Thứ Năm, 24 tháng 3, 2022

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG – TẦM NHÌN VÀ SỰ SÁNG TẠO Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao: giữ vững trận địa tư tưởng, văn hóa của Đảng trong Quân đội; trong đó, có một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Cùng với toàn Đảng, toàn dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần rất quan trọng trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thành công nổi bật, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao: Cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích cốt lõi của quốc gia – dân tộc Việt Nam; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội; phòng, chống đại dịch Covid-19; không để bị động, bất ngờ. Chúng ta đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt các nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị là bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và bảo vệ thành quả cách mạng đi đúng định hướng chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với việc nắm vững, triển khai toàn diện, đồng bộ, thống nhất và hoàn thành thắng lợi các chức năng, nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 35 NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII; mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ luôn nắm vững các nội dung về tư tưởng, hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng, giá trị và ý nghĩa bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hình mới; đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động và tác hại chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, trên cương vị, chức trách của mình, đã tham mưu, hiến kế và có những đóng góp quan trọng, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao cho. Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng trong Quân đội, cán bộ, đảng viên chiến sĩ cần nắm vững và thực hiện tốt hơn mấy nội dung cơ bản sau đây: (1) Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có nghĩa là: cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị, kết luận; thái độ, tầm nhìn và tư duy lý luận của Đảng đều phải dựa chắc trên cơ sở, nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, kể từ khi ra đời cho đến nay, trong nhận thức và lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta đều nhất quán khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Sự khẳng định nhất quán, thống nhất nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng to lớn. Nó không chỉ bảo đảm sự thống nhất, đồng thuận cao về nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân mà còn thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, sự kiên định vững vàng và ý chí kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống mọi biểu hiện sai lầm về đường lối chính trị, quan điểm sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta. Thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo đã chứng minh rằng, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Vì lẽ đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vừa là niềm vinh dự, tự hào, vừa là nhiệm vụ sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng nước ta; là hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng để chống lại mọi sự tấn công, xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài của Đảng và cả hệ thống chính trị ở nước ta. (2) Vai trò bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thể hiện ở các nội dung cụ thể: Thứ nhất, bảo vệ vững chắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là nội dung đặc biệt quan trọng đối với việc giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Thứ hai, bảo vệ và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, làm cho Đảng ta thật sự là “đạo đức, là văn minh”, là Đảng mácxít – lêninnít chân chính – đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Thứ ba, bảo vệ Đảng vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; có đủ phẩm chất và năng lực, tài và đức, luôn ngang tầm nhiệm vụ để hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử mà nhân dân tin tưởng giao phó. Thứ tư, xây dựng, bảo vệ và củng cố vững chắc khối đoàn kết thống nhất trong Đảng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững sự ổn định chính trị, củng cố niềm tin, tình cảm của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Thứ năm, bảo vệ và góp phần củng cố phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong giai đoạn hiện nay, nhất là bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm những nội dung mới, phù hợp với bối cảnh và điều kiện lịch sử mới. (3) Để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần thực hiện hiện tốt một số nội dung sau: Một là, ra sức nghiên cứu, học tập, làm sáng rõ và sâu sắc hơn bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tiếp tục khẳng định bản chất khoa học, cách mạng, giá trị và ý nghĩa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, nghiên cứu, luận giải, chỉ ra những vấn đề cần phải nhận thức mới, tiếp tục bổ sung, phát triển những vấn đề lý luận nền gốc và vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống trường tồn, thật sự là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin tích cực, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, giúp cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, sâu sắc vị trí, vai trò, giá trị và ý nghĩa của nhiệm vụ bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội. Đây là cơ sở, nền tảng vững chắc để nhận thức đầy đủ, sâu sắc nguồn gốc, bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động và tác hại chống phá của “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động; làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân nhận thức đúng vai trò, trách nhiệm của mình trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Ba là, tham mưu, hiến kế, tích cực xây dựng tổ chức bộ máy và lực lượng cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tạo điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội phát huy vai trò nòng cốt trong bảo vệ Đảng, nền tảng tư tưởng của Đảng. Tập trung xây dựng, củng cố Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, các cơ quan báo chí quân đội; giảng viên, nghiên cứu viên ở các học viện, trường sĩ quan; đội ngũ chuyên gia, báo cáo viên, tuyên truyền viên, Lực lượng 47 trong toàn quân; giúp họ phát huy tốt hơn nữa vai trò là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là “thanh bảo kiếm”, “lá chắn thép” vững chắc, hiệu quả, sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy tốt hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ cơ sở, Công đoàn cơ sở, Hội đồng quân nhân và các tổ chức, đơn vị kết nghĩa cộng đồng trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bốn là, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu dự báo, nắm bắt tình hình, dư luận xã hội, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để có biện pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả; không để bị động, bất ngờ. Luôn chủ động nhận diện, phát hiện “từ sớm”, “từ xa” các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là cơ bản, thường xuyên, lâu dài; “chống” phải quyết liệt, năng động, sáng tạo, hiệu quả. Chủ động cung cấp thông tin, tài liệu chính thống và các tài liệu, thông tin phản diện để sớm định hướng dư luận, đề xuất biện pháp đấu tranh. Năm là, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và ban hành mới các văn bản, quy chế, quy định, chính sách, hướng dẫn nhằm hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng trong Quân đội. Xử lý kịp thời, hiệu quả những hành vi chống đối, vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội; những biểu hiện lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để xuyên tạc, vu khống, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; không mắc mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch./.

Tự trọng và biết xấu hổ

 Đạo đức của đảng cách mạng, của người cách mạng, nói khái quát lại cũng chính là những phẩm chất, những đức tính, những hành động của những chiến sĩ trên mặt trận chống lại sự bất công, tàn bạo đối với con người, chống lại những gì hạ thấp phẩm giá của con người, mà trước tiên là chống lại “cái mất nhân tính” từ trong chính bản thân mình. Những chướng ngại, kẻ thù lớn nhất không đâu xa, mà ở bên trong chính mỗi chúng ta, là chủ nghĩa cá nhân.

Muốn làm cách mạng thì trước hết phải cải tạo tâm tính của bản thân mình. “Những chướng ngại của chính mình” rất dễ làm ta bị dừng bước, thậm chí thất bại. Lịch sử phát triển theo đường xoáy ốc, nó sẽ lặp lại ở một trình độ cao hơn, tinh vi và phức tạp hơn. Những chướng ngại mới lại xuất hiện trên suốt lộ trình muôn dặm để đi tới thắng lợi cuối cùng và cái quyết định vẫn là phải chiến thắng những cám dỗ và ham muốn của chính mình.

