Thứ Năm, 24 tháng 3, 2022

NHÌN LẠI TỘI ÁC LỊCH SỬ CỦA BÈ ĐẢNG NATO Ở NAM TƯ NĂM 1999!

         Ngày 24/3/1999, bất chấp sự can ngăn của Liên hợp quốc, NATO bắt đầu chiến dịch 78 ngày ném bom tại Nam Tư, cướp đi hàng nghìn mạng sống của dân thường.

Nhiều năm trôi qua, Serbia vẫn mang trên mình những vết sẹo từ các vụ đánh bom của NATO, cái mà liên minh gọi là “ngăn chặn bất ổn lan rộng” tại Kosovo.

“Liên minh hành động” là tên cuộc tấn công lớn nhất từng được thực hiện bởi liên minh. Đây cũng là lần đầu tiên NATO sử dụng lực lượng quân sự mà không có sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và chống lại một quốc gia có chủ quyền không đặt ra mối đe doạ thực sự nào với bất kì thành viên nào trong liên minh.

Năm 1999, NATO đã chứng minh họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn dưới các hình thức “can thiệp nhân đạo”, “chiến tranh chống khủng bố”, “chiến tranh phòng ngừa” – những thứ cộng đồng quốc tế đã chứng kiến trong những năm tiếp theo, ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới.

19 nước thành viên của NATO đã tham gia ở nhiều mức độ khác nhau trong chiến dịch quân sự chống lại Cộng hòa Liên bang Nam Tư (Serbia và Montenegro), diễn ra trong 11 tuần và kết thúc ngày 10/6/1999.

Trong suốt chiến dịch, NATO đã bắn 2.300 tên lửa và 990 mục tiêu và thả 14.000 quả bom, trong đó có bom nghèo uranium và bom bi (bom chùm chưa nổ vẫn tiếp tục đặt ra mối đe doạn đối vói người dân sau khi chiến dịch kết thúc). Hơn 2.000 dân thường đã thiệt mạng, trong đó có 88 trẻ em, và hàng nghìn người khác bị thương. Hơn 200.000 người dân tộc Serbia đã buộc phải rời bỏ quê hương.

Cuộc không kích của NATO đã phá hủy hơn 300 trường học, thư viện và 20 bệnh viện. Ít nhất 40.000 ngôi nhà đã bị phá hủy hoặc hư hỏng, 90 di tích lịch sử và kiến trúc bị đổ nát, chưa kể đến những thiệt hại lâu dài gây ra cho hệ sinh thái khu vực và sức khỏe người dân. Theo truyền thông Serbia, thiệt hại kinh tế ước tính trên 120 tỷ USD.

Đại sứ quán Trung Quốc tại thủ đô Belgrade của Nam Tư cũng bị tấn công và đốt cháy bởi các cuộc không kích của NATO vào ngày 07/5/1999. Ba công dân nước này đã thiệt mạng. Liên minh gọi cuộc tấn công này là “một sự nhầm lẫn”. Nga và Trung Quốc, 2 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, không hỗ trợ một giải pháp quân sự nào cho cuộc khủng hoảng Kosovo.

Trước cuộc tấn công quân sự, chế độ Milosevic bị buộc tội “sử dụng quá mức và không cân xứng lực lượng ở Kosovo”. Thế nhưng lực lượng mà NATO đã sử dụng khi ném bom lãnh thổ quốc gia có chủ quyền liệu có gọi là cân xứng và hạn chế? Tổ chức Ân xá Quốc tế đã cáo buộc lực lượng đồng minh là tội phạm chiến tranh.

Trong một báo cáo được công bố vào tháng 6/2010, cơ quan giám sát nhân quyền cho biết: ” Dấu hiệu rõ ràng cho thấy NATO luôn luôn không đáp ứng các nghĩa vụ pháp lý thể hiện ở việc lựa chọn mục tiêu, phương tiện và phương pháp tấn công. Tổ chức Ân xá quốc tế tin rằng – dù NATO có bất cứ ý định nào thì họ cũng đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật chiến tranh hàng đầu trong những vụ giết hại dân thường vô tội”.

NATO đã bác bỏ những cáo buộc trên, cho rằng trường hợp liên quan đến dân thường thiệt mạng là do thất bại công nghệ hoặc đơn giản chỉ là “tai nạn của cuộc xung đột”.

Jamie Shea, phát ngôn viên chính của NATO tuyên bố: “Chúng tôi không bao giờ nói rằng sẽ tránh được thương vong. Thật liều lĩnh khi nói như thế bởi không có hoạt động quân sự nào là hoàn hảo trong lịch sử”.

Cựu Tổng thư ký NATO Javier Solana đã ra lệnh hành động quân sự chống lại Nam Tư sau thất bại trong các cuộc đàm phán về cuộc khủng hoảng Kosovo tại Rambouillet và Paris của Pháp vào tháng 2 và tháng 3/1999.

Quyết định của NATO đã chính thức công bố sau khi cuộc đàm phán trung gian quốc tế – được gọi là Nhóm Liên hệ – giữa chính phủ Nam Tư và phái đoàn của người Albania ở Kosovo kết thúc trong bế tắc.

Tuy nhiên, dù không công bố chính thức mối liên quan nào, NATO đã bước vào cuộc xung đột với KLA , cáo buộc lực lượng an ninh Serbia về sự tàn ác và ” thanh lọc sắc tộc ” đối với người thiểu số Albania ở Kosovo. Mục tiêu chính của chiến dịch là làm cho lực lượng của Milosevic phải rút khỏi địa bàn tỉnh.

“Tất cả những nỗ lực để đạt giải pháp thương lượng chính trị cho cuộc khủng hoảng Kosovo đã thất bại , không có giải pháp thay thế được đặt ra nhưng phải có hành động quân sự. Chúng ta phải ngăn chặn bạo lực và mang lại một kết thúc cho thảm họa nhân đạo đang diễn ra ở Kosovo”,

Tổng thư kí Solana cho biết ngày 23/3/1999. NATO ngừng chiến dịch không quân của mình với việc ký kết Hiệp định kỹ thuật quân sự tại Kumanovo vào ngày 9/6/1999 với chính phủ Nam Tư, đồng ý rút quân khỏi Kosovo. Ngày 10/6/1999, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết 1244 để thành lập cơ quan quản lý tạm thời của Liên Hợp Quốc tại Kosovo (UNMIK ).

Vào tháng 8/2013, Tổ chức Ân xá quốc tế cáo buộc UNMIK không điều tra đúng các vụ bắt cóc và giết người Serbia tại Kosovo sau cuộc chiến tranh 1998-1999.

“Nhiều năm trôi qua và số phận của đại đa số những người mất tích trên cả hai mặt của cuộc xung đột vẫn còn chưa được giải quyết, gia đình họ vẫn đang chờ đợi công lý”, tổ chức cho biết./.


Yêu nước ST.

Lửa thử vàng

 Xuân Nhâm Dần 2022 Đảng ta tròn 92 tuổi. Nhìn lại chặng đường 92 năm ấy biết bao gian nan thử sức Đảng ta là bấy nhiêu lần Đảng ta vượt qua và giành chiến thắng.


Chỉ tính riêng năm 2021, cả nước chìm trong dịch giã, cao điểm là những ngày TP. Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế của cả nước trở thành ổ dịch của cả nước. Chưa bao giờ phải huy động cả lực lượng quân đội, công an cùng sức người, sức của cả nước hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh dập dịch. Không chỉ có thế, những ngày cuối năm thiên tai ập vào miền Trung, đã khó khăn, lại khó khăn hơn.  

Vượt qua, chiến thắng những gian nan, thử thách do khách quan đem lại đã khó, vượt qua và chiến thắng chính bản thân khó khăn gấp vạn lần. Nhận thức sâu sắc khó khăn đó, Đảng ta luôn quyết liệt cảnh giác chủ động ngăn ngừa, phát hiện và xử lý triệt để.

Chẳng phải, trong hai hội nghị Trung ương 4 của ba nhiệm kỳ liên tiếp (XI, XII và XIII) Đảng ta đều dành trọng tâm cho công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, chỉ trong gần 3 tháng (9 đến tháng 11-2021) Đảng ban hành 3 văn bản trực tiếp liên quan đến xây dựng Đảng là những biểu hiện cụ thể tinh thần quyết liệt đó sao?

Chẳng phải, chỉ tính trong năm 2021 đã có 25 cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức khai trừ ra khỏi Đảng, cách hết các chức vụ, đặc biệt trong đó có cả ủy viên Trung ương mới được bầu khóa XIII, 8 tướng lĩnh thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển Việt Nam là thể hiện cụ thể của tinh thần không khoan nhượng,  xử lý kỷ luật bất kỳ ai vi phạm, không có vùng cấm đó sao?  

