Thứ Tư, 23 tháng 3, 2022

Đấu tranh với các biểu hiện mơ hồ, thiếu niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Mơ hồ, thiếu niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng tất yếu sẽ gia tăng nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển đất nước. Đây là thực trạng cần được nhận thức đầy đủ, đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh loại bỏ. như V. I. Lê-nin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”. Vai trò lý luận cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đối với phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản được chứng thực trong thực tiễn hơn 170 năm qua. Từ “một bóng ma ám ảnh châu Âu” đến chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã soi rọi cho phong trào cộng sản đi đến thắng lợi, mở ra kỷ nguyên hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc cho nhân loại. Lịch sử cũng chứng minh, khi nào, ở đâu sự mơ hồ, thiếu niềm tin, dao động, xa rời hay vận dụng một cách giáo điều,… chủ nghĩa Mác – Lê-nin thì nơi đó tất yếu dẫn đến lúng túng, sai lầm. Sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm 90 của thế kỷ trước là một bài học như thế. Đối với Việt Nam, vai trò “làm cốt”, “nền tảng tư tưởng”, “kim chỉ nam cho hành động” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đối với Đảng ta và cách mạng Việt Nam được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”3. Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin để lãnh đạo nhân dân ta làm nên những kỳ tích lịch sử, thay đổi căn bản thân phận của dân tộc, nâng cao vai trò, vị thế của đất nước. Đó là sự thật, là bài học kinh nghiệm hàng đầu về trung thành, giữ vững nền tảng tư tưởng, lý luận trong xây dựng và lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Tuy nhiên, hiện nay khi chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên theo hướng bền vững hơn; con đường, mô hình phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng sáng rõ và được quốc tế công nhận,… nhưng thật đáng tiếc, trong Đảng, trong xã hội lại đang hình thành và tồn tại các biểu hiện mơ hồ, thiếu niềm tin vào chính “lý luận nền tảng” để có được những thành tựu ấy. Đó là sự nguy hại khôn lường, bởi đó không chỉ phản ánh tình trạng nhận thức và tình cảm đối với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giảm sút, mà còn dẫn đến hành động thực tiễn sai lầm, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Mơ hồ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là biểu hiện của việc hạn chế về nhận thức, hiểu không sâu, không chắc, hiểu một cách phiến diện, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, không nắm được bản chất của những nguyên lý khoa học của lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là điều bình thường. Bởi, khó có ai có thể tường tận một học thuyết khoa học, cách mạng và toàn diện, thâu tóm gần như toàn bộ tri thức nhân loại như chủ nghĩa Mác – Lê-nin; càng không có nhiều người vận dụng sáng tạo, hiệu quả chủ nghĩa ấy vào thực tiễn cách mạng chưa có tiền lệ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm ở Việt Nam. Nhưng điều đáng nói là một số người vì mơ hồ mà dao động, thiếu niềm tin, đòi xét lại, phủ nhận, phản bội chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó hoài nghi về mô hình và con đường phát triển của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Càng nguy hiểm hơn, đây là điều kiện lý tưởng cho các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng Việt Nam ngay từ cái gốc, cái nền tảng tư tưởng, lý luận. Biểu hiện mơ hồ, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang diễn ra ở nhiều nơi, trong mọi thành phần xã hội. Không khó để nhận thấy, một số người, thậm chí là cán bộ, đảng viên do mơ hồ, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà suy thoái về tư tưởng chính trị, mất lập trường giai cấp, mất phương hướng, tỏ rõ thái độ hoài nghi chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ không nhận thức được hết ý nghĩa, tầm quan trọng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lười học tập, nói và làm không theo nghị quyết của Đảng, trái pháp luật Nhà nước; suy thoái về tư tưởng chính trị, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Khi được giao chức, giao quyền thì họ chuyên quyền, độc đoán, gia trưởng, vi phạm nguyên tắc của Đảng, không giữ tư cách đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên,… làm tổn hại đến uy tín của Đảng. Khi cần “tiêu chuẩn” để thăng quan, tiến chức thì họ chạy “tiêu chuẩn”. Khi được học tập để nâng cao trình độ thì họ lại học theo kiểu “đánh trống ghi tên”, lười học chính trị, học không liên hệ với thực tiễn, học rồi để đấy, học cốt là để đủ tiêu chí “thăng quan”; không biết hoặc không có ý thức vận dụng lý luận được học vào thực tiễn công tác, dẫn đến bệnh kinh nghiệm chủ quan, tự mãn với những gì đã có, coi thường và hạ thấp lý luận, tuyệt đối hóa những kinh nghiệm cá biệt, cụ thể, biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biến để áp dụng trên mọi lĩnh vực, mọi trọng trách được giao. Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn công tác, vì mơ hồ về nền tảng tư tưởng của Đảng mà họ mắc bệnh giáo điều, bảo thủ, tuyệt đối hóa lý luận, coi thường và hạ thấp thực tiễn. Một số người khác lại bóc tách một cách siêu hình, không nghiên cứu lý luận một cách thấu đáo, toàn diện những nguyên lý khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách máy móc theo kiểu “tầm chương trích cú”, không tính đến điều kiện lịch sử cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương, đất nước mình trong từng thời kỳ. Hậu quả là dẫn đến thất bại và làm méo mó, biến dạng, hoen ố, thui chột những giá trị sống động, biện chứng của lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, dẫn đến những biểu hiện sống thụ động, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thích tham gia bình luận, tranh luận chính trị trên mạng xã hội nhưng không hề có nền tảng kiến thức chính trị cơ bản nào; thậm chí họ cảm thấy ngán ngại khi nhắc đến lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. Có nhiều nguyên nhân để lý giải cho điều này, nhưng không thể không đề cập đến nguyên nhân từ những bất cập trong việc giáo dục lý luận chính trị, giảng dạy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng hiện nay. Các thế lực thù địch hiện đang đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực với những thủ đoạn hết sức tinh vi, nguy hiểm. Nhiều người vì mơ hồ, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, đã ngộ nhận hoặc cố tình tuyên truyền không công cho kẻ thù; vào hùa với các thế lực thù địch và những người mang nặng định kiến, cực đoan chống lại đất nước, chế độ đã sinh ra, dung dưỡng họ. Họ thường lợi dụng và thổi phồng những khó khăn của đất nước, những hạn chế trong phát triển kinh tế, xã hội để xuyên tạc, quy chụp nguyên nhân là do chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, do bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam,… nhằm phủ nhận giá trị lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, trong xã hội đang hình thành một thứ “văn hóa đổ lỗi” cho Đảng, như: đổi trắng thay đen, so sánh thiệt hơn trình độ phát triển của nước ta với các nước khác một cách phiến diện, thiếu công tâm, không tính đến điều kiện đặc thù mỗi nước,... việc đó đã tạo hiệu ứng tiêu cực cho xã hội. Thực trạng trên đang cảnh tỉnh cho chúng ta cần lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả hơn nữa các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tiếp tục “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”; chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội; lan tỏa những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng trong đời sống tinh thần xã hội. Với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và sự chống phá điên cuồng của kẻ thù. Vượt lên trên tất cả mọi sự xuyên tạc, bôi nhọ,… với mọi thủ đoạn thâm độc của các thế lực phản động, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn sáng ngời và trường tồn với dân tộc. Đó là sự thật không thể phủ nhận. Hiện nay, sự vận động biến đổi nhanh chóng của thực tiễn trong thời kỳ cách mạng Công nghiệp 4.0 đang đặt ra nhiều thách thức mới về lý luận. Đây cũng là cái cớ để các thế lực thù địch ra sức phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những luận điệu và thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Do đó, cần nhận thức đúng, nâng cao cảnh giác, khắc phục những biểu hiện mơ hồ, thiếu niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

Khiêm nhường một phân, tôn quý vạn phần

 Có một số người khi được giao quản lý một nguồn lực nào đó của cơ quan, thay vì hiểu rằng bổn phận của mình là giúp cơ quan bảo quản, vận hành và khai thác tốt nguồn lực tài sản, thì họ lại “tự tung tự tác”, tự cho mình quyền hạn như là chủ nhân thực sự của nguồn tài sản đó. Thế nên, thay vì khiêm nhường làm việc với đúng chức trách được giao thì họ lại tỏ ra có “quyền sinh quyền sát”, thực hiện nhiệm vụ nhưng lại như “ban phát” quyền lợi, “gia ân” cho người khác. Và đương nhiên những người được lòng hay thân thiết với họ sẽ được ưu ái nhiều hơn, trong khi những người khác sẽ gặp không ít trở ngại mặc dù đó cũng là quyền được thụ hưởng chính đáng của họ.

