật có phạm vi điều chỉnh rộng, rất nhiều loại hình, chủ thể. Do đó, Ban soạn thảo cần nghiên cứu đầu tư kỹ lưỡng, tiếp thu giải trình, hoàn thiện dự thảo để trình Quốc hội xem xét cho ý kiến. Dự án Luật này cần được kế thừa các quy định của Luật hiện hành, thể chế hóa chủ trương quan điểm lớn của Đảng về phát huy quyền làm chủ của nhân dân với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, xử lý tốt mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, góp phần thực hiện dân chủ ở cơ sở một cách thực chất, hiệu quả, tránh hình thức, phô trương.

Phạm vi điều chỉnh của dự án Luật này cần điều chỉnh đầy đủ toàn diện việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, bao gồm: xã, phường, thị trấn, các cộng đồng dân cư ở tổ dân phố, thôn, làng bản, ấp…; các tổ chức, cơ quan, đơn vị; các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. Vì vậy, dự án Luật cần quy định đầy đủ các mối quan hệ trong từng loại đơn vị cơ sở, nhưng không quy định lại những nội dung đã được các Luật chuyên ngành khác quy định.

Bên cạnh đó, các chính sách của dự án Luật cần làm rõ các yếu tố cơ bản trong quan hệ thực hiện dân chủ ở cơ sở để làm căn cứ cho việc quy định các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, bảo đảm tính chính xác, phù hợp, khả thi.

Thảo luận tại phiên họp, về các loại hình thực hiện dân chủ ở cơ sở, dự thảo Luật không điều chỉnh việc thực hiện dân chủ ở cơ sở tại những cơ quan, đơn vị có tính chất đặc thù như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân, hệ thống Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân... Trưởng Ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh cho rằng, cần quy định các nguyên tắc chung về việc thực hiện dân chủ ở cơ sở tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Đối với Đảng, Quốc hội và các tổ chức chính trị-xã hội, ngoài việc thực hiện Luật thì còn có điều lệ của các tổ chức, do đó cần bổ sung chương quy định đối với các tổ chức đặc thù này, song nên lưu ý việc quy định như thế nào để bảo đảm các tổ chức này không đứng ngoài Luật. Và thực tế cho thấy, dân chủ trong Đảng sẽ là nòng cốt, căn bản để lan tỏa thực hiện dân chủ ngoài xã hội; dân chủ trong hệ thống cơ quan dân cử cũng sẽ là yếu tố căn cốt để thực hiện dân chủ ở ngoài xã hội.St

 

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC!

 


“Làm kế hoạch phải can đảm nhưng phải cẩn thận, chỉ đạo phải tập trung vào trọng tâm”.

Cách đây 80 năm, tháng 3-1942, Nguyễn Ái Quốc chỉ thị Tỉnh ủy Cao Bằng phải mở rộng căn cứ nối liền Cao Bằng với căn cứ địa Vũ Nhai và Bắc Sơn, xây dựng một hành lang chính trị vững chắc từ chiến khu về miền xuôi. Bác chỉ thị: “Việc liên lạc là một việc quan trọng bậc nhất trong công tác cách mạng, vì chính nó quyết định sự thống nhất chỉ huy, sự phân phối lực lượng và do đó bảo đảm thắng lợi”. Đó chính là tư tưởng khởi xướng cho phong trào “Nam tiến” ra đời và phát triển mạnh mẽ.

Ngày 23-3-1945, tại Côn Minh, Trung Quốc, Hồ Chí Minh lại tiếp xúc với Ch.Fenn, sĩ quan tình báo trong đơn vị AGAS (Cơ quan Hỗ trợ mặt đất) của không quân Mỹ. Cùng đi còn có Frank Tan, một sĩ quan tình báo gốc Hoa từng hoạt động ở Việt Nam, người được phân công sẽ giữ vai trò liên lạc bằng vô tuyến điện để giữ liên hệ với đại bản doanh Cơ quan Tình báo chiến lược OSS của Mỹ đặt tại Côn Minh (Trung Quốc).

Ngày 23-3-1949, báo Cứu Quốc đăng nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Walter Briggs. Trả lời câu hỏi “điều kiện nào thì Việt Nam chấp nhận sự can thiệp của Liên hiệp quốc”, Bác đáp: “Độc lập và thống nhất thực sự của Việt Nam”. Hỏi: “Cụ có phải là một người cộng sản không?”; Trả lời: “Tôi luôn luôn là người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thực sự của Tổ quốc tôi”. Hỏi: “Việt Nam công khai tuyên bố trong 24 vị thành viên của Chính phủ có 4 vị là cộng sản, thế thì 4 vị ấy có ảnh hưởng đặc biệt hay cũng như các vị khác?”; Trả lời: “Tất cả các bộ trưởng Chính phủ Việt Nam đều cộng đồng phụ trách và ảnh hưởng bình quân”. Hỏi: “Một khi độc lập thì Việt Nam sẽ đứng với Nga và các nước đồng minh với Nga hay là với dân chủ phương Tây?”; Trả lời: “Một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn”.

