Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Văn Hóa Hòa Bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh

    Những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có giá trị về văn hóa hòa bình, thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng của Người đối với việc thiết lập một tương lai lâu dài trong quan hệ đối ngoại và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Giá trị của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh đã đi trước thời đại và càng phát huy mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc. Văn hóa hòa bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh Thứ nhất, hòa bình là khát vọng của mỗi con người, của bất kỳ dân tộc nào và của cả nhân loại, bởi trong mấy nghìn năm qua, loài người luôn mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình. Giải thích về nguồn gốc của khát vọng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”(1). Có thể nói, tư tưởng hòa bình của Hồ Chí Minh - người chiến sĩ hòa bình quốc tế chân chính - đã được hình thành từ rất sớm và Người luôn kiên định theo đuổi tư tưởng này trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình. Ngày 18-6-1919, trong thời gian hoạt động ở Pháp, thay mặt những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã gửi đến Hội nghị Hòa bình Véc-xây (Pháp), bản Yêu sách của nhân dân An Nam(2). Đây là hội nghị của các nước thắng trận trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bàn về phân chia lại thế giới và thiết lập một trật tự hòa bình, an ninh mới, được khai mạc vào ngày 18-1-1919, kéo dài trong vòng hai năm. Các nước thắng trận đã tuyên bố trước thế giới cuộc đấu tranh của họ là “văn minh chống dã man”, là trao trả độc lập thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã nêu tám yêu sách với những lời lẽ ôn hòa cùng cách ứng xử hòa bình. Đây là bản Tuyên ngôn văn hóa hòa bình đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thế nhưng, bản yêu sách đã không nhận được hồi âm. Tiếp đó, ngay trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đưa ra đề nghị năm điểm thông qua cựu sĩ quan tình báo người Pháp Giên Xanh-tơ-ni (Jean Sainteny) gửi tới Chính phủ Pháp, đề xuất bầu một nghị viện do một người Pháp làm chủ tịch qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Sau năm năm, muộn nhất là 10 năm, nước Pháp sẽ trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, Pháp sẽ được hưởng những ưu tiên về kinh tế. Chính phủ Pháp vẫn “im lặng”. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương (ngày 20-10-1945), Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, cống hiến của nước Pháp cho văn hóa, khoa học văn minh và nêu lên những điểm tương đồng giữa hai dân tộc là khát vọng độc lập, tự do, đồng thời kêu gọi: “Hỡi những người Pháp ở Đông Dương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình - một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da ư”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thay mặt nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi thông điệp hòa bình hữu nghị đối với nhân dân toàn thế giới. Việt Nam muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai(4). Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam”(5). Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, trong thời gian từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tám lần gửi thông điệp cho Tổng thống, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, đề nghị hòa bình. Đặc biệt trong thư ngày 10-1-1947, Người nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau”(6). Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đường lối thống nhất đất nước bằng con đường thi hành hiệp định. Người vẫn bày tỏ: “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hòa bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”(7)Thứ hai, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh thấm đậm tinh thần nhân ái, khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hòa bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung. Người nhận xét: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”(9). Người có niềm tin vào cái thiện trong mỗi con người: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”(10). Người tin rằng, những con người lầm lạc vẫn có thể cải tạo, trở thành có ích cho xã hội: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,/ Phần nhiều do giáo dục mà nên”(11). Khoan dung Hồ Chí Minh được dựa trên công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác và bất công xã hội, với những vi phạm quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lựa chọn giải pháp hòa bình, tránh bạo lực trong xung đột Pháp - Việt Nam. Người đã khôn khéo ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, rồi Tạm ước ngày 14-9-1946 với Pháp, mặc dù phải nhân nhượng rất nhiều. Người phân biệt nhân dân Pháp và thực dân Pháp, theo đó “chỉ đánh bọn thực dân, còn đối với những kiều dân không làm hại gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ phải bảo vệ tính mệnh và tài sản của họ”(12). Người đã tìm mọi cách để hạn chế những thương vong trên chiến trường cho cả hai phía. Người khẳng định “trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”(13). Để hạn chế thương vong, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng binh vận, địch vận. Tại Hội nghị quân sự lần thứ năm (tháng 8-1948), Người nhắc nhở: “Địch vận là tìm cách làm sao phá được địch mà không phải đánh. Cái đó là việc chính trị”(14). Mặt khác, Người cũng luôn nhắc nhở nhân dân và chiến sĩ phải đối xử nhân văn với tù binh Pháp. “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng... Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh”(15), “một dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý, nhân đạo”(16). Đối với người Việt Nam “ở phía bên kia”, Người nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài... Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta... Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ”(17). Tấm lòng khoan dung, độ lượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ. Họ đã đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ, hy sinh. Không chỉ với những người lầm lạc mà cả với những người đối lập, Người cũng thể hiện một tấm lòng khoan dung, độ lượng khi họ đã ăn năn, hối cải. Thứ ba, hòa bình trong văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là hòa bình chân chính trong độc lập, tự do. Hòa bình không có nghĩa là đầu hàng, nhân nhượng trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc. Trước hết, hòa bình phải đi liền với độc lập dân tộc, là chân lý, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cuộc đời đấu tranh cho độc lập và củng cố độc lập dân tộc. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Người đã trích bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 và khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(18). Trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, Người nói rõ: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do... Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”(19). Người kêu gọi nhân dân Pháp: “Hỡi những người Pháp ở Đông Dương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình - một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da ư”(20). Ngày 1-1-1966, trong bức thư chúc mừng nhân dân Mỹ nhân dịp đầu năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình, nhưng hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thực sự. Vì đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cho nên nhân dân Việt Nam phải chống lại để bảo vệ độc lập và gìn giữ hòa bình”(21). Đáp lại luận điệu vu cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “phá hoại hòa bình”, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với thế giới: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, nhưng hòa bình không thể tách rời độc lập dân tộc. Nhân dân Việt Nam biết rằng muốn có hòa bình thực sự thì phải có độc lập thực sự; và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình”(22). Trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn, Người khẳng định: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự”(23). Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ mọi cơ hội hòa bình, nhưng kiên quyết đấu tranh chống chiến tranh. Người là hiện thân cho ý chí quyết tâm giành độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức. Tháng 7-1945, Người nói: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(24). Tinh thần đó được thể hiện mạnh mẽ trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(25). Ngay sát thời điểm nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc do thực dân Pháp gây hấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh... Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách... Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Chúng tôi không lạ gì những điều đang đợi chúng tôi... Dù sao, tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy”(26). Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(27). Tha thiết với hòa bình nên khi xung đột xảy ra, Người kiên trì thuyết phục Chính phủ Pháp “lập lại ngay nền hòa bình để tránh cho hai nước chúng ta khỏi bị hao người thiệt của, và để gây lại sự cộng tác và tình thân thiện giữa hai dân tộc chúng ta”(28). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người đã đưa ra nhiều sáng kiến chấm dứt cuộc chiến. Đặc biệt, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn, ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”(29). Về giải pháp giải quyết cuộc chiến tranh, Người khẳng định: “Chỉ cần để quốc Mỹ chấm dứt xâm lược, chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân Việt Nam giải quyết lấy công việc của mình như Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định, thì tức khắc có hòa bình ở Việt Nam”(30). Thứ năm, một nét đặc biệt của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là trong chiến tranh sẵn sàng tạo điều kiện cho kẻ thù rút lui trong danh dự. Người cho rằng, đối với kẻ thù, cái chính là đánh bại ý chí xâm lược của chúng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi xuất hiện khả năng thương lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “nếu Chính phủ Pháp muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng, và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình, thì nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sẵn sàng nói chuyện”(31). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi ý chí xâm lược của Mỹ bị đánh bại, Việt Nam đã cùng Mỹ thương lượng hòa bình để chấm dứt chiến tranh. Người cũng nêu ra một cách giải quyết mang đậm tính nhân văn, đó là sẵn sàng “trải thảm đỏ” hay nối “nhịp cầu vàng”(32) để Mỹ rút quân về nước. Trong công tác tuyên truyền, sau Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các chiến sĩ: Ta chiến thắng rồi công tác tuyên truyền chỉ nên biểu dương tinh thần anh dũng của quân dân ta, không nên sỉ nhục Pháp. Vì như thế sẽ kích động tinh thần tự ái dân tộc của họ. Sau này đối với Mỹ, Bác cũng căn dặn như thế(33).