Câu chuyện này nghe có vẻ rất vô lý, nhưng lại là sự thực hiện hữu ở không ít công sở và được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau.

Khi đến giao dịch ở một cơ quan nào đó, nhiều người không khỏi ngán ngẩm khi phải qua “cửa ải” đầu tiên là “ông” bảo vệ. Với nhiệm vụ “trấn giữ biên cương”, với tính chất đặc thù và phức tạp, bởi chỉ sơ sẩy một chút là có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, người bảo vệ phải kỹ lưỡng rà xét tất cả mọi người ra vào cơ quan mỗi ngày. Chuyện chẳng có gì đáng đưa ra bàn ở đây, nếu như bên cạnh những người bảo vệ có tâm, luôn “cần mẫn” thực hiện đầy đủ chức phận của mình với sự khiêm tốn, đúng mực, thì có những người nghĩ mình có quyền hành không giới hạn nên hạch sách tất cả mọi người, không chừa một ai, với một thái độ trịnh thượng, cửa quyền, thậm chí có lúc còn có biểu hiện thiếu văn hóa. Những người “không biết mình là ai” như vậy tuy chỉ là thiểu số, nhưng lại có ảnh hưởng không nhỏ tới không khí và tinh thần làm việc chung, vi phạm đạo đức công vụ, là những “con sâu làm rầu nồi canh” trong môi trường văn hóa công sở.

“Khiêm nhường một phân, tôn quý vạn phần”!

Nghịch lý là, trong khi đa số người đứng đầu cơ quan rất chuẩn mực, gần gũi, khiêm nhường, thì một vài thành viên có chức trách, nhiệm vụ khiêm tốn lại hay tự cho mình là quan trọng, có thái độ hách dịch vượt khỏi chức trách cho phép. Cổ nhân từng đúc kết: “Sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cúi đầu”… Thực tế, tài giỏi là yếu tố khiến người khác nể nang nhưng khiêm nhường mới là đức tính khiến người ta trở nên cao quý. Khiêm nhường là cái gốc của “sức mạnh mềm”, vì thế, con người càng khiêm nhường bao nhiêu càng được trân quý bấy nhiêu.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là mẫu mực của đức khiêm nhường, đồng thời Người rất quan tâm giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên về đức khiêm nhường. Người phê bình thái độ của một số cán bộ “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân”. Người căn dặn: “Cán bộ đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật... Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Học tập và làm theo đức tính khiêm nhường của Bác chính là xây dựng cho mình một bản lĩnh, trí tuệ, tình yêu thương với đồng nghiệp, đồng chí, với quần chúng, bạn bè; là đức khiêm tốn, sự cầu thị tiến bộ, ý chí quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là người “đầy tớ” trung thành và tận tụy của nhân dân. Mỗi một cá nhân trong một tập thể đều có vai trò như “một cánh én nhỏ” để “làm nên mùa xuân”, do đó, dù ở vị trí, cương vị nào cũng cần làm tròn bổn phận của mình với một thái độ gương mẫu, chính trực và khiêm nhường./. 

Chứng bệnh “ái kỷ chính trị”

 "Ái kỷ chính trị" là thói lố tự đánh bóng, khoe mẽ, thổi phồng về bản thân vì những ý đồ chính trị, từ đó đẻ ra đủ loại những thói hư, tật xấu tệ hại khác, như tính tham lam, đói khát danh vọng, dối trá, thói ghen tị, xu nịnh, kèn cựa, vụ lợi, tham ô, lãng phí...

Bắt chứng bệnh ái kỷ chính trị không khó, do thói hợm hĩnh, hám danh, “trưởng giả học làm sang”..., nên dù che giấu tinh vi đến đâu vẫn có ngày bị phơi bày, với cả mớ những kiểu thức rởm đời. Có kẻ vô sỉ hả hê lấy mồ hôi, nước mắt của người khác làm thứ màu tô vẽ vào bảng thành tích của mình, bằng tranh công đổ tội, chặn bát chèn đũa đồng nghiệp; có người huênh hoang tự cao tự đại khoe khoang về mình, thuyết giảng đao to búa lớn cả ngày không chán, vừa đôm đốp vỗ ngực tự thổi ta lên chín tầng mây, vừa vẫn không quên dùng thủ đoạn dìm ngay người khác xuống; có người “đánh bóng chuyên nghiệp” khi dùng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để khoe mẽ bản thân bằng những hình ảnh hào nhoáng nhưng đầy thói giả dối, rỗng tuếch, lố bịch, thậm chí lươn lẹo “mớm cung”, mượn tay kẻ khác để tâng hết lời về mình, hòng bịp mắt thiên hạ, dọn đường cho việc tranh quyền đoạt chức về sau; nhiều người tài hèn, đức mọn, nhưng háo danh tìm mọi cách gắn mác học hàm, học vị cho kỳ được, toan tính leo lên ông nọ bà kia; có kẻ dù đã vướng vào vòng lao lý thì vẫn cố vươn khỏi song sắt nhà tù để dùng đám bồi bút bênh vực giảm tội, không nghĩ tới quá khứ táng tận lương tâm bòn rút không tiếc của cải của nhân dân...

Kẻ “ái kỷ chính trị” luôn tìm thấy cảm giác thỏa mãn bản thân mình khi vượt được người khác, bằng mọi giá. Khi tài hèn, tất phải dùng thủ đoạn. Người có chút tài năng thì cũng bị những huyễn hoặc, ảo vọng về bản thân và ham hố danh vọng làm mờ mắt, sinh ra hành động khuất tất, thậm chí bất nhân. Song, dù bôi son trát phấn hào nhoáng thế nào thì chung quy vẫn khó lòng lấy hình thức mà lấp đi nội dung, lấy mớ hổ lốn danh hiệu, bằng khen, “công trạng” mà che đậy đi đống rỗng tuếch bên trong.  

Xưa - nay, Đông - Tây, nhìn khắp bốn bể đều thấy, một tổ chức do yếu kém mà dung túng cho nhiều kẻ “ái kỷ chính trị” thì lâu ngày cũng thành một tập thể ái kỷ chính trị, nơi thói xu nịnh, giả dối, rởm đời, bệnh hình thức, đấu đá, chạy danh hiệu, tự mãn lên ngôi; ngại, tránh những cách nói thẳng, nói ngay, dần mất đi sự công bằng, người tài, người hay ngoảnh mặt - tập thể đó tất đến lúc mạt thời. Nguy hại hơn là cả một đất nước, một dân tộc “ái kỷ”, bám víu vào những thành tích nhất thời, chuộng hư danh, thiếu thực lực, mà hàm hồ, thái quá trong ca tụng, ngủ mê với ảo vọng, khiến tinh thần quốc gia bạc nhược.  

Người mắc “chứng ái kỷ” nặng thường “không biết mình là ai”, đặt bản thân lên trên hết thảy, không chịu tu dưỡng, nên thiếu sự thấu cảm và đối ác với người khác, mất khả năng kiểm soát ham muốn và dị ứng với sự ăn năn, hối lỗi, do đó khó trông chờ vào sự tự sám hối. “Vực thẳm dễ lấp, nhưng túi tham khó đầy”.

Đây là chứng bệnh “kinh niên” trong đời sống chính trị, lây như vết dầu loang, âm thầm lan rộng, nhất là ở nơi có sức đề kháng kém, nguy cơ biến thành những sân khấu để phường tuồng chính trị diễn tấu; thuyên giảm đi trong môi trường mà sự minh bạch, công tâm, sự thực tài, điều thẳng ngay được coi trọng và có sức sống, cùng con mắt tinh tường, hiểu người, thấu lý, thấu tâm của người lãnh đạo.

