Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2022

VĂN HOÁ QUÂN SỰ - NỘI DUNG CƠ BẢN CỐT LÕI, CỘI NGUỒN SỨC MẠNH QUÂN SỰ VIỆT NAM!

         Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với nhiều kẻ xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn nhiều lần, nhưng cuối cùng chiến thắng luôn thuộc về chúng ta. Cội nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng đó chính là nền tảng văn hóa dân tộc, mà trong đó, truyền thống văn hóa quân sự (văn hóa giữ nước) cơ bản là nội dung cơ bản, cốt lõi.

Trong hệ thống các giá trị truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam, tính nhân văn cao cả là giá trị nổi bật, thể hiện sâu sắc bản chất con người và dân tộc Việt Nam. Nội dung cốt lõi, xuyên suốt của tính nhân văn cao cả trong truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam là: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, mục đích các cuộc chiến tranh của dân tộc ta là giành và giữ độc lập dân tộc. Bản chất của văn hóa là sáng tạo và nhân văn. Các cuộc chiến tranh của dân tộc ta nhằm giành và giữ độc lập dân tộc là hành động văn hóa, mang ý nghĩa nhân văn cao cả. Bởi nó bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng; bảo vệ phẩm giá con người, bảo vệ các giá trị văn hóa, văn minh, lòng tự tôn dân tộc; đồng thời, chống lại hành động xâm lược, nô dịch, tàn sát, cướp bóc,… tức là chống lại cái ác, cái tham lam, bất chính, chống lại cái phản văn hóa, phản văn minh.

Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa với lời thề thể hiện ý chí độc lập, mục tiêu cứu nước, cứu nhà: “Một xin rửa nhục quốc thù/ Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng”.
    1. Năm 1789, trước khi đem quân ra Bắc diệt quân Thanh xâm lược, Quang Trung đã tuyên bố mục đích ra quân: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
   2. Như vậy, Quang Trung khẳng định, mục đích ra quân nhằm bảo vệ nền văn hóa, nền độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
Đặc biệt, dân tộc ta luôn nhận thức sâu sắc rằng, chỉ có xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn thì mới phát hủy được tinh thần yêu nước, mới tập hợp và đoàn kết được các tầng lớp nhân dân vào nhiệm vụ chống ngoại xâm với tinh thần “Bách tính giai binh”, tức trăm họ là binh. Đó chính là tinh thần “sát thát” tràn đầy hào khí Đông A dưới thời nhà Trần; tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
   3, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”,… trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chính tinh thần đó là động lực tạo sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Không những vậy, mục tiêu đúng đắn của các cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta còn thức tỉnh lương tri của những kẻ lầm đường lạc lối, những người lính bên kia chiến tuyến và sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân nước đi xâm lược.
Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mục tiêu của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người càng mang đậm tính nhân văn cao cả. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu giải phóng dân tộc trước hết là để người cày có ruộng, để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
   4. Đó thực sự là hoài bão, là khát vọng mãnh liệt, thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc của Người. Người khẳng định, cách mạng Việt Nam phải theo con đường cách mạng vô sản - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì người dân mới thực sự được hưởng tự do, hạnh phúc, bởi “nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
   5. Mục tiêu cao cả, mang đậm tính nhân văn đó đã trở thành động lực tập hợp quảng đại quần chúng xung quanh Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, hình thành nên sức mạnh của toàn dân tộc, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ hai, về mối quan hệ giữa nhân nghĩa và quyền mưu. Trong chiến tranh, yếu tố nhân nghĩa và quyền mưu luôn chi phối, tác động đến mỗi bên tham chiến. Trong khi phần lớn các dân tộc trên thế giới đều cho rằng, quyền mưu là thuộc tính cao nhất của người làm tướng thì dân tộc ta luôn coi nhân nghĩa là nền tảng và là một nét đặc sắc trong truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam. Nhân nghĩa chính là chính nghĩa, là nhân tố tinh thần; là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước; là tư tưởng an dân đi từ lòng thương người, yêu chuộng lẽ phải; là hành động cứu khổ, cứu nạn cho dân thoát ra khỏi cảnh lầm than, nô lệ của họa mất nước. Vì vậy, nhân nghĩa là thể hiện sâu sắc của tính nhân văn cao cả. Quyền mưu là mưu mẹo, là những biện pháp, thủ đoạn, mưu kế quân sự xuất phát từ người chỉ huy để ứng phó, giải quyết các tình huống chiến tranh và để chỉ huy binh sĩ chiến đấu giành chiến thắng. Trong mối quan hệ giữa nhân nghĩa với quyền mưu, ông cha ta luôn lấy nhân nghĩa làm đầu, với tư tưởng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” dựa vào dân là điều quyết định hơn hết sự thành công của công cuộc chống ngoại xâm.

Thực tiễn lịch sử giữ nước của dân tộc ta cho thấy, có nhân nghĩa mới tập hợp được “bốn phương manh lệ”, mới chuyển được yếu thành mạnh, ít thành nhiều để có thể chiến thắng kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn. Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, Nguyễn Trãi là người có công lớn, không những về tài thao lược quân sự, mà còn củng cố và nêu cao tính nhân văn, nhân nghĩa. Ông luôn căn dặn, giáo dục nghĩa quân phải “hun đúc điều nhân nghĩa”, kiên định mục tiêu của cuộc khởi nghĩa là đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, giành lại cuộc sống hòa bình, ấm no cho nhân dân. Tháng 6/1426, trong thư gửi cho tướng giặc là Phương Chính, Nguyễn Trãi đã chỉ rõ: “Đạo làm tướng phải lấy nhân nghĩa làm trọng mà khinh quyền mưu”. Kế thừa tư tưởng nhân nghĩa của dân tộc, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định “Dụng binh là việc làm nhân nghĩa để cứu dân, cứu nước”.

Như vậy, sức mạnh của dân tộc Việt Nam là đáp số của sự hội tụ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhân nghĩa và quyền mưu, được thể hiện trước hết ở sự kết hợp giữa đức và tài của người lãnh đạo với lòng nhân ái và trí tuệ của nhân dân. Hội tụ được nhân nghĩa của người lãnh đạo với lòng nhân ái cao cả thì thành đại nghĩa của cả dân tộc. Hội tụ được quyền mưu của người lãnh đạo với trí tuệ to lớn của nhân dân thì thành trí tuệ của dân tộc. Phát huy trí tuệ dựa trên nền tảng đại nghĩa của dân tộc thì sẽ phát huy được sức mạnh to lớn của cả dân tộc để giành thắng lợi trong chiến tranh. Như vậy, xét cho cùng, sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta trước kẻ thù xâm lược chính là sức mạnh của đại nghĩa gắn với trí tuệ, văn hóa dân tộc Việt Nam.