Gần đây, vụ án mua bán kít xét nghiệm Covid-19 của Công ty Việt Á một lần nữa khẳng định những cảnh báo và những biện pháp được đưa ra về xây dựng, chỉnh đốn Đảng do Đảng ta đưa ra hoàn toàn chính xác. Kít xét nghiệm vốn chỉ được dùng thử Covid-19 nhưng nó đã thử cả phẩm chất đạo đức, bản lĩnh của cán bộ, đảng viên. Vụ án cho thấy tham nhũng không còn đơn lẻ mà đã có tổ chức, đường dây từ các ngành trung ương tới cơ sở và tính chất nghiêm trọng không chỉ còn là tham nhũng.

Tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là cuộc chiến dài lâu, âm thầm nhưng gay gắt, phức tạp, khó khăn. Căn bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là căn bệnh nguy hiểm diễn ra với nhiều hình thức ở mọi lĩnh vực mà chính Đảng phải tự chữa, tự loại bỏ. Đó chính là lửa thử vàng – thử trí tuệ, bản lĩnh của Đảng nhằm giữ vững vị trí lãnh đạo, cầm quyền, xứng đáng là đạo đức, văn minh như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định.

NÓI, VIẾT VÀ LÀM ĐÚNG ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG LÀ MỆNH LỆNH TỪ TRÁI TIM CỦA MỖI QUÂN NHÂN!

         Ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Nghị quyết 847 đã “điểm mặt, chỉ tên” 10 biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân và một trong những biểu hiện đó là: “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.
.Việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện nêu trên, phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. 
Những biểu hiện không thể chủ quan, xem thường
Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là vấn đề có tính nguyên tắc, quy định pháp lý mà mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội phải tuyệt đối chấp hành, thực hiện thống nhất. Vì vậy, mọi quân nhân khi đã đứng trong hàng ngũ của quân đội thì nhất thiết phải tự giác nói, viết và làm theo nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội.
Yêu cầu này đã được phổ biến, giáo dục sâu kỹ ngay từ khi mỗi người viết đơn xin tự nguyện nhập ngũ và tuyên thệ dưới Quân kỳ Quyết thắng, tuyên thệ trước cờ Đảng trong lễ kết nạp Đảng. Vinh dự, tự hào được đứng trong hàng ngũ của quân đội anh hùng, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của quân đội lên trên hết, tự giác phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó.
Vì vậy, những biểu hiện nói, viết, làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội cần phải được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả. Những biểu hiện này được thể hiện trước hết ở việc một số ít quân nhân phát ngôn, cung cấp thông tin, tham gia trả lời phỏng vấn, viết bài cho báo chí, trang tin điện tử, sử dụng các trang mạng xã hội để đăng tải, bình luận, chia sẻ thông tin với những nội dung không chính xác, chưa được kiểm chứng, thậm chí trái với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội.
Một số cán bộ, đảng viên còn có hiện tượng “tiền hậu bất nhất”, tự tạo “uy tín giả” của cá nhân, khi “tiền hô hậu ủng” trên diễn đàn, trong sinh hoạt, hội họp nhưng sau diễn đàn, bên ngoài hội nghị, khi xa cuộc họp, họ lại có những phát ngôn trái với tinh thần nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Một số quân nhân khi được tổ chức phân công nhiệm vụ có biểu hiện chấp hành gượng ép, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, thậm chí có hiện tượng không chấp hành, hoặc chấp hành không triệt để sự phân công của tổ chức, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Nghiêm trọng hơn, đã xuất hiện một số ít cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chấp hành không nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây ra nhiều hệ lụy cho tổ chức và đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc. 
Hiện tượng một số quân nhân nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, bản chất, truyền thống của Đảng, quân đội, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và quân đội. Không chỉ vậy, những thông tin, phát ngôn, bài viết, việc làm không đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội của một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội vô hình trung tạo ra những sơ hở để các thế lực thù địch tạo cớ, lợi dụng đẩy mạnh âm mưu hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng những chiêu trò ngày càng thâm hiểm, xảo quyệt.
Nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng này có cả khách quan và chủ quan. Trước hết, do sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã làm cho một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vì vụ lợi cá nhân dẫn đến vi phạm, hoặc tìm cách “lách luật” không làm đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy để trục lợi cá nhân. Trước những âm mưu tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, một số cán bộ, đảng viên và quần chúng không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh đã bị lôi kéo, dẫn đến sa ngã. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; việc quản lý con người, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ chưa chặt chẽ. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ chưa nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thiếu tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và thực hiện nhiệm vụ được giao.
Kiên quyết đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện nói, viết và làm không đúng nghị quyết
Để đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi các hiện tượng trên đây, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ về nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu giúp cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nhận thức đầy đủ, toàn diện, hiểu đúng và sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội; nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong quân đội; ngăn ngừa cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vin vào sự “thiếu hiểu biết” để biện minh cho những phát ngôn tùy tiện, bài viết, việc làm không đúng với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy.
Các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.
Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phương pháp làm việc khoa học cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên trong chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, kỷ luật quân đội. Tích cực rèn luyện cán bộ, đảng viên, chiến sĩ theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Chú trọng rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sáng tạo, nói đi đôi với làm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đơn vị.
Mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cần nêu cao tính đảng, tính kỷ luật khi phát ngôn, viết bài, đăng tải, tuyên truyền những vấn đề liên quan đến nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực hiện nghiêm quy định của Đảng, của quân đội về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin; quy chế công bố sản phẩm nghiên cứu khoa học, nhất là những vấn đề mới, nhạy cảm chính trị, chưa được kiểm chứng trên các ấn phẩm sách, báo chí, các phương tiện thông tin, các trang mạng xã hội. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ bản thân không bị tác động tiêu cực bởi các thông tin xấu độc.
Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với đảng viên trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Kịp thời phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm đảng viên khi mới có dấu hiệu vi phạm, tránh để vi phạm nhỏ kéo dài dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nói, viết, làm việc không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội.
Có thể khẳng định rằng, việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội” phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới./.
Yêu nước ST.

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc những thành quả cách mạng của Việt Nam. Một trong những vấn đề được các thế lực thù địch tập trung chống phá, xuyên tạc nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là mạng xã hội về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng ta.

Nhận diện

Những năm gần đây, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng vẫn còn khá nghiêm trọng; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Những luận điệu đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ cho rằng tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam hay tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”. Do đó, “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Từ đó, các thế lực thù địch ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”. Thực chất của luận điểm này một mặt là để hạ thấp, phủ nhận vai trò của Đảng ta trong việc lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; mặt khác là nhằm kêu gọi nhân dân ta cổ xúy cho chế độ đa đảng, tam quyền phân lập. Đây tiếp tục là trò “rượu cũ bình mới” mà các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào Đảng, vào chế độ ta.

Thứ hai, từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy tấm gương đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để so sánh với tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ trích Đảng đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Thứ ba, cố tình xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “cộng sản chỉ nói chứ không dám làm”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi”… Có ý kiến còn cho rằng việc Đảng và Nhà nước nhiều lần phát động đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực chất chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái”... Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu sai trái, thù địch trên được tung ra khắp nơi, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Theo thống kê, trong giai đoạn Đảng ta chuẩn bị tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ XIII có khoảng 36% các thông tin sai trái, thù địch liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Đây là kiểu “đến hẹn lại lên” của các phần tử cơ hội chính trị nhằm phủ nhận quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng và trong đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nói chung.

Những luận điệu đó còn nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; gây mất đoàn kết nội bộ, kích động xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có tâm lý bất mãn. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch qua các luận điệu đó; đồng thời có luận cứ xác thực, có tính thuyết phục để đấu tranh phản bác.

Luận cứ đấu tranh phản bác

Trên cơ sở nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta, cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác bằng những lập luận xác thực, vừa đảm bảo tính lý luận, vừa bám sát thực tiễn.

Có thể hiểu “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi” Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, tồn tại ở mọi quốc gia do quyền lực nhà nước bị tha hóa, bị lợi dụng.

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Ở một số nước châu Á, tình trạng tham nhũng còn xảy ra ở cả những nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Ma-lay-xi-a.... Do đó, không thể cố tình xuyên tạc, bóp méo rằng tham nhũng chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xoá tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”.

Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), một mặt ra sức xây dựng, củng cố chính quyền; mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những cán bộ, công chức nhà nước - những người được gọi là “công bộc của nhân dân” phải luôn răn mình, sửa mình để không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không mắc phải những thói hư tật xấu. Một trong những thói tật được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều nhất là tình trạng tham ô, tham nhũng. Người đã chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là lấy của công làm của tư, là gian lận, tham lam. Người gọi tham ô cũng là một dạng trộm cướp.

Do đó, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, còn nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên quyết xử lý những vụ tham ô, tham nhũng để làm trong sạch bộ máy cán bộ. Kế thừa tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Người, trong những năm gần đây, Đảng ta cũng đặc biệt chú trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Trong những nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Trong những nhiệm kỳ tiếp theo, không có nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng không có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng. Tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa IX về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Mới đây nhất là Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước cũng ban hành cả hệ thống các văn bản pháp luật để tạo sự đồng bộ trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý những vụ việc tham nhũng.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Ban Nội chính Trung ương được thành lập và hoạt động ngày càng có hiệu quả, thực chất. Nhà nước cũng ban hành Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Do đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhận được sự quan tâm của tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Có thể nhận thấy, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Tham nhũng được coi là một loại “giặc nội xâm” cần được xử lý một cách quyết liệt. Quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét từ người đứng đầu Đảng, Nhà nước cho tới cả hệ thống chính trị. Thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”.

Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đồng thời cũng chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý tình trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung.

Vì thế, những luận điệu phủ nhận năng lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hay cố tình xuyên tạc công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng của Việt Nam là kiểu “giật gấu vá vai”, “che mắt thế gian”, “thanh trừng bè phái”... đều bắt nguồn từ những dã tâm thâm độc của những kẻ phản động, cơ hội chính trị.

Ngoài ra, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn được thể hiện ở việc Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống tham nhũng như Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng (năm 2003); tham gia Chương trình hành động chống tham nhũng Châu Á - Thái Bình Dương (năm 2004); tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng với một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Ấn Độ, Xin-ga-po... Theo đó, một số luật hay quy định về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam cũng từng bước được hoàn thiện theo Công ước quốc tế và có sự kế thừa quy định của các nước có nền tư pháp tiên tiến trên thế giới. Vì thế, những luận điệu cho rằng những quy định về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam còn lạc hậu là cố tình bóp méo, xuyên tạc những nỗ lực của Việt Nam trong công tác này.

Hiện nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế, tuy nhiên không vì thế mà Đảng ta nao núng, chùn bước. Ở Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đảng xác định công tác phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; làm gia tăng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đồng chí Tổng Bí thư từng khẳng định “Chúng ta càng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ - một đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.


Vạch trần luận điệu xuyên tạc quanh chuyện làm căn cước công dân gắn chíp

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Đảng, Nhà nước luôn coi trọng việc đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, quản lý dân cư và đảm bảo cuộc sống cho người dân.

Đặc biệt, 2 dự án: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân (CCCD) chính là chủ trương lớn nhằm góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số và tạo nền tảng hình thành công dân số trên không gian mạng.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những thông tin gây nhiễu loạn, bịa đặt, xuyên tạc chủ trương này nhằm hướng lái, “bẻ cong” vấn đề đảm bảo an ninh con người mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung thực hiện. Bằng những luận điệu không có căn cứ thực tiễn, các đối tượng có tư tưởng cực đoan, chống đối đã cố tình tung ra những thông tin sai sự thật, như “đi đâu cũng bị định vị”, “thẻ căn cước gắn chíp là để theo dõi người dân”, “Chính phủ, Bộ Công an thu thập dữ liệu cá nhân”… từ đó chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị.

Thậm chí, các đối tượng còn ngụy tạo rằng “vì chỉ tiêu thiếu tính thực tế mà chính quyền ép dân làm căn cước công dân gắn chíp điện tử, làm lây lan dịch bệnh COVID-19 nhưng vẫn bao biện chối trách nhiệm”.

Rõ ràng, những thông tin “tung hỏa mù” này mặc dù đánh trực diện trên nhiều khía cạnh khác nhau như: an ninh chính trị, kinh tế, sức khỏe… nhưng tựu trung lại đều nhằm chĩa mũi nhọn công kích vào vấn đề an ninh con người đã được Đảng ta nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trên thực tế, với việc ứng dụng những thành tựu công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, thẻ CCCD gắn chíp điện tử của Việt Nam ra đời không những giúp thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi phương thức quản lý con người từ thủ công sang hiện đại, mà còn đảm bảo đầy đủ, chặt chẽ các yếu tố an ninh an toàn và có khả năng bảo mật thông tin ở mức độ rất cao. Đồng thời, sử dụng thẻ CCCD gắn chíp có thể phòng ngừa các loại giấy tờ giả mạo, giảm chi phí việc công chứng nhiều loại giấy tờ truyền thống, tạo thuận lợi cho công dân khi thực hiện các dịch vụ trực tuyến của Chính phủ điện tử.

Hơn nữa, mức độ an toàn, bảo mật của chíp rất cao và việc đối sánh sinh trắc học có thể thực hiện ngay trên chíp nên thông tin định danh của công dân được lưu trên thẻ là không thể thay đổi, hạn chế tối đa giả mạo. Mặt khác, chíp điện tử được sử dụng gắn trên thẻ CCCD không có khả năng định vị, thông tin lưu trữ trên chíp cần phải có công cụ chuyên dụng để đọc và thông tin mới được mã hóa.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Dữ liệu là tài nguyên, nhưng khác với tài nguyên truyền thống, tài nguyên dữ liệu càng được khai thác nhiều thì không bị mất đi, mà ngược lại càng tạo nên giá trị gia tăng”. Hiện, Bộ Công an đang tiếp tục đẩy mạnh triển khai các ứng dụng, tiện ích trên nền tảng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và thẻ CCCD gắn chíp điện tử để phục vụ hiệu quả, toàn diện trên mọi lĩnh vực. Nhất là trở thành trung tâm liên kết, thống nhất toàn bộ dữ liệu quốc gia, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự và đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Đặc biệt, với tình hình chống dịch cấp bách, thẻ CCCD gắn chíp điện tử đã được tích hợp nhiều tiện ích quan trọng góp phần đảm bảo an ninh trên nhiều mặt an ninh sức khỏe, an ninh kinh tế, an ninh cá nhân và an ninh cộng đồng; tích hợp thông tin thẻ xanh tiêm chủng; giấy đi đường; xét nghiệm; thông tin về hưởng chế độ, chính sách theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ…

Từ đầu năm 2021 đến nay, với tinh thần khẩn trương, cấp bách, lực lượng Công an cả nước đã ngày, đêm phấn đấu đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Không những thế, trong thời điểm vô cùng khó khăn do chịu ảnh hưởng của làn sóng dịch COVID-19 lần 4 bùng phát, lực lượng Công an không quản ngại khó khăn, gian khổ, cùng với nhiều cách làm hay, sáng tạo, sâu sát, quyết liệt, an toàn, hiệu quả và sự đồng thuận, ủng hộ cao của cấp ủy, chính quyền và quần chúng nhân dân đã góp phần tạo nên sự thành công bước đầu của hai Dự án.

Có thể khẳng định, đây không chỉ là trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị, mà còn là danh dự của lực lượng CAND, vì thực hiện mục tiêu cao nhất là bảo đảm cuộc sống bình yên, an toàn, hạnh phúc cho người dân.

Tái diễn luận điệu sai lệch về phòng, chống COVID-19 trong giai đoạn mới

 Mặc dù không nắm rõ chính sách phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta cũng như không tham gia đóng góp công sức vào công cuộc chống dịch gian nan, vất vả của mọi tầng lớp trong xã hội, tuy nhiên, một số trang tin, tài khoản mạng xã hội, điển hình như Đài Á châu Tự do (RFA) đăng tải nhiều bài viết sai lệch, phiến diện về công tác phòng, chống dịch.

Những bài viết này còn hướng lái dư luận, kéo theo đó là hiệu ứng đám đông, “a dua” trên mạng xã hội khiến cho người đọc hiểu sai lệch về chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Mỗi khi Chính phủ hay các bộ, ban, ngành đưa ra chính sách, chủ trương mới về phòng, chống dịch COVID-19, dù chưa hiểu rõ và cũng không nắm chắc các cơ sở đề xuất về các chính sách đó nhưng nhiều đối tượng chống đối chính trị, đối tượng phản động, các trung tâm truyền thông thiếu thiện chí lại nhanh chóng đưa ra các quan điểm trái chiều, sai lệch, gây phân tâm dư luận.

Tại phiên họp của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 ngày 5/3/2022, Bộ Y tế đã đề xuất tạm dừng thông báo số ca nhiễm hằng ngày để tránh gây hoang mang. Và đây cũng là đề xuất được dư luận đặc biệt quan tâm, trong đó nhiều chuyên gia về lĩnh vực y tế cũng đã được báo chí trao đổi và thông tin cụ thể tới dư luận người dân. Ngay sau khi Bộ Y tế đưa ra đề xuất thì trên website của RFA đăng bài viết cho rằng “Số ca nhiễm COVID-19: Dừng công bố nhưng đừng bí mật, giấu giếm”.

Bài viết này đã lập luận, đưa ra nhiều quan điểm không trung thực với tình hình thực tế dịch bệnh hiện nay ở nước ta, trong đó trích dẫn phát ngôn của một số người nhằm cố tình hướng lái dư luận, chỉ trích về chính sách phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết vu cáo: “Ở Việt Nam thì mọi chủ trương công bố hay không công bố (số ca nhiễm COVID-19) thì nó thuộc về vấn đề chính trị, chứ không phải vấn đề chuyên môn. Ngành y chỉ là một ngành chuyên môn, họ công bố nhiều hay ít, công bố đúng sự thật hay công bố khác đi đều có chỉ đạo của lãnh đạo đảng CSVN...”. Bài viết được chia sẻ trên mạng xã hội facebook, nhiều đối tượng chống đối chính trị đã vào “a dua”, cổ súy để nhằm tăng “độ tin cậy” cho nguồn thông tin, từ đó đánh lạc hướng dư luận, vu khống chính sách phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Một số tài khoản mạng xã hội facebook của các đối tượng chống phá Nhà nước tìm cách miệt thị: “Chế độ cộng sản không bao giờ làm việc minh bạch, còn người dân thì sẽ mãi trượt dài trong những bí mật ấy”; “Bây giờ họ cho nhiễm tràn lan rồi, các công ty F0 không triệu chứng vẫn đi làm bình thường, các cháu nhỏ vẫn đi học ở nhiều nơi, đơn cử như Sài Gòn không đi học thì bị đuổi”… Rồi nhiều bình luận vu cáo, giờ người dân nên tự mình lo lấy, dịch bệnh đã “bung, toang” không trông đợi gì ở Đảng, Nhà nước.