Nhận ra chính mình, tự biết mình là cực kỳ quan trọng, nhưng biết rồi thì phải dũng cảm và hăng hái trong hành động. Muốn vậy, bất cứ ai cũng phải có nhiệt tình cách mạng. Nhiệt tình tựa như ngọn lửa bùng cháy, nhưng không thể là sự hăng say mù quáng, ngược lại nó phải được chỉ dẫn bởi sự hiểu biết, có suy xét, cân nhắc, có kế hoạch, có bước đi, có kiểm tra. Đó là sự hòa quyện giữa nhiệt tình của trái tim nóng và sự trầm tĩnh của trí tuệ. Thực tiễn đã cho ta những bài học đắt giá về sự hăng hái ấu trĩ, nóng vội, chủ quan duy ý chí.

Người đảng viên của đảng cách mạng chân chính phải có lòng tự trọng và biết xấu hổ. “Tự trọng” và “xấu hổ” là hai khái niệm gần như đồng nghĩa. Nó đều là loại tự ý thức về nhân cách của mình, về danh dự, phẩm giá của mình. Nó là cái tiềm ẩn ở trong mỗi con người cũng như mỗi dân tộc. Tự trọng làm cho người ta tự biết những giá trị tốt đẹp đích thực của mình để giữ gìn, trân trọng và phát huy. Tự trọng bao giờ cũng đi liền với sự khiêm nhường, có chừng mực, biết đánh giá đúng mình và đúng người, biết nhận ra những cái lố bịch, xấu xa, hèn kém của bản thân, làm cho người ta tự hào đúng mực về cái mình có, tự hổ thẹn về sự thấp hèn, yếu kém của chính mình. Và, chính vì thế mà từ sâu thẳm trong tâm hồn toát ra một sức mạnh, một ý chí vươn lên.

Tự trọng khác tự hào. Tự hào thể hiện ở sự hãnh diện, mãn nguyện về cái mình đã làm được, cái mình đang có. Tự hào đúng mực đòi hỏi một sự tự trọng; nếu tự hào quá mức hoặc không đúng thì lại là sự hợm hĩnh, phô trương, kiêu ngạo và lố bịch, lại là tự hạ thấp mình mà không biết xấu hổ. Tự hào bao giờ cũng đi liền với sự khiêm nhường.

Một con người cũng như một dân tộc cần phải biết tự hào và tự trọng, lại càng cần đề phòng “thừa lòng tự hào” và “thiếu lòng tự trọng”. Vì cả hai đều có thể trở nên kệch cỡm, đáng xấu hổ, cản trở sự phát triển.

Nếu như mỗi người chúng ta ai cũng đều biết tự trọng và biết xấu hổ khi làm những việc mất nhân tính như tham nhũng tiền bạc, tham nhũng quyền lực, tranh giành chức vị, bổng lộc, lãng phí, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... thì ắt hẳn xã hội ta sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.

C.Mác viết: “Xấu hổ là một loại cách mạng… xấu hổ là một loại nổi giận nhưng chỉ hướng vào bên trong. Và nếu như cả một dân tộc thực sự cảm thấy xấu hổ thì nó sẽ giống như một con sư tử thu mình lại để chuẩn bị nhảy”(1).

Chúng ta vì có lòng tự hào dân tộc, tự trọng về danh dự và phẩm giá của mình và biết xấu hổ vì bị mất nước, bị làm nô lệ, bị nghèo nàn, lạc hậu mà vùng đứng lên làm cách mạng. Chúng ta đã biết “thu mình lại” và cũng đã biết “vùng dậy”. Chúng ta đã “nhảy” và sẽ còn có những bước “nhảy” mạnh hơn, tiến xa hơn để mau tới đích: Xây dựng đất nước cường thịnh, nhân dân hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Biết tự trọng và biết xấu hổ chính là một biểu hiện đáng quý của đạo đức cách mạng!./.

Để lời nói thực sự là “gói vàng”!

 Người xưa đã dạy: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, nhằm nhắc nhở nhau và khuyên nhủ thế hệ sau rằng, lời nói có thể chuyển tải thông tin, kéo mọi người đến gần nhau, nhưng cũng có thể làm xa cách nhau nếu không cân nhắc kỹ khi phát ngôn. Câu tục ngữ trên khuyên rằng, nên nói đúng, nói đủ, khi nói cần thể hiện sự tôn trọng người nghe, nhưng cũng là tôn trọng chính bản thân mình, quả thật có ý nghĩa vô cùng!

Tuy nhiên, tầng ý nghĩa khác của câu “Lời nói không mất tiền mua…” lại là, phải biết phát ngôn khi cần thiết, bởi chỉ khi đó thông tin được đưa ra mới mang ý nghĩa thiết thực. Khi nói, mỗi người nên cân nhắc về cách nói (như thế nào?), nội dung nói (nói cái gì?) và thời điểm cần nói (vào khi nào?). Có như vậy, lời nói mới trở nên có giá trị, thực sự là “gói vàng” khi mang lại điều hay, lẽ phải; chứ không phải là “lời nói, đọi máu”, do nói sai, không đúng lúc, đúng chỗ. Hiểu được ý nghĩa trên có lẽ không khó với mỗi người, nhưng cái khó chính là thực hiện được điều đó trong thực tiễn!

Trong thực tiễn cuộc sống có hiện tượng, nói một đằng, làm một nẻo hoặc ý nghĩa đằng sau của lời nói khác hẳn thông tin khi phát ngôn, như dân gian thường nói: “Nói vậy mà không phải vậy”! Có hiện tượng, trong cuộc họp, mọi thành viên tham dự đều không phát biểu; hoặc nếu có thì “hùa” theo ý kiến chung, theo sự gợi ý, định hướng. Kết cục là, cuộc họp bàn bạc về vấn đề phức tạp đáng lẽ sẽ kéo dài, bởi cần phải tranh luận, thuyết phục nhau, “trao đi, đổi lại” các ý kiến giữa những người tham gia, thì lại kết thúc rất nhanh, với sự nhất trí rất cao. Đây chính là biểu hiện của cái gọi là “nói xuôi chiều”, “nói đãi bôi”. Những người như thế cho rằng, mình nói cũng chẳng ai nghe, nói nhiều thì phải làm nhiều, nói nhiều sẽ bị “soi”; hoặc đơn giản là “chẳng biết nói gì”?!… Nhưng, khi một trong những quyết định nào đó của các cuộc họp đưa vào thực hiện không được suôn sẻ, hiệu quả không được như kỳ vọng, lại rộ lên những bình phẩm, thậm chí chê bai, dè bỉu, rằng quyết định đó “không đủ tầm, không xứng tầm!”. Thực chất của những phát ngôn kiểu này chỉ là cách “nói vuốt đuôi”.