“Ngoan đột xuất, tốt nhất thời”

 Dạo này đi đâu cũng nghe người ta bàn tán chuyện nhân sự cấp ủy khóa mới. Ai cũng biết rằng, cùng với chuẩn bị văn kiện thì chuẩn bị nhân sự là hai nhiệm vụ quan trọng nhất đối với đại hội đảng các cấp. Nhưng trên thực tế, nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức, nếu không nói là xem nhẹ, lơi lỏng việc chuẩn bị văn kiện bảo đảm chất lượng, mà chỉ nhăm nhăm, ngấm ngầm lo toan cái chuyện “ai vào, ai ra” cấp ủy khóa mới. Thậm chí, cũng chỉ vì mong muốn bằng mọi giá được “có chân” trong cấp ủy khóa mới mà thời nay còn nảy sinh một loại người cơ hội mới “ngoan đột xuất, tốt nhất thời”.

Gọi là “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” vì trong cả nhiệm kỳ họ là người không nổi trội về chuyên môn, chẳng xuất sắc về năng lực, quan hệ ứng xử với mọi người có khi “nhất bên trọng, nhất bên khinh”, thậm chí nịnh trên, nạt dưới; nhưng từ khi biết mình có khả năng nằm trong (hoặc tiếp tục nằm trong) “tầm ngắm” của cấp ủy khóa mới, họ lươn lẹo hình thức ứng xử và chú tâm “đánh bóng” bề ngoài nhằm tạo ra “hình ảnh thân thiện” nhất thời đối với người khác.

Thực hiện phương châm ứng xử “gió chiều nào, che chiều ấy”, họ luôn nói năng, giao tiếp mềm mỏng, nhã nhặn, nhún nhường để hy vọng làm hài lòng tất cả mọi người trong cơ quan, đơn vị. Với cấp trên thì một mực “dạ, vâng”, thủ trưởng nói gì “em” cũng tuân lệnh, lãnh đạo bảo gì “em” cũng nghe theo. Với cấp dưới, làm việc gì họ cũng khen tốt, nói cái gì họ cũng bảo hay. Với đồng nghiệp thì họ rất niềm nở, mỗi khi mở miệng là “anh anh - chú chú”, “cậu cậu - tớ tớ” ngọt như mía lùi, nghe rất dễ xiêu lòng!

Nhưng “cao tay” hơn, có người còn âm thầm thực hiện cái gọi là chiến thuật “vây, lấn, tấn, diệt”; “bao vây” với tất cả những ai có thể mang lại lá phiếu, lợi ích cho mình, tìm mọi cách lân la, gần gũi, lôi kéo những người “đồng hương, đồng môn, đồng niên” và triệt để lợi dụng “nhóm lợi ích” để tạo ra vây cánh nhằm chiếm ưu thế áp đảo trong các cuộc bầu bán; tìm đủ thứ chiêu trò để tiếp cận, “lấn chiếm”, chi phối, mua chuộc tình cảm của người khác bằng cả lợi ích vật chất và tinh thần để “dụ dỗ” được càng nhiều người ủng hộ mình càng tốt. Thậm chí, họ kín đáo dùng đủ mọi mánh khóe để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của những nhân sự vốn được coi là “đối phương, đối thủ” tiềm tàng hay trực tiếp của họ trong cuộc bầu cử. Mục đích của họ là ngấm ngầm “tấn công” nhằm làm giảm thiểu, suy yếu, tiêu hao những lá phiếu có thể dành cho nhân sự khác, cốt để “nâng mình, hạ người”, triệt hạ đối phương đến cùng.

Có một thực tế đáng buồn là không phải ai cũng phát hiện được những kẻ “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” đó, vì loại người này bề ngoài lúc nào cũng tỏ ra xởi lởi, hào nhoáng, thân tình với người khác, nhưng thực chất họ là những “diễn viên siêu hạng” trong ứng xử, vì “cái ngoan” của họ là do tình thế bắt buộc “phải ngoan”, chứ cái ngoan đó không thực lòng, thực chất và “cái tốt” của họ là do hoàn cảnh đòi hỏi “phải tốt” giả vờ, chứ đâu phải cái tốt từ cái tâm, cái thiện chân chính. Như một con tắc kè đổi màu, những kẻ “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” rất giỏi trong việc khéo léo che mắt thiên hạ, khi thì uốn éo “đóng rắn, giả lươn” không dễ ai hay; lúc lại ra vẻ ngây thơ “cưa sừng làm nghé” nhằm tạo thiện cảm với người tiếp xúc, trò chuyện. Cách “mị dân” siêu khéo của những kẻ “ngoan đột xuất, tốt nhất thời” khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân viên cấp dưới dễ bị đánh lừa nên không phân biệt được đâu là bản chất, đâu là hiện tượng, từ đó nhẹ dạ, cả tin rồi hồn nhiên tiếp tay bầu họ vào cấp ủy khóa mới, trong khi lại vô tâm loại bỏ những nhân tố tích cực, tiến bộ khác.

Không phải ngẫu nhiên mà người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta từng cảnh báo rằng, đối với cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm làm công tác nhân sự đại hội, khi giới thiệu, đề cử ai vào cấp ủy khóa mới thì phải rất tỉnh táo, tinh tường, chứ “đừng nhìn gà hóa cuốc”, “đừng thấy đỏ mà tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”. Những lời cảnh tỉnh đó như nhắc nhở chúng ta - những cán bộ, đảng viên khi dự đại hội đảng các cấp được vinh dự cầm lá phiếu bầu trên tay - phải rất đề cao cảnh giác với những người “ngoan đột xuất, tốt nhất thời”, kiên quyết ngăn ngừa, không để những kẻ cơ hội “siêu tinh vi” này “chui” vào cấp ủy các cấp, vì họ chính là mầm mống gây ra tai họa khôn lường cho Đảng, cho nước, cho dân./.

Đừng lạm dụng phê bình để hạ bệ nhau!