Nước càng sâu càng tĩnh. Người thực tài thường khiêm cung. Kẻ yếu nhược lại hay tự cao, tự đại.

Ngẫm lại lời của người đứng đầu Đảng ta càng thấy thêm sự sâu sắc, rằng, mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng quyền lực. Đức Phật cũng dạy: “Thiểu dục và tri túc” (biết tiết chế dục vọng và biết đủ)... Âu đó cũng là đường sáng để những người mắc chứng bệnh này tỉnh ngộ, tự tiết chế bản thân, tránh thành bạo bệnh mà phải gánh hậu họa khôn lường!./.

Hội chứng vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý

 

Đến nhà ông G. được vài phút nhưng vì thấy gia chủ, một giáo sư có tên tuổi trong lĩnh vực văn hóa đang mải miết, say sưa với việc đo, đánh dấu, cắt gọt làm mô hình đèn giao thông, ông T đành lên tiếng:

- Lạ nhỉ, văn hóa thì liên quan gì đến giao thông cơ chứ?

Ông G. cười, kéo ông T. vào bàn nước và mở lời: Việc xây dựng đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị, địa phương tuy đã có những đổi mới, song hiện nay vẫn đang có những yếu kém, nhất là trong sử dụng, đánh giá cán bộ. Các cơ quan, đơn vị và địa phương chia tách công việc ra quá nhiều tầng nấc, phân cho nhiều người cùng quản lý một công việc nên dẫn đến tình trạng cán bộ “nhàn” quá.

- Nó chẳng liên quan đến cái mô hình đèn tín hiệu giao thông mà ông đang làm, ông T. cắt lời.

- Ấy, ông nghe này! Vì việc ít, vì nhàn, vì lương không đủ sống nên họ tìm cách làm thêm, trong đó làm thêm từ chính công việc được giao là cách đầu tư ít tốn kém nhất, thu lợi nhuận cao nhất. Chính cách “tăng gia” ấy đã trở thành thói quen khó bỏ, lây lan rất nhanh trong bộ máy. Đây chính là gốc, rễ đẻ ra chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực. Tôi làm cái mô hình đèn giao thông là để giảng cho sinh viên hiểu rằng, không được vượt “đèn đỏ” trong công tác quản lý, lãnh đạo.

- Do đâu mà ông lại có ý tưởng lạ đời này, liệu có hiệu quả không? Ông T. thắc mắc.

Ông G. thủng thẳng nói về ý tưởng của mình, rất nhiều người Việt khi tham gia giao thông cố tình vượt đèn đỏ, dù biết là nguy hiểm, đe dọa tính mạng. Ấy nhưng, nó chẳng thấm tháp gì so với vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý.

Ông G. còn phân tích thêm: Hiện tượng vượt “đèn đỏ” trong tham gia giao thông có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức chấp hành kỷ luật, pháp luật của người tham gia còn hạn chế, còn vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý thì xuất phát từ nguyên nhân chính là lợi ích cá nhân.

Vượt “đèn đỏ” giao thông thì có thể nhìn thấy ngay nhưng vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý thì khó bị phát hiện hơn nhiều và hiện nay là tình trạng khá phổ biến. Thậm chí có trường hợp cán bộ vượt “đèn đỏ” nhưng vẫn thăng quan, tiến chức như thường.

Cứ theo như suy luận của ông G. thì trong xã hội đang tồn tại nhiều hiện tượng vượt “đèn đỏ”. Đây là việc nguy hiểm, vì nó khiến tình trạng tham nhũng trong bộ máy chính quyền tăng lên, gây bất bình đẳng, làm triệt tiêu mất động lực cạnh tranh lành mạnh và gia tăng phân hóa giàu nghèo.

Đặc biệt hơn, tình trạng vượt “đèn đỏ” này sẽ khiến cho niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý, điều hành của Nhà nước ngày càng giảm sút. Chính vì vậy, cần có hình thức xử lý đủ mạnh để tình trạng vượt “đèn đỏ” sẽ không có cơ hội xuất hiện./.

Đừng lạm dụng phê bình để hạ bệ nhau!

 Đánh giá cán bộ là một công việc khó. Chính vì vậy, Đảng ta thông qua các đợt sinh hoạt chính trị để tổ chức kiểm điểm, phê bình, đánh giá cán bộ một cách nghiêm túc, khách quan. Nhưng nếu cách làm này không quán triệt tốt các mục đích, yêu cầu do cấp trên đặt ra thì dễ xảy ra tình trạng kiểm điểm qua loa, làm cho có lệ theo kiểu tập thể thì “thanh toán chương trình”, cá nhân thì “nín thở qua cầu”, bởi chẳng ai “dài hơi” mà đi phê bình người khác rồi có khi phải “chuốc oán” vào thân! Có khi thấy việc sai trái của người khác rõ như ban ngày nhưng cố tình làm thinh hoặc có góp ý thì cũng góp ý cho có chứ chẳng có tác dụng gì. Coi như là góp phần “ghi điểm” cho người có sai phạm!

Thực tế có người lúc trước có thể có sai lầm nhưng không phải vì thế mà họ sai lầm mãi. Cũng có những người từ trước đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này bản thân họ không mắc sai phạm? Bởi vậy mới nói, quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau. Nếu muốn xem xét, đánh giá một cán bộ, phải đặt và xem xét người đó trong toàn bộ quá trình công tác, cả lúc khó khăn và khi thuận lợi, không chỉ xem xét mặt ngoài mà còn phải xem bản chất bên trong của con người họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem xét họ trong cả quá trình công tác lâu dài. Việc xem xét, đánh giá này phải linh hoạt, không được bảo thủ, định kiến mà cần lấy kết quả công việc làm thước đo chủ yếu, dựa trên nhiều mối quan hệ, cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan, đa chiều để đánh giá đúng.

Việc ai đó cố tình đánh giá sai cán bộ hay lợi dụng phê bình để hạ bệ nhau là nhằm trục lợi kinh tế, vụ lợi chính trị hoặc “trả đũa” do thù ghét cá nhân, hay nói cách khác, những thái độ, hành vi tiêu cực trong ngụy phê bình trên chính là sản phẩm tất yếu của những người mang nặng bệnh cá nhân chủ nghĩa, đầu óc mang tư tưởng hẹp hòi… Họ tranh thủ lợi dụng “chiêu bài phê bình” này nhằm làm nhiễu loạn thông tin, đánh lừa được không ít người nhẹ dạ cả tin.

Hiện nay, các địa phương đang tiến hành tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, thì vấn đề kiểm điểm từng cá nhân và tập thể trước đại hội là việc hết sức quan trọng, “nhìn thẳng, nói thật” để làm sao lựa chọn được những cán bộ xứng đáng, trung thực, thực đức, thực tài. Công tác chuẩn bị nhân sự cơ cấu vào cấp ủy khóa mới phải gắn với việc thực hiện nghiêm túc Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động lợi dụng đại hội đảng để tố cáo sai sự thật, làm nhiễu loạn thông tin, gây hại cho Đảng ta trước thềm Đại hội XIII sắp đến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về tự phê bình và phê bình, sửa chữa khuyết điểm đã chỉ rõ: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên trên mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắn chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”(1). Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Tự phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân người đi phê bình người khác phải xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải là “soi mói”, “bới lông tìm viết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta dù là bất cứ ai khi có điều kiện nên thẳng thắn đóng góp với nhau một cách chân tình và cởi mở trên tinh thần chân thành và xây dựng để làm cho các mối quan hệ xã hội này càng được trong sáng, tiến bộ, văn minh. Làm sao để mọi người phải thật thà, bằng lòng tử tế đối xử với nhau, đừng lạm dụng sự phê bình để hại nhau, cũng là hại ngay với chính mình./.

Nhất thân, nhì quen

 

Có lẽ tôi là một trong số ít người nước ngoài ở Việt Nam hiếm khi đi khám ở bệnh viện tư hay bệnh viện quốc tế.