Sau những cuộc họp như vậy, ở bên ngoài phòng họp, tại những nơi riêng tư là sự bùng nổ về ngôn từ và tâm trạng hoặc là sự thờ ơ, vô cảm, như đầm nước lạnh giá. Điều đó cho thấy, hóa ra mọi người đều có suy nghĩ riêng với vô số lập luận và nhận định, đánh giá. Thế nhưng, những tâm tư, nguyện vọng đó lại không biểu lộ ra, thể hiện ở những nơi cần thiết, khi cần thiết, mà lại bộc lộ ở những địa điểm không chính thức, thời điểm không cần thiết như vậy.

Tình trạng nói trên không phải hiếm. Nguyên nhân là do chưa tạo được môi trường, điều kiện để người có liên quan nói những điều cần nói; hoặc bởi mọi người chưa thấy được sự cần thiết phải nói; hoặc cố tình “mũ ni che tai” nên không nói đủ, nói đúng, nói kịp thời... Dù bởi nguyên nhân nào, tình trạng nói trên cũng gây ra những bất lợi cho sự phát triển của cơ quan, tập thể, đơn vị, khi lãng phí nhiều nguồn năng lượng, trí tuệ, tài nguyên tập thể; hoặc làm giảm tinh thần đấu tranh, phản biện xây dựng, tạo ra lối thỏa hiệp dễ dãi, những sự “đồng thuận hờ”, dẫn đến tâm trạng tiêu cực trong tập thể.

Ở góc độ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tư tưởng buông xuôi, lựa chiều nói trên sẽ không góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chung; đồng thời, không phê phán, ngăn chặn được những tư tưởng, suy nghĩ sai lầm có thể nảy sinh trong tập thể, do vậy, không có lợi cho sự nghiệp chung.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung một nội dung mới, đó là cần khuyến khích, bảo vệ người “dám nói”. Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm khuyến khích và bảo vệ những người dám nói, biết nói, dám làm và biết làm vì lợi ích chung. Để thực hiện điều đó, trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng cần mạnh dạn làm rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan của căn bệnh “không dám nói, không muốn nói; nói không đúng lúc, không đúng chỗ” để đề ra biện pháp thực hiện việc “dám nói” một cách phù hợp. Đó chính là sự quán triệt, học tập nghị quyết Đại hội Đảng một cách thiết thực và phù hợp nhất./.

'Tiệc ma túy' tại Bệnh viện Tâm thần được bảo kê thế nào

Trưởng khoa Đỗ Thị Lưu bị cáo buộc nhận 10 triệu đồng mỗi tháng để bệnh nhân Nguyễn Xuân Quý liên tục mở "tiệc ma túy" trong phòng điều trị riêng.

Bà Lưu (Trưởng khoa phục hồi chức năng và y học cổ truyền, Bệnh viện Tâm thần trung ương 1) vừa bị Công an thành phố Hà Nội đề nghị truy tố về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Ba thuộc cấp của bà Lưu là Nguyễn Anh Vũ (kỹ thuật viên) bị đề nghị truy tố về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý; Nguyễn Minh Huệ và Bùi Thi Hạt (điều dưỡng viên và hộ lý) về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Nguyễn Xuân Quý (39 tuổi, kẻ cầm đầu đường dây phạm tội) cùng Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Công Thường, Nguyễn Trung Nguyên, Lê Hoàng Hải và Bùi Chí Hải bị đề nghị truy tố về ba tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ ma túy và Tổ chức sử dụng ma túy.

Đỗ Thị Lưu (trái) và Nguyễn Anh Vũ. Ảnh: Công an cung cấp

Đỗ Thị Lưu (trái) và Nguyễn Anh Vũ. Ảnh: Công an cung cấp

Từ năm 2018, Quý, nghi phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Khoa phục hồi chức năng và Y học cổ truyền, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1. Quý lợi dụng việc điều trị để trốn chấp hành bản án và lôi kéo, dụ dỗ các bác sĩ thực hiện hành vi phạm tội, kết luận điều tra nêu.

Tại bệnh viện, Quý được ưu tiên điều trị một mình, có chìa khóa riêng, tự do ra vào. Quý nhiều lần cho đàn em và người nhà vào thăm sử dụng ma túy ngay trong phòng riêng. Từ tháng 8/2020, Quý lôi kéo các nhân viên y tế trong khoa là Vũ, Huệ, Hạt cùng tham gia sử dụng ma túy để không bị tố giác.

Theo kết luận điều tra, Quý thuê người vào lắp vách nhôm cách âm; ngăn buồng điều trị làm thêm hai phòng nhỏ phía trong. Một phòng để loa đài, đèn chiếu laze phục vụ bay lắc, một phòng để giường ngủ.

Khi Quý cải tạo phòng, bà Lưu phát hiện, yêu cầu tháo dỡ song anh ta không làm theo. Ngược lại, Quý thường lợi dụng ca trực của Vũ, Huệ, Hạt để cho công nhân vào sửa phòng. Sau khi cải tạo, từ tháng 11/2020, Quý nhiều lần tổ chức "tiệc ma túy".

Điển hình ngày 1/2/2021, Quý được điều dưỡng Huệ mời dự tiệc sinh nhật ở ngay tại khoa nên "cảm ơn" bằng cách cho chị ta và bạn bè "bay lắc" trong phòng. Cả nhóm dùng ma túy mừng từ 22h đến 5h sáng hôm sau. Có lần, Huệ, Hạt, Vũ cùng một số người khác còn lên tận phòng của Quý để xin ma túy.

Công an xác định từ tháng 3/2021, Quý còn quy tụ nhiều đàn em để thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy trong và ngoài bệnh viện. Có lần, Quý được đàn em lái ôtô đến bệnh viện đón sang quận Long Biên thuê phòng khách sạn dùng ma túy.

Phòng bay lắc của Quý được cách âm với bên ngoài. Ảnh: Phạm Dự

Phòng bay lắc của Quý được cách âm với bên ngoài. Ảnh: Phạm Dự

Quý khai để được bao che, đã mua chuộc bằng cách mỗi tháng nộp cho bác sĩ Lưu 10 triệu đồng tiền phòng. Anh ta cho hay, bác sĩ Lưu đe dọa nếu không nộp tiền sẽ không cho ra ngoài, không cho người thân vào thăm và đuổi khỏi bệnh viện. Hơn nữa, ngoài các nhân viên y tế đã mua chuộc, Quý còn dọa nạt những người khác để không ai dám nhắc nhở hay lại gần buồng của hắn.

Ngoài hành vi bao che cho Quý, cảnh sát xác định bà Lưu còn lợi dụng chức vụ trưởng khoa của mình để thu, nhận tiền trái phép của bệnh nhân và người nhà họ. Bà Lưu thông qua quỹ công đoàn để chia cho mỗi cán bộ, nhân viên trong khoa trung bình 600.000 đồng mỗi tháng. Bà chia tiền cho 38 cán bộ trong khoảng 24 tháng với tổng số 384 triệu đồng. Hiện các nhân viên trong khoa nhận thức đây là tiền hưởng lợi trái phép đã nộp lại 247 triệu đồng.