Thứ ba, tư tưởng nhân đạo, lòng yêu thương con người và ứng xử với người theo lẽ phải. Thực tiễn lịch sử dân tộc ta cho thấy, trước âm mưu thôn tính của các thế lực ngoại bang, ông cha ta luôn tìm mọi cách để chiến tranh không xảy ra. Thời trung đại, các triều đình Đại Việt thường phải kiên trì tiến hành những cuộc bang giao mềm dẻo để tránh binh đao đổ máu. Khi buộc phải tiến hành chiến tranh, để giành và giữ độc lập, dân tộc ta luôn muốn chấm dứt chiến tranh càng sớm càng tốt, nhằm đỡ tốn xương máu, tiền của cho cả hai bên, tạo môi trường hữu nghị để xây dựng và phát triển đất nước. Phương châm chỉ đạo chiến tranh của dân tộc ta thường không chủ trương tiêu diệt đến tên giặc cuối cùng, mà lấy mục tiêu là đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù, buộc chúng phải rút về nước. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh, khi chủ tướng Vương Thông buộc phải chấp nhận hội thề với nghĩa quân Lam Sơn ở Nam thành Đông Quan mà lực lượng của chúng lúc đó còn tới 10 vạn quân. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khi Hiệp định Geneva năm 1954 về Đông Dương được ký kết, quân Pháp vẫn còn khoảng gần 45 vạn quân. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ mục tiêu của cuộc kháng chiến là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, chứ hoàn toàn không phải là tiêu diệt hết quân thù, bởi mục đích của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc.

Nhân dân ta thường có câu “lấy ân báo oán”, “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”,… đó là lẽ sống đầy nhân văn trong văn hóa Việt Nam. Trong chiến tranh, khi kẻ thù đã “thế cùng, lực kiệt”, “bó giáo, quy hàng”, thì dân tộc ta thường không nỡ giết hại, mà “mở lượng hải hà”, đối xử nhân đạo với tù, hàng binh, tha cho kẻ thù bại trận. Trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai của quân và dân nhà Lý, khi quân Tống lâm vào tình cảnh bế tắc, có nguy cơ bị tiêu diệt, Lý Thường Kiệt đã chủ động mở lối thoát cho kẻ địch bằng việc nghị hòa, kết thúc chiến tranh. Theo ông như thế “không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”6. Điều đó chứng tỏ được mục đích chính nghĩa và lòng bao dung, độ lượng của quân và dân ta. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo, sau khi quân địch đã rơi vào thế cùng, lực kiệt, ta đã không những không trả thù, báo oán mà còn cấp lương thảo, thuyền bè, ngựa xe cho quân Minh về nước. Trước tinh thần nhân đạo cao cả của quân và dân Đại Việt kẻ thù về đến nước mà vẫn “tim đập, chân run”.

Thấm đẫm tư tưởng nhân đạo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu rõ: “Tôi ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”7. Bởi vì Người cho rằng, kẻ phải bị lên án và trừng trị là bọn chủ mưu gây chiến, lãnh đạo, cầm đầu bộ máy chiến tranh của địch; còn đối với những người lính trực tiếp đánh trận chỉ là nạn nhân trong các mưu đồ đen tối của chúng mà thôi. Vì vậy, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta phải đối xử nhân đạo với binh lính địch đã đầu hàng.

Có thể thấy, tính nhân văn cao cả trong lịch sử quân sự Việt Nam thể hiện rõ sức mạnh của dân tộc Việt Nam không chỉ có bạo lực, mà còn biểu hiện qua cách ứng xử bằng sự bao dung và biểu hiện bằng những ngôn từ giáo hóa, bằng sự thức tỉnh lương tri. Nói cách khác, cách ứng xử của dân tộc ta để đánh thắng kẻ thù xâm lược không chỉ có bạo lực mà còn là đức hiếu sinh, lòng nhân từ có ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, sâu sắc. Vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển, vận dụng trong đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc./.
Yêu nước ST.

Các nước Pháp ngữ rất quan tâm thúc đẩy hợp tác kinh tế với Việt Nam

 

Các nước Pháp ngữ rất quan tâm thúc đẩy hợp tác kinh tế với Việt Nam

(Chinhphu.vn) - Trao đổi với Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Tổng thư ký Tổ chức quốc tế Pháp ngữ cho rằng, Việt Nam là một thị trường hấp dẫn và các nước Pháp ngữ rất quan tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với Việt Nam.

Chiều 25/3, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp bà Louise Mushikiwabo, Tổng thư ký Tổ chức quốc tế Pháp ngữ (OIF) nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam.

Tham dự buổi tiếp có lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giáo dục và Đào tạo. Cùng dự cuộc tiếp còn có các đại diện của OIF và quyền Đại diện của OIF tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Chủ tịch nước đánh giá cao việc bà Mushikiwabo chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên của Đoàn xúc tiến kinh tế và thương mại Pháp ngữ, với gần 100 doanh nhân từ các nước Pháp ngữ ở khắp các châu lục trên thế giới để kết nối, tìm kiếm các cơ hội hợp tác với Việt Nam.

Chủ tịch nước nhấn mạnh thành công của Đoàn xúc tiến thương mại, với những thỏa thuận hợp tác cụ thể được kí kết, đã góp phần củng cố và tăng tăng cường mối quan hệ truyền thống, hữu nghị, hợp tác và thuỷ chung giữa Việt Nam với nhiều nước Pháp ngữ.

Chủ tịch nước nhấn mạnh không gian kinh tế Pháp ngữ có tiềm năng hợp tác rất to lớn, cần được phát huy mạnh mẽ để đóng góp nhiều hơn nữa cho phục hồi và phát triển kinh tế ở các nước thành viên.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước chia sẻ với bà Tổng thư ký về các nỗ lực của Việt Nam trong việc thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19 nhằm tạo điều kiện đẩy mạnh công cuộc phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Bên cạnh hợp tác kinh tế, Chủ tịch nước hoan nghênh các nỗ lực và sáng kiến của bà Tổng thư ký nhằm thúc đẩy hòa bình, hợp tác và đoàn kết quốc tế, đẩy mạnh thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững, tăng cường chuyển đổi số, ứng phó với các thách thức toàn cầu như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, qua đó góp phần khẳng định vai trò của OIF với tư cách là một thể chế đa phương toàn cầu quan trọng, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.

Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Pháp ngữ, chủ động và tích cực tham gia các hoạt động và đóng góp vào các nỗ lực của Tổ chức vì hoà bình, hợp tác và phát triển của các nước thành viên và trên thế giới. 

Đặc biệt, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nêu một số đề xuất cụ thể về phương hướng thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai bên trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh việc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác Pháp ngữ; đề nghị Cộng đồng Pháp ngữ hỗ trợ Việt Nam tăng cường quan hệ hợp tác với Liên minh Châu Phi và hỗ trợ đào tạo chuyên môn và tiếng Pháp cho các chiến sĩ quân đội và sắp tới là công an của Việt Nam tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại các nước Pháp ngữ tại Châu Phi.

Chủ tịch nước cảm ơn và đánh giá cao sự quan tâm của Pháp ngữ về vấn đề Biển Đông và mong Pháp ngữ tiếp tục quan tâm đến hòa bình và ổn định tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, ủng hộ việc duy trì an ninh và tự do hàng hải cũng như những nỗ lực nhằm đưa Biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng.

Bà Tổng thư ký khẳng định Việt Nam là một thành viên rất quan trọng của Pháp ngữ và hoan nghênh vai trò tích cực của Việt Nam trong thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các thành viên của Pháp ngữ.

Bà cho rằng Việt Nam là một thị trường có sức hấp dẫn, hết sức ngưỡng mộ các thành tích phòng chống và kiểm soát dịch COVID-19 tại Việt Nam. Bà cũng nhấn mạnh các nước Pháp ngữ rất quan tâm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với Việt Nam. Đây cũng là lý do Việt Nam là điểm đến đầu tiên của Đoàn xúc tiến thương mại và là quốc gia thành viên đầu tiên bà Tổng Thư ký đi thăm sau hai năm gián đoạn bởi dịch bệnh COVID-19.

Bà Tổng Thư ký đánh giá cao và cam kết sẽ hết sức nỗ lực ủng hộ các đề xuất của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Pháp ngữ./.

 

Lan tỏa giá trị tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư về xây dựng chủ nghĩa xã hội

 

Lan tỏa giá trị tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư về xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thứ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Tỏ khẳng định: Thông qua Tọa đàm khoa học góp phần quán triệt, lan tỏa giá trị tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư, không chỉ nâng cao nhận thức, tư tưởng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân mà còn vận dụng quan điểm, tư tưởng chỉ đạo vào thực tiễn công tác Công an...

Chiều 25/3, tại Hà Nội, Bộ Công an phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật tổ chức Tọa đàm khoa học: Giá trị tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và ý nghĩa đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự hiện nay.

Chủ trì buổi tọa đàm có các đồng chí: Thượng tướng, PGS.TS Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng; Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương; PGS.TS Phạm Minh Tuấn, Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật; Trung tướng, PGS.TS Trần Vi Dân, Giám đốc Học viện Chính trị CAND.

Tham dự tọa đàm có trên 450 đại biểu, khách mời đại diện đơn vị trong và ngoài lực lượng Công an nhân dân, các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn, cùng cán bộ, giảng viên đang công tác, học tập tại Học viện Chính trị Công an nhân dân.

Phát biểu đề dẫn tại tọa đàm, Thứ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Tỏ cho biết, vừa qua Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản và ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là tác phẩm có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Tỏ nhấn mạnh, bằng những lập luận chặt chẽ, logic, sâu sắc, chắt lọc, đúc kết từ thực tiễn phong phú, khoa học trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, với tinh thần kiên định, vững vàng, bản lĩnh, trọng trách và tâm huyết người đứng đầu của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã luận giải một cách thuyết phục, từng bước trả lời những câu hỏi thời đại về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư có ý nghĩa về cả tầm tư tưởng, lý luận và thực tiễn; luận giải đúng, đi thẳng vào vấn đề căn bản, phức tạp, cấp thiết nhất với dẫn chứng sinh động, lập luận chặt chẽ, thuyết phục từ thực tiễn; tính khoa học sâu sắc mà ngôn ngữ diễn đạt gần gũi, dung dị, làm sáng rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Tác phẩm tập hợp 29 bài viết, được tác giả phân tích, tổng kết thực tiễn, phát triển, hoàn thiện lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cũng như những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đồng thời vận dụng vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Cuốn sách đã nhận được sự chú ý, đón nhận đặc biệt của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ khẳng định, thông qua Tọa đàm sẽ góp phần quán triệt, lan tỏa giá trị tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư, không chỉ nâng cao nhận thức, tư tưởng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ CAND mà còn vận dụng quan điểm, tư tưởng chỉ đạo vào thực tiễn công tác Công an, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Kết quả Tọa đàm khoa học sẽ góp phần cung cấp thêm những luận cứ hữu ích phục vụ cho Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an báo cáo các cấp có thẩm quyền tham vấn trong quá trình xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và hiện đại vào năm 2030.

Chia sẻ tham luận với chủ đề “Tầm nhìn mới về chủ nghĩa xã hội trong tác phấm của Tổng Bí thư”, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Phó Chủ tịch Hội Triết học Việt Nam nêu rõ, tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư đã đặt ra nhiều câu hỏi và lý giải sâu về từng câu hỏi ấy với một tầm nhìn mới về CNXH và con đường đi lên CNXH phù hợp với điều kiện của nước ta trong bối cảnh tình hình thế giới đương đại đầy rẫy mâu thuẫn, vô cùng phức tạp và hết sức khó lường cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với tốc độ một ngày bằng 20 năm đang thay đổi bộ mặt đời sống xã hội đương đại như C.Mác đã từng dự báo cách đây hơn một thế kỷ.

Đó là những vấn đề như CNXH là gì? và nước ta đi lên CNXH bằng cách nào? Chúng ta phải định hình CNXH ra sao và xác định định hướng đi lên CNXH như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm, điều kiện cụ thể ở Việt Nam? Tại sao Việt Nam lại lựa chọn con đường XHCH? Làm thế nào và bằng cách nào để chúng ta từng bước xây dựng CNXH?