 Đánh giá cán bộ là một công việc khó. Chính vì vậy, Đảng ta thông qua các đợt sinh hoạt chính trị để tổ chức kiểm điểm, phê bình, đánh giá cán bộ một cách nghiêm túc, khách quan. Nhưng nếu cách làm này không quán triệt tốt các mục đích, yêu cầu do cấp trên đặt ra thì dễ xảy ra tình trạng kiểm điểm qua loa, làm cho có lệ theo kiểu tập thể thì “thanh toán chương trình”, cá nhân thì “nín thở qua cầu”, bởi chẳng ai “dài hơi” mà đi phê bình người khác rồi có khi phải “chuốc oán” vào thân! Có khi thấy việc sai trái của người khác rõ như ban ngày nhưng cố tình làm thinh hoặc có góp ý thì cũng góp ý cho có chứ chẳng có tác dụng gì. Coi như là góp phần “ghi điểm” cho người có sai phạm!

Thực tế có người lúc trước có thể có sai lầm nhưng không phải vì thế mà họ sai lầm mãi. Cũng có những người từ trước đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này bản thân họ không mắc sai phạm? Bởi vậy mới nói, quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau. Nếu muốn xem xét, đánh giá một cán bộ, phải đặt và xem xét người đó trong toàn bộ quá trình công tác, cả lúc khó khăn và khi thuận lợi, không chỉ xem xét mặt ngoài mà còn phải xem bản chất bên trong của con người họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem xét họ trong cả quá trình công tác lâu dài. Việc xem xét, đánh giá này phải linh hoạt, không được bảo thủ, định kiến mà cần lấy kết quả công việc làm thước đo chủ yếu, dựa trên nhiều mối quan hệ, cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan, đa chiều để đánh giá đúng.

Việc ai đó cố tình đánh giá sai cán bộ hay lợi dụng phê bình để hạ bệ nhau là nhằm trục lợi kinh tế, vụ lợi chính trị hoặc “trả đũa” do thù ghét cá nhân, hay nói cách khác, những thái độ, hành vi tiêu cực trong ngụy phê bình trên chính là sản phẩm tất yếu của những người mang nặng bệnh cá nhân chủ nghĩa, đầu óc mang tư tưởng hẹp hòi… Họ tranh thủ lợi dụng “chiêu bài phê bình” này nhằm làm nhiễu loạn thông tin, đánh lừa được không ít người nhẹ dạ cả tin.

Hiện nay, các địa phương đang tiến hành tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, thì vấn đề kiểm điểm từng cá nhân và tập thể trước đại hội là việc hết sức quan trọng, “nhìn thẳng, nói thật” để làm sao lựa chọn được những cán bộ xứng đáng, trung thực, thực đức, thực tài. Công tác chuẩn bị nhân sự cơ cấu vào cấp ủy khóa mới phải gắn với việc thực hiện nghiêm túc Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động lợi dụng đại hội đảng để tố cáo sai sự thật, làm nhiễu loạn thông tin, gây hại cho Đảng ta trước thềm Đại hội XIII sắp đến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về tự phê bình và phê bình, sửa chữa khuyết điểm đã chỉ rõ: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên trên mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắn chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”(1). Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Tự phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân người đi phê bình người khác phải xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải là “soi mói”, “bới lông tìm viết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi chúng ta dù là bất cứ ai khi có điều kiện nên thẳng thắn đóng góp với nhau một cách chân tình và cởi mở trên tinh thần chân thành và xây dựng để làm cho các mối quan hệ xã hội này càng được trong sáng, tiến bộ, văn minh. Làm sao để mọi người phải thật thà, bằng lòng tử tế đối xử với nhau, đừng lạm dụng sự phê bình để hại nhau, cũng là hại ngay với chính mình./.

Nghĩ về “gốc của công việc”

 Trong một lần họp chi bộ gần đây ngồi cạnh tôi là một "lão đồng chí" đã được nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Như có ý trước, tranh thủ chưa vào cuộc họp, ông quay sang tâm sự câu chuyện đang đến hồi "nóng" về thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo vì những sai phạm Điều lệ Đảng và những quy định của Đảng.

- Cậu thấy chưa, thế mới biết câu nói của Cụ Hồ thật thấm thía: "Cán bộ là gốc của mọi công việc". Gốc hỏng, cây đổ, lẽ đương nhiên. Mà cái gì trên đời đều do con người nghĩ, sáng chế ra cả, từ cái tăm nhỏ nhất đến máy bay, tên lửa to đùng, phải không?

Lắng nghe lão đồng chí đảng viên có tuổi đời, tuổi đảng đã đi qua quá nửa thế kỷ nói, tôi thấy cũng rất tâm đắc câu: Cán bộ là gốc của công việc. Nghe và nghĩ, cán bộ dù cấp thấp đến cấp cao ở mọi lĩnh vực công tác đều là người thi hành nhiệm vụ cả, đều có nỗi nhọc nhằn, lo lắng hoàn thành công việc được giao. Nôm na là vậy nhưng vào văn bản giấy tờ thì phải viết là: hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chữ “nhiệm vụ” mang sứ mệnh lớn vì có những vị trí quản lý, lãnh đạo nắm hàng "núi" tiền, nhà, tàu, xe..., đến hàng ngàn con người dưới quyền, nếu sơ sẩy một chút thôi là ngân sách quốc gia "vơi" đi hàng nghìn tỷ đồng. Thực tế đã có sơ sẩy, đã có trả giá, do cán bộ ở vị trí đó thiếu năng lực, do coi đồng tiền cao hơn trách nhiệm, và cũng do nhiều nguyên nhân khác nữa, người cán bộ đó đã biến chất, thui chột, trở thành kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân.

Vì đâu ông hay bà cán bộ đó thoái hóa, biến chất? Lý lẽ để phân tích nguyên nhân dẫn đến sự thoái hóa, biến chất nếu nói ra, viết ra thì nhiều. Thực tế trên các văn bản của Đảng, trên các bài báo chuyên luận về công tác xây dựng Đảng, người ta đã nêu và phân tích cặn kẽ. Ở đây chúng tôi chỉ suy nghĩ gọn trong phạm vi về lập trường, bản lĩnh và sự trung thực của cán bộ, đảng viên. Hai phẩm chất đó mãi vẫn là "điểm nhấn" để đánh giá chất lượng tổ chức cũng như cá nhân cán bộ, đảng viên.

Cán bộ có lập trường, bản lĩnh và sự trung thực thì chắc chắn "gốc của công việc" sẽ vững vàng, rất khó lay chuyển. Ngược lại, lập trường không vững, thiếu kiên định, có người trong phút chốc không còn là chính mình; còn sự thiếu trung thực là kẻ nói dối tổ chức để vinh thân phì gia, thì không còn xứng đứng trong hàng ngũ tiên phong của Đảng, còn có tội lớn với nhân dân, đất nước.

Và, lập trường, bản lĩnh cùng những phẩm chất đạo đức của người cán bộ không tự dưng mà có, phải qua trui rèn, thử thách, luôn tự răn, tự dạy nghiêm khắc với chính mình.

Vì rằng:

"Đường dài mới biết ngựa hay

Đến khi cả gió biết cây cứng mềm"./.

“Cai sữa” cho khỏi... khổ!