Các nhân viên trong khoa khai đều khai, bà Lưu "dung túng, bao che cho hành vi phạm tội của Quý ngay trong bệnh viện". Quý là thành phần côn đồ, hung hãn, lại được "bảo vệ" nên đa số họ đều tránh tiếp xúc.

Ngược lại, bà Lưu cho rằng có biết việc làm của Quý là vi phạm nhưng sợ ảnh hưởng đến công việc của khoa và bản thân nên đã không có biện pháp cưỡng chế. Bà khẳng định không vì mục đích vụ lợi vật chất mà chỉ nể nang. Bà Lưu cũng phủ nhận việc thu tiền phòng hàng tháng của Quý.

Ma túy bị thu giữ. Ảnh: Công an cung cấp

Ma túy bị thu giữ. Ảnh: Công an cung cấp

Sau khi xảy ra sự việc, ông Vương Văn Tịnh (Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1) bị cách chức vì đã buông lỏng quản lý, để xảy ra vi phạm hậu quả rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, ông Tịnh khai không biết các dấu hiệu bất thường cho đến khi được cấp phó báo cáo. Các sai phạm xảy ra do cá nhân cố tình vi phạm nên phải tự chịu trách nhiệm.

Ba phó giám đốc gồm ông Nguyễn Tuấn Đại, Lê Ngọc Tú, Nguyễn Mạnh Phát, đều bị khiển trách và phê bình, do chưa sâu sát trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội quy, quy chế chuyên môn của bệnh viện.

Cảnh sát xác định, ông Đại có liên quan trực tiếp khi để xảy ra hàng loạt sai phạm; ông không kiểm tra, giám sát để bệnh nhân tự do phạm tội ngay trong bệnh viện.

Ông Tú phụ trách phòng hành chính quản trị và tài chính kế toán nhưng đã không kiểm tra để cho bệnh nhân và người nhà tự ý ra vào; không kiểm soát thực hiện thu nộp tài chính của khoa phục hồi chức năng dẫn đến việc khoa tự ý thu, nhận tiền của bệnh nhân và người nhà rồi chia nhau hàng tháng.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

 Sau năm 1975, đất nước ta gặp nhiều khó khăn do hậu quả nặng nề của chiến tranh và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi thử thách, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước tác động của đại dịch Covid-19, kinh tế đất nước và cuộc sống của người dân còn gặp khó khăn. Lợi dụng tình trạng này, các thế lực thù địch, phản động đã bịa đặt, xuyên tạc tình hình đất nước để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, chúng đã đã bịa đặt, thổi phồng biến Việt Nam thành một đất nước có “hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt Nam tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết”, “nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn…, còn chết hay đang chờ chết vì nạn dịch” hay đại đa số người dân Việt Nam đang sống trong “những túp lều không vách”. Thực tế đã bác bỏ luận điệu xuyên tạc của chúng.

Sau năm 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế như hiện nay. Việt Nam đã hoàn thành được Mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói. Xét theo cách tiếp cận nghèo đa chiều, tỷ lệ nghèo cũng giảm dần theo thời gian cùng với quá trình tăng trưởng. Tỷ lệ nghèo giảm từ 9,9% năm 2015 xuống 9,2% năm 2016 và xuống còn dưới 7% năm 2017, còn khoảng dưới 3% vào năm 2020; trong đó tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo cũng được cải thiện như: tiếp cận bảo hiểm y tế tăng 11,7%, sử dụng dịch vụ viễn thông tăng 5,2%. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, được Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong các nước có thành tích giảm nghèo ấn tượng nhất, trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, với triết lý “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn xã hội đã đoàn kết, nỗ lực, có nhiều chính sách hỗ trợ, bảo đảm an sinh cho người dân, giảm thiểu đến mức thấp nhất tỷ lệ tử vong, quan tâm chăm lo đến người lao động bị ảnh hưởng từ dịch bệnh. Tất cả những điều đó cho thấy, những luận điệu của các thế lực thù địch đưa ra là hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc. Những luận điệu mà chúng đưa ra là hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc, mục đích để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, gây hoang mang dư luận, cần phải được lên án và đấu tranh bác bỏ./.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG HÀNH VI LỢI DỤNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI ĐỂ XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Trên một số trang mạng phản động xuất hiện bài viết “Phản biện”. Bài viết đã thể hiện một cái nhìn phiến diện, cố tình xuyên tạc ý nghĩa của hoạt động phản biện xã hội ở Việt Nam, lợi dụng vấn đề phản biện để xuyên tạc tình hình đất nước, gây nhiễu thông tin, tạo dư luận xấu trong xã hội. Bài viết đã xuyên tạc tình hình dân chủ nhất là hoạt động “phản biện” xã hội ở nước ta. Vậy thực tế tình hình đó ở nước ta như thế nào?

Chúng ta đều biết phản biện xã hội là một hình thức thể hiện quyền tự do ngôn luận, đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người. Ở Việt Nam, để xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự đồng thuận xã hội, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán quan điểm coi phản biện xã hội là công cụ, kênh thông tin quan trọng, không thể thiếu giúp cấp ủy, chính quyền đưa ra các quyết định đúng đắn, hợp lòng dân. Hoạt động phản biện xã hội đã được triển khai có nền nếp, đặc biệt là thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần làm sáng tỏ những thành tựu, hạn chế trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, việc thực hiện chính sách, pháp luật của Chính phủ và chính quyền các địa phương, của các tổ chức. Nhiều kiến nghị sau phản biện đã được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nghiêm túc tiếp thu và thực hiện. Thực tế cho thấy, trước mỗi kỳ đại hội Đảng hay trước mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, ban hành các đạo luật, tổ chức các sự kiện lớn, những vấn đề hệ trọng của đất nước…, Đảng và Nhà nước ta đều công bố rộng rãi các văn kiện dự thảo, đưa ra quan điểm, chủ trương để lấy ý kiến thảo luận, đóng góp của toàn dân. Đại đa số nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, luôn coi mỗi đợt đóng góp ý kiến là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hưởng ứng tích cực. Tất cả ý kiến dù đồng thuận hay không đồng thuận đều được cơ quan chức năng tổng hợp báo cáo với Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ để xem xét quyết định. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn những kẻ lợi dụng phản biện xã hội với động cơ xấu, nhằm phá hoại đất nước, gây chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những “tâm thư”, “thư góp ý”, mượn danh phản biện xã hội được tán phát rộng rãi trên các diễn đàn, kênh thông tin không chính thống thể hiện những ý kiến trái ngược, thậm chí chống đối quan điểm của Đảng, Nhà nước. Phản biện xã hội - từ chỗ là kênh thông tin thể hiện quyền dân chủ, đã trở thành chiêu trò gây ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, gây bất ổn trong dư luận, phá vỡ môi trường ổn định để phát triển của đất nước. Mỗi người dân cần hết sức tỉnh táo nhận diện, đấu tranh loại bỏ những thông tin sai trái đó.