Cách đây 71 năm, tháng 3-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Hội nghị Nông dân cứu quốc toàn quốc lần thứ 2, nêu rõ nhiệm vụ chính của nông dân trong lúc này là: “Thi đua tăng gia sản xuất nhiều lương thực để quân và dân no ấm đánh giặc”; muốn vậy thì “Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân. Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau thắng lợi, kiến quốc mới chóng thành công, nông dân mới được giải phóng”.

Ngày 23-3-1963, Bác họp Bộ Chính trị bàn về việc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 1 và phát biểu nhiều ý kiến (được ghi trong biên bản): “Làm kế hoạch phải can đảm nhưng phải cẩn thận, chỉ đạo phải tập trung vào trọng tâm. Cần nói rõ thắng lợi và cả khó khăn để quyết tâm, tự lực cánh sinh; dĩ nhiên không quên sự giúp đỡ của bạn. Cần phải chú ý vấn đề giáo dục tư tưởng. Nông nghiệp ta còn nhiều khó khăn. Ta có người có đất thì có của. Dân ta rất tốt. Phải có chính sách hợp tình hợp lý để người già sẵn sàng nhường chỗ cho người trẻ tiến lên”.St

 

 

Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá

Để nền tảng tư tưởng của Đảng có sức sống trường tồn, có sự thẩm thấu, lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội. Chúng ta cần thực hiện tổng thể các nội dung, giải pháp; trong đó, tập trung vào những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị. Trước hết, cần tuyên truyền sâu rộng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho nó thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần, định hướng tư tưởng cho xu thế phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cấp, ngành, nòng cốt là cơ quan báo chí, học viện, nhà trường, viện nghiên cứu cùng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên phải phối hợp chặt chẽ, tích cực tuyên truyền về vấn đề này, với nội dung, hình thức, phương pháp thiết thực, hiệu quả, có tính định hướng cao. Trong đó, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), ngày 18-3-2002 “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), ngày 01-8-2007 “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, v.v. Thông qua đó, làm cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân có nhận thức đúng, đủ những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục và lâu dài. Cùng với đó, phải đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục chính trị. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng. Vì vậy, các cô, các chú phải chịu khó học tập lý luận Mác – Lê-nin, học tập đường lối, chính sách của Đảng; đồng thời phải học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ”. Để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, các nhà trường phải thực hiện nghiêm Kết luận 94-KL/TW, ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư (khóa XI) “Về tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”; Chỉ thị 23-CT/TW, ngày 09-02-2018 của Ban Bí thư “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Theo đó, cần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ nội dung, chương trình, giáo trình và phương pháp giảng dạy lý luận chính trị trong hệ thống các nhà trường; truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những nội dung mới, phù hợp tình hình hiện nay, làm cơ sở cho việc vận dụng trong chỉ đạo thực tiễn. Đặc biệt, cần chú trọng việc giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ trong các nhà trường, nâng cao tính hấp dẫn của việc dạy và học các bộ môn Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng chương trình đào tạo lý luận chính trị phù hợp với đối tượng và cấp học, có tính liên thông, khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp, phù hợp với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, bám sát thực tiễn, nâng cao tính thiết thực, tránh chạy theo hình thức, bằng cấp. Thứ hai, tích cực đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch. Để thực hiện tốt nội dung này, cần quán triệt, thực hiện nghiêm Chỉ thị 34-CT/TW, ngày 17-4-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) “Về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”, Nghị quyết 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, v.v. Trên cơ sở đó, các cấp, nhất là cơ quan báo chí, học viện, nhà trường, viện nghiên cứu cần chủ động và tích cực đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch, vạch trần thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập giữa hai hệ tư tưởng này; thổi phồng những sơ hở, yếu kém của ta trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội, nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, việc kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là một giải pháp hết sức quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cấp phải chủ động tổ chức tọa đàm, đối thoại với những cán bộ có ý kiến khác hoặc trái với đường lối, quan điểm của Đảng nhằm giải tỏa bức xúc, tăng cường sự đồng thuận xã hội, sự nhất trí trong nội bộ Đảng. Quản lý chặt chẽ báo chí, xuất bản, internet, mạng xã hội theo đúng quy định của pháp luật; tăng cường thông tin đối ngoại và thông tin nội bộ, nhằm nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu của công tác tư