 Đã nhiều lần vợ chồng ông C bàn về công việc tương lai của con, nhưng mỗi người một phách, không ai chịu ai. Ông thì muốn cậu con trai tốt nghiệp đại học đi thuê nhà và tự lập nghiệp với số vốn ít ỏi, còn bà thì muốn ông phải xin cho con vào cơ quan cũ, nơi ông công tác trước đây cho “lành”. Bà lý luận, mọi người đều làm thế. Bà hỏi ông, sao ông không làm như người khác dù ông có uy tín hơn. Vào đó, phấn đấu nhẹ nhàng, có lương cao lại chẳng mấy chốc được kết nạp Đảng rồi lên cán bộ và cống hiến. “Đường quang không đi sao phải đâm quàng bụi rậm” cho khổ. 

Cuối cùng, con trai ông C rời bố mẹ đi thuê nhà trọ và tự mở một công ty tư vấn tài chính. Với vốn tiếng Anh tích lũy trước đó, cậu ta giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài muốn làm ăn ở Việt Nam nên thu nhập cũng khá. Thỉnh thoảng ông C đem chuyện cũ ra kể với bạn bè như một chiến tích. Những lúc như vậy, bà H thường cười trừ rồi bảo: “Nói phét gặp thời”!

Rồi thì bà H cũng phải thừa nhận: “Giờ thì tôi đã bái phục cái món lý thuyết “cai sữa” của ông. Tôi mệt với bố con ông quá thôi!”.

Ở ta có một hiện tượng tồn tại dai dẳng đó là không chịu “cai sữa" cho con. Cho dù đã nuôi con qua 18 tuổi và học xong đại học nhưng nhiều ông bố bà mẹ vẫn vất vả ngược xuôi để tìm mọi cách lo lót cho con vào được cơ quan này cơ quan nọ. Càng cơ quan có quyền lực, có địa vị, có ảnh hưởng với xã hội thì sức hút càng lớn. Trong khi đó, những cán bộ lãnh đạo khiến biên chế bị đội lên lại không bị kiểm điểm trách nhiệm và xử lý kỷ luật một cách thuyết phục. Đây chính là nguyên nhân sinh tiêu cực, khiến đội ngũ hưởng biên chế nhà nước ngày càng phình to.

Nhìn rộng ra, hiện tượng không chịu “cai sữa” còn xuất hiện ở cả các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các địa phương. Ví dụ, mặc dù quy định cổ phần hóa đã được Chính phủ ra “tối hậu thư” bằng các văn bản pháp lý nhưng tiến độ thì vẫn cực kỳ chậm. Hay hằng năm, nhiều địa phương vẫn xin bổ sung ngân sách để bảo đảm thu chi trong khi đó tiền chi tiếp khách trong một năm vượt mức 10 con số và thậm chí hơn…

Nếu không quyết liệt trong tiết giảm cấp ngân sách và kinh phí hoạt động cho các cơ quan, đơn vị, địa phương; không triệt để “ép” các tập thể phải tự chủ tài chính thì hiện tượng không chịu “cai sữa” sẽ còn để lại nhiều hậu quả, gây khó khăn cho sự phát triển. Hậu quả nhìn thấy rõ là hiện tượng “xin cho” sẽ tồn tại dai dẳng cùng các tiêu cực khác, như “rửa tiền” ngân sách để hưởng lợi hoặc thậm chí là để chiếm đoạt cá nhân. Những sự việc cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, địa phương móc ngoặc với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để nâng khống giá trị hàng hóa, “cuỗm” ngân quỹ nhà nước bỏ ngoài sổ sách để chi tiêu riêng xảy ra không hiếm trong nhiều năm qua đã cho thấy, việc “cai sữa” cho đối tượng này càng cần thiết biết mấy./.

“Sự tích” và “tích sự”

 Tại nhiều cơ quan, đơn vị, những dịp lễ kỷ niệm, ngày truyền thống thường là khi mọi người sôi nổi “ôn cố tri tân”. Bởi đó là những khoảng thời gian làm sống lại biết bao ký ức, gồm cả “chính sử” và “dã sử”. Nhưng rôm rả hơn, thường là “dã sử” về những “sự”, những “tích” (chuyện, sự việc) liên quan đến lãnh đạo các thời kỳ. Nhiều “sự”, “tích” trở thành “điển tích” về người lãnh đạo và thậm chí, trở thành “sự tích” trong nội bộ cơ quan, đơn vị.

Ví như có “tích”: Ở cơ quan nọ, có người bộc lộ tài năng tổ chức từ lúc còn trẻ, khi chia một con lợn đụng cho cả cơ quan cỡ sáu, bảy chục người mà ai cũng đều tăm tắp như ai; nhưng ở địa phương kia, có người giỏi quan hệ, đi thu gom được rất nhiều thực phẩm, song lúc phân chia lại khiến chẳng ít người có cảm giác thiệt, hơn; có người chuyên “vác tù và hàng tổng” mà chả nhớ nổi con mình sinh ngày nào để báo với tổ chức nhận quà tết thiếu nhi; lại cũng có người một khi đã tính toán cho bản thân thì “không trượt xu nào”; có vị đối đáp chan chát, đanh thép nhưng khi cần thực sự “ra mặt” thì tránh né; ngược lại có vị lặng lẽ, âm thầm mà hành động quyết liệt,...

Có “sự tích đôi dép lê” khi người lãnh đạo tất tả đi hai chiếc dép lê khác màu lên điều hành một cuộc họp quan trọng đâu ra đấy. Lại có “sự tích tấm gương hình thức” khi có lãnh đạo soi gương hằng ngày để… ăn vận chỉn chu, nước hoa thơm phức, “gel” tóc nuột nà, đẹp đẽ mỗi khi xuất hiện nhưng lại chẳng giữ nổi nền nếp cơ quan, đơn vị...

Nhiều khi, cùng những “sự”, “tích” khá giống nhau trong một cơ quan, đơn vị, hoặc so với nơi này, nơi kia, nhưng có chuyện kể ra làm vang lên tiếng cười tích cực, lại có chuyện tạo tiếng cười buồn. Ví như, cùng việc để kiểm tra cấp dưới trước khi bổ nhiệm, lãnh đạo đưa họ đi công cán cùng. Sau này, khi người được bổ nhiệm thể hiện tốt, thì đó là “tích” hay về cách chọn người; còn ngược lại, thì là “tích” về hiện tượng “đi công… tác riêng”. Hoặc như chuyện đôi dép lê hai màu, với không ít lãnh đạo, đó lại là bộc lộ sự cẩu thả trong lối sống; còn soi gương chỉn chu hằng ngày cũng là cách nhiều lãnh đạo giữ gìn hình ảnh…

“Sự lạ” đó là bởi chung quy khi nói về “dấu ấn” lãnh đạo, cần trả lời câu hỏi: họ có những “tích sự” - thành tích gì?!

Thường thì lãnh đạo tài đức cũng gắn với nhiều “sự tích” tốt đẹp. Và kể cả khi họ có những “sự”, “tích” về nhược điểm, sẽ được coi “nhân vô thập toàn”; so “đại sự” - việc lớn, thành tích họ đã thực hiện được cho cơ quan, đơn vị - thì đó chỉ là những “tiểu sự”. Nhưng với những người ít tích sự, thậm chí là… vô tích sự, thì những “sự”, những “tích” thường ít tốt đẹp, và “tiểu sự” so ra lại thành “đại sự” (vì có đại sự nào đâu?!).