Tôi thường tới các bệnh viện trung ương, bệnh viện tuyến đầu của Hà Nội. Tôi biết bác sĩ ở đây rất giỏi và có nhiều kinh nghiệm.

Gần đây, tôi muốn khám xương khớp. Tôi gọi cho một người bạn Việt Nam xem bác sĩ nào giỏi ở các viện tuyến đầu để tôi tới đó khám. Bạn tôi không chỉ giới thiệu mà do biết tôi ngần ngại, còn nhanh tay điện thoại cho bác sĩ, hẹn lịch luôn cho tôi. Có "quen biết" và còn là một Đại sứ, tôi được khám tận tình, chu đáo, nhanh chóng. Bác sĩ kê đơn thuốc tốt và bệnh của tôi thuyên giảm.

Khi nhập viện, tôi thấy y bác sĩ luôn hỏi các bệnh nhân: "Người nhà đâu?", "Thế không có người nhà đi cùng à?". Người nhà sẽ chạy đôn chạy đáo đi nộp tiền viện phí, đi lấy kết quả xét nghiệm, kiêm luôn việc chăm nom bệnh nhân nặng. Và người nhà phải làm công việc quan trọng nhất là "thiết lập quan hệ" với y bác sĩ để được lưu tâm hơn.

Điều này khiến tôi rất ngạc nhiên. Ở các bệnh viện nước ngoài, người nhà bệnh nhân được mời ra ngoài đầu tiên. Thân nhân không được phép vào, trừ những giờ thăm theo quy định. Ở Việt Nam, không có người thân hay không biết "gọi điện cho người thân" là mọi việc dễ gặp khó khăn, không chỉ trong lĩnh vực y tế.

Trong lĩnh vực hành chính, "nhất thân, nhì quen" cũng trở thành thông lệ. Từng làm đại sứ nhiều nơi, tôi biết, ở nước ngoài, nếu thật sự thân quen, bạn cũng được ưu tiên hơn nhưng không thể nhanh chóng và khác biệt như ở Việt Nam.

Tôi suy nghĩ mãi về điều này, tại sao "nhất thân, nhì quen" lại phổ biến ở Việt Nam hơn ở nhiều nước khác. Có một số nguyên nhân, trong đó có văn hoá "duy tình" thấm rất sâu trong lòng xã hội Việt Nam.

Người Việt vốn duy tình, tức là chú trọng phương diện tình nghĩa hơn các khía cạnh khác trong mọi vấn đề. Người Việt có câu "Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình". Tôi biết, một số cơ quan Việt Nam vẫn có xu hướng chọn lựa nhân sự theo góc độ tình cảm. Những cán bộ gắn bó hàng chục năm với cơ quan thường được xem là "lão làng", thậm chí được đưa con cháu vào hưởng suất thế chỗ khi họ nghỉ hưu. Ai cũng hiểu, nghĩa cử ấy là tốt nếu người được tiếp nhận có đủ năng lực cần thiết để đáp ứng công việc. Nhưng không thiếu trường hợp, người tuyển chọn vẫn vì tình cảm mà bỏ qua khía cạnh này, khiến bộ máy có nhiều cán bộ thiếu trình độ.

Cách giải quyết theo kiểu "tình đi trước lý" như vậy có thể chỉ phù hợp với một giai đoạn nhất định. Trong bối cảnh một xã hội hiện đại và ngày càng hội nhập, mọi thứ sẽ phải khác đi mới hiệu quả được. Nhà nước Việt Nam cũng đang nhấn mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền, nghĩa là mọi công việc được giải quyết trên cơ sở luật pháp, chứ không phải trên quan hệ thân hữu.

Vấn đề là làm thế nào để thực sự có xã hội pháp quyền khi văn hoá "thân quen" vẫn ăn sâu bám rễ như hiện nay. Tôi cho rằng quan trọng nhất là giáo dục. Tận dụng "quen biết" để giành lợi thế cho mình là phản ứng tự nhiên của con người nói chung. Vì thế ở các quốc gia phát triển, các khoá học liên tục được triển khai trong các cơ quan, công ty nhằm đào tạo cán bộ về quy tắc đạo đức, trong đó việc tạo điều kiện cho quan hệ thân hữu và thiên vị cá nhân không được chấp nhận.

Tôi chưa thấy giáo dục về việc này được đẩy mạnh trong các cơ quan, công sở ở Việt Nam. Tận dụng sự "thân quen" vẫn được coi như "chuyện thường ngày ở huyện", thậm chí được chọn là đường tắt để giải quyết các vấn đề khó.

Một số cá nhân có quan hệ sẽ được hưởng lợi từ cách làm này, nhưng toàn bộ hệ thống thì không thể tiến lên bằng "đường tắt". Một xã hội phải được duy trì theo nguyên tắc pháp trị, duy lý và bình đẳng giữa các công dân.

Giáo dục là biện pháp đi trước. Giám sát là biện pháp đi sau. Hai chân này giúp Việt Nam xây dựng hệ thống pháp quyền bền vững và vận hành xã hội hiệu quả. Tôi tin chắc rằng khi Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập sâu hơn nữa, thói quen này sẽ dần dần thay đổi.

Tại sao người Việt hay chen lấn, giành chỗ?

 Người phụ nữ trung tuổi chen lên đòi thanh toán trước với lý do 'ít đồ hơn', chẳng buồn đợi sự đồng ý của tôi.

Đọc bài viết "Những người đi máy bay vô ý thức" của tác giả Sissi, tôi lại nhớ đến những trường hợp mà bản thân mình từng gặp phải không ít lần trong cuộc sống thường nhật:

Có một lần, tôi đi siêu thị. Trong lúc xếp hàng chờ thanh toán, một người phụ nữ đứng tuổi từ phía sau chen lên trước tôi với lý do: "Cô ít đồ, con nhường cho cô thanh toán trước". Và chẳng cần chờ tôi đáp lời, người phụ nữ cứ thế chen lên và đưa đồ thanh toán. Tôi nghĩ bụng: "Điều đó thật vô lý, nhưng nếu mình không đồng ý nhường thì họ sẽ nói mỉa theo kiểu giới trẻ thời nay không tôn trọng người lớn. Người ta đâu có thấy những lúc tôi sẵn sàng chủ động nhường cho các cô, chú lớn tuổi đi một mình. Còn những người vẫn còn trẻ, còn khỏe, sao không tự giác xếp hàng và đợi đến lượt nhỉ?

Một lần khác, tôi đi tiêm vaccine Covid-19 và cũng gặp cảnh chen lấn, giành chỗ tương tự. Có người muốn tôi nhường chỗ với lý do: "Chồng cô đứng bên trên, con cho cô lên trước với chồng". Đương nhiên, tôi cũng đành nhường vì không muốn đôi co. Cuối cùng, người ta lại chuyển hàng tiêm và người phụ nữ đó vẫn phải chấp nhận tiêm sau cùng. Tuy nhiên, vấn đề ở đây không phải ai trước, ai sau bởi cũng chỉ hơn kém nhau vài phút đồng hồ. Quan trọng là ý thức xếp hàng, chờ đợi đến lượt của nhiều người Việt vẫn là thứ gì đó xa xỉ.

>> Chen lấn từ xét nghiệm đến tiêm vaccine

Một chuyện thậm chí còn nực cười hơn, đó là khi tôi đi xe trên đường. Lúc đó, giao thông đông đúc, đường tắc cứng, không thể di chuyển, trước mặt là cả hàng người đang đứng dài chờ đèn đỏ. Ấy vậy mà có người phía sau tôi vẫn ra sức bóp còi để được chen lên một, hai hàng. Tất nhiên, đó không phải xe được ưu tiên hay đoạn đường được phép rẽ phải khi đèn đỏ. Khi không chen lên được, họ bắt đầu chửi bới ỏm tỏi. Không những thế, người này còn buông lời chê bai chất lượng đường sá trong nước, tắc đường triền miên. Tôi tự hỏi, nguyên nhân không phải do sự vô ý thức của chính họ hay sao?