Tất cả những câu hỏi đặt ra, Tổng Bí thư đã cho rằng lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn, “phải có tầm nhìn vượt trước”, phải tạo được những bước đột phá và lý luận phát triển, khai thông những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, quan điểm để phục vụ cho việc hoàn thiện thế chế, xây dựng đường lối, chủ trương, định hướng, chính sách phát triển; khơi dậy khát vọng và phát huy ý chí, quyết tâm vươn lên của cả dân tộc.

GS,TS Hoàng Chí Bảo, chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương khẳng định, tác phẩm giàu tính lý luận và tổng kết thực tiễn của Tổng Bí thư là một quyển sách quý không chỉ đối với giới lý luận và giới trí thức khoa học mà còn đối với nhân dân ta, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tác phẩm góp phần to lớn vào công tác tư tưởng lý luận của Đảng, định hướng nghiên cứu của nền khoa học – xã hội ở nước ta, nhất là trong việc củng cố niềm tin khoa học, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, chủ động đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống chủ nghĩa xã hội, chống phá Đảng… Tác phẩm của Tổng Bí thư còn mang ý nghĩa truyền cảm hứng cho toàn Đảng, toàn dân ta, củng cố sức mạnh từ ý Đảng - lòng dân, nêu cao quyết tâm, đồng tâm, ra sức thực hiện thành công Nghị quyết của Đại hội làn thứ XIII của Đảng.

Tiếp cận tác phẩm của Tổng Bí thư về chủ đề sự nghiệp “trồng người”, GS.TS Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, khẳng định “sự biến đổi sâu sắc về chất” mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập trong tác phẩm, trước hết và quan trọng nhất chính là quá trình lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp của sự hình thành, phát triển của con người, của CNXH. Đó là một quá trình suy nghĩ, đúc kết từ thực tiễn để chọn lọc, tiếp nhận, đấu tranh, sáng tạo không mệt mỏi.

Tiếp cận tác phẩm trên phương diện an ninh, Thiếu tướng, GS,TS Nguyễn Phùng Hồng, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Công an nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành An ninh đánh giá, giá trị cốt lõi về lý luận và thực tiễn trong tác phẩm của Tổng Bí thư trên bình diện an ninh có nhiều vấn đề, nhưng cốt lõi nhất của tác phẩm là củng cố niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng; xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đi lên CNXH ở Việt Nam. Đó là cơ sở để xây dựng, củng cố niềm tin, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp tiến hành sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, phục vụ một cách thiết thực, đắc lực, hiệu quả của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Tại tọa đàm, với hơn 60 bài tham luận và ý kiến phát biểu của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong và ngoài lực lượng CAND đã phân tích, đánh giá, làm sáng rõ, phong phú giá trị lý luận cốt lõi về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; làm rõ giá trị ý nghĩa lý luận và thực tiễn tác phẩm của Tổng Bí thư trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, thống nhất cho rằng những nhận thức tư tưởng mới trong tác phẩm của Tổng Bí thư có ý nghĩa to lớn, là định hướng quan điểm chỉ đạo quan trọng đối với thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn hiện nay và thời gian tiếp theo.

 

TUNG TIN XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC

Vừa qua, trang tin RFA bản tiếng Việt đã đăng tải bài viết xuyên tạc về nguy cơ khủng bố ở Việt Nam, đồng thời lừa phỉnh, xúi giục những người nhẹ dạ cả tin ủng hộ hoặc tham gia vào các tổ chức phản động, chống phá đất nước như Việt Tân, Triều Đại Việt…

CÓ HỌC NHƯNG THIẾU VĂN HÓA!

Theo “trào lưu” của những kẻ cơ hội chính trị, vừa qua trên facebook cá nhân, ông Nguyễn Văn Dân Không chỉ bất kính, mà còn thể hiện rõ quan điểm chính trị của ông ta là không thừa nhận những công lao to lớn mà Đảng ta và Bác Hồ kính yêu đã mang lại cho dân tộc Việt Nam, bộc lộ rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Những biểu hiện không thể xem thường

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là vấn đề có tính nguyên tắc, quy định pháp lý mà mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội phải tuyệt đối chấp hành, thực hiện thống nhất.

PHẢI LÀ BA LAN CHỨ, VERESHCHUK!

         Sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Hungary Peter Szijjarto cho biết, Budapest không ủng hộ các hình phạt nhắm vào khí đốt và dầu mỏ của Nga (*), Phó Thủ tướng Ukraine Irina Vereshchuk đã đăng bài chất vấn "động cơ" của Hungary.
Vereshchuk lên án Hungary "thân Nga" và nói rằng, có thể khát khao về "khí đốt Nga giá rẻ" hoặc thậm chí là mong muốn chiếm lãnh thổ Ukraine có thể là động cơ thúc đẩy chính sách của Hungary trong cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine.
Vereshchuk đã liệt kê hàng loạt những động thái thể hiện lập trường của Hungary: KHÔNG ủng hộ các biện pháp trừng phạt Nga, TỪ CHỐI cung cấp vũ khí cho Ukraine và thậm chí "KHÔNG cho phép vũ khí từ các nước khác đi qua lãnh thổ của họ" sang Ukraine.
“Họ nói KHÔNG với mọi thứ. Chỉ một chút nữa thôi là họ sẽ trở nên hoàn toàn thân Nga. Đây là cái gì vậy? Họ muốn khí đốt giá rẻ của Nga sao? Hay họ muốn Transcarpathia (**) của chúng tôi?" - Vereshchuk nhắc nhở Hungary "không lặp lại những sai lầm thời Thế chiến II" khi đưa ra lựa chọn sai lầm.
“Ủa!!! Sao lại nhắc Hungary bài học Thế chiến hai? Về dầu mỏ và khí đốt của Nga thì đúng rồi. Còn mong muốn chiếm lãnh thổ thì phải là Ba Lan chứ, Vereshchuk!” - một dân biểu Hungary ngay lập tức đáp.