tưởng, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước yêu cầu mới. Thứ ba, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Trong quá trình tìm đến chân lý cách mạng, ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”. Do vậy, để nền tảng tư tưởng của Đảng có sức sống trường tồn, phải tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để bổ sung, làm phong phú lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bởi, mặc dù là lý luận khoa học, cách mạng, nhưng không có nghĩa mọi nguyên lý, lý luận đó đều đúng với mọi thời đại. Cho nên, trước hết phải học tập phương pháp luận mác-xít, còn các nguyên lý, lý luận phải có sự kế thừa, bổ sung và phát triển. Quá trình nghiên cứu lý luận cần làm rõ một số vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo các hướng sau: Khẳng định những luận điểm nào có giá trị bền vững, trước kia đúng, bây giờ vẫn đúng và về sau vẫn đúng. Làm rõ những luận điểm nào trước kia đúng, nhưng điều kiện lịch sử hiện nay đã thay đổi, đã bị thực tiễn vượt qua, không còn phù hợp. Chỉ rõ những luận điểm nào ngay khi sinh thời, các ông đã phát hiện thấy không đầy đủ hoặc thừa nhận là sai và đã sửa đổi nhưng chúng ta không thấy hết. Làm rõ những luận điểm nào của các ông mà chúng ta đã hiểu sai do nghiên cứu không đến nơi đến chốn, hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng của người khác, đảng khác. Để thực hiện tốt các nội dung trên, đòi hỏi phải phát huy dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị, thực hiện tốt Quy định 285-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong học viện, nhà trường, viện nghiên cứu. Thông qua đó, có kết quả nghiên cứu khoa học nhằm góp phần bổ sung, phát triển sáng tạo, nâng lên tầm cao mới lý luận Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, cần làm tốt công tác tổng kết thực tiễn gần 90 năm lãnh đạo của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; từ đó, rút ra những vấn đề lý luận làm sáng tỏ thêm tính đúng đắn của hệ tư tưởng này. Đồng thời, tìm ra những vấn đề mới để vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với sự phát triển của thực tiễn, tránh dập khuôn, giáo điều, máy móc. Thứ tư, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là cán bộ chuyên sâu về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Chất lượng và hiệu quả của công tác lý luận, của việc bảo vệ, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ cán bộ lý luận. Hơn ai hết, đội ngũ này phải là lực lượng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta. Tuy nhiên, hiện nay, “Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, thậm chí “phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Bởi vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là cán bộ chuyên sâu về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Để làm được điều đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng trong các học viện, nhà trường về những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được chú trọng, đổi mới; đồng thời, làm tốt việc lựa chọn những người có đủ điều kiện cả về phẩm chất, năng lực, đạo đức, phong cách làm công tác giảng dạy, nghiên cứu lý luận. Đặc biệt, cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tích cực đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị. Thứ năm, phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của mọi cấp, ngành, lực lượng, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang là lực lượng quan trọng. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cần quán triệt, có nhận thức đúng, đủ về chức trách, nhiệm vụ của mình; đề cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập chính trị, nghiên cứu lý luận theo các chương trình cơ bản quy định cho các đối tượng. Các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị; nghiên cứu, tổng kết thực tiễn lý luận quân sự, quốc phòng; biên soạn tài liệu định hướng đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, góp phần hoạch định đường lối bảo vệ Tổ quốc của Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan thông tấn, báo chí Quân đội chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nói riêng. Tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cơ quan chức năng tiếp tục duy trì, thực hiện chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh, góp phần ngăn chặn mọi âm mưu, hành động móc nối, tập hợp lực lượng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn kích động, chống đối, chia rẽ nội bộ Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; không để chúng lợi dụng những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng với đó, cần chú trọng tổ chức lực lượng tác chiến trên không gian mạng, lực lượng chuyên sâu đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái trên internet. Hình thành các trang web cá nhân của lực lượng nòng cốt, mở rộng, phát triển các bloger, ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin mạng, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá ta. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, ngành; qua đó, làm cho lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mãi trường tồn và có sức lan tỏa sâu rộng trong đời sống xã hội.