Thực tế ý thức cộng đồng của một bộ phận không nhỏ người Việt đang là như vậy. Thật đáng buồn khi có những người tối ngày khen nước này xếp hàng văn minh, nước kia giáo dục hiện đại, tiên tiến, nhưng rồi họ lại cư xử bất lịch sự ngay trên chính đất nước của mình, sau đó lại lấy sự bất lịch sự đó ra để chê bai đất nước. Vậy đó có phải là lỗi của nền giáo dục?

Bài học đắt giá nếu không thực hiện các nguyên tắc Đảng

 Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là một trong các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chỉ ra rất rõ.

Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm ở một số tổ chức, cá nhân trong quân đội thời gian qua, ảnh hưởng không nhỏ đến những giá trị cao quý của Bộ đội Cụ Hồ;

1. Trong nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật, điều lệnh, điều lệ quân đội thì tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách khá phổ biến. Biểu hiện cụ thể đó là tổ chức đảng mất sức chiến đấu. Người lãnh đạo, chỉ huy tập trung quyền lực vào mình và trở nên độc đoán, gia trưởng, nội bộ mất đoàn kết, chia bè, kết phái. Trong khi hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng gần như bị tê liệt thì đảng viên cũng không thể hiện được sức chiến đấu, đơn vị mất dân chủ. Tổ chức chỉ còn là bình phong cho một số cá nhân tự tung tự tác. Hậu quả tất yếu là các sai phạm đã hoặc sẽ xảy ra.

Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, trải qua các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong xem xét vi phạm ở các tổ chức đảng, một số tổ chức đảng trong quân đội bị kết luận “Vi phạm nguyên tắc, quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát...”. Kết luận này được chỉ ra ở các đơn vị, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025... Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương qua các kỳ họp cũng đã kết luận sai phạm trong thực hiện nguyên tắc ở một số tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị. Biểu hiện sai phạm trong thực hiện nguyên tắc Đảng có ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Nguyên lý cơ bản trong tổ chức Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân đó là Đảng phải thực hiện lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Điều này là không phải bàn cãi. Trong các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng thì tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là hai nguyên tắc xương sống, đặc biệt quan trọng để quân đội luôn vững mạnh về mọi mặt, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong suốt gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, chưa có khi nào Đảng ta xem nhẹ các nguyên tắc lãnh đạo này. Thực hiện các nguyên tắc đó góp phần rất quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh, đồng thời cũng chính là yếu tố cốt lõi làm nên phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, là thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị. Bộ đội Cụ Hồ là một giá trị văn hóa, được hun đúc kết tinh từ những giá trị phẩm chất cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của lịch sử truyền thống Quân đội ta, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng.

Thực tế cũng đã chứng minh, bất cứ tổ chức, cơ quan, đơn vị nào xa rời hoặc thực hiện không đúng hai nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách thì đều dẫn đến vi phạm, sai phạm ở các cấp độ.

2. Vì sao phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ? Vì đây là nguyên tắc xương sống trong tổ chức chính đảng mác-xít. Điều lệ Đảng ta quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ". Sự khoa học, biện chứng và vô cùng cần thiết của nguyên tắc này đã được Lênin chỉ ra và xây dựng nó trên cơ sở tiếp thu và phát triển quan điểm của Mác-Ăngghen về xây dựng đảng mác-xít từ những năm đầu thế kỷ 20. Nó cũng đã chứng minh sức sống bởi tính đúng đắn trong thực tiễn hơn 100 năm qua.

Về bản chất, nguyên tắc tập trung dân chủ là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa hai mặt tập trung và dân chủ. Dân chủ là điều kiện, là tiền đề của tập trung; mặt khác tập trung là cơ sở, là cái bảo đảm cho dân chủ được thực hiện. Tập trung không có nghĩa là quan liêu, cực đoan, lấy mệnh lệnh đè bẹp ý chí. Ngược lại dân chủ nhưng phải trong khuôn khổ của tổ chức, nói và làm trong khuôn khổ, không có dân chủ quá trớn, dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật. Thực hiện nguyên tắc là cơ sở bảo đảm cho Đảng thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, mọi đảng viên phát huy hết thế mạnh, khả năng sáng tạo của mình.

Vì sao phải thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách? Vì đây là nguyên tắc nền tảng, là đường ray cho mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Nói một cách dễ hiểu thì nó như là hành lang pháp lý, chỉ ra phương pháp, cách thức hoạt động của một tổ chức. Trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tập trung dân chủ. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là một nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo, vừa là một nội dung, một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi công việc trong cơ quan, đơn vị đều được bàn bạc tập thể trong cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhằm phát huy dân chủ, tạo sự thống nhất cao.

Mỗi lĩnh vực công tác do một cá nhân có trách nhiệm phụ trách để thực hiện có hiệu quả. Tập thể lãnh đạo là để bảo đảm và phát huy dân chủ trong Đảng, nhưng nó khác xa với kiểu dựa dẫm vào tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm của cá nhân trước nhiệm vụ mà tổ chức phân công. Đồng thời, cá nhân phụ trách cũng hoàn toàn khác với độc đoán, chủ nghĩa cá nhân. Cá nhân ở đây là cá nhân nằm trong tổ chức, chịu sự lãnh đạo, giám sát của tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau".

Hai nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là các chế tài đủ mạnh để hệ thống lãnh đạo, chỉ huy và hoạt động của cán bộ, đảng viên, thành viên trong tổ chức không bị xung đột, vênh nhau mà nó còn giúp sức, hỗ trợ, bổ sung cho nhau đều vững mạnh nếu thực hiện tốt nó. Ngược lại nếu xa rời, coi nhẹ, không thực hiện đúng nguyên tắc này, tổ chức sẽ mất phương hướng, phương pháp hoạt động và sai phạm, tan rã là tất yếu.

Phẩm chất cao quý nhất của Bộ đội Cụ Hồ là trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phục tùng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng, của tổ chức, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng luôn hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, đất nước và nhân dân giao phó. Việc phục tùng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng chính là thực hiện nghiêm túc hai nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đã chỉ ra. Cá nhân chấp hành nguyên tắc cũng đòi hỏi phải hiểu đúng nguyên tắc, biết vận dụng nguyên tắc vào thực tiễn, vào chính hoạt động của tổ chức mình để phát huy trách nhiệm cao nhất trong thực hiện.

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thực hiện các nguyên tắc để Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối. Muốn làm được tốt điều đó thì mọi cán bộ, đảng viên phải có tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh. Việc thực hiện tốt các nguyên tắc không chỉ nhằm thống nhất, xây dựng kỷ luật hành động cho toàn Đảng, cho tổ chức mà còn nhằm phát huy mọi sáng kiến, trí tuệ của đảng viên. Không thể khác, chỉ có thực hành dân chủ rộng rãi trong nội bộ Đảng mới là cơ chế kiểm soát quyền lực, giám sát sai phạm tốt nhất. Mọi công việc của Đảng, của tổ chức đều phải dân chủ trong bàn bạc, thảo luận đi đến thống nhất và giao trách nhiệm cụ thể cho từng đảng viên thì mới có được chủ trương, đường lối, nghị quyết giá trị nhất, phù hợp với thực tiễn để lãnh đạo mọi tổ chức và cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Giáo viên khốn khổ vì học bạ giấy

 Cuối năm học, cô Hương, 49 tuổi, giáo viên tiểu học tại Hà Nam phải hoàn thành hàng loạt giấy tờ, sổ sách; trong đó ám ảnh nhất là ghi học bạ.

Từ tháng 10/2020, Thông tư 27 quy định đánh giá học sinh tiểu học được ban hành, trong đó có đổi mới học bạ. Tài liệu này dùng để đánh giá chi tiết quá trình học của học sinh thông qua hai nội dung chính: điểm số và nhận xét. Trước đây, mỗi học sinh được giáo viên bộ môn vào điểm và giáo viên chủ nhiệm nhận xét chung. Nay, ngoài việc vào điểm, giáo viên phải nhận xét cụ thể về từng học sinh ở từng môn. Ngoài ra, họ cũng phải nhận xét về tám phẩm chất, kỹ năng khác như tự phục vụ, tự quản; giao tiếp, hợp tác; tự trọng, tự tin, tự chịu trách nhiệm; trung thực, kỷ luật, đoàn kết...