Về bản chất, thực hiện phản biện xã hội là lắng nghe, học tập trí tuệ của nhân dân, để từ đó quay lại phục vụ cho nhân dân. Thực hiện tốt hoạt động này sẽ huy động, cổ vũ, tập hợp sức mạnh của mọi giai tầng xã hội phấn đấu vì mục tiêu lý tưởng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Do đó, để tiếp tục triển khai thực hiện tốt hoạt động phản biện xã hội ở Việt Nam, thời gian tới, cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận thông tin, nghiên cứu, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình đối với từng nội dung liên quan tới đường lối, chủ trương, chính sách, thể chế… tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân. Cần có biện pháp hiệu quả để định hướng, giúp người dân hiểu đúng về phản biện xã hội, đâu là phản biện xã hội tiêu cực, từ đó đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh với những hành vi lợi dụng phản biện xã hội để phá hoại đất nước. Hơn hết, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để thực hiện quyền phản biện xã hội một cách đúng đắn, hiệu quả. Mỗi người, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu, nhất là những nội dung liên quan đến các vấn đề hệ trọng, nhạy cảm của đất nước tán phát trên mạng xã hội, phải cẩn trọng nhận diện rõ thông tin tốt - xấu; tránh bị cuốn theo những giọng điệu lợi dụng phản biện xã hội để xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch./.

CẢNH GIÁC VỚI SỰ XUYÊN TẠC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Ở VIỆT NAM

 Trong những năm qua, để xuyên tạc chủ trương chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, các thế lực thù địch đã không ngừng xuyên tạc, chống phá. Chúng thường cho rằng thực chất cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay chẳng qua chỉ là cuộc đấu đá nội bộ giữa phe này và phe khác; rằng Đảng cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng vì Việt Nam chỉ do một đảng duy nhất lãnh đạo, bản chất của cộng sản là tham nhũng, bảo vệ Đảng để tham nhũng (!!!)

Thực tiễn cho thấy, Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bao che, dung túng cho tham nhũng, lãng phí. Tham nhũng chính là một hành vi tha hóa đạo đức cá nhân để làm những việc bất chính nhằm biến tài sản Nhà nước, tài sản của Nhân dân thành tài sản riêng hoặc của một nhóm lợi ích. Đảng nhà nước ta đã xác định, nguy cơ tham nhũng đe dọa đến sự tồn vong của Đảng của chế độ; vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc chống tham nhũng không chỉ để bảo vệ tài sản của Nhà nước, của Nhân dân mà còn để bảo vệ uy tín của Đảng trước Nhân dân. Đảng coi tham nhũng là nguyên nhân gây mất lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Việc đưa ra cảnh báo nghiêm khắc về nguy cơ mà tệ tham nhũng gây ra thể hiện quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam. Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng xác định là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; vừa cấp bách vừa lâu dài, khó khăn, phức tạp; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục, không nóng vội, không chủ quan, với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm; phòng, chống tham nhũng cần phải thực hiện đồng bộ các biện pháp; phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, các hành vi bao che, dung túng tiếp tay cho tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam…

Với sự quyết tâm và nghiêm khắc của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiều vụ tham nhũng được xét xử, nhiều cán bộ tha hóa, biến chất ở mọi cấp, mọi ngành, đã chịu sự trừng phạt của pháp luật; đã thu hồi, đề nghị thu hồi tài sản trị giá hàng chục nghìn tỷ đồng cho Nhà nước. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được điều tra, khởi tố, truy tố và xử lý công khai, khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Qua đó cho thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa và cũng không bao giờ bao che, dung túng, không có vùng cấm cho quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tất cả những ai phạm tội thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị xem xét xử lý kỷ luật đúng người, đúng tội.

Từ những vấn đề trên cho thấy, các thế lực thù địch đã dương đông, kích tây để xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, muốn nước ta bất ổn về chính trị, muốn dân ta phải sống trong thời loạn lạc, lầm than, nội chiến và để nhận sự “tài trợ” từ các tổ chức phản động. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu những thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch./.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC TỪ RFA BẢN TIẾNG VIỆT

 Vừa qua, trang tin RFA bản tiếng Việt đã đăng tải bài viết xuyên tạc về nguy cơ khủng bố ở Việt Nam, đồng thời lừa phỉnh, xúi giục những người nhẹ dạ cả tin ủng hộ hoặc tham gia vào các tổ chức phản động, chống phá đất nước như Việt Tân, Triều Đại Việt,…

Mở đầu bài viết của mình, Ban Biên tập RFA đã bịa đặt, “chụp mũ” rằng ở Việt Nam không có nguy cơ khủng bố và: “Từ trước tới nay nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn vu khống cho các tổ chức chính trị đối lập là những tổ chức khủng bố… để cho người dân sợ không dám ủng hộ các đảng phái chính trị của người gốc Việt ở nước ngoài”. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cơ quan an ninh Việt Nam đã phát hiện hàng trăm đối tượng phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài xâm nhập nội địa có mang theo vũ khí, phương tiện kỹ thuật và có dấu hiệu, biểu hiện sử dụng vào mục đích khủng bố.

RFA bản tiếng Việt lừa phỉnh rằng các tổ chức chính trị ở nước ngoài như Việt Tân không phải là tổ chức khủng bố, song sự thật thì hoàn toàn ngược lại. Những kẻ cầm đầu tổ chức Việt Tân đã tuyên bố “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tấn công trực diện Cộng sản; nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì buộc phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ, sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”. Thực tế đã có âm mưu khủng bố tại Việt Nam do Việt Tân chỉ đạo bị Công an Việt Nam chặn đứng. Đó là vụ Nguyễn Hữu Thiên An (ngụ tại Khánh Hòa) âm mưu đặt bom đánh phá tại quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Việt Tân thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại. Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về Việt Nam hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Được sự tài trợ, hậu thuẫn từ Việt Tân, một số đối tượng chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, manh động, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

Điển hình như đối tượng Nguyễn Văn Hóa sống ở Hà Tĩnh đã ký hợp đồng với một số đài, trang mạng nước ngoài với mức 1.500 USD cho 16 phóng sự/tháng. Những thông tin xuyên tạc, kích động mà Hóa đăng tải, cung cấp đã thu hút số lượng người xem rất lớn và được phát tán với tốc độ chóng mặt… Nguyễn Văn Hóa được các thành viên tổ chức Việt Tân hỗ trợ sang Lào, Camphuchia, Thái Lan, Philippines để được “trang bị thêm kiến thức về tự do, dân chủ và phát triển lực lượng”. Ngày 3/1/2017, Hóa được kết nạp vào tổ chức Việt Tân với nhiệm vụ tuyển lựa, xây dựng và phát triển lực lượng, nắm bắt tình hình trên địa bàn Hà Tĩnh. Khi bị các cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý, Nguyễn Văn Hóa đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nói rõ “do bị can còn rất trẻ, do bị lợi dụng, lôi kéo”, xin lỗi Nhà nước và nhân dân: “Bị can muốn kêu gọi tất cả từ thanh niên đến người già, từ nông dân đến tầng lớp trí thức, lương dân cũng như người công giáo đừng vì đồng tiền, đừng vì cái lợi trước mắt như bị can đã từng trải mà gây xâm phạm, bán rẻ lương tâm, bán rẻ Tổ quốc cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phản động, cực đoan chống phá Nhà nước, đừng theo vết xe đổ của bị can”.