Ở DIỄN BIẾN KHÁC
Trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh NATO tổ chức ở Brussels (Bỉ) hôm 24/3, phóng viên hỏi Tổng thống Mỹ Biden:
- “Liệu Ukraine có thể từ bỏ một phần lãnh thổ để chấp nhận các điều kiện đàm phán hòa bình của Nga hay không?”
- “Các cuộc thảo luận vẫn diễn ra mà không có sự tham gia của Mỹ” - Biden trả lời - “Nếu Ukraine muốn nhượng bộ về bất kỳ phần lãnh thổ nào để chấm dứt xung đột với Nga, Mỹ sẽ tôn trọng quyết định đó”, - Biden cho biết.
Trong khi đó - cùng thời gian hội nghị thượng đỉnh NATO - về phía Nga, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova tuyên bố: “Ukraine đã mất cơ hội tồn tại như một quốc gia độc lập", “Họ đã được trao cơ hội này vào năm 2014, 2015".
Cay! Cay quá Vereshchuk.

P/s: Tin mới nhất, thành phố Lzyum thất thủ; QĐ Nga chiếm trung tâm, cứ điểm chiến lược Mariupol, Ukraine bên bờ vực sụp đổ.
(*): Mặc dù chính phủ Hungary, một quốc gia thuộc khối NATO do Mỹ dẫn đầu, đã lên án "chiến dịch quân sự đặc biệt" của Nga ở Ukraine và ủng hộ một số biện pháp trừng phạt, họ vẫn nhất quán bảo vệ mong muốn "đứng ngoài" cuộc xung đột và từ chối tham gia hỗ trợ vũ khí cho Ukraine cùng các nước khác.
(**): Một tỉnh ở phía tây nam Ukraine, có đường biên giới với Ba Lan, Slovakia, Hungary và Romania./.


Yêu nước ST.

"NHÌN THẤU TOAN TÍNH ANH LÁNG GIỀNG"!

         Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
 Được biết, John Aquilino - Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mẽo hôm 20/3 cho biết, hoạt động xây dựng kho tên lửa, nhà chứa máy bay chiến đấu, hệ thống radar và các cơ sở quân sự khác của TQ trên đá Vành Khăn, đá Subi và đá Chữ Thập dường như đã hoàn tất.
 TQ từ năm 2014 đến nay đã ồ ạt bồi đắp trái phép, biến các thực thể này thành các đảo nhân tạo với tổng diện tích trên 13km2, chiếm khoảng 95% tổng diện tích các đảo tự nhiên và đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa. TQ đã bồi đắp, mở rộng diện tích quy mô lớn 6 bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, gồm: Chữ Thập, Ga Ven, Châu Viên, Gạc Ma, Tư Nghĩa và Vành Khăn trong tổng số 7 thực thể do nước này chiếm đóng trái phép thành các đảo nhân tạo.
Hiện cộng đồng quốc tế, nhất là các nước khu vực, đều đã nhìn thấu toan tính của TQ, TQ đã bất chấp chủ quyền hợp pháp của Việt Nam, bất chấp luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc tế Luật Biển năm 1982 (Công ước UNCLOS 1982), để chiếm đóng bằng được các đảo và thực thể trên nhằm toan tính thực hiện “mục tiêu kép” sâu xa.
Trước hết, TQ muốn dựa vào các đảo và thực thể mà họ đã dùng vũ lực chiếm đóng trên Biển Đông nhằm đòi chủ quyền theo yêu sách “đường lưỡi bò 9 đoạn” (còn gọi là “đường lưỡi bò”, “đường 9 đoạn”) công bố năm 2019 mà theo đó đòi chủ quyền đối với khoảng 80% diện tích Biển Đông.
Sau là hòng biến đây thành các căn cứ quân sự để khống chế Biển Đông, tạo bàn đạp cho việc áp đặt chủ quyền vốn đã bị bác bỏ theo luật pháp quốc tế.
Lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)./.

Môi Trường ST.

VIỆT NAM ỦNG HỘ VÀ SẴN SÀNG THAM GIA CÁC NỖ LỰC NHÂN ĐẠO ĐỐI VỚI UKRAINE!

         Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, tái khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.
Ngày 23/3, Đại hội đồng Liên hợp quốc tiếp tục tổ chức Phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 để thảo luận về tình hình Ukraine, tập trung vào tình hình nhân đạo, với sự tham dự của Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc Enrique Manalo thay mặt Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc, cùng đại diện hơn 60 nước, tổ chức khu vực.
Phát biểu ý kiến tại cuộc họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, tái khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Chia sẻ quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế về tình hình nhân đạo do chiến sự gây ra tại Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh ưu tiên cấp bách hàng đầu hiện nay cần tập trung vào việc dừng chiến sự, bảo vệ dân thường và cơ sở hạ tầng dân sự thiết yếu, triển khai các hoạt động nhân đạo và sơ tán công dân.
Đại sứ Đặng Hoàng Giang cũng khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với nỗ lực nhân đạo của Tổng Thư ký, các cơ quan Liên hợp quốc, các nước trong khu vực và đối tác quốc tế và sẵn sàng đóng góp cho các hoạt động cứu trợ nhân đạo của Liên hợp quốc đối với Ukraine trong điều kiện và khả năng cho phép. 

Phiên họp khẩn cấp dự kiến sẽ tiếp tục diễn ra trong ngày 24/3 và có thể một nghị quyết thứ hai về Ukraine sẽ được đưa ra bỏ phiếu./.
Môi Trường ST.

Người thầy tâm huyết

Giản dị, chân thành, hòa đồng trong cuộc sống; tận tụy, tâm huyết với nghề… là những phẩm chất thường trực của Thiếu tá, Thạc sĩ, Dương Đức Mạnh - giảng viên Bộ môn Lý luận, Khoa Khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV), Trường Trung cấp Kỹ thuật PK-KQ.

Đã hết giờ làm việc buổi chiều nhưng tại phòng làm việc của Bộ môn Lý luận Khoa KHXH&NV, Thiếu tá Dương Đức Mạnh vẫn ngồi lật giở từng trang giáo án và tìm kiếm, bổ sung những dẫn chứng sinh động, thời sự chuẩn bị cho buổi lên lớp ngày hôm sau. Thấy chúng tôi tới thăm, anh tươi cười cho biết: “Để giảng dạy được tốt môn lý luận, đặc biệt là các môn chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… đòi hỏi giáo viên không chỉ nắm chắc kiến thức từ giáo án, bài giảng đã được thông qua, mà còn phải nghiên cứu liên hệ, mở rộng những kiến thức ấy vào thực tiễn cuộc sống; thường xuyên cập nhật, nắm bắt các thông tin chính trị - thời sự, đường lối, quan điểm, chủ trương mới của Đảng; những bài nói, bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là sự vận dụng sáng tạo lý luận của Đảng ta vào thực tiễn lãnh đạo cách mạng đất nước… Từ đó, làm sáng tỏ những vấn đề, nội dung trong bài giảng, lấy ví dụ, dẫn chứng sát giữa lý luận với thực tiễn, giúp học viên hiểu sâu kiến thức. Đây cũng là điều mà tôi luôn trăn trở trước mỗi giờ lên lớp”.