Với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật và Thể dục, giáo viên bộ môn sẽ ghi nhận xét và điểm vào học bạ. Tuy nhiên, để tránh tình trạng có quá nhiều loại chữ trên một trang học bạ, giáo viên chủ nhiệm thường nhận phiếu đánh giá từ giáo viên bộ môn, sau đó chép vào sổ. Cô nhẩm tính, mỗi quyển học bạ cần nhận xét khoảng 20 dòng, dài gấp nhiều lần so với trước.

Gần 30 năm trong nghề, cô Hương cho rằng, khối lượng công việc tủn mủn này khiến giáo viên dễ mắc phải sai sót trong khi ghi học bạ. Cô Hương thường xuyên chứng kiến cảnh đồng nghiệp khốn khổ vì phải "sửa sai". Trong học bạ, kết quả đánh giá một năm học được thể hiện trên hai mặt trang, năm này nối tiếp năm kia. Như vậy, một trang gấp gồm bốn mặt giấy có thể lưu thông tin liên quan đến hai hoặc ba năm học. Để hạn chế tẩy xóa dẫn đến bị trừ điểm thi đua, khi mắc sai sót, các giáo viên thường mua một cuốn học bạ mới chỉ để tháo rời một trang, chép lại nội dung và thay vào trang bị sai trong học bạ cũ. Nhưng nếu các mặt giấy khác liên quan đến những năm học trước hoặc sau đó, họ cũng phải nhờ các giáo viên liên quan viết lại và xin xác nhận lại từ nhà trường.

"Với chúng tôi, phải sửa chữa khi ghi sai học bạ là việc rất đau đầu", cô Hương nói.

Để có không gian yên tĩnh, tránh sai sót, cô và nhiều đồng nghiệp thường xin phép trường mang học bạ về nhà, tranh thủ buổi tối hoàn thành, dù việc này không được khuyến khích.

Từ nhiều năm nay, trường cô Hương được Sở Giáo dục và Đào tạo cấp tài khoản để nhập điểm kiểm tra, đánh giá học sinh lên hệ thống chung. Tuy nhiên, hình thức này vẫn chưa thay thế được học bạ giấy.

"Tôi nghĩ việc nhập điểm học bạ nên thực hiện trên máy tính bằng một hệ thống điện tử, sau đó in ra để giáo viên ký và xác nhận. Việc này có thể giảm áp lực và công việc cho giáo viên", cô Hương nói.

Sổ học bạ tiểu học được trường cô Hương sử dụng. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Sổ học bạ tiểu học được trường cô Hương sử dụng. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Giữa tháng 3, nhiều giáo viên THPT TP Sa Đéc (Đồng Tháp) phản ánh, thay vì để giáo viên trực tiếp vào điểm học bạ, trường yêu cầu họ ký xác nhận trước rồi thuê người khác nhập điểm sau. Việc ký khống học bạ (khi chưa có điểm) được thực hiện theo yêu cầu của lãnh đạo nhà trường từ nhiều năm nay.

Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp sau đó nhận định, việc làm của trường THPT TP Sa Đéc vi phạm chế đánh giá, xếp loại học sinh và đang tiếp tục điều tra nhằm phát hiện các khuất tất nếu có. Sự việc này khiến nhiều giáo viên băn khoăn về cách quản lý, sử dụng sổ học bạ hiện nay. Câu hỏi được đặt ra là, tại sao ngành giáo dục không phát triển học bạ điện tử thay thế học bạ giấy.

Thầy Nguyễn Viết Đăng Du, Tổ trưởng Lịch sử trường THPT Lê Quý Đôn, quận 3, TP HCM cho rằng, học bạ giấy là hình thức lạc hậu. Mỗi năm, thầy phụ trách khoảng 10 lớp, sĩ số trung bình 32-35 em nên phải viết gần 350 sổ học bạ. Sai sót thường khó tránh khỏi. Nếu sử dụng học bạ điện tử, sai sót cũng xảy ra nhưng việc sửa chữa đơn giản hơn nhiều.

"Sai sót xảy ra thường xuyên, đến mức, nhà trường đưa việc viết sổ học bạ vào tiêu chí thi đua, ai viết sai nhiều có thể bị trừ thi đua", thầy Du kể.

Ở những trường đông học sinh, chuyện một giáo viên phải ghi khoảng 500 sổ học bạ mỗi năm là bình thường. "Nên chuyển dần sang học bạ điện tử để thuận lợi cho giáo viên và công tác quản lý của trường, thông tin cũng được bảo mật và an toàn hơn", thầy Du nói.

Ở bậc trung học, giáo viên dạy môn Toán, Văn, tiếng Anh, vốn phụ trách ít lớp hơn, cũng căng thẳng khi tới "mùa" ghi học bạ. Thầy Phan Thế Hoài, giáo viên Văn trường THPT Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, TP HCM mất khoảng ba tiếng để điền học bạ cho ba lớp. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đó, thầy phải tập trung cao độ, bởi chỉ một chút xao nhãng cũng có thể viết nhầm.

Năm 2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành giáo dục, trong đó loại bỏ học bạ, sổ điểm giấy. Hiện, nhiều địa phương bắt đầu triển khai sử dụng sổ điểm, sổ học bạ điện tử như Hải Phòng, Nghệ An, Khánh Hòa...

Theo quy trình, giáo viên nhập điểm vào hệ thống, nhưng sổ giấy vẫn được in ra để giáo viên ký, nhà trường đóng dấu xác nhận. Sổ được trả cho học sinh khi các em chuyển trường hoặc thôi học. Tức là, sổ giấy vẫn tồn tại, song song với việc số hóa thông tin về điểm.

Theo thầy Lâm Vũ Công Chính, giáo viên Toán trường THPT Nguyễn Du, quận 10, TP HCM, việc số hóa học bạ còn nhiều rào cản. Bởi học bạ học sinh là hồ sơ pháp lý, được sử dụng trong các việc hệ trọng như chuyển cấp, xét tuyển đại học, du học. Việc đòi hỏi sổ học bạ giấy với đầy đủ chữ ký của giáo viên, dấu đỏ của nhà trường đang là yêu cầu bắt buộc.

Muốn số hoá học bạ, phải có hệ thống dữ liệu đồng bộ, đảm bảo tính bảo mật, ngăn chặn tuyệt đối việc xâm nhập, sửa chữa dữ liệu.

"Làm được điều này trong bối cảnh hiện tại là rất khó khi hạ tầng công nghệ mỗi địa phương, thậm chí từng trường ở cùng một địa phương khác biệt. Có thể vì vậy mà học bạ giấy truyền thống vẫn đang là giải pháp tốt nhất", thầy Chính nói.

Trường dạy xếp hàng nhưng phụ huynh chen lấn

Chứng kiến học sinh xếp hàng trật tự trước cổng trường chờ đo nhiệt độ, tôi lại thấy ngán ngẩm khi cha mẹ các em vẫn thản nhiên chen lấn.

Đọc bài viết "Tại sao người Việt hay chen lấn, giành chỗ?", tôi lại nhớ ngay đến bọn trẻ ở trường con tôi sáng nay. Chúng xếp một hàng dài ra tận ngoài đường để chờ đo nhiệt độ trước khi vào trường. Đến khi có thêm một người đo nữa, các con được yêu cầu tách lên một hàng nữa. Thấy vậy, mấy đứa đứng ở cuối hàng tỏ vẻ ngại ngùng, không nỡ vượt các bạn phía trước để bước lên. Rõ ràng trẻ con rất có ý thức cộng đồng đó chứ.

Tiếc rằng, khi lớn lên, rất nhiều trong số chúng lại bị cha mẹ, người lớn và môi trường xung quanh tác động, làm hỏng đi cái ý thức tốt đẹp vốn có. Từ trong chung cư tôi ở ra đường có một con lươn phân cách. Theo đúng luật, người ta sẽ phải rẽ phải, đi thêm khoảng 40 mét nữa để tới chỗ sang đường. Tuy nhiên, thực tế, tôi quan sát mỗi sáng, rất hiếm người chọn đi theo cách này. Hầu như người ta đều chọn chạy ngược chiều hơn 100 mét rồi sang đường cho nhanh.