Ở đây, chúng ta có thể thấy rõ sự xuyên tạc, bịa đặt của Ban Biên tập RFA không có mục đích gì khác ngoài sự vu khống, bôi nhọ để hạ thấp uy tín của hệ thống chính trị ở Việt Nam. Ban Biên tập RFA cũng chỉ lấy dẫn chứng là ý kiến của một số thành phần phản động, bất mãn chống phá đất nước. Đó chỉ là một số ý kiến lạc lõng, còn đại đa số nhân dân Việt Nam vẫn đang tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Ban Biên tập RFA không có tư cách của một tổ chức truyền thông chân chính, khách quan, từ nhiều năm nay, trang tin của đài RFA, đặc biệt là bản tiếng Việt, luôn đăng tải các bài viết bịa đặt, xuyên tạc, chống phá đất nước Việt Nam. Mỗi công dân Việt Nam chân chính cần hết sức cảnh giác trước những thông tin xấu độc từ RFA bản tiếng Việt./.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ THAM GIA SẢN XUẤT, XÂY DỰNG KINH TẾ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

 Với bản chất của một đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Sau khi kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, Quân đội đã chuyển 28 vạn cán bộ, chiến sĩ sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế. Tích cực tham gia vào công cuộc tái thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt coi trọng những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đây là sự nối tiếp, phát huy truyền thống quý báu của dân tộc trong thời đại mới.

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa hai nhiệm vụ chiến lược và đường lối của Đảng ban hành nhiều nghị quyết, văn bản, quy phạm pháp luật, chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

Những thành tựu nổi bật về tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế trong thời kỳ đổi mới của Quân đội như phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, xóa đói giảm nghèo và thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo… Tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, vai trò của Đoàn kinh tế quốc phòng 379 (Quân khu 2) được thể hiện rõ nét trong công tác tham mưu, giúp đỡ cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, bảo đảm an ninh chính trị; phối hợp với địa phương trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trồng rừng, phát triển cây cao su, xóa mù chữ, chống tái trồng cây thuộc phiện, khám chữa bệnh…

Các doanh nghiệp quân đội đã không ngừng đổi mới, phát triển và hội nhập, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Đến nay, các doanh nghiệp quân đội đã và đang khẳng định rõ vị thế trong nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội tiêu biểu như Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tổng công ty Trực thăng Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội…

Những kết quả đạt được trên các mặt, các lĩnh vực trên đây đã chỉ rõ, Quân đội là một nguồn lực của đất nước trong phát triển kinh tế – xã hội, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong giải quyết những vấn đề khó khăn về quốc phòng, an ninh ở các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, vùng biển đặc quyền kinh tế của Tổ quốc.

PHÍA SAU CÁI GỌI LÀ “GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN”

 Vừa qua quỹ Martin Ennals tại Geneva (Thụy Sỹ) đã công bố giải thưởng Martin Ennals 2022 dành cho những người bảo vệ nhân quyền. Trong 3 người được “nhận giải” năm 2022, có Phạm Thị Đoan Trang. Đây là một sự kiện kệch cỡm của quỹ Martin Ennals.

Kệch cỡm giải thưởng tự xưng “Martin Ennals”

Trên trang web của tổ chức này công bố: “Phạm Thị Đoan Trang là nhà báo hàng đầu và là nhà vận động cho dân chủ ở Việt Nam… Cô ủng hộ việc bảo đảm các quyền tự do dân sự như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp… Cô đồng sáng lập một số hãng truyền thông hàng đầu như Tạp chí Luật Khoa, Những cây xanh, và Nhà xuất bản Tự do".

Trước hết, phải nói về cái gọi là Giải Martin Ennals do quỹ Martin Ennals đặt ra. Giải lập ra vào năm 1993 nhằm vinh danh và bảo vệ các cá nhân trên khắp thế giới đã tỏ ra đặc biệt can đảm trong việc bảo vệ và làm tăng tiến nhân quyền. Giải này lấy tên là Martin Ennals - cựu Tổng Thư ký tổ chức Ân xá quốc tế

Thực chất, đây là giải tự xưng do một số tổ chức dưới danh nghĩa nhân quyền lập nên để tạo tầm ảnh hưởng nhằm gây quỹ trên toàn thế giới. Ban giám khảo là thành viên của các tổ chức nhân quyền như: HRW, WOAT, HRF, HURIDOCS…  Theo dõi trong suốt quá trình hoạt động, giải thưởng này được trao cho những người có hoạt động chống lại lợi ích quốc gia và dân tộc ở quốc gia của họ. Nhiều người được trao giải đang phải ngồi tù vì lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá.

Việc giải thưởng Martin Ennals được trao cho Phạm Thị Đoan Trang - đối tượng vừa bị tuyên phạt 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, một lần nữa thể hiện sự thiếu khách quan, phi thực tế và quy chụp. Rõ ràng, Phạm Thị Đoan Trang là tội phạm bị đưa ra ánh sáng. Phiên tòa xét xử Phạm Thị Đoan Trang diễn ra công khai theo các quy định của pháp luật. Đoan Trang cũng không phải là "nhà báo nổi tiếng" như cách quỹ Martin Ennals gọi, mà chỉ từng là phóng viên một số tờ báo điện tử trong nước. Sau khi Trang sa ngã, không một cơ quan báo chí nào “dung nạp” người đàn bà này vào làm việc.