Thiếu tá Dương Đức Mạnh đã từng trải qua nhiều cấp học, từ trung cấp chuyên ngành Ra đa - Máy tính Zcy-23M đến cử nhân chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước và thạc sĩ chuyên ngành Triết học, các cấp học anh đều tốt nghiệp loại giỏi. Năm 2016, Thiếu tá Dương Đức Mạnh được về nhận công tác tại chính ngôi trường mà mình đã học tập, công tác trước đây. Đó là vinh dự lớn, nhưng cũng gắn trách nhiệm rất nặng nề đối với một giáo viên trẻ mới ra trường.

Hiểu hơn ai hết với ngôi trường mình đã từng học, ngay từ những ngày đầu đứng lớp, Thiếu tá Dương Đức Mạnh cẩn thận chuẩn bị kỹ từng công đoạn, từ giáo án, nội dung kiến thức, phương pháp, kỹ năng sư phạm đến những chi tiết nhỏ như cách viết bảng, cách đi lên, xuống bục giảng, âm lượng, giọng điệu như thế nào cho phù hợp… Tất cả đều được anh thục luyện chu đáo để mỗi khi đứng trên bục giảng có thể đem kiến thức truyền đạt cho các học viên, giúp học viên hứng thú và yêu thích các môn học lý luận. Và sau mỗi giờ giảng, anh đều tranh thủ dành thời gian để rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, nội dung kiến thức và cách truyền đạt để kịp thời chỉnh sửa cho những giờ tiếp theo. Chính vì vậy, hiện nay anh giảng cho nhiều lớp, nhiều đối tượng nhưng mỗi đối tượng anh lại có một phương pháp giảng dạy phù hợp.

Bên cạnh đó, trong thời gian dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, kéo dài, nhiều học viên có hậu phương gia đình gặp khó khăn, điều này đã tác động đến tư tưởng, tâm tư, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài trong quá trình học tập. Nắm bắt được tâm tư ấy, trong giờ nghỉ giải lao, Thiếu tá Dương Đức Mạnh lại “đóng vai” là người anh, người đồng chí, đồng đội gần gũi tâm sự, động viên, giúp học viên có thêm nhiều nghị lực phấn đấu trong học tập và rèn luyện.

Trong 5 năm gắn bó với công tác giảng dạy, Thiếu tá, Thạc sĩ Dương Đức Mạnh đã đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng: 4 năm liền (2018-2021) là giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở, 3 năm liền (2018-2020) là “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở”, năm 2020 được Bộ Quốc phòng tặng bằng khen, năm 2021 là “Chiến sĩ thi đua toàn quân”.

Học Bác từ những điều giản dị

Nhiệt tình, giản dị trong cuộc sống, cẩn trọng, tỉ mỉ trong công việc là nhận xét chung của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 155 (Trung đoàn 250, Sư đoàn 361) về Thượng úy QNCN Mai Văn Minh - Tiểu đội trưởng Tiểu đội xe. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, anh Minh đã không ngừng nỗ lực, khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Tiểu đội xe do Thượng úy QNCN Mai Văn Minh làm Tiểu đội trưởng theo biên chế có 7 người nhưng phải quản lý 22 đầu xe các loại và đảm nhiệm một khối lượng công việc khá lớn: Bảo đảm xe cho nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ, cơ động, diễn tập, bắn đạn thật, huấn luyện hội thao, hội thi… Những năm qua, nhiệm vụ của Tiểu đội gặp không ít khó khăn do một số xe qua nhiều năm sử dụng đã xuống cấp; tay nghề của đội ngũ lái xe không đồng đều, trong khi yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao. Trước những thử thách đó, Tiểu đội trưởng Mai Văn Minh đã không khỏi băn khoăn, trăn trở. Một mặt, anh thường xuyên nhắc nhở anh em lái xe tích cực tự học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ tay nghề cho bản thân; mặt khác, anh tích cực tham mưu, đề xuất với chỉ huy đơn vị cử lái xe tham gia các đợt tập huấn do cấp trên tổ chức. Đồng thời, với bề dày kinh nghiệm trong thực tiễn công tác, anh cũng tích cực bồi dưỡng, rèn luyện tay nghề cho các lái xe và bố trí, sắp xếp công việc bảo đảm hợp lý, khoa học, phù hợp với sở trường và phát huy thế mạnh của từng người.

Là Tiểu đội trưởng, Thượng úy QNCN Mai Văn Minh luôn sâu sát trong công việc, thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc anh em duy trì nghiêm túc nền nếp bảo quản, bảo dưỡng để nâng cao chất lượng phương tiện. Hằng ngày, anh luôn là người ra bãi xe sớm nhất và thường về muộn hơn sau khi đã kiểm tra, hoàn tất mọi công việc. Nhiều năm gắn bó với công việc ở đơn vị, anh thấu hiểu tính chất công việc vất vả, khó khăn của những người được ví là “cán bộ đường lối”. Đó cũng là lý do anh luôn gần gũi, chia sẻ và sát cánh với anh em lái xe mới trong các nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; qua đó giúp Tiểu đội xe luôn đoàn kết, gắn bó với nhau như anh em một nhà. Anh Minh tâm niệm: “Dù có khó khăn, vất vả đến đâu thì bản thân tôi cũng luôn xác định tốt tâm thế là nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi được tổ chức phân công. Là người lái xe, tôi thường xuyên rèn luyện, học tập và làm theo Bác ở đức tính bình tĩnh, cẩn trọng, tỉ mỉ để bảo đảm an toàn tuyệt đối trên những cung đường”.