LỜI BÁC DẠY NGÀY 25/3

 

Trong buổi lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 25 tháng 3 năm 1966, bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta bước sang giai đoạn mới. Đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện “Chiến tranh cục bộ” được tiến hành bằng lực lượng quân đội Mỹ, quân đồng minh và quân đội Sài Gòn; đồng thời, thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm ngăn chặn cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà của dân tộc ta. Bác nói: “Thanh niên ta có cố gắng, có tiến bộ và có nhiều thành tích. Nhưng chớ vì thế mà tự cao, tự đại; phải khiêm tốn, phải luôn luôn cố gắng hơn nữa, vượt mọi khó khăn, để giành lấy thành tích nhiều hơn và to lớn hơn”. Lời nói của Bác là nguồn cỗ vũ động viên tinh thần to lớn cho lớp lớp thế hệ thanh niên lên đường chiến đấu, với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Các thế hệ thanh niên cùng nhân dân cả nước đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh ra sức bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện lời dạy của Bác, thanh niên Việt Nam luôn đóng vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt trên nhiều mặt trận trong các nhà trường, công xưởng, xí nghiệp và ở cả trên lĩnh vực công tác nghiên cứu khoa học, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…Những diễn biến phức tạp tình hình hiện nay luôn tiềm ẩn và chứa đựng những yếu tố khó lường, thế hệ trẻ thanh niên chịu chi phối, tác động của nhiều yếu tố, cả tích cực và tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường và các tệ nạn xã hội… làm thay đổi về quan niệm nấc thang giá trị đạo đức, làm xói mòn nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp, nhằm kích động, lôi kéo, chia rẽ thanh niên. Trước những diễn biến phức tạp đó, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn giữ vững lập trường bản lĩnh chính trị, phát huy vai trò xung kích, tiềm năng to lớn trong thực hiện nhiệm vụ trên mọi miền Tổ quốc, có nhiều thành tích tiêu biểu trong học tập, lao động và công tác nghiên cứu khoa học…, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế.

Là một bộ phận của thanh niên Việt Nam, thanh niên quân đội luôn có vai trò hết sức quan trọng trong trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, lớp lớp thế hệ đoàn viên, thanh niên trong quân đội đã kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thanh niên quân đội luôn là lực lượng xung kích nòng cốt, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tích cực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đi đầu trong phòng, chống thiên tai; Khắc phục những khó khăn, gian khổ nơi biên giới, hải đảo, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; đồng thời, luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tự giác học tập, rèn luyện, phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ./.

                                                                                                      VHT. 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Một là, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.

Ba là, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Bốn là, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.

Năm là, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp. Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.

Sáu là, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Bảy là, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

                                                                                                         VHT.

 

VIỆT NAM VẪN LÀ TRỌNG ĐIỂM CHỐNG PHÁ CỦA “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

 

Trong giai đoạng cách mạng hiện nay, cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

                                                                                                                 VHT.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY 23/3

                                                                                             

Trong buổi nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc ngày 23/3/1956, thời điểm miền Bắc nước ta vừa bước vào hòa bình, thống nhất, xây dựng nước nhà công tác giáo dục hết sức khó khăn. Trong bối cảnh đó, có tư tưởng lo ngại rằng chủ nghĩa Mác - Lênin bó buộc tư tưởng, bó buộc giáo dục. Bác đã giải thích, khẳng định, làm rõ những tư tưởng lo ngại không đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin,“Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin”. Chủ nghĩa Mác - Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác - Lênin không có gì cao xa. Muốn phát triển giáo dục phải có kế hoạch lâu dài, phải cố gắng, phải quyết tâm thì chiến thắng được mọi khó khăn.

Thực hiện lời nói của Bác trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng để hoạch địch chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, hết sức phụng sự nhân dân là điều cao quý nhất. Người đã nhiều lần nói, được phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng và cách mạng là cao quý hơn cả…trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Việc xác định rõ vai trò của nhân dân chính là định hướng cho sự phát triển bền vững của Đảng, Nhà nước. Tất cả mọi việc đều hướng tới lợi ích của dân, cho dân và vì dân. Chỉ khi tầng lớp nhân dân có được đời sống thực sự ấm no, hạnh phúc thì đất nước mới có được sức mạnh hùng cường, mới có thể bước tới đài vinh quang. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên luôn phòng chống biểu hiện tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi đều phải quyết tâm hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Nếu chúng ta nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng và nếu nhận thức sai sẽ dẫn đến hành động sai.

Là lực lượng vũ trang nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ chí Minh: “Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin”, mọi cán bộ, chiến sĩ luôn nhận thức sâu sắc, nêu cao trách nhiệm, giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, ra sức thi đua học tập và rèn luyện để trở thành người chiến sĩ xung kích trong mọi công việc, góp phần cùng nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng. Đó là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong công cuộc phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.

                                                                                                                      VHT.