Vậy làm sao để lãnh đạo có nhiều “sự tích” đẹp, để mỗi khi ôn lại thì là những ký ức đầy nhân văn?

Trước hết cần thấy, “sự”, “tích” của lãnh đạo không chỉ là chuyện cũ mà nó có tính hiện thực rất rõ. Trong quá trình lãnh đạo cơ quan, đơn vị, đó có thể là những “điển tích” để khắc họa về “điển hình” của người lãnh đạo. “Sự tích” đi rất nhanh và rất sâu, có sức sống trong lòng nhiều người chắc chắn do có căn nguyên, tích cực hay tiêu cực. Nên trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, cần xem xét mọi bề, cả “sự tích” và “tích sự”; tìm hiểu cả “chính sử” và “dã sử”.

Đồng thời, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nhớ: “Sự tích” là “bia miệng”, để nhiều lúc, như vào dịp những ngày truyền thống, người ta nhắc đến. Do đó, người làm lãnh đạo cần thực sự xứng đáng là bậc công bộc; hết lòng, hết sức “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”. Nếu tạo được nhiều thành tích, “tích sự” thì “sự tích”, dù về điều gì, thường đều được nhìn nhận theo hướng thiện cảm, trân quý. Còn nếu ngược lại… thì hẳn có những vết nhơ khó gột, nhiều năm còn “trơ trơ”./.

Một biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào

 

Bài hát “nằm lòng” của những người lính có từ hơn 70 năm nay là bài hát “Vì nhân dân quên mình” (của nhạc sĩ Doãn Quang Khải). Bài hát của thời tân binh, bài hát khởi đầu của đời binh nghiệp chỉ có dân và Bác.

Dân và Bác là máu thịt, là bản chất của Quân đội ta từ khi mới chỉ có 34 người cùng ít lưỡi lê và súng kíp cách đây sắp trọn 80 năm. Trên thế giới chắc chẳng có quân đội nào mà người lính lại gọi lãnh tụ của mình là Bác, là “người Cha thân yêu”; đồng thời gọi vị Đại tướng Tổng Tư lệnh của mình là “người Anh Cả” như Quân đội nhân dân Việt Nam. Thật gia đình, thật “một lòng phụ tử”, “huynh đệ chi binh” và cũng thật Việt Nam!

Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là hiện tượng độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít thấy có dân tộc nào trên thế giới mà nhân dân lấy tên lãnh tụ tối cao của mình đặt cho quân đội.

Đây vừa là tình cảm vừa là niềm tin của quần chúng dành cho lực lượng vũ trang. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh người lính lại được toàn dân coi đó là một hình mẫu của con người trong thời đại mới, để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên mọi thế hệ con cháu kế tiếp và noi theo gương sáng của Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam.

Bộ đội Cụ Hồ là cách gọi rất Việt Nam, thật gần gũi. Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là tên gọi trìu mến mà nhân dân dành cho quân đội mà còn là một danh hiệu, một vinh dự lớn đối với những chiến sĩ nhân dân.

Về xuất xứ của tên gọi Bộ đội Cụ Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một hồi ức của mình, kể: “Tôi nhớ rằng từ trong Khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang ta là “Bộ đội ông Ké”, hay “Bộ đội ông Cụ” một cách thân thương, chân chất như tấm lòng của đồng bào đối với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc đó chưa biết tên Bác.

Có lẽ về sau khi biết tên Người, đó là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ” và cũng từ chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy xuất hiện từ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”...

Về những đặc trưng văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rất cụ thể; trong đó có cuốn sách “Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999)-một công trình khoa học xã hội và nhân văn quân sự cấp Bộ do GS, TS Đinh Xuân Dũng làm chủ biên với sự tham gia của nhóm tác giả: Đoàn Mô, Phạm Hoa, Ngô Vĩnh Bình và Vũ Hồng Quân.

Nói thêm, công trình khoa học này nhấn mạnh nội dung “Bộ đội Cụ Hồ-một giá trị độc đáo của văn hóa Việt Nam hiện đại” được đích thân đồng chí Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (khi là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) chỉ đạo nghiên cứu và tiến hành thực hiện biên soạn.

Bộ đội Cụ Hồ là đỉnh cao về hình tượng của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Họ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ khi mới ra đời, họ đã được nhân dân coi như con em. Biết bao bài ca, câu chuyện, cuốn sách, vần thơ về “những người nông dân mặc áo lính” còn được lưu truyền đến bây giờ.

Họ là “những người tứ xứ” nhưng có chung lý tưởng chiến đấu, họ luôn luôn gắn bó với dân, được dân tin, dân phục, dân yêu vì chẳng những “không lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân” mà còn “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, dám xả thân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Quân đội ta là Quân đội nhân dân vì lý do như vậy. Nói Quân đội ta “hiếu với dân” cũng do là như vậy.

Bộ đội Cụ Hồ với những biểu hiện đẹp đẽ đó một thời đã là biểu tượng tiêu biểu và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, một thời đã được nhân dân ca tụng là “con người đẹp nhất”, một thời được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ. Và thật đặc biệt, Bộ đội Cụ Hồ từ một biểu tượng mang ý nghĩa xã hội lại trở thành một hình ảnh gần gũi, thân thương, trở thành nơi gửi gắm tình cảm thầm kín, khát vọng hạnh phúc riêng tư và trong sáng.

Tôi rất tâm đắc về hình tượng người lính Cụ Hồ được phác họa bằng một biểu trưng nghệ thuật vô cùng sinh động và độc đáo: “Đầu súng trăng treo” của nhà thơ Chính Hữu mà Báo Quân đội nhân dân đã có thời kỳ lấy làm tên một chuyên mục, một chuyên mục văn nghệ được bạn đọc rất yêu thích! Nuôi dưỡng, phát huy vẻ đẹp của Bộ đội Cụ Hồ cũng là nuôi dưỡng, phát huy sức mạnh nội sinh của Quân đội ta!

Bộ đội Cụ Hồ là thế, Quân đội ta là thế. Vậy mà gần đây, đi ngược với ý chí, tình cảm, nguyện vọng của tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước nói chung và cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng nói riêng, có những nhóm người thông qua một số trang mạng, blog cá nhân hay qua những "cái loa" của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài, truyền bá những tư tưởng ngoại đạo lạc thời, ác ý, âm mưu kích động xuyên tạc lực lượng vũ trang, gây bất ổn xã hội, phá hoại tiến trình đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước và làm phai nhạt hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-một nét độc đáo và rất đáng tự hào của Quân đội nhân dân Việt Nam, của văn hóa Việt Nam mà Bác Hồ cùng nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ ta đã dày công vun đắp dựng xây.

Để nuôi dưỡng, phát huy những bản chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, để hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ mãi mãi tỏa sáng, tôi nghĩ không chỉ là nhiệm vụ, là công việc của các nhà tuyên huấn, các nhà khoa học xã hội nhân văn mà còn phải là nhiệm vụ thường xuyên của báo chí, văn nghệ.