Các quan điểm mà RFA đưa ra dường như đã có một ekip của các phần tử chống phá phụ họa để tạo nên hiệu ứng đám đông và đó cũng là lý do tại sao có một số người  bị các đối tượng này lôi kéo vào tư tưởng chống phá chế độ, trở thành con rối bị tiêu khiển. Cần thấy rằng trước đó, cũng trên RFA và nhiều trang mạng khác đã chỉ trích việc Bộ Y tế thống kê số ca nhiễm hiện nay là lỗi thời, cho rằng đó là sự bảo thủ của Nhà nước. Nay khi quan điểm ngừng thống kê được đưa ra, cũng chính họ lại nói ngược lại!

Thực tế, việc suy diễn, bôi nhọ công tác phòng, chống dịch bệnh là mảnh đất mà các đối tượng thù địch, chống phá ra sức lợi dụng từ hơn 2 năm nay, kể từ khi dịch bệnh xuất hiện, bùng phát. Ở mỗi giai đoạn, các đối tượng lại mở các “chiến dịch” nhắm vào những vấn đề nóng, nổi cộm để hướng lái dư luận, để người dân có suy nghĩ, quan điểm không đúng về Đảng, Nhà nước, gây sự chia rẽ, mất niềm tin.

Năm 2021, khi dịch bệnh bùng phát, gây hậu quả nghiêm trọng tại TP Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh phía Nam, các đối tượng tung ra hàng loạt bài viết xuyên tạc biện pháp phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước như xuyên tạc sự tăng cường lực lượng chống dịch của Quân đội, Công an; vu cáo Đảng, Nhà nước không lo cho dân, để dân đói rét, chết dịch; suy diễn, quy chụp việc dịch bệnh bùng phát do “Đảng, Nhà nước thờ ơ, bỏ mặc dân”… Tới nay, khi dịch bệnh bước vào giai đoạn mới với quan điểm thích ứng an toàn, những luận điệu chống phá lại chuyển sang hướng chỉ trích như nêu trên.

Đáng nói, một số suy diễn cho rằng, việc bí mật, giấu giếm thông tin hay công bố bao nhiêu ca nhiễm là “vấn đề chính trị chứ hoàn toàn không phải thuộc về chuyên môn”. Cách suy diễn vấn đề như vậy là sai trái theo tư duy chủ quan của một vài cá nhân có động cơ xấu. Từ trước đến nay, RFA cùng một số kênh truyền thông khác ở hải ngoại như VOA, RFI, được lập nên với mục đích thúc đẩy nhanh chiến lược “diễn biến hòa bình”, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Với động cơ, mục đích đó, họ sẵn sàng bất chấp bịa chuyện, biến không thành có, đổi trắng thay đen và không bao giờ cảm thấy có lỗi khi nói sai sự thật. Nhiều bài viết đăng tải lại của những cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam, phần lớn những bài này thông qua hư cấu, thu thập thông tin tài liệu một chiều để rồi dựng lên các sự việc không trung thực, suy diễn, bôi nhọ nhằm gây dư luận xấu về tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam.

Trở lại việc Bộ Y tế báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin ý kiến về vấn đề tạm dừng việc thông báo số nhiễm SARS-CoV-2 hàng ngày vào ngày 5/3 vừa qua xuất phát từ nhiều lý do. Trong đó, đề xuất này nhằm tránh gây hoang mang cho người dân, vì đây chỉ là 1 trong 8 chỉ số để đánh giá tình hình cấp độ dịch mà chưa phản ánh đúng bản chất tình hình dịch bệnh. Việc cân nhắc để đưa ra ý kiến dựa trên khả năng chuyên môn, công khai, minh bạch và các ý kiến đều được bàn bạc kỹ lưỡng trước khi quyết định đề xuất Thủ tướng Chính phủ và đồng thời không làm ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch hiện nay ở nước ta. Hơn nữa, nhiều chuyên gia trên lĩnh vực y tế cũng đưa ra các ý kiến khách quan và được người dân hưởng ứng về vấn đề này.

Theo TS.Trần Thanh Tùng (Đại học Y Hà Nội), việc xem số liệu hằng ngày đã thành thói quen của người dân. “Tuy nhiên khi con số đã không còn chính xác, không đánh giá đúng tình trạng dịch bệnh và không phù hợp với tình hình thực tế hiện nay thì chúng ta nên gỡ bỏ. Tại nhiều nước họ đã không còn công bố ca nhiễm hằng ngày nữa. Bộ Y tế chỉ nên công bố số ca nặng phải nhập viện và tử vong hằng ngày mà không cần phải công bố ca mới chung”.

Còn theo PGS.TS Trần Đắc Phu, cố vấn cao cấp Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp các sự kiện y tế công cộng (Bộ Y tế) cho rằng, việc này là phù hợp, dừng công bố số ca nhiễm nhưng các nhà quản lý và ngành y tế có thể vẫn thống kê hàng ngày hoặc áp dụng phương pháp giám sát dịch bệnh khác như giám sát điểm, báo cáo số liệu của từng địa phương... Như vậy, các chủ trương công bố hay không công bố xuất phát từ các ý kiến rất khách quan, thông qua chuyên môn của ngành y tế. Và mục đích cuối cùng trong mọi chính sách phòng, chống COVID-19 của Đảng, Nhà nước ta đều là giảm thiểu đến mức thấp nhất của tác động của đại dịch đến sức khỏe, tính mạng của nhân dân, thích ứng, linh hoạt phát triển kinh tế, xã hội. Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới cũng đã ngừng công bố các ca nhiễm COVID-19 hàng ngày, trong đó tại Đông Nam Á, Singapore đã thực hiện chính sách này từ tháng 12/2021.

Công tác phòng, chống dịch COVID-19 được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là vấn đề đặt lên hàng đầu, xuyên suốt kể từ khi dịch bệnh xuất hiện. Ở mỗi giai đoạn của dịch bệnh, các chính sách đó lại được xem xét thay đổi phù hợp với bối cảnh, tình hình thực tế, đáp ứng linh hoạt vừa phòng, chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội. Những thành công về công tác phòng, chống dịch cùng với việc phổ cập vaccine ngừa COVID-19 đã tạo ra môi trường sống thích ứng an toàn với dịch  bệnh.

Rõ ràng, tất thảy những luận điệu mà các trung tâm truyền thông thù địch đưa ra đều với mục đích xấu nhằm tạo ra làn sóng dư luận đi ngược lại với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đó cũng là lời cảnh tỉnh cho người dùng mạng khi tiếp cận với các nguồn thông tin, cần có sự tỉnh táo nhận diện, kiểm chứng, không cổ súy, hùa theo quan điểm sai trái, nguy hại…

VIỆT NAM GIÚP CAMPUCHIA XÂY DỰNG TRUNG TÂM CAI NGHIỆN MA TUÝ!