Rất nhiều trong số đó là những bậc phụ huynh đèo con đi học. Xe máy đã đành, thậm chí, có cả người đi ôtô cũng sẵn sàng chạy ngược chiều cả trăm mét. Ra giao lộ D2-D5 Bình Thạnh, mỗi ngày cũng có cả trăm, cả ngàn lượt ôtô quay đầu đè vạch liền vàng và rẽ trái trên làn ngược chiều từ cách đó mấy chục mét. Tôi thấy mà không dám tin vào mắt mình luôn, chỉ biết ngán ngẩm cho ý thức của một bộ phận dân mình.

Thực ra, ở Việt Nam, chẳng có trường nào dạy thói hư tật xấu cho học sinh cả. Tất cả đều từ phụ huynh, gia đình mà ra. Ở trường dạy tuân thủ luật giao thông, nhưng bố mẹ vẫn ngày ngày vượt đèn đỏ, chạy ngược chiều để đưa đón con đi học. Vậy thì làm sao trẻ giữ được ý thức tốt đẹp?

>> Những người đi máy bay vô ý thức

Trường con tôi ngày nào cũng có một hàng người sắp xếp xe ngay ngắn bên đường và một hàng ôtô đỗ sát lề đường, cách xa cổng trường để chờ đón con. Nhưng vẫn có rất nhiều người khác vô ý thức, thản nhiên vứt xe máy loạn xạ và đỗ ôtô giữa đường trước cổng trường để đón con. Trường dạy xếp hàng nhưng bố mẹ dắt con đi đến nơi công cộng thì cứ vô tư chen lấn, giành chỗ. Như thế trẻ không bị ảnh hưởng mới lạ.

Hôm rồi, trên đường đi đón con, tôi còn thấy một tài xế ôtô đến sau bấm còi inh ỏi, đuổi một người phụ nữ đi xe máy phía trước để đỗ vào chỗ đó cho có bóng mát, dù dọc đường còn trống rất nhiều. Nói chung, ý thức chính là sự tự giác làm điều đúng theo pháp luật, đạo đức cộng đồng. Người có ý thức sẽ luôn tuân thủ luật lệ, trật tự xã hội, kể cả khi không có bóng dáng lực lượng chức năng. Ý thức kém thì ở đâu cũng kém, họ chỉ sợ bị phạt nên mới chấp hành, chứ có điều kiện là lại sẵn sàng vi phạm.

Hầu như mọi loại kỹ năng sống văn minh, lễ nghĩa và ý thức đều được dạy trong môn Đạo đức ở nhà trường ngay từ lúc nhỏ và Giáo dục công dân lúc lớn hơn một chút. Có điều trẻ con học chưa kịp thuộc thì bố mẹ lại làm những điều hoàn toàn trái ngược trước mặt chúng hàng ngày, thậm chí còn nhiều gấp mấy lần thời lượng học trên lớp. Thử hỏi như vậy thì giáo dục nào dạy cho nổi?

Bài học nhớ đời khi bỏ việc để nghỉ hưu sớm

 Mệt mỏi vì không còn đam mê công việc, lại không áp lực về tài chính, tôi quyết định viết đơn xin nghỉ việc để rồi nhận ra sai lầm.

Tôi từng có một quãng thời gian thôi làm công việc sales - marketing vì quá căng thẳng và áp lực. Lúc đó, thực ra tôi làm không vì đam mê. Cũng chính vì không yêu công việc của mình nên kết quả làm việc của tôi chỉ ở mức làng nhàng. Càng vậy, tôi càng nghĩ mình dở, cho rằng công việc này không phù hợp với bản thân mình. Một phần khác, vì không bị quá áp lực về mặt kinh tế, nên tôi quyết định viết đơn xin nghỉ việc.

Lá đơn xin nghỉ việc của tôi sau đó đã không được vị sếp người nước ngoài chấp nhận. Thay vào đó, sếp cho phép tôi rút ra khỏi công việc hiện tại, nhưng vẫn giữ tôi lại để phụ trách một mảng khác. Tất cả xuất phát từ niềm tin mà ông ấy dành cho tôi. Lúc đó, tôi ngờ rằng, đây lại chính là điều may mắn nhất mà tôi có được.

Sau vài năm đi làm ở một vị trí mới, với tâm trạng hết giờ là hết việc, không còn phải căng não mỗi ngày, và khi quanh mình là các đội sales - marketing vẫn làm việc quay cuồng, kể cả người sếp có tuổi cũng bận rộn với biết bao công việc và trách nhiệm... tự nhiên, tôi thấy mình thừa thãi, "ngoài lề". Tôi nhớ cái cảm giác được "cãi nhau" với sếp, tranh luận với khách hàng, nhớ cảm giác lúc chốt được đơn hàng... - thứ mà một nhân viên sales nào cũng từng trải qua.

Và rồi, tôi hiểu ra rằng, những kỳ nghỉ chỉ thực sự vui khi lâu lâu mới được nghỉ một lần. Còn nếu suốt năm này, tháng nọ đều là những kỳ nghỉ nối tiếp nhau thì mọi thứ không còn nhiều ý nghĩa nữa. Cuối cùng, tôi xin sếp được quay về làm sales. May mắn thay, sếp đồng ý. Và lần này, dù bản chất công việc vốn dĩ vẫn như thế, nhưng tôi đã đón nhận với một tâm thế rất tích cực và không còn thấy mệt mỏi hay muốn nghỉ việc nữa.

>> Vỡ mộng nghỉ hưu sớm với tài sản 30 tỷ đồng

Theo một khảo sát với 2.019 đối tượng từ 30-44 tuổi do Viện Khoa học Lao động và Xã hội và Viện Nghiên cứu Y - Xã hội học phối hợp thực hiện, hơn 52% số người thành thị có ý định về hưu sớm ở độ tuổi 45-55, và khoảng 38,93% dự kiến nghỉ hưu ở độ tuổi từ 55 đến dưới tuổi quy định. Tuy nhiên, đi kèm theo mong muốn này là áp lực từ bài toán thu nhập, tiết kiệm và đầu tư trong hiện tại và tương lai ngày càng tăng cao.

Khảo sát cũng cho thấy, nguồn tài chính để về hưu phần lớn đến từ các khoản lương hưu hoặc các khoản tiết kiệm. Dù vậy, tỷ lệ dự kiến có nguồn thu nhập từ lương hưu còn chưa cao, chỉ chiếm 32,43%, đi cùng đó là tỷ lệ người tham gia BHXH và kỳ vọng về thu nhập đủ sống từ hưu trí còn khá thấp. Khảo sát còn cho thấy, mặc dù tỷ lệ mong muốn độc lập khi về già ở mức khá cao, nhưng tỷ lệ lên kế hoạch chỉ ở mức 28,4%.

Rõ ràng, để chuẩn bị cho cuộc sống về hưu như mong đợi, ngoài việc chuẩn bị một sức khỏe tốt, bạn còn cần phải nâng cao mức thu nhập từ việc làm. Về lý thuyết là vậy, nhưng thách thức ở đây là phần lớn những người trẻ vẫn còn đang có mức thu nhập thấp, thậm chí chưa đủ lo cho cuộc sống hiện tại đã nghĩ đến chuyện về hưu, hưởng thụ sớm. Đó là một thách thức không nhỏ cho bản thân họ và xã hội.

Nói gì thì nói, nghỉ hưu sớm vẫn có nhiều khía cạnh rất thú vị. Chỉ có điều nó không dành cho tất cả, kể cả người đã tiết kiệm đủ tài chính. Hãy suy nghĩ thật kỹ, đảm bảo mình đã có một kế hoạch vẹn toàn và sẵn sàng đối mặt với vô vàn thách thức trước khi quyết định nghỉ hưu từ sớm.

Nghĩ về “gốc của công việc”

 Trong một lần họp chi bộ gần đây ngồi cạnh tôi là một "lão đồng chí" đã được nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Như có ý trước, tranh thủ chưa vào cuộc họp, ông quay sang tâm sự câu chuyện đang đến hồi "nóng" về thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo vì những sai phạm Điều lệ Đảng và những quy định của Đảng.