Ấy vậy mà quỹ Martin Ennals lại dùng rất nhiều “mỹ từ” để mô tả về Đoan Trang khi công bố giải thưởng nói trên. Rằng: Bà ta là “nhà bảo vệ nhân quyền có ảnh hưởng nhất, được kính trọng”, “là nguồn cảm hứng cho xã hội dân sự Việt Nam”, “là nhà báo hàng đầu”,…

Ngay khi quỹ Martin Ennals công bố “giải thưởng Martin Ennals”, các trang web như: RFA, VOA tiếng Việt, BBC tiếng Việt đã dẫn lại thông tin để a dua. RFA giật tiêu đề: “Tù nhân lương tâm Phạm Đoan Trang được trao giải Martin Ennals”. Còn BBC tiếng Việt trong bài: “Giải thưởng Martin Ennals 2022 được tặng cho bà Phạm Đoan Trang” lại dẫn lời của một số tổ chức nhân quyền để qua trường hợp Đoan Trang nhằm nói xấu Việt Nam. Cụ thể như, bài viết dẫn lời Phil Robertson, Phó Giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Human Rights Watch: "Phạm Đoan Trang là một người truyền lửa cho rất nhiều nhà hoạt động và nhà báo ở Việt Nam, nơi mà tự do biểu đạt bị xem là mối đe dọa"...

Những luận điểm và phát ngôn của các tổ chức, cá nhân nói trên đều vô căn cứ, thiếu khách quan và xuyên tạc trắng trợn tình hình Việt Nam.

Âm mưu thâm độc phía sau các giải thưởng

Nhiều năm gần đây, những cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” thường xuyên được các thế lực thù địch sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm gây tổn hại và tìm cớ can thiệp vào nội bộ của các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Chúng tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, đòi gắn viện trợ nhân đạo song phương, đa phương với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận… Chúng kêu gọi và được sự hậu thuẫn của các tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án để “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ bọn phản động người Việt lưu vong, số đối tượng chống đối hoạt động chống phá Việt Nam. Nhiều cơ quan, tổ chức như:  Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ, Nghị viện Châu Âu, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Để phục vụ cho hoạt động chống phá, chúng lôi kéo và dựng lên các nhân vật có tư tưởng bất mãn hoặc tham lam lợi ích vật chất rồi trao các giải thưởng tự xưng như: Giải thưởng nhân quyền, giải “Tầm Ảnh hưởng”, giải Homo Homini,… Từ đó, chúng vận động một số nghị sĩ cực đoan trong quốc hội, chính phủ một số nước kêu gọi gây quỹ đấu tranh vì nhân quyền. Để hợp thức hóa sự ủng hộ tài chính, kinh phí của các nhà tài trợ, chúng đưa ra các bản “báo cáo”, “phúc trình”… bôi nhọ tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Chúng lợi dụng triệt để sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên để tuyên truyền đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại niềm tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng nhằm tác động chuyển hóa nội bộ từ bên trong, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ tại Việt Nam.

Qua hình thức gây quỹ để trao giải, các tổ chức nhân quyền đã nhận được rất nhiều sự tài trợ từ các tổ chức phản động, chống phá Việt Nam. Để “báo đáp”, các tổ chức này đã có những đánh giá, nhận xét thiếu khách quan, phi thực tiễn về tình hình nhân quyền, dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Việt Nam. Mục đích là để bôi nhọ, khiến các quốc gia, tổ chức hiểu sai về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Đây chính là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch.

Những minh chứng sống động, hùng hồn về sự phát triển của Việt Nam 

Tuy nhiên, thực tế đất nước trong những thập niên qua là minh chứng hùng hồn, sống động nhất đập tan những luận điệu của các thế lực thù địch. 35 năm đổi mới (1986 - 2021) là giai đoạn quan trọng của sự nghiệp phát triển đất nước, đánh dấu sự trưởng thành mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Công cuộc đổi mới đã thật sự gắn bó với vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước, gắn bó với mỗi người Việt Nam và được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao. Họ biết đến Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình và cũng là một quốc gia có nhiều thành tựu trong quá trình đổi mới, đặc biệt là phát triển kinh tế - xã hội, trở thành điểm đến của các nhà đầu tư và đối tác thương mại trên thế giới. 2 năm qua, trong điều kiện khó khăn nhưng Việt Nam chúng ta đã hỗ trợ về nhân lực, thiết bị và chia sẻ kinh nghiệm trong phòng, chống dịch Covid-19 với các nước.


Mới đây nhất, tối 20/1/2022, giới nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới đã biết đến Việt Nam qua Lễ trao giải VinFuture tại Nhà hát lớn Hà Nội. Đây là giải thưởng khoa học và công nghệ toàn cầu, được thành lập 20/12/2020 với sứ mệnh "tạo ra những thay đổi tích cực trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu người bằng việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ". Giải thưởng do Chủ tịch Tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng và phu nhân Phạm Thu Hương sáng lập và được trao giải hàng năm tại Việt Nam. Hội đồng giải thưởng là những nhà khoa học hàng đầu thế giới, nhiều thành viên từng đạt giải Nobel… Một lần nữa, thế giới biết đến một dân tộc Việt Nam hiếu học, luôn vươn lên làm chủ công nghệ và sẵn sàng có những đóng góp tích cực cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn, cải thiện môi trường sống bền vững cho những thế hệ tương lai.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thế và lực của nước ta đã được tăng cường, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là một quốc gia kinh tế - văn hóa phát triển, chính trị - xã hội ổn định, có nhiều triển vọng tốt... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”. Và, nghĩa vụ của mỗi công dân chúng ta là không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, chính trị; bài trừ các tư tưởng độc hại và thường xuyên học tập nâng cao trình độ để nối tiếp thế hệ cha ông xây dựng cơ đồ Việt Nam./.

Tăng ca để sống tối thiểu

 Theo dõi

Cách đây vài năm, khi được mời về làm việc tại một cơ quan Nhà nước, tôi được “chốt” bậc lương 2,34 - bậc lương tối thiểu dành cho lao động trình độ Đại học.

Được đánh giá là nhân sự "có kinh nghiệm lâu năm" do lãnh đạo cơ quan mời về làm việc, nhưng bậc lương của tôi không thể vượt qua "quy định". Cơ quan giải thích, kinh nghiệm công tác của tôi chủ yếu ở doanh nghiệp tư nhân, hoặc nước ngoài nên không được tính. Tôi chấp nhận lời giải thích đó, vì thu nhập tôi nhận về chủ yếu phụ thuộc kết quả công việc và vẫn thuộc nhóm cao tại cơ quan.

Nhưng mức lương tối thiểu 2,34 thực ra mang đến cho tôi nhiều thiệt thòi hơn tôi đã nghĩ. Các khoản tiền thưởng theo chế độ Nhà nước của tôi ít hơn hẳn những đồng nghiệp lâu năm. Với cơ quan tôi hồi đó, các khoản thu nhập như vậy là không nhỏ.

Bậc lương của tôi thậm chí được nêu ra trong một cuộc họp giữa cơ quan với Bộ chủ quản. Vấn đề không được giải quyết, vì đó là quy định. Tôi hiểu những khó khăn của lãnh đạo cơ quan, và rất xúc động khi họ luôn nỗ lực để tạo thêm các khoản thu nhập ngoài lương cho tôi. 2,34 là bậc lương tôi không thể trang trải cuộc sống, ngay cả khi chưa có gánh nặng con cái.