         Sáng 22/3, tại tỉnh duyên hải Preah Sihanouk (tây nam Campuchia) đã diễn ra lễ khánh thành Trung tâm quốc gia Điều trị-Phục hồi chức năng cho người tự nguyện cai nghiện ma túy và dựa vào cộng đồng. Đây là công trình mang ý nghĩa quan trọng đối với đời sống xã hội của đất nước Chùa Tháp.
Tham dự buổi lễ có Phó Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban Phòng, chống ma túy quốc gia Campuchia Ke Kim Yan; Bộ trưởng Công tác xã hội, Cựu chiến binh và Hướng nghiệp thanh niên Vong Soth; Đại sứ Việt Nam tại Vương quốc Campuchia Nguyễn Huy Tăng; Đại sứ Thái Lan Panyarak Poothup; lãnh đạo tỉnh Preah Sihanouk và đại diện một số cơ quan hữu quan.
Phát biểu ý kiến tại đây, Phó Thủ tướng Campuchia Ke Kim Yan nhấn mạnh, ma túy gây tổn hại đến đời sống kinh tế, xã hội và việc phát triển nguồn nhân lực của nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, hoạt động sản xuất, vận chuyển và buôn bán ma túy vẫn gia tăng, bất chấp trong hoàn cảnh dịch Covid-19.
Trong nỗ lực phòng, chống ma túy của Chính phủ Hoàng gia Campuchia, năm 2021, các cơ quan chức năng đã đấu tranh phá án, phát hiện và tịch thu gần 4,7 tấn ma túy. Tháng 1/2022, các lực lượng đã triệt phá 3 cơ sở sản xuất ma túy ở thủ đô Phnom Penh và tỉnh Kampong Speu, tịch thu gần 166 tấn tiền chất dùng để sản xuất ma túy tổng hợp.
Chủ tịch Ủy ban Phòng, chống ma túy quốc gia Campuchia cho biết, thời gian qua, cơ quan chức năng nước này quản lý được hơn 16.260 người nghiện ma túy. Trong đó, gần 7.500 người đã được điều trị, dạy nghề và tái hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, có 609 người phạm tội hình sự và bị kết án tù.
Trung tâm quốc gia Điều trị-Phục hồi chức năng cho người tự nguyện cai nghiện ma túy và dựa vào cộng đồng được xây dựng trên diện tích đất 20 ha, thuộc huyện Stung Hao, tỉnh Preah Sihanouk. Tại đây có đầy đủ phòng khám và điều trị, phòng làm việc, nhà kho, khu vực sản xuất nước sạch, sân vận động, khu đào tạo nghề và nhà ở cho khoảng 1.200 bệnh nhân.
Đến nay, tổng chi phí cho toàn bộ công trình là 7.407.516 USD. Trong đó, Chính phủ Việt Nam tặng 3 triệu USD, Thái Lan giúp 1 triệu USD.
Nhân dịp này, đại diện Chính phủ Campuchia đánh giá cao, cảm ơn Chính phủ Việt Nam cùng các quốc gia, tổ chức, cá nhân đã tích cực giúp đỡ về tài chính xây dựng công trình có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống xã hội của đất nước Chùa Tháp.
Phát biểu ý kiến tại đây, Đại sứ Việt Nam Nguyễn Huy Tăng nêu rõ, Lễ khánh thành Trung tâm hôm nay đánh dấu một bước tiến trong quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực cai nghiện ma túy nói riêng và trong lĩnh vực xã hội nói chung. Công trình này sẽ trở thành hình mẫu trung tâm đạt chuẩn để điều trị, cai nghiện và hướng nghiệp cho người nghiện. Việt Nam sẵn sàng tiếp tục tăng cường hợp tác và chia sẻ các mô hình thành công về cai nghiện ma túy với phía Campuchia, bao gồm cả định hướng đào tạo nghề cho người nghiện.
“Chúng tôi tin rằng sự kiện ngày hôm nay là một dấu ấn có ý nghĩa quan trọng trong Năm hữu nghị Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam và thiết thực góp phần chào mừng kỷ niệm 55 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (24/6/1967-24/6/2022), đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống ma túy của mỗi nước”, Đại sứ Nguyễn Huy Tăng khẳng định./.

Yêu nước ST.

“CUỘC CHƠI” CỦA MỸ, NATO VÀ NGA - TRẠNG CHẾT CHÚA CŨNG BĂNG HÀ! BÀI HỌC CHO CÁC NƯỚC NHỎ!

         Sau khi Mỹ và NATO phát động cấm vận, cô lập Nga; thậm chí là phá vỡ tất cả các nguyên tắc, luân lý như tịch thu tài sản của người Nga ở nước ngoại; thậm chí là cấm vận cả bóng đá, các môn thể thao và cả những cuộc thi của chó, mèo...thì giờ đây người Nga đã đáp lễ một cách rất sòng phẳng. Đúng như các cụ nhà ta hay nói: Trạng chết Chúa cũng băng hà - Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn. Những cú đấm thôi sơn của Nga:
Các lệnh trừng phạt của Mỹ và NATO sẽ phá vỡ thị trường tài chính toàn cầu trong ngắn hạn, gây thiệt hại lớn đến các lợi ích kinh tế phương Tây và điều này đã được chứng minh sau khi Nga bị loại khỏi hệ thống SWIFT, nhiều nước châu Âu cũng lao đao. Nếu nhìn về dài hạn, thậm chí còn nhiều lý do hơn để lo ngại. Trong khi lịch sử cho thấy rằng tác động của các cú sốc địa chính trị đối với thị trường có xu hướng ngắn hạn thì những hậu quả ngoài ý muốn về lâu dài của việc tiến hành cuộc chiến tài chính toàn lực chống lại Nga có thể rất nghiêm trọng đối với các lợi ích chiến lược toàn cầu của Mỹ.
Mỹ và NATO cấm vận và trừng phạt Nga toàn diện thì người Nga cũng chẳng sợ gì mà không đáp lễ. 500 máy bay được các nước phương Tây cho mượn, hiện thành của Nga. Mỹ trừng phạt ngành xuất khẩu dầu của Nga sẽ có những “hậu quả tai hại” cho thị trường năng lượng toàn cầu, giá xăng dầu và nhiên liệu leo dốc và chưa có dấu hiệu dừng lại. Mỹ, Anh, Đức, Pháp…và những nước có nền kinh tế phát triển thấm đòn rất rõ. Bằng chứng rõ nét nhất là Mỹ đã tự hạ nhục mình khi cử phái đoàn sang Venezeula để đàm phán mua xăng dầu. Thế nhưng Venezeula là người anh em thân cận của Nga, nếu không có Nga và Putin thì Tổng thống Nicolas Maduro và chính quyền của ông đã bị Mỹ lật đổ để đưa Juan Guaido thân Mỹ lên thay. Do đó Venezeula có bán thì cũng chỉ bán cầm chừng. Thủ tướng Anh chịu mối nhục Quốc thể khi sang Ả rập Xê Út, đón tiếp ông ta không chỉ là một phó tỉnh trưởng bé nhỏ và Ả rập Xê Út nói không với thỉnh cầu của ngài Thủ tướng tóc rối bời Boris Johnson. 
Quốc hội Đức đang chia rẽ vì các lệnh trừng phạt Nga. Người dân của nhiều nước châu Âu bắt đầu tổ chức biểu tình phản đối lệnh trừng phạt Nga khi mà giá xăng dầu, khí đốt và hàng hóa tăng cao, dân châu Âu bắt đầu thấm đòn. Những nước nắm giữ xăng dầu nhiều nhất như Venezeula, Iran…và tiêu thụ xăng dầu nhiều nhất như Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ… lại thân Nga hoặc không ủng hộ cấm vận Nga. Vậy nên dù Mỹ cấm vận thì Nga cũng chẳng thiếu thị trường tiêu thụ. Về lâu dài thì chính Mỹ và châu Âu mới thiệt hại mạnh nhất.
Hôm qua Tổng thống Vladimir Putin ra lệnh, Nga sẽ chuyển các khoản thanh toán khí đốt bán cho các quốc gia không thân thiện thành đồng rúp. Tổng thống Vladimir Putin nói. Tổng thống lưu ý rằng "không có ý nghĩa gì nếu cung cấp hàng hóa của chúng tôi cho EU và Hoa Kỳ và nhận thanh toán bằng đô la và euro." Tóm lại, Nga làm thế là để cứu đồng Rúp, tránh mất giá dẫn đến lạm phát. Nếu các nhà nhập khẩu mua đồng rúp, họ cần bán ngoại tệ. Nghĩa là, trước khi trả cho Nga bằng đồng rúp, họ phải mua những đồng rúp này ở đâu đó. Có những cách thức khác nhau nhưng nhin chung thì châu Âu phải chấp nhận mua đồng rúp, đổi USD hoặc EURO, trao đổi hàng hóa, thậm chí là mua đồng Rúp từ các tỷ phú Nga kiểu giá chợ đen. Đây là đòn đánh trực diện vào nền kinh tế châu Âu. Biện pháp như vậy có thể dẫn đến sự gia tăng nguồn cung ngoại tệ trên sàn giao dịch tiền tệ của Nga. Việc chuyển đổi thanh toán bằng đồng Rúp làm cho nhu cầu đối với đồng rúp từ bên ngoài gia tăng, do đó hệ thống tiền tệ của Nga được hỗ trợ.
Kể từ đầu cuộc chiến, có 4 triệu dân Ukraine đã sang châu Âu và con số này chưa phải là cuối cùng. Châu Âu đang gồng mình trước thời giá tăng cao lại phải lo cho 4 triệu người nơi ăn chốn ở. Mồm thì ủng hộ Ukraine kiểu “hãy đánh với Nga đến người Ukraine cuối cùng, vinh quang thuộc về Ukraine nhưng thực chất là họ đang lo sợ, cố tình không cho người Ukraine nhập cảnh ở một số nước. Ukraine trước đây có diện tích gấp đôi Việt Nam, dân số 44 triệu người. Thế nhưng hiện nay, 4 triệu người đã ra nước ngoài, 4 triệu người đã thành công dân Dobass và những người mất trong chiến tranh. Hiện Ukraine chỉ còn khoảng 35 triệu dân, đất nước bị tan hoang, thụt lùi hàng thập kỷ…Nga chỉ thiệt hại trước mắt nhưng họ có lợi lâu dài, cho muôn đời sau. Sau cuộc chiến, có lẽ ông Putin sẽ cám ơn Mỹ và NATO và chính Ukraine vì đã “tạo điều kiện” cho họ có thêm đất, thêm dân.
Bài học từ các nước nhỏ sống bên cạnh nước lớn, cha ông ta rất anh minh. Ngày xưa luôn giao hảo với người Trung Quốc để chung sống hòa bình, vì bách tính dân sinh. Chỉ khi người phương Bắc vô cớ mang quân xâm phạm giang sơn bờ cõi thì mới chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc. Kết thúc chiến tranh, ta và họ lại làm hòa, vì bách tính của hai nước. Chúng ta không bao giờ gây hấn với gã hàng xóm khổng lồ. Việt Nam ngày nay đã kế thừa và phát huy truyền thống của cha ông ta, chúng ta chẳng theo phe nào cả, chỉ theo chân lý, lẽ phải. Bác Hồ dạy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Độc lập, tự do, hạnh phúc và chủ quyền, lợi ích quốc gia là bất biến. Khôn khéo trong các mối quan hệ để tranh thủ sức mạnh của thời đại là ứng vạn biến. Đó là kế sách muôn đời để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Không mơ hồ, ảo tưởng rằng có thế lực nào đó sẽ giúp ta chống lại thế lực khác. Không bao giờ./.
Yêu nước ST.