Có nhiều kinh nghiệm trong công tác nên anh Minh thường xuyên được cấp trên tin tưởng phân công đảm nhiệm những nhiệm vụ khó khăn, vất vả như: Cơ động diễn tập, bắn đạn thật các đơn vị phòng không năm 2021, Hội thao kíp dây chuyền lắp ráp đạn tên lửa… Nhiệm vụ nào anh cũng nỗ lực, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhất. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” năm 2017, năm 2021; cùng rất nhiều bằng khen, giấy khen mà Trung đoàn 250, Sư đoàn 361 trao tặng là những phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của anh trong nhiều năm qua.

Cán bộ trẻ năng động, nhiệt huyết

“Tiếng máy không dứt trên công trường, rộn ràng tỏa nắng giữa hồn nhiên công binh…” - đó là những câu hát trong bài “Hát lên mùa Xuân công binh” được vang lên khe khẽ từ căn phòng làm việc của Đại úy Phan Trí Thức - Trợ lý Tuyên huấn, Phòng Chính trị, Lữ đoàn 28. Qua những lời ca vừa để lấy tinh thần cho công việc, vừa là để chia sẻ với những vất vả gian khó mà các đồng đội đang miệt mài đi dựng xây những công trình xa.

Nhìn dáng vẻ thư thái trong phòng làm việc không ai nghĩ rằng Phan Trí Thức đã có thời gian gắn bó bên những công trình xây dựng. Năm 2012, tốt nghiệp Trường sĩ quan Chính trị, Phan Trí Thức nhận công tác tại Lữ đoàn 28 trên cương vị là Chính trị viên phó, Đại đội 4, Tiểu đoàn 29. Cũng từ đây, anh cùng bộ đội đi xây dựng các công trình chiến đấu ở Yên Thủy, Lương Sơn (Hòa Bình), cũng như cải tạo các sân bay: Kép, Nội Bài, Yên Bái... Có thời điểm đơn vị phân tán đi nhiều công trình, anh trực tiếp chỉ huy bộ đội ở công trường độc lập. Dù nơi sân bay bỏng rát hay giữa núi rừng buốt giá, anh vẫn không nản lòng vừa làm vừa động viên bộ đội quyết tâm vượt qua mọi khó khăn.

Sau 3 năm gắn bó với những công trình, anh được điều chuyển công tác trên cương vị Trợ lý Tuyên huấn Lữ đoàn 28. Công việc mới đặt ra những thử thách mới. Không phải vất vả như ngoài công trường sương gió nhưng cái khó lại hiển hiện trên từng trang giấy, hàng chữ. Biết bao công văn, chỉ thị, hướng dẫn, kế hoạch phải xây dựng trình thủ trưởng phê duyệt, theo dõi đôn đốc các cơ quan, đơn vị thực hiện. Đại úy Phan Trí Thức chia sẻ: “Công việc của ngành Tuyên huấn được ví von là “quanh năm bận rộn, bốn mùa khẩn trương”. Ngành chỉ có một trợ lý, nhiệm vụ lại nhiều do vậy phải tranh thủ giờ nghỉ, ngày nghỉ để giải quyết. Nhiều hoạt động phong trào nếu không cẩn thận rất dễ xảy ra sai sót ảnh hưởng đến thành tích, uy tín của đơn vị. Chính vì thế, bản thân tôi luôn phải thận trọng tỉ mỉ trong từng nhiệm vụ”.

Công việc dẫu vất vả là vậy nhưng cũng đem đến cho Phan Trí Thức niềm vui riêng. Năm 2015 anh được giao phụ trách đội văn nghệ Lữ đoàn tham gia hội diễn cấp Quân chủng. Nhờ nỗ lực luyện tập và biểu diễn, đội văn nghệ đoạt giải nhất toàn đoàn và được lựa chọn đại diện cho Quân chủng PK-KQ dự thi cấp toàn quân. Tại Liên hoan nghệ thuật quần chúng lực lượng vũ trang và thanh niên, sinh viên, đội văn nghệ đã vinh dự nhận giải xuất sắc. Trong các chương trình ghi hình như “Chúng tôi là chiến sĩ”, “Giai điệu thao trường”, “Nữ quân nhân”, anh đều xây dựng kế hoạch và tổ chức bộ đội tham gia bảo đảm chất lượng tốt. Là người có duyên với giải thưởng, qua các cuộc thi tìm hiểu, thi tuyên truyền viên, Phan Trí Thức đều đoạt giải cao. Năm 2015 anh nhận Bằng khen của thủ trưởng Tổng cục Chính trị vì có thành tích xuất sắc trong tham gia cuộc thi tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, Phan Trí Thức còn tích cực tham gia các hoạt động phong trào. Yêu văn nghệ, thích thể thao, anh đề xuất tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi trong đơn vị tạo khí thế vui tươi, phấn khởi cho bộ đội. Khi được hỏi điều gì giúp anh vừa hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn vừa tổ chức và tham gia các hoạt động phong trào hiệu quả, Đại úy Phan Trí Thức tâm sự: “Bằng sức trẻ và lòng nhiệt huyết, khi đã tận tâm với công việc, gắn bó với đơn vị thì khó khăn mấy cũng vượt qua”. Lời tâm sự giản dị ấy được anh thể hiện bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Năm 2021, anh được tặng thưởng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đó là sự ghi nhận những nỗ lực phấn đấu trong nhiều năm liền của người sĩ quan trẻ.

Tâm huyết với công tác tuyên truyền miệng

Trung tá Trương Công Pháp - Trưởng Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị Sư đoàn 377 vừa đạt giải nhất tại Hội thi chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Say mê, tâm huyết với công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên cùng với sự chuẩn bị chu đáo và tinh thần khiêm tốn học hỏi, thường xuyên trau dồi, hoàn thiện kỹ năng thuyết trình là “bí quyết” giúp anh đạt được thành tích cao tại Hội thi.

Tại Hội thi, cả 3 nội dung: Đề cương (bản thuyết trình và trình chiếu Power Point), thi thuyết trình và trả lời trực tiếp các câu hỏi, Trung tá Trương Công Pháp đều giành được số điểm cao. Đặc biệt, trong phần thi thuyết trình với chủ đề “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”; anh đã để lại ấn tượng sâu sắc với phần trình bày hấp dẫn, trên cơ sở đề cương được chuẩn bị kỹ lưỡng, phân bổ thời gian hợp lý, kết hợp minh họa bằng hình ảnh sống động và kỹ năng trình chiếu power point thành thạo. Với cách diễn đạt mạch lạc, lôi cuốn bằng chất giọng hào sảng đặc trưng của miền Nam Trung Bộ, phần thi của anh không chỉ nêu bật những vấn đề cốt lõi về quan điểm “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”; mà còn định hướng tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, đặc biệt là thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, quyết tâm bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc trong mọi tình huống.