Trong một lần tọa đàm về việc tiếp tục nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ như thế này, một thủ trưởng nói một câu thật giản dị, chân tình, nhưng làm tôi nhớ mãi: “Các ông làm thế nào thì làm, nhưng phải làm thế nào để hình ảnh bộ đội mình thường xuyên và mãi mãi đẹp trong mắt nhân dân, dân mãi mãi tin yêu gọi là “anh bộ đội”, “chú bộ đội”.

Một câu nói thật giản dị nhưng thực hiện được không hề dễ dàng. Biết vậy, nhưng đó là nhiệm vụ đầy vinh quang và tự hào của giới văn học, nghệ thuật nước nhà nói chung, mà nòng cốt là giới văn nghệ sĩ, báo chí quân đội.

Nguồn báo QĐND

Trách nhiệm tiến cử

 Tiến cử là cách thức quan trọng được người xưa dùng để chọn lựa người tài ra giúp nước. Người tiến cử phải lấy tước vị, phẩm hàm, thậm chí cả danh dự, tài sản, tính mạng của mình để bảo đảm rằng người được tiến cử là thực sự có tài năng, đức độ, xứng đáng với chức vụ được giao và phải chịu trách nhiệm cá nhân suốt đời về sự tiến cử đó. Ai vì tình riêng, vì tư lợi mà tùy tiện, hồ đồ hay cố tình tiến cử sai người hoặc ngược lại thấy người tài mà bưng bít đường thăng tiến, thì đều bị trị tội rất nặng (1).

Khi sẵn sàng đem cả tính mạng của bản thân và gia đình ra để giới thiệu hiền tài cho đất nước, thì rõ ràng người tiến cử đã nhìn thấu thực đức, thực tài và gửi trọn niềm tin, lý tưởng vào người mình giới thiệu, thể hiện trách nhiệm trong sáng và nghĩa cử cao cả vì việc quốc gia đại sự. Ngược lại, người được tiến cử cũng vì trọng con “mắt xanh”, trọng tấm chân tình và nghĩa khí, không muốn phụ lòng tin của người tiến cử, mà ra sức cống hiến tài năng, cả đời giữ gìn thanh liêm. Trong lịch sử dân tộc ta, nhiều bậc kỳ tài làm rạng danh non sông, đất nước nhờ chế độ tiến cử mà phát lộ tài năng, nếu không, có lẽ họ đã mãi chìm khuất trong dòng chảy của lịch sử.

Ngẫm chuyện xưa càng thấm thía chuyện nay, cả chuyện hay, chuyện dở.

Có không ít người lãnh đạo đặt việc công lên hàng đầu, họ không chỉ mẫu mực về chuyên môn, đạo đức, mà trong công tác cán bộ cũng thực sự công tâm, khách quan. Không chỉ khéo lựa chọn, cắt đặt, cất nhắc cán bộ, mà họ có tài phát hiện những người có thực lực. Đó là con “mắt xanh” nhìn người của bậc “minh chủ”. Khi phát hiện và quyết định dùng người nào, lấy việc công làm trọng, họ quyết đoán trong giới thiệu, tiến cử, bổ nhiệm, tin tưởng sử dụng, hỗ trợ…, vượt lên trên nhiều rào cản, sẵn sàng chịu trách nhiệm đến cùng về quyết định của mình. Bậc “minh chủ” có sức hút tự nhiên rất lớn để quy tụ chung quanh mình những người tài năng, “thần thiêng nhờ bộ hạ” và khi đó “hổ như mọc thêm cánh”, khiến công việc “thuận buồm xuôi gió”, tổ chức vững mạnh. Thường người tài mới nhận diện được người tài và người tài chỉ mong muốn đi theo những người có tài hơn họ. Khi đã theo thì sẵn sàng xả thân, dốc toàn tâm, toàn lực làm việc, mà không màng danh lợi…     

Nhưng, ở không ít nơi, cũng có những người đề cử, tiến cử “cho vui” vì cảm tính, yêu ghét cá nhân hay toan tính riêng vì thân hữu, thậm chí là mua bán tiến cử… Việc công và lợi ích tập thể bị đặt dưới những lợi ích và mưu đồ cá nhân. Họ cố tình giới thiệu những người kém đức, kém tài; lôi kéo phe nhóm “đánh hội đồng” những người có năng lực. Khi xảy ra những sai phạm hệ lụy từ sự đề cử, tiến cử sai trái của mình, gây hại cho cơ quan, đơn vị, thì vô trách nhiệm đổ lỗi cho tập thể, “hòa cả làng”. Ở những nơi này, thường công tác cán bộ mịt mù, khuất tất; các “nhóm lợi ích” như làm xiếc “trong hộp đen”.

Đó là những nơi mà công tác cán bộ một màu xám xịt, nhưng cũng có nơi nhờ nhờ tranh tối tranh sáng. Có người ngoài mặt mượn danh “dụng nhân như dụng mộc”, rồi tiến cử và dùng cán bộ tốt xấu lẫn lộn. Điều nguy hại là thấy cái xấu, cái ác không hạn chế và loại bỏ, mà vẫn để tồn tại nhằm tạo “thế cân bằng”, kìm chế lẫn nhau, bản chất là vì mục tiêu chính trị của cá nhân người sử dụng. Đây không khác gì chuyện “đùa với lửa”, “chơi với dao”. Cái xấu, cái ác không bị hạn chế thì sẽ có ngày lên ngôi, lấn át cái tốt, gây hại và khiến tổ chức rối loạn, suy yếu. Cũng có nơi người đứng đầu tiến cử được người tài đức, nhưng nơi nhận vì lợi ích cục bộ, đầu óc hẹp hòi, ích kỷ, thiển cận mà thiếu tinh thần hợp tác, cũng làm lãng phí người tài... 

Cán bộ muôn đời là câu chuyện liên quan tới sinh mệnh của tổ chức, của quốc gia. Việc trọng đại đó không thể có chỗ cho sự hồ đồ, thiếu trách nhiệm, “hòa cả làng” hay chuyện mua đi bán lại. Việc tiến cử cán bộ do đó đã đến lúc phải bị ràng buộc trách nhiệm nghiêm ngặt. Đó là cách tiến cử trọng danh dự, liêm sỉ và trách nhiệm, giúp tăng cơ hội chọn lựa được những người có tài năng, đức độ; hạn chế những kẻ bất tài, vô đức leo sâu, trèo cao. Quan trọng hơn, chế độ tiến cử như vậy sẽ nuôi dưỡng trong nhân dân một niềm tin người hiền tài thật sự trong xã hội sẽ không bị bỏ sót, cùng niềm tin về công tác cán bộ của Đảng ta…/.

Rèn giũa thực hành "nói đi đôi với làm"

 

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới bao hàm nhiều nội dung quan trọng, toàn diện. Một trong những đặc trưng cơ bản mang giá trị cốt lõi đó là: Nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân.

Người xưa có câu: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa mà bị kẻ cười, người chê, điều đó cho thấy các cụ ta ngày xưa đã rất quan tâm đến chữ tín, đề cao hành vi “nói đi đôi với làm”. Tìm hiểu sâu hơn nội hàm thuật ngữ “nói đi đôi với làm” trong Nghị quyết 847 cho thấy: Đây không đơn thuần là vấn đề đạo đức thông thường, mà ở tầm cao hơn chính là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động trong thực tiễn để được tập thể, nhân dân tin tưởng, ủng hộ. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần nói đi đôi với làm. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". 

Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý được Đảng và nhân dân dành tặng cho cán bộ, chiến sĩ. Với sứ mệnh, trách nhiệm cao cả là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần giữ gìn, phát huy phẩm chất: Nói đi đôi với làm, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Gần 8 thập kỷ trôi qua nhưng nội dung, ý nghĩa 10 lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam vang lên dưới lá cờ Tổ quốc luôn là kim chỉ nam trong lời nói và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên mọi mặt trận. Phẩm chất ấy được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, kiến quốc thời bình, tựa như “ngọc càng mài càng sáng”, qua thời gian ngày càng thêm sáng đẹp.

Hòa bình, đất nước không còn tiếng súng nhưng các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng. Đáng chú ý là chúng lôi kéo, dụ dỗ đồng bào tham gia các tà đạo, lập "vương quốc" riêng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Xác định là lực lượng nòng cốt, để “nói dân nghe, làm dân tin”, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã thực hiện “3 bám, 4 cùng” (bám dân, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) với dân bản.

Bằng phương pháp tuyên truyền linh hoạt, kết hợp vừa nói vừa làm, vừa tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vừa cầm tay chỉ việc giúp dân xây dựng các mô hình kinh tế, Bộ đội Cụ Hồ trở thành điểm tựa của đồng bào, nhờ đó an ninh chính trị, trật tự địa bàn nơi phên giậu Tổ quốc được giữ vững. Hay, trong cuộc chiến chống "giặc Covid-19" vừa qua, hình ảnh bộ đội nhường lại doanh trại cho nhân dân cách ly, còn mình dựng lán ngủ ngoài rừng, ăn cơm bưng lá chuối đã làm lay động trái tim nhiều người. Hành động, nghĩa cử ấy càng làm tô thắm thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân, do dân, vì dân.

Khẳng định phẩm chất nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết là đặc trưng cơ bản cần tiếp tục lan tỏa, nhân rộng, thế nhưng thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Không ít người cho mình quyền được nói, được đề cao người này, phê phán người kia mà thực tâm không phải để đóng góp xây dựng mà cốt là để hạ bệ người khác, nâng cao bản thân và những người cùng lợi ích. Không ít người trong hội nghị thì im lặng, dĩ hòa vi quý, "tránh voi không xấu mặt nào" nhưng sau hội nghị thì xì xèo, bàn tán, đả kích người khác. Một hiện tượng hay gặp ở những người có thói quen xu nịnh là tâng bốc cấp trên bằng lời lẽ hoa mỹ, sáo rỗng nhưng khi hết quyền lợi thì thờ ơ, vô cảm. Xót xa hơn, vừa qua, một số cán bộ bị đưa ra khởi tố mà trước đó chưa lâu họ còn phô trương, tô vẽ những việc mình làm là “cống hiến vì dân, vì nước”.

Tình trạng trên được Nghị quyết 847 nhận diện là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi... Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội...”. Những biểu hiện trên không chỉ là sự suy thoái về tư tưởng đạo đức, lối sống mà còn là biểu hiện của “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, trở thành rào cản sự phát triển, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy phẩm chất, tài năng cống hiến cho đất nước, song cũng đặt ra thách thức lớn bởi lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng và những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội đang len lỏi. Bởi vậy, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân cho bộ đội là việc làm quan trọng và cần thiết. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết 847 nhấn mạnh là: “Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ, để nói đi đôi với làm, trước hết cần phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Bởi, có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Muốn vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, mơ hồ mất cảnh giác. Nói đi đôi với làm phải thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Việc gì làm được thì nói, chưa làm được thì không thể phô trương, tô vẽ.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần có nhiều chủ trương, giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng, tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân. Đồng thời cần biểu dương, khen thưởng những gương cán bộ, đảng viên tận tụy, tâm huyết, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo, thật thà, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, quân nhân sẽ ngày càng khẳng định được tài năng, bản lĩnh, trí tuệ và được tập thể, quần chúng ghi nhận, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Nguồn báo QĐND

NGÀI TỔNG THỐNG UCRAINA CÓ XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC NGƯỠNG MỘ


Vì quá thần tượng Mỹ và phương Tây nên có lẽ tâm tưởng của linh mục Đinh Hữu Thoại cũng vì thế mà đôi khi mất cân bằng trong việc đánh giá một nhân vật, một sự việc liên quan đến Mỹ và EU.

VŨ KHÍ SẮC BÉN TRÊN MẶT TRẬN TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp. Thời gian qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác này. Hiện nay, bối cảnh mới đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi các cơ quan báo chí phải chủ động, vào cuộc quyết liệt, kiên trì, bền bỉ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, lợi ích của quốc gia, dân tộc và sự an toàn, hạnh phúc của Nhân dân.

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG THĂM, KIỂM TRA TUYẾN BIÊN GIỚI A LƯỚI!

Ngày 27-3, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đoàn công tác của Bộ Quốc phòng đến thăm và kiểm tra dọc tuyến biên giới huyện A Lưới, Đồn Biên phòng cửa khẩu A Đớt, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên Huế.
Cùng đi với đoàn có đồng chí: Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 4; về phía tỉnh Thừa Thiên Huế có đồng chí Lê Trường Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Văn Phương, Chủ tịch UBND tỉnh.

Tại buổi thăm và kiểm tra, Đại tướng Phan Văn Giang ghi nhận cấp ủy, chính quyền địa phương tỉnh Thừa Thiên Huế đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai, thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng; biểu dương tinh thần, trách nhiệm của các lực lượng, đặc biệt cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng, quân đội, công an, cũng như lực lượng dân quân đã không quản ngại khó khăn, vất vả thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vùng biên, cột mốc.

Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu trong thời gian tới, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, dịch bệnh còn nhiều phức tạp, khó lường, nhiệm vụ của các lực lượng ngày càng nặng nề và vất vả, đòi hỏi các lực lượng phối hợp chặt chẽ, nắm bắt tình hình kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý tốt các tình huống xảy ra, không để bất ngờ, bị động; tăng cường giúp đỡ bà con nhân dân dọc tuyến biên giới xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống dân trí; nêu cao tinh thần cảnh giác, quản lý, bảo vệ biên giới và phòng, chống dịch Covid-19 đạt hiệu quả./.


Yêu nước ST.

PHỐI HỢP CHẶT CHẼ, LÀM THẤT BẠI MỌI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

         Sáng ngày 16/7/2021, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị giao ban trực tuyến giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện Nghị định số 03/2019/NĐ-CP của Chính phủ về phối hợp giữa hai bộ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng.
     Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Trung tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, đồng chủ trì hội nghị. Dự hội có Thượng tướng Đỗ Căn, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng.

Lực lượng quân đội và công an các cấp đã tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện thống nhất, hiệu quả nội dung, biện pháp phối hợp theo đúng Nghị định số 03. Chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý kịp thời hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Đặc biệt hai lực lượng đã phối hợp bảo đảm an toàn tuyệt đối Đại hội Đảng các cấp, Đại hội lần thứ XIII của Đảng; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; tích cực tham gia phòng, chống dịch Covid-19 và các hoạt động khác, góp phần giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Về nhiệm vụ cho đến cuối năm 2021, lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Công an khẳng định, tiếp tục phối hợp chặt chẽ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tạo môi trường xã hội ổn định để phát triển đất nước.