TỔNG THỐNG NGA PUTIN 10 NĂM CỨU 6 NGUYÊN THỦ QUỐC GIA THOÁT CHẾT KHỎI GIÁ TREO CỔ CỦA MỸ CÙNG ĐỒNG MINH VÀ BỌN TAY SAI!

         "Trong số 6 nguyên thủ quốc gia được tổng thống Nga Putin cứu thoát khỏi giá treo cổ của Mỹ và phương Tây có lẽ người ân hận nhất chính lúc này chính là cựu Tổng thống Ukraine Yanukovych người bị lật đổ trong cuộc đảo chính đãm máu tại Ukraine năm 2014 mà kẻ đứng sau không ai khác chính là Mỹ và phương tây

Giá như ngay từ đầu cựu tổng thống Ukraine Yanukovych tin tưởng “người anh cả Nga” và tỏ ra kiên định thì ngày nay đất nước Ukraine nhất định sẽ bình yên, thịnh vượng; sẽ không lâm vào tình trạng khó khăn hiện nay, cũng như nền kinh tế và công nghiệp nặng của đất nước không bị hủy hoại".

 Nước Nga luôn sẵn sàng giúp đỡ những ai tìm đến mình nhờ giúp đỡ. Giương cao ngọn cờ chính nghĩa, ông Putin luôn tỏ ra giữ chữ tín và được tôn trọng ngay cả ở phương Tây.

Người Nga nói đùa rằng “Tổng thống Putin không phải làm bằng cao su”; chỉ trong 10 năm qua, ông đã ra tay cứu mạng 6 nhà lãnh đạo nước ngoài bị Mỹ căm ghét là:

 Viktor Yanukovych (Ukraine), Bashar Hafez al-Assad (Syria), Recep Tayyip Erdogan (Thổ Nhĩ Kỳ), Alexander Grigoryevich Lukashenko (Belarus), Nikol Vovayi Pashinyan (Armenia) và mới đây nhất Kassym-Jomart Tokayev (Kazakhstan).

Nếu cựu Tổng thống Ukraine Yanukovych từ đầu tin tưởng “người anh cả Nga” và tỏ ra kiên định thì ngày nay đất nước Ukraine nhất định sẽ bình yên, thịnh vượng; sẽ không lâm vào tình trạng khó khăn hiện nay, cũng như nền kinh tế và công nghiệp nặng của đất nước không bị hủy hoại.

Cựu tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych đã bị chính quyền hiện thời kết án tới 15 năm tù vì Ukraine không có án tù chung thân và đề xuất thành lập một nhóm đặc biệt để bắt cóc ông.

 Khi đó ông Yanukovych cùng những người thân trong gia đình phải bỏ trốn đến một ngôi làng gần Donetsk kề cận lãnh thổ Nga. Ông Yanukovych đã không có đủ dũng khí để tiến hành một cuộc đấu tranh vũ trang chống lại phe đối lập, nhưng Tổng thống Nga Putin đã cứu sống ông và gia đình bằng cách cử quân đội đưa ông tới Moskow và trao cho ông quốc tịch Nga.

Syria là quốc gia lâu đời nhất ở Trung Đông, cái nôi của Cơ đốc giáo và có nhiều di sản văn hóa thế giới. Ngoài ra, quốc gia này có nguồn tài nguyên hydrocacbon lớn.
Không ngạc nhiên khi Mỹ lấy lý do "bảo vệ nền dân chủ" để kéo quân vào Syria. Vào thời điểm đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố công khai rằng Mỹ vào Syria để kiểm soát dầu. Vào tháng 12/2019, ông lại tuyên bố các mỏ dầu chiếm được ở Syria thuộc về Mỹ. Theo truyền thống, người Mỹ lấy cớ chống khủng bố để cướp đoạt tài nguyên của một quốc gia có chủ quyền nhằm duy trì quyền kiểm soát dầu mỏ.
Hiện tại, khi các vấn đề ở Syria đã được giải quyết, người Mỹ vẫn tiếp tục chiếm giữ trái phép dầu của Syria. Các nhà chức trách Mỹ đã thông báo về việc khởi công xây dựng một nhà máy lọc dầu ở tỉnh Hasakah, đông bắc Syria, trên địa điểm có mỏ dầu lớn nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, những hành động như vậy của Washington sẽ gây thiệt hại hàng tỷ USD cho nền kinh tế Syria.

Nhưng người đứng đầu nhà nước của Syria, Tổng thống Bashar al-Assad, đã tránh được số phận của các Tổng thống Saddam Hussein ở Iraq và Muammar Gaddafi của Lybia sau khi ông yêu cầu Nga đưa quân đội vào giúp đỡ năm 2015. Tình hình phần lớn lãnh thổ Syria đã được trở lại bình thường ngoại trừ tỉnh Idlib. Tổng thống Assad rất biết ơn Nga cùng sự giúp đỡ và hỗ trợ quân sự của Nga.

Cũng giống như thế, tại Belarus, bất chấp một số bất đồng giữa Nga và Belarus về các vấn đề kinh tế và chính trị, trong quá khứ và hiện nay Belarus vẫn là đồng minh thân thiết nhất của Nga. Vào tháng 8/2020, khi Aleksandr Lukashenko mới được bầu phải đối mặt với một tình huống nguy cấp, Nga đã chìa tay ra giúp đỡ những người anh em.

Vào thời điểm đó, xe tăng của NATO đã bò nhung nhúc ở sát biên giới, sẵn sàng ra tay hỗ trợ lực lượng bên trong Belarus bất cứ lúc nào. Trong cuộc điện đàm giữa các nhà lãnh đạo Belarus và Nga, ông Putin đã cam kết hỗ trợ hoàn toàn cho Minsk. Đây không chỉ là lời cảnh báo trực tiếp đối với lực lượng đối lập ở Belarus, mà còn là lời cảnh báo trực tiếp đối với Mỹ, kết quả là cuộc khủng hoảng ở Belarus đã kết thúc êm đẹp.

Đối với Armenia, nhà lãnh đạo Nikol Vovayi Pashinyan cũng từng cố gắng ve vãn phương Tây. Vì vậy, dưới sự lãnh đạo của ông, Armenia đã bị mất một phần lãnh thổ trong cuộc Chiến tranh Nagorno-Karabakh lần thứ hai. Nếu không có sự can thiệp của lực lượng gìn giữ hòa bình Nga, có lẽ Armenia đã bị xóa sổ.
 Azerbaijan dù về sức mạnh quân sự hay tiềm lực kinh tế đều mạnh hơn Armenia gấp nhiều lần, lại còn nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Thổ Nhĩ Kỳ về quân sự.
Thủ tướng Pashinyan sau đó nói rằng trong suốt thời gian chiến tranh Nagorno-Karabakh, Armenia luôn cảm nhận được sự ủng hộ của Liên bang Nga, Tổng thống Nga và Thủ tướng Nga, vì vậy ông đặc biệt cảm ơn!

Câu chuyện của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan cần được xem xét riêng. Tình hình của ông ta gợi nhớ đến câu chuyện cho sói ăn máu hoặc “qua cầu rút ván, lấy oán trả ơn”. 

Cần nhớ lại rằng năm 2016 đã xảy ra cuộc đảo chính quân sự dưới sự lãnh đạo của Fethullah Gülen, một người được Mỹ ủng hộ đã suýt lấy đi mạng sống của Tổng thống Erdogan.

 Chính Tổng thống Nga Putin đã nhắc nhở ông chỉ vài giờ trước khi cuộc đảo chính sắp xảy ra và cuộc di tản của ông Erdogan ra khỏi Khách sạn Câu lạc bộ Grand Yazi ở Turban là do lực lượng đặc biệt của Nga dẫn dắt. 