- Cậu thấy chưa, thế mới biết câu nói của Cụ Hồ thật thấm thía: "Cán bộ là gốc của mọi công việc". Gốc hỏng, cây đổ, lẽ đương nhiên. Mà cái gì trên đời đều do con người nghĩ, sáng chế ra cả, từ cái tăm nhỏ nhất đến máy bay, tên lửa to đùng, phải không?

Lắng nghe lão đồng chí đảng viên có tuổi đời, tuổi đảng đã đi qua quá nửa thế kỷ nói, tôi thấy cũng rất tâm đắc câu: Cán bộ là gốc của công việc. Nghe và nghĩ, cán bộ dù cấp thấp đến cấp cao ở mọi lĩnh vực công tác đều là người thi hành nhiệm vụ cả, đều có nỗi nhọc nhằn, lo lắng hoàn thành công việc được giao. Nôm na là vậy nhưng vào văn bản giấy tờ thì phải viết là: hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chữ “nhiệm vụ” mang sứ mệnh lớn vì có những vị trí quản lý, lãnh đạo nắm hàng "núi" tiền, nhà, tàu, xe..., đến hàng ngàn con người dưới quyền, nếu sơ sẩy một chút thôi là ngân sách quốc gia "vơi" đi hàng nghìn tỷ đồng. Thực tế đã có sơ sẩy, đã có trả giá, do cán bộ ở vị trí đó thiếu năng lực, do coi đồng tiền cao hơn trách nhiệm, và cũng do nhiều nguyên nhân khác nữa, người cán bộ đó đã biến chất, thui chột, trở thành kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân.

Vì đâu ông hay bà cán bộ đó thoái hóa, biến chất? Lý lẽ để phân tích nguyên nhân dẫn đến sự thoái hóa, biến chất nếu nói ra, viết ra thì nhiều. Thực tế trên các văn bản của Đảng, trên các bài báo chuyên luận về công tác xây dựng Đảng, người ta đã nêu và phân tích cặn kẽ. Ở đây chúng tôi chỉ suy nghĩ gọn trong phạm vi về lập trường, bản lĩnh và sự trung thực của cán bộ, đảng viên. Hai phẩm chất đó mãi vẫn là "điểm nhấn" để đánh giá chất lượng tổ chức cũng như cá nhân cán bộ, đảng viên.

Cán bộ có lập trường, bản lĩnh và sự trung thực thì chắc chắn "gốc của công việc" sẽ vững vàng, rất khó lay chuyển. Ngược lại, lập trường không vững, thiếu kiên định, có người trong phút chốc không còn là chính mình; còn sự thiếu trung thực là kẻ nói dối tổ chức để vinh thân phì gia, thì không còn xứng đứng trong hàng ngũ tiên phong của Đảng, còn có tội lớn với nhân dân, đất nước.

Và, lập trường, bản lĩnh cùng những phẩm chất đạo đức của người cán bộ không tự dưng mà có, phải qua trui rèn, thử thách, luôn tự răn, tự dạy nghiêm khắc với chính mình.

Vì rằng:

"Đường dài mới biết ngựa hay

Đến khi cả gió biết cây cứng mềm"./.

“Sự tích” và “tích sự”

 Tại nhiều cơ quan, đơn vị, những dịp lễ kỷ niệm, ngày truyền thống thường là khi mọi người sôi nổi “ôn cố tri tân”. Bởi đó là những khoảng thời gian làm sống lại biết bao ký ức, gồm cả “chính sử” và “dã sử”. Nhưng rôm rả hơn, thường là “dã sử” về những “sự”, những “tích” (chuyện, sự việc) liên quan đến lãnh đạo các thời kỳ. Nhiều “sự”, “tích” trở thành “điển tích” về người lãnh đạo và thậm chí, trở thành “sự tích” trong nội bộ cơ quan, đơn vị.

Ví như có “tích”: Ở cơ quan nọ, có người bộc lộ tài năng tổ chức từ lúc còn trẻ, khi chia một con lợn đụng cho cả cơ quan cỡ sáu, bảy chục người mà ai cũng đều tăm tắp như ai; nhưng ở địa phương kia, có người giỏi quan hệ, đi thu gom được rất nhiều thực phẩm, song lúc phân chia lại khiến chẳng ít người có cảm giác thiệt, hơn; có người chuyên “vác tù và hàng tổng” mà chả nhớ nổi con mình sinh ngày nào để báo với tổ chức nhận quà tết thiếu nhi; lại cũng có người một khi đã tính toán cho bản thân thì “không trượt xu nào”; có vị đối đáp chan chát, đanh thép nhưng khi cần thực sự “ra mặt” thì tránh né; ngược lại có vị lặng lẽ, âm thầm mà hành động quyết liệt,...

Có “sự tích đôi dép lê” khi người lãnh đạo tất tả đi hai chiếc dép lê khác màu lên điều hành một cuộc họp quan trọng đâu ra đấy. Lại có “sự tích tấm gương hình thức” khi có lãnh đạo soi gương hằng ngày để… ăn vận chỉn chu, nước hoa thơm phức, “gel” tóc nuột nà, đẹp đẽ mỗi khi xuất hiện nhưng lại chẳng giữ nổi nền nếp cơ quan, đơn vị...

Nhiều khi, cùng những “sự”, “tích” khá giống nhau trong một cơ quan, đơn vị, hoặc so với nơi này, nơi kia, nhưng có chuyện kể ra làm vang lên tiếng cười tích cực, lại có chuyện tạo tiếng cười buồn. Ví như, cùng việc để kiểm tra cấp dưới trước khi bổ nhiệm, lãnh đạo đưa họ đi công cán cùng. Sau này, khi người được bổ nhiệm thể hiện tốt, thì đó là “tích” hay về cách chọn người; còn ngược lại, thì là “tích” về hiện tượng “đi công… tác riêng”. Hoặc như chuyện đôi dép lê hai màu, với không ít lãnh đạo, đó lại là bộc lộ sự cẩu thả trong lối sống; còn soi gương chỉn chu hằng ngày cũng là cách nhiều lãnh đạo giữ gìn hình ảnh…

“Sự lạ” đó là bởi chung quy khi nói về “dấu ấn” lãnh đạo, cần trả lời câu hỏi: họ có những “tích sự” - thành tích gì?!

Thường thì lãnh đạo tài đức cũng gắn với nhiều “sự tích” tốt đẹp. Và kể cả khi họ có những “sự”, “tích” về nhược điểm, sẽ được coi “nhân vô thập toàn”; so “đại sự” - việc lớn, thành tích họ đã thực hiện được cho cơ quan, đơn vị - thì đó chỉ là những “tiểu sự”. Nhưng với những người ít tích sự, thậm chí là… vô tích sự, thì những “sự”, những “tích” thường ít tốt đẹp, và “tiểu sự” so ra lại thành “đại sự” (vì có đại sự nào đâu?!).

Vậy làm sao để lãnh đạo có nhiều “sự tích” đẹp, để mỗi khi ôn lại thì là những ký ức đầy nhân văn?

Trước hết cần thấy, “sự”, “tích” của lãnh đạo không chỉ là chuyện cũ mà nó có tính hiện thực rất rõ. Trong quá trình lãnh đạo cơ quan, đơn vị, đó có thể là những “điển tích” để khắc họa về “điển hình” của người lãnh đạo. “Sự tích” đi rất nhanh và rất sâu, có sức sống trong lòng nhiều người chắc chắn do có căn nguyên, tích cực hay tiêu cực. Nên trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, cần xem xét mọi bề, cả “sự tích” và “tích sự”; tìm hiểu cả “chính sử” và “dã sử”.

Đồng thời, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nhớ: “Sự tích” là “bia miệng”, để nhiều lúc, như vào dịp những ngày truyền thống, người ta nhắc đến. Do đó, người làm lãnh đạo cần thực sự xứng đáng là bậc công bộc; hết lòng, hết sức “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Nếu tạo được nhiều thành tích, “tích sự” thì “sự tích”, dù về điều gì, thường đều được nhìn nhận theo hướng thiện cảm, trân quý. Còn nếu ngược lại… thì hẳn có những vết nhơ khó gột, nhiều năm còn “trơ trơ”./.