Trước mắt tập trung rà soát, bổ sung kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, phương án bảo vệ các mục tiêu quan trọng, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước; tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền sử dụng lực lượng vũ trang tham gia xử lý tình huống phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ đầu tại cơ sở, tuyệt đối không để lan rộng, phức tạp, hình thành điểm nóng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường hơn nữa công tác trao đổi thông tin giữa hai lực lượng, nhất là việc cung cấp thông tin về phòng, chống tội phạm, tình hình địa bàn.
Nhận định, đánh giá, dự báo sớm tình hình chiến lược, kịp thời phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước các biện pháp, đối sách đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Phối hợp tuần tra, kiểm tra chặt chẽ biên giới, cửa khẩu, vùng biển và đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ chức, buôn lậu, gian lận thương mại...

Chủ động nắm, theo dõi, nhận định, đánh giá, dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực, âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, tình hình Biển Đông, vùng biển Tây Nam, khu vực biên giới, các địa bàn trọng điểm..., kịp thời báo cáo, tham mưu với Đảng, Nhà nước các đối sách đấu tranh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động, bất ngờ.

Phối hợp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về an ninh mạng; tập trung trao đổi, xác minh thông tin liên quan đến âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; tình hình tư tưởng của nhân dân, nhất là những thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Kịp thời đề xuất các giải pháp, đối sách đấu tranh, xử lý các vấn đề phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh.
Thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19; phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Hai lực lượng tăng cường tham gia xây dựng cấp ủy, chính quyền cơ sở vững mạnh, nâng cao công tác dân vận, tuyên truyền, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn toàn quốc. Đồng thời làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để kẻ xấu lợi dụng, chia rẽ và hạ thấp uy tín của lực lượng vũ trang...

Môi Trường ST.

PHÒNG CHỐNG SỰ CHIA RẼ, BẢO VỆ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY!

         Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.
Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Âm mưu chia rẽ và thách thức bên trong
Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.

Thực tế cho thấy, hiện nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi, phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.

Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”...

Đáng chú ý, chúng tập trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công an... Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”.

Bên cạnh đó, là những vấn đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại... Đại hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ... gây bức xúc xã hội và làm suy giảm vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta.

Sức mạnh nội sinh và bài học thịnh suy, thành bại từ lịch sử
Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế giới đương đại phản ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong “những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của thế giới hiện nay.

Tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.


Yêu nước ST.

Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo trong quân đội

 

Những năm qua, công tác đào tạo tại các học viện, nhà trường quân đội đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm nghị quyết của các cấp, thông tư, chỉ thị, mệnh lệnh của thủ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác giáo dục và đào tạo (GD-ĐT); thực hiện đúng phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” và các chiến lược, các đề án về GD-ĐT.

Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo trong quân đội
Giảng viên và học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự nghiên cứu trang bị trong phòng học chuyên dùng. Ảnh: qdnd.vn. 

Các học viện, nhà trường quân đội đã đề ra nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng GD-ĐT; chủ động đổi mới, điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với các đối tượng, sát với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của đơn vị; đặc biệt là thường xuyên chú trọng công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hiện toàn quân có gần 1.650 tiến sĩ, hơn 6.000 thạc sĩ, 21 giáo sư, 332 phó giáo sư, 2 nhà giáo nhân dân, 40 nhà giáo ưu tú. Đây là lực lượng có đóng góp quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, giảng dạy, biên soạn giáo trình, tài liệu của các học viện, nhà trường quân đội.

Nguồn: QĐND.

VỀ NỤ CƯỜI VÀ SỰ THẢN NHIÊN CỦA LÊ DŨNG VOVA TRƯỚC TÒA!

     Lê Văn Dũng (tức Dũng Vova, 52 tuổi) mới đây bị Tòa tuyên án với bản án 5 năm tù giam và 5 năm quản chế tại địa phương với cáo buộc "dàn dựng, phát tán" 12 clip nội dung bịa đặt, chống Nhà nước. Sẽ chẳng có gì đáng nói khi bản án được cho là tương đối thích đáng, tuy nhiên, đến khi facebook Việt Tân đăng tải hình ảnh kèm theo bình luận rằng Lê Dũng Vova nhận bản án “trong phong thái hiên ngang ấy giữa chốn pháp đình…” thì người ta mới có nhiều cái để bàn.

Đúng là Dũng Vova đã cười và rất thản nhiên trước tòa khi nhận bản án và một số người đã lầm tưởng rằng hắn ta can đảm. Nhưng điều đó hoàn toàn sai.

Với Lê Dũng Vova, hắn ta cười có thể vì cảm nhận được cuộc sống trong tù còn sướng ở bên ngoài, bởi ít ra trong từ còn có người “cơm bưng nước rót”, chứ ở ngoài thì phải chạy ăn từng bữa và kiếm cơm nhờ vào những hoạt động chống phá. Hoặc cũng có thể do hắn tưởng tượng rằng tương lai sau khi ra tù, hắn sẽ được nước Mỹ trải hoa hồng chào đón như một vị anh hùng. 

Nhưng theo tôi, nụ cười của Lê Dũng Vova mang hàm nghĩa bất lực là phần nhiều. Bất lực ở đây không phải vì hắn biết là không còn cách nào để bào chữa cho lỗi lầm của bản thân, mà bất lực ở đây là vì hắn quá tin tưởng vào các tổ chức bên ngoài, hắn tin rằng khi hắn thực hiện các hoạt động chống phá thì sẽ được tổ chức này bảo vệ, che trở hắn làm cho hắn. Nhưng thực tế hiện nay thì chỉ mình hắn phải “đứng mũi chịu sào” và cũng chẳng tổ chức nào đứng ra bảo lãnh hắn. Họ chỉ lợi dụng sự u muội của hắn để lôi kéo vào hoạt động chống Đảng, Nhà nước mặc dù trước đó cũng có một số tổ chức, cá nhân lên phản đối, song mục đích cũng chỉ là lấy hình ảnh hắn để đánh bóng tên tuổi của bản thân.

Thật đáng buồn cho một con người có xuất phát điểm tương đối tốt nhưng chỉ vì nghe theo lời xúi giục của các đối tượng xấu mà sa đọa vào con đường lầm lỗi. Ngạo ngễ trước tòa dù bất kỳ vì lý do gì, nhưng cái nụ cười ấy không giấu được nỗi lo âu mà Lê Dũng Vova sẽ phải đối diện trong thời gian tới. 5 năm không phải là dài, cũng chẳng phải ngắn, nhưng cũng đủ để thay đổi một con người, đủ để khiến một con người từ một nơi tối tăm bước ra ánh sáng cuộc đời. 

Hy vọng, với bản án đưa ra và sau thời gian cải tạo, Lê Dũng Vova sẽ nhận ra lỗi lầm của mình, sau này khi về địa phương có thể trở thành một công dân có ích cho xã hội. Đừng đi vào vết xe đổ của một số kẻ đang phải lang bạt ở trời Âu mà chẳng có tổ chức nào thèm ngó ngàng như Nguyễn Văn Đài, Bạch Hồng Quyền…
Yêu nước ST.