Sau khi cuộc đảo chính bị dẹp yên, ông Erdogan chính thức cảm ơn sự ủng hộ của Nga. Sau sự kiện này, Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu tách khỏi NATO để giành chủ quyền lớn hơn đối với đất nước. Tuy nhiên, Erdogan sau đó đã cạnh tranh với Nga để kiếm lợi ở Syria, Libya và Nagorno-Karabakh, nhúng tay vào vùng ảnh hưởng của Nga.

Hiện tại, tình hình Kazakhstan đang diễn ra trước mắt cả thế giới. Cho đến gần đây, nhiều nhà quan sát phương Tây có thể nghĩ rằng những ngày còn lại của Tổng thống Kassym-Jomart Tokayev cũng không còn kéo dài được bao lâu nữa, mọi phương pháp ban đầu đều giống hệt như ở Gruzia trước đây.

 Tổng thống Putin đã ngay lập tức liên lạc qua điện thoại với ông Tokayev. Sau khi Tổng thống Kazakhstan Tokayev lên tiếng yêu cầu Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể giúp đỡ vào sáng 6/1, quân dù của lực lượng phản ứng nhanh Nga đã nhanh chóng đổ bộ xuống Kazakhstan ngay trong đêm, nhanh chóng giúp ổn định tình hình.

Một điều không thể phủ nhận rằng, sau khi quân đội Mỹ tháo chạy khỏi Afghanistan, Mỹ cần có một căn cứ quân sự mới để duy trì ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á. Mỹ đã bày tỏ mong muốn xây dựng một căn cứ quân sự trên đất Kazakhstan. Nhưng Tổng thống Tokayev đã nhấn mạnh: vấn đề xây dựng căn cứ quân sự của Mỹ ở Kazakhstan "không được thảo luận, cũng không nằm trong chương trình nghị sự". Việc từ chối này đã ngay lập tức gây nên phản ứng từ các cơ quan tình báo phương Tây.

Vào ngày 5 và 6/1 đã xuất hiện nhiều người đàn ông được trang bị vũ khí trên đường phố các thành phố Kazakhstan, sau đó máy bay của CIA cũng bay đến Trung Á. Điều này dẫn đến kết luận rõ ràng rằng Mỹ có thể sẽ sử dụng chiêu bài "gìn giữ hòa bình" để đưa các lực lượng vũ trang các nước phương Tây vào Kazakhstan, sau đó thiết lập các căn cứ mới của Mỹ ở gần Nga.
Nhưng lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga lại một lần nữa đi trước Mỹ một bước và lập lại được trật tự, và ván cờ dự tính của Mỹ lại thất bại.

Ảnh 1: Tổng thống Nga Putin và cựu Tổng thống Ukraine Yanukovych người mà Mỹ và phương tây tìm cách lật đổ vào tháng 2/2014

Ảnh 2: Tổng thống Putin và Tổng thống Syria al-Assad 

Ảnh 3: Ông Putin và Tổng thống Belarus Lukashenko 

Ảnh 4: Tổng thống Putin và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan 
Ảnh 5: Tổng thống Putin và Thủ tướng Armenia Pashinyan 

Ảnh 6: Tổng thống Putin và Tổng thống Kazakhstan Tokayev./.






Môi Trường ST.

CHIẾN SỰ NGA-UKRAINE SAU MỘT THÁNG!

        Đúng 1 tháng sau khi tiến hành chiến dịch đặc biệt tại Uka, quân đội Nja chuyển qua giai đoạn mới. Đánh giá lại tháng qua, một tờ báo Nga nhận định rằng Nga đã hoàn thành các mục tiêu sau:
✓ Giải phóng nước cộng hòa LNR.
✓ Nước cộng hòa DNR: Maruipol coi như đã được giải phóng, ở đó chỉ còn vấn đề nhân đạo thì đúng hơn là quân sự. Sau đó sẽ đến việc giải quyết 120 ngàn quân chủ lực Uka. Thực tế số quân này đã nằm trong nồi hầm. Tiêu diệt toàn bộ số quân này rồi Nja mới bắt đầu thương lượng tiếp.
✓ Khắc-cốp, Ô-đét-xa và Ki-ép bị vây hãm và đang cạn kiệt nguồn lực. Nja sẽ không mạnh tay với các thành phố này vì đó là các thành phố đông dân Nga sống, có nhiều di sản văn hóa Nja.Giai đoạn sắp tới có thể quân đội Nja sẽ tấn công hệ thống truyền tải điện và thực tế là sau đó thì các thành phố này sẽ phải tự đầu hàng. Nja chưa làm có lẽ còn vì thương dân.
✓ Nja thử nghiệm thực tế các vũ khí mới, và chúng đều cho thấy hiệu quả cao, đặc biệt là con Dao Găm, làm Bai Đần sợ quá nói lắp bắp luôn (có clip). Nhân dịp cũng để cảnh báo phương tây không nên đùa với gấu Nja.

Bổ sung vài điểm:
✓ Xua được gần 4 triệu dân Uka di tản.
✓ Kiếm lợi nhuận khủng khiếp nhờ tăng giá dầu, khí, kim loại... Mỗi ngày ước tính Nga kiếm thêm được 2 tỷ đô so với trước đây.
✓ Đang ép phương tây phải thanh toán bằng rúp và nhờ đó mà giáng một đòn mạnh lên Mẽo.
✓ Tỷ lệ ủng hộ Putin lên đến gần 80%.
✓ Giữ được ổn định cho nền kinh tế Nga. Các hãng nước ngoài đang quay lại Nga.
Thất bại lớn nhất của Nja: Truyền thông kém, phải nói đúng hơn là quá kém!
Môi Trường ST.

Sự khác biệt về bản chất giữa đường lối đổi mới với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị thường dùng thủ đoạn nhằm phủ nhận đường lối đổi mới, đánh đồng giữa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nhằm làm mất đi bản chất, ý nghĩa chính trị to lớn của sự nghiệp đổi mới này. Sau Đại hội XII, XIII của Đảng, đặc biệt sau Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trên một số mạng xã hội đã phát tán ý kiến về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Hội nghị đã nêu. Cho rằng: khái niệm “tự diễn biến” là cực kỳ mơ hồ, điều đó thể hiện sự “bế tắc về lý luận” Cũng theo vị khách đó, nếu một cơ thể mà không “tự chuyển biến”, “tự diễn biến”, thì đó là một cơ thể chết. Xã hội cũng vậy, một xã hội muốn phát triển phải tự vận động và trong quá trình vận động đương nhiên phải “có chuyển biến”. Ý kiến trên và những quan điểm tương tự được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây, như: VOA, RFA, CNN và nhiều trang mạng trong và ngoài nước như “vớ được vàng”, lập tức tung hô, tán thưởng. Có người còn cho rằng, làm gì còn đổi mới, làm gì còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin, làm gì còn xã hội xã hội chủ nghĩa, chẳng phải “Đảng cộng sản Việt Nam đang “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó sao? Còn nhớ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã quyết định thay đổi đường lối chính trị - kinh tế, chuyển đổi mô hình xây dựng đất nước từ mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội (với nhà nước chuyên chính vô sản, kinh tế kế hoạch hóa,…) sang xây dựng đất nước theo mô hình mới của chủ nghĩa xã hội (với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước,…). Cùng thời điểm đó xảy ra cuộc khủng hoảng, sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô những năm 1985-1991 đã đặt sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vào một tình thế vô cùng khó khăn. Song, với bản lĩnh chính trị vững vàng và kinh nghiệm thực tiễn phong phú, nhất là chứng kiến cuộc khủng hoảng trên, Đảng ta sớm nhận thấy những nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, đặc biệt là nguy cơ xa rời con đường xã hội chủ nghĩa. Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI, tháng 3-1989) Đảng ta đã đề ra các nguyên tắc đổi mới, trong đó có hai nguyên tắc then chốt: chủ nghĩa Mác - Lê-nin (sau này được Đảng ta bổ sung thêm tư tưởng Hồ Chí Minh) là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước sang nhiệm kỳ Đại hội VII, tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (01-1994) Đảng ta tiếp tục chỉ ra 4 “nguy cơ” đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, là: tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đúng như dự báo của Đảng ta về nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, trong thập kỷ qua đã có nhiều biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở ngay trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị - xã hội. Điển hình là trước Đại hội XI của Đảng (01-2011) và Kỳ họp thứ 6 (11-2013) Quốc hội (khóa XIII) thông qua Hiến pháp năm 2013, một số cá nhân và nhóm xã hội mạng lâm thời, trong đó có nhiều cán bộ, đảng viên thuộc nhóm1 “Kiến nghị 72” đã kiến nghị: “xóa bỏ Điều 4 Hiếp pháp 2013 (về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam), chấp nhận “cạnh tranh chính trị”. Đồng thời, họ “kiến nghị” “phi chính trị hóa” Quân đội, và cho rằng: “lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào,…”. Nhóm “Thư ngỏ 61” (sau đó là nhóm “Thư ngỏ 127”) kiến nghị với Bộ chính trị: “chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ,...”. Họ còn kiến nghị thay đổi đường lối quốc phòng - an ninh: “Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi…”. Như vậy, thực chất của quan điểm phủ nhận đường lối đổi mới, đồng nhất quan điểm đối mới với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính là thể hiện sự dao động chính trị; về bản chất đó là phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc ta. Đối với cán bộ, đảng viên, điều này cũng có nghĩa là họ đã làm trái với Điều lệ Đảng và các quy định khác của Đảng. Về mặt triết học, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đổi mới đều là sự vận động của xã hội. Tuy nhiên, lấy sự vận động nói chung của xã hội để che dấu sự khác biệt giữa các xu hướng chính trị, đặc biệt là sự khác biệt giữa đường lối đổi mới của Đảng ta với tư tưởng cơ hội về chính trị - từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa chuyển sang con đường tư bản chủ nghĩa theo mô hình phương Tây chỉ là một thủ đoạn chính trị mà thôi. Sự khác biệt giữa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với đường lối đổi mới là ở hai xu hướng chính trị trái chiều: tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhằm thúc đẩy xã hội theo con đường tư bản chủ nghĩa, còn đổi mới là tư tưởng chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa. Tất nhiên sự kiên định này không đồng nghĩa với chủ nghĩa giáo điều mà là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn của dân tộc ta trong thời đại ngày nay. Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã xác định nhiều giải pháp, từ tư tưởng, chính trị đến tổ chức thực hiện và công tác xây dựng Đảng. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có bình quân thu nhập trung bình. Các quyền con người, trong đó có quyền dân sự, chính trị, nhất là quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do in-tơ-nét được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 50 triệu người sử dụng in-tơ-nét, chiếm 52% dân số; riêng số người sở hữu tài khoản Facebook lên tới 35 triệu người, bằng 1/3 dân số, trong đó 21 triệu người truy cập hàng ngày thông qua thiết bị di động. Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành Google tại Đông Nam Á và Ấn Độ Rajan Anandan đã khẳng định: “Việt Nam là nước có thị trường in-tơ-nét năng động nhất thế giới, thị trường duy nhất có số người dùng in-tơ-nét nhiều hơn số người không dùng”. Trong quá trình thực hiện đổi mới, Đảng ta luôn luôn đặt lợi ích của Quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đại hội XII của Đảng xác định: đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên vị trí hàng đầu; đồng thời, khẳng định ý chí quyết tâm, “kiên quyết, kiên trì” đấu tranh để giữ vững chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; không để đất nước bị động, bất ngờ trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) lấy nhiệm vụ “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng cũng nhằm đảm bảo sứ mệnh lịch sử của Đảng ta là lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đường lối đối ngoại và quốc phòng, an ninh, Đảng tập trung vào nhiệm vụ duy trì môi trường hòa bình để xây dựng đất nước. Nghị quyết 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác định rõ “đối tác” và “đối tượng” của cách mạng Việt Nam: những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Qua đó khẳng định, không có chuyện đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam là “tự cô lập mình”! Như vậy, sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước của Đảng ta chính là sự vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật hết sức khoa học để giải quyết những vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra, hướng vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đang từng bước hiện thực hóa trong thực tiễn, được nhân dân đồng lòng ủng hộ, quyết tâm thực hiện. Hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Điều đó chứng minh công cuộc đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn, hợp quy luật. Đó là sự thật, là chân lý. Tự nó bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc!