Lương tối thiểu hiện nay hầu như không đủ đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động tại các vùng, miền và cũng "chưa có cơ quan độc lập xác định mức sống tối thiểu". Nhưng lương tối thiểu đang là cơ sở để các doanh nghiệp tính các khoản chi phí khác theo lương, ví dụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí công đoàn...

Về mặt lợi ích, người lao động luôn muốn nhận ngay tối đa số tiền mà doanh nghiệp chi trả, thay vì phải bớt lương để đóng góp vào các quỹ bảo hiểm. Dù về mặt nguyên tắc là trong tương lai, số tiền đóng các quỹ nói trên cũng thuộc về người lao động.

Có tới 11-16% thu nhập của người lao động đến từ việc làm thêm giờ - theo một khảo sát năm 2019 của Oxfam. Tại các nhà máy với dây chuyền hoạt động không ngừng (do chi phí khởi động hệ thống máy móc rất cao) - công nhân phải làm ca để đảm bảo hoạt động 24/24, thu nhập từ việc làm thêm giờ còn cao hơn nữa. Công nhân tại một nhà máy sản xuất giày da tại Trà Vinh chia sẻ với tôi cảm xúc buồn bã khi không được tăng ca, do một khách hàng lớn tại Mỹ phá sản. Không làm thêm giờ, thu nhập của họ bị giảm đáng kể, dù vẫn đạt mức "tối thiểu" mà Nhà nước đặt ra.

Lương tối thiểu được đặt ra với giả thuyết người lao động không phải làm thêm giờ mà vẫn đảm bảo cuộc sống tối thiểu. Nhưng thực tế, mức lương tối thiểu tại Việt Nam chưa đủ để duy trì mức sống đó.

Một xã hội sẽ không thể phát triển bình thường khi phần lớn lao động là công nhân tại các nhà máy, đang ngày đêm phải làm tăng ca, không có cơ hội giải trí, chăm sóc bản thân, giáo dục con cái... Sự kiệt quệ về thể xác và tinh thần của lực lượng lao động chính trong một đất nước có thể mang lại hệ lụy lớn hơn chúng ta có thể hình dung. Đó là lý do Luật Lao động có quy định về số giờ làm thêm tối đa của mỗi công nhân.

Trong tình hình mới, Thường vụ Quốc hội đã thông qua nghị quyết nới trần giờ làm thêm từ 40 giờ lên tối đa 60 giờ. Đây dường như là giải pháp tình thế hơn là kế sách lâu dài. Tăng giờ làm thêm sẽ có lợi cho doanh nghiệp và người lao động trong ngắn hạn. Doanh nghiệp có thể tổ chức sản xuất với các đơn hàng mới mà không phải thuê thêm công nhân, tiết kiệm tiền đóng bảo hiểm và các quỹ. Với người lao động, việc tăng giờ làm thêm có thể giúp họ tăng thu nhập.

Tuy nhiên, tăng giờ làm thêm có thể khiến doanh nghiệp không có nhu cầu thuê thêm công nhân ngay cả khi cần mở rộng sản xuất, từ đó dẫn đến thất nghiệp gia tăng. Trong khi đó, thời gian làm thêm kéo dài có thể khiến năng suất lao động giảm sút. Về lâu dài, Việt Nam sẽ ngày càng khó thoát khỏi hình ảnh của một đất nước có năng suất lao động và trình độ lao động thấp. Việc thu hút đầu tư khó tránh bị ảnh hưởng.

Nếu lấy lý do dịch bệnh để thay đổi một điều luật vô cùng quan trọng, các nhà làm luật có thể sẽ phải trù tính lộ trình điều chỉnh. Bởi dịch bệnh suy cho cùng cũng sẽ chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế trong khoảng thời gian ba năm, hoặc lâu hơn một chút. Trong khi hệ lụy từ việc vắt kiệt sức lao động có thể tác động lâu dài hơn thế.

Điều cơ bản cần tính khi nền kinh tế đang bắt đầu vận hành trở lại, là nếu buộc phải dùng đến lương tối thiểu như một tham chiếu thì cần đảm bảo nó thực hiện được đúng sứ mệnh ít ỏi vốn có: đáp ứng mức sống tối thiểu của người lao động mà không phải tăng ca.

VIỆT NAM CHƯA BAO GIỜ LÀM LƠ TRƯỚC HÀNH VI XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN

 Vừa qua, Cục Hải sự Trung Quốc (MSA) thông báo cuộc tập trận diễn ra ở Biển Đông từ ngày 4 đến 15-3. Tuy nhiên, theo các tọa độ mà MSA công bố, cho thấy một số địa điểm trong số đó dường như nằm gần bờ biển thành phố Huế hơn là bờ biển thuộc đảo Hải Nam của Trung Quốc. Ngay lập tức Nguyễn Văn Hải và trang tin RFA đã đăng đàn cho rằng “Việt Nam đang im lặng đứng nhìn Trung Quốc tập trận trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam”.

Image 

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng.

Mới đây, đại diện Bộ Ngoại giao, bà Lê Thị Thu Hằng khẳng định Việt Nam luôn theo sát các diễn biến tại khu vực Biển Đông và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982. Bà Hằng cũng nhấn mạnh: “Một phần khu vực thông báo hàng hải nêu trên thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam được xác định theo UNCLOS 1982. Việt Nam đề nghị Trung Quốc tôn trọng và không vi phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, không có hành động làm phức tạp tình hình, qua đó góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông” và “Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc về vấn đề này”.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, Việt Nam đã nhiều lần khẳng định có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên.

Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội khẳng định chủ quyền biển đảo. Trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về biển Đông, cùng chung tay bảo vệ và duy trì hòa bình trên biển Đông.


Chúng ta đã trải qua rất nhiều năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam. Kinh nghiệm từ lịch sử cho thấy xung đột vũ trang kéo theo rất nhiều hệ lụy và hậu quả khủng khiếp lâu dài. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Chúng ta yêu hòa bình chứ không mong muốn chiến tranh. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc nhưng chúng ta không nổ súng trước. Chúng ta kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, Việt Nam luôn cho thấy tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ song phương và đa phương.

Chính vì vậy, trải qua nhiều năm, có lúc tình hình trên biển Đông nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam bằng quan điểm nhất quán của mình vẫn có những hành động đúng đắn, đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Với trái tim nóng và cái đầu lạnh, mỗi người Việt Nam cần tỉnh táo trước mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình thế giới và Biển Đông, không để những kẻ chống phá như Nguyễn Văn Hải và trang RFA kích động, lôi kéo.