Trung tá Trương Công Pháp cho biết, văn kiện Đại hội XIII có rất nhiều nội dung mới, đột phá của Đảng trên nhiều lĩnh vực. Trong đó quan điểm “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” không chỉ được hun đúc, kế thừa từ truyền thống “giữ nước từ lúc nước chưa nguy” của ông cha ta; mà còn thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược, tinh thần chủ động, tích cực chăm lo xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia ngay từ trong thời bình, thực hiện “nước nhà cường thịnh, giang sơn thêm vững bền”, “quốc phú, binh cường” là “kế sách” bảo vệ Tổ quốc tích cực nhất, chủ động nhất và có hiệu quả nhất; đồng thời phù hợp trong bối cảnh tình hình quốc tế hiện nay có nhiều biến động, bất trắc, khó dự báo. Vì vậy, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc quan điểm này sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng Quân đội “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong xu thế hội nhập hiện nay.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, không chỉ ghi dấu ấn từ các cuộc thi, Trung tá Trương Công Pháp còn thể hiện được trình độ, năng lực từ thực tiễn công tác ở đơn vị cơ sở. Những năm qua, trên cương vị là Trưởng Ban Tuyên huấn, anh đã thường xuyên làm tốt công tác tham mưu, đề xuất với lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 377 triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, thiết thực và trực tiếp tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác Tuyên huấn, góp phần tạo nên sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Đặc biệt, công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên ở Sư đoàn 377 được tiến hành có nền nếp, thường xuyên đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức với nhiều cách làm đa dạng, phong phú. Bên cạnh duy trì hình thức học tập và tuyên truyền tập trung, anh còn tích cực hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tổ chức tuyên truyền linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế như qua hệ thống truyền thanh nội bộ, các hoạt động tập thể, hội thi, sinh hoạt của các tổ chức, các lực lượng…

Đại tá Hàn Anh Truyền - Chính ủy Sư đoàn 377 nhận xét: “Đồng chí Pháp là một cán bộ có phẩm chất đạo đức trong sáng, trình độ chuyên môn giỏi, tâm huyết, trách nhiệm, say mê với công việc, luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tin tưởng rằng, trên cương vị là Trưởng Ban Tuyên huấn, đồng chí Pháp sẽ tiếp tục có những tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện tốt công tác Tuyên huấn, góp phần xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 377 luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, thông suốt về tư tưởng và hành động, đoàn kết, mưu trí, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ vùng trời Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Quần đảo Trường Sa của Tổ quốc”.

Dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa

Ngày 16-3-1946, tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các nước Trung Hoa dân quốc, Mỹ và Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân ký bản Hiệp định sơ bộ với Chính phủ Cộng hòa Pháp. Theo đó, Chính phủ Cộng hòa Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, Quân đội, tài chính của riêng mình và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp;

 Việt Nam chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc, thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật Bản, sau đó sẽ phải rút hết trong 5 năm. Sự chấp nhận và nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một tình thế cụ thể đã làm cho cục diện quan hệ Trung Hoa dân quốc - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Cộng hòa Pháp thay đổi. Nhân dân Việt Nam có thêm thời gian hòa bình để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến mà theo nhận định của Đảng và Nhà nước thì tất yếu sẽ xảy ra.

Mặc dù bản Hiệp định sơ bộ tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam, nhưng dư luận các đảng phái quốc gia và thân nước ngoài như Việt Cách, Việt Quốc vẫn lên tiếng phản đối, một bộ phận nhân dân còn băn khoăn. Trước tình hình đó, ngày 16-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp với lòng mong muốn: “Quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc... Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng “dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày vắn tắt lập trường, đường lối chính trị của Đảng, Chính phủ trước đồng bào cả nước và động viên đồng bào cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu tính sự nghiệp lớn.

Trong thời điểm ngặt nghèo của dân tộc, việc ký Hiệp định sơ bộ là một quyết định sáng suốt, một sách lược mẫu mực trong đấu tranh ngoại giao, tận dụng thời cơ, nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày nay, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, thống nhất và vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập. Lịch sử quan hệ Việt - Pháp sau những thăng trầm, quanh co của quá khứ đã được khép lại và mở ra một chương mới với tình hữu nghị, hợp tác và phát triển. Những bài học thực tiễn trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước là cơ sở vững chắc để một dân tộc luôn yêu tự do, hòa bình và công lý, cùng nhau kiên trì, đồng tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất quốc gia, cũng như trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

“Trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận”

Câu nói trên được trích trong lưu bút của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi tại cuộc triển lãm ngành Hậu cần Quân đội ngày 1-4-1958.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy nguồn lực vật chất (tài nguyên thiên nhiên, vốn liếng...) là hữu hạn; còn nguồn lực trí tuệ, khả năng sáng tạo của con người là vô hạn. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trên cương vị là Chủ tịch nước, Người đã có bài viết với tiêu đề “Tìm người tài-đức” đăng trên Báo Cứu quốc. Bài viết thể hiện sự quan tâm, trân trọng, ghi nhận, đánh giá cao, sử dụng trí thức trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; thể hiện rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải sớm đoàn kết, tập hợp đội ngũ trí thức trong nước và thu hút trí thức Việt kiều ở nước ngoài, tạo điều kiện tối đa cho trí thức phát huy tài năng, kiến thức của mình phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
    Phát huy truyền thống, kế thừa những giá trị nhân văn sâu sắc trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chương trình quốc gia và đầu tư cơ sở vật chất thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và đánh giá cao vai trò của trí thức, của khoa học công nghệ, coi đây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo trong tỷ trọng tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.

    Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phát động trong cán bộ, chiến sĩ đơn vị tích cực hưởng ứng, thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiến quân vào khoa học công nghệ… Hằng năm, toàn quân có hàng nghìn đề tài, công trình, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đưa vào ứng dụng đạt hiệu quả thiết thực, làm lợi cho Nhà nước, Quân đội nhiều tỷ đồng, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, chiến sĩ phải luôn phát huy tiềm năng trí tuệ, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.