 

VIẾT TIẾP TRUYỀN THỐNG “MỞ ĐƯỜNG THẮNG LỢI”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tổ chức, giáo dục và rèn luyện các lực lượng vũ trang cách mạng của Việt Nam. Sinh thời, Người luôn dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt cho Quân đội, trong đó có lực lượng công binh. Ngay từ buổi đầu quân đội mới thành lập, cách mạng nước ta còn trong thời kỳ trứng nước, Bác Hồ đã đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển lực lượng công binh phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Ngày 25/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/SL quy định tổ chức Bộ Quốc phòng, trong đó có việc thành lập Công chính giao thông Cục - tiền thân của Bộ Tư lệnh Công binh ngày nay. Từ đó, ngày 25/3 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Công binh. Sắc lệnh 34/SL nêu rõ: Công chính giao thông Cục có nhiệm vụ tổ chức và thi hành việc vận tải, thông tin, vẽ bản đồ và tổ chức công binh dùng vào việc chuyên môn: cầu cống, đường sá, máy móc...

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng, rèn luyện Quân đội từ chiến thuật đến tầm chiến lược, từ kinh nghiệm chiến đấu của cha ông cho đến những kiến thức tác chiến hiện đại. Người nhận định: . .Ve quốc phòng, không thể không tổ chức lục quân được. Trong lục quân, người ta thường chia ra bộ binh, kỵ binh, pháo binh, công binh, chí trọng binh. Mỗi thứ binh ngũ ấyđều có binh khí riêng”(1). Đối với lực lượng công binh, Người chỉ rõ: “Nói đến công binh, có người cho là những người lính vác cuốc xẻng đi đào hào, đắp ụ, bắc cầu, xây cống. Đó là những công binh về thời trước. Còn công binh ngày nay phải hiểu biết những kỹ thuật về chiến tranh, phải là những đội quân cơ giới hoá biết dùng máy móc chạy bằng điện để kiến thiết trận địa, đào đường hầm, phá hủy những chướng ngại vật trên cạn, dưới nước. Ngoài ra, công binh còn phải bắc dây điện tín, điện thoại, đặt máy vô tuyến điện, đặt đường sắt, bắc cầu qua sông, v.v.. Trong thời đại chiến tranh khoa học, nhất là từ khi phát minh ra nhiều binh khí chuyển vận bằng điện, công binh đã đóng vai tuồng quan trọng trong lục quân”(2).

Tháng 3 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Trung đội công binh đang đào hầm cho Bộ chỉ huy chiến dịch Hoàng Hoa Thám trong rừng Việt Bắc, Người giảng giải: “Quân đội ta có nhiều nhiệm vụ khác nhau và nhiệm vụ nào cũng quan trọng. Bộ binh thì như nòng súng. Công binh như báng súng. Súng muốn được bắn phải cần có cả hai bộ phận ấy và nhiều bộ phận khác nữa, hoặc để dễ hiểu hơn: quân đội ta ví như cái mác, bộ binh như mũi mác, công binh như cán mác, lưỡi có sắc, cán có chắc thì mới đâm được giặc”(3).

Sau khi ra đời, lực lượng công binh phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, gian khổ, thực hiện từ nhiệm vụ đánh phá giao thông, đánh công đồn đến các nhiệm vụ làm đường, bắc cầu, xây dựng sân bay, bến cảng, xây dựng các công trình phòng thủ... bảo đảm cho các lực lượng cơ động tấn công địch. Lực lượng còn ít, trang bị thô sơ nhưng bộ đội công binh đã tham gia hầu hết các chiến dịch lớn của quân đội. Đặc biệt, kết thúc chiến dịch Tây Bắc năm 1952, do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bộ đội công binh đã vinh dự được Bác Hồ trao tặng lá cờ thêu bốn chữ vàng “Mở đường thắng lợi”. Bốn chữ vàng đó vừa là lời khen, vừa là phương hướng chiến lược mà Bác căn dặn bộ đội công binh cần thực hiện tốt. Từ đây “Mở đường thắng lợi” trở thành truyền thống vẻ vang của bộ đội công binh anh hùng. Luôn thấm nhuần lời dạy của Bác, bộ đội công binh đã nỗ lực trên tất cả các mặt công tác, không ngừng nâng cao trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, xứng đáng là “cán mác vững chắc” cùng toàn quân, toàn dân đánh giặc và giành thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Cùng với yêu cầu và sự phát triển của cách mạng, ngày nay Công binh đã trở thành một Binh chủng kỹ thuật hiện đại thực hiện chức năng Tham mưu cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về xây dựng lực lượng, vũ khí, trang bị công binh toàn quân; bảo đảm chiến đấu và chiến đấu, có vị trí, vai trò quan trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Chiến tranh đã lùi xa nhưng cán bộ chiến sĩ công binh vẫn âm thầm thực hiện sứ mệnh của những người “đi trước, về sau”: rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh; xây dựng nhiều công trình kinh tế và quốc phòng trọng điểm của đất nước. Đây là những nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” luôn đòi hỏi trí tuệ, sự hy sinh và lòng dũng cảm. Dẫu còn nhiều thách thức nhưng những người lính công binh luôn vượt qua mọi khó khăn, có mặt và sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ. Binh chủng Công binh đang tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Phát huy kết quả đã đạt được, cán bộ, chiến sĩ công binh tiếp tục phấn đấu với tinh thần: đổi mới, sáng tạo, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với truyền thống của Binh chủng đã vinh dự được Nhà nước tặng danh hiệu: Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao vàng.

Trải qua hơn 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công binh luôn kiên định, vững vàng, vượt mọi khó khăn thử thách, tiếp tục xây đắp truyền thống vẻ vang “Mở đường thắng lợi” năm xưa Bác đã trao tặng, góp phần tô thắm phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Cán bộ chiến sĩ công binh luôn khắc ghi lời Bác căn dặn “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam.