Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Tư tưởng khoan dung trong văn hóa quân sự Việt Nam

 

Trong kho tàng văn hóa đồ sộ và hết sức phong phú của dân tộc, có nội dung phản ánh sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm vô cùng gian khó, nhưng đầy ắp những chiến công oanh liệt, cơ sở khoa học để hình thành văn hóa quân sự, bộ phận không thể thiếu của văn hóa Việt Nam.

Văn hóa quân sự thể hiện cái đặc thù, bản sắc, cốt cách và cái riêng, nhưng tựu trung là góp phần gìn giữ, định hình, tôn tạo giá trị chân - thiện - mỹ trong đời sống của nhân dân. Trong công cuộc dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập, để giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh, dân tộc Việt Nam không phải thực hiện bằng mọi giá mà ứng xử rất văn hóa, được thể hiện qua từng trận đánh, nghệ thuật quân sự và cả khi chiến thắng, v.v.

Có được văn hóa đó, là do dân tộc Việt Nam luôn lấy “nhân nghĩa” làm tư tưởng xuyên suốt trong đường lối chính trị, quân sự, cứu nước, giữ nước. Đường lối, chính sách đó là,  tưởng khoan dung, tính nhân văn, lòng vị tha - giá trị tư tưởng cốt lõi của văn hóa quân sự Việt Nam.

1. Chỉ tiến hành chiến tranh khi kẻ thù buộc ta phải thực hiện

Là dân tộc yêu chuộng hòa bình, nên trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn tìm mọi cách ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải các nguy cơ chiến tranh, tránh cho đất nước cảnh binh đao, bị tàn phá. Thực hiện “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, chuẩn bị đất nước vững mạnh ngay từ thời bình “Thái bình tu trí lực, vạn cổ cựu giang san” thực chất là nâng cao khả năng phòng bị, dập tắt ý đồ xâm lược của ngoại bang. Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có giải pháp ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt nhằm giữ hòa hiếu, tránh nạn binh đao, khói lửa; khi có nguy cơ chiến tranh, luôn tìm mọi cách hóa giải, ngăn chặn, đẩy lùi và chỉ tiến hành chiến tranh khi không còn lựa chọn nào khác.

Trong 30 năm chiến tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có những quyết sách sắc sảo, đúng đắn, nhằm phân hóa kẻ thù, trì hoãn, hóa giải chiến tranh; đồng thời, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho đất nước sẵn sàng đối phó khi kẻ thù cố tình gây chiến. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam non trẻ đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược, chúng ta đã ký Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp, đấu tranh tại Hội nghị Fontainebleau và sau là Tạm ước Việt - Pháp đều nhằm mục đích trì hoãn, hóa giải không để chiến tranh xảy ra, có điều kiện củng cố đất nước. Khi thiện chí đó không được đáp ứng, buộc chúng ta phải tiến hành chiến tranh. Điều đó được thể hiện rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hỡi đồng bào toàn quốc, chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”!

Ngày nay, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, trong đó lấy ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, chủ động giữ nước từ sớm, từ xa; chuyển từ xác định kẻ thù sang xác định đối tượng, đối tác theo quan điểm “thêm bạn, bớt thù”. Kiên trì phương châm chỉ đạo, giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bìnhtránh mắc mưu khiêu khích của đối phương; giữ vững ổn định nội bộ, coi trọng triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây đột biến. Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, đó chính là tính nhân văn trong văn hóa quân sự.

2. Thắng bằng phương pháp thay vì thắng bằng vũ khí, trang bị

Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã phát huy hiệu quả hai yếu tố cơ bản hợp thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội là con người và vũ khí, trang bị. Tuy nhiên, về tương quan lực lượng, vũ khí, trang bị chiến tranh ta luôn ở thế bất lợi so với địch nên chúng ta coi trọng thắng bằng phương pháp, chứ không phải thắng bằng vũ khí, trang bị chiến tranh; trong đó, lấy phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, nghệ thuật quân sự, kết hợp đấu tranh chính trị, ngoại giao với đấu tranh quân sự,… là chủ yếu, quyết định.

Kiên trì và phát huy cao độ đường lối chiến tranh nhân dân. Tiến hành chiến tranh nhân dân đã trở thành truyền thống, nét văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam. Nhờ kiên trì đường lối chiến tranh nhân dân, lòng yêu nước cùng tinh thần cố kết cộng đồng dân tộc được phát huy cao độ; đồng thời, khẳng định rõ vai trò của nhân dân “toàn dân vi binh”, “chúng chí thành thành”, “cử quốc nghênh địch”; khơi dậy ý chí quật cường của dân tộc “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. “Trước hết hãy chém đầu thần, rồi sau hãy hàng”, “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Điều đó còn được thể hiện, đánh để giữ cội nguồn, bản sắc văn hóa Việt Nam: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản của Đảng, là tư tưởng cốt lõi của chiến lược quốc phòng, quân sự thời kỳ mới và là sự phát huy cao độ văn hóa quân sự Việt Nam.

Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế thời: đánh giặc bằng nghệ thuật quân sự độc đáo là văn hóa quân sự và về một mặt nào đó cũng thể hiện tư tưởng khoan dung của văn hóa quân sự Việt Nam. Truyền thống đánh giặc bằng nghệ thuật quân sự độc đáo tập trung ở nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnh, dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều”, “lấy đoản binh, chế trường trận”, lấy đoản chế trường là việc thường làm của binh pháp Việt Nam. Phát huy truyền thống đánh giặc độc đáo của dân tộc, nghệ thuật quân sự Việt Nam không ngừng phát triển và ngày càng hoàn thiện. Coi trọng đánh địch bằng “lực, thế, thời, mưu”, thắng địch bằng “mưu, kế, thế, thời”; lấy phát huy sức mạnh tổng hợp dựa trên sức mạnh của toàn dân làm cơ bản, thực hiện đánh tiêu diệt có trọng điểm kết hợp đánh tiêu hao rộng khắp trên cơ sở hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch. Khi chọn mục tiêu tác chiến hết sức tránh các mục tiêu dân sự, khu dân cư, bệnh viện, trường học, các công trình văn hóa,…chọn địa bàn tác chiến trọng điểm phần lớn là rừng núi, địa bàn có nhiều lợi thế cho ta, khó khăn cho địch, ta có điều kiện để tiêu diệt địch mà không làm ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động dân sự.

Luôn đề cao tính nhân văn trong các hoạt động quân sự: Quan điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh là tiết kiệm binh lực, hạn chế thương vong, đưa địch vào thế sa lầy, suy yếu và thất bại. Khi địch đã đầu hàng hoặc bị bắt, đều được đối xử khoan hồng, được bảo vệ an toàn về tính mạng, tôn trọng về nhân phẩm, kể cả tù binh, hàng binh là người nước ngoài. Thời Trần, Trần Nhật Duật còn tổ chức được đội quân người Tống trong quân ngũ của mình để chống xâm lược. Khi kẻ địch bị bao vây, có nguy cơ bị tiêu diệt, “thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”, thậm chí còn cấp cho lương thảo, phương tiện để về nước, vậy nên mặc dù ra đến biển vẫn còn “hồn bay phách lạc”, về đến nước vẫn còn “tim đập, chân run”. Ngay cả với kẻ thù không đội trời chung, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo điều kiện cho đối phương kết thúc cuộc chiến trong danh dự. Đó là phương châm chỉ đạo chiến tranh, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc, vượt lên trên giá trị văn hóa thông thường, đỉnh cao giá trị văn hóa quân sự của mọi thời đại.

Kết hợp tác chiến với các hình thức đấu tranh khác: dân tộc Việt Nam luôn lấy tư tưởng “không đánh mà thắng” làm thượng sách để giữ nước; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù làm phương châm chỉ đạo chiến tranh. Thời Lê, dân tộc ta hết sức coi trọng giảng hòa với giặc để chuẩn bị tác chiến, “bên ngoài giả thác hòa thân” để “bên trong lo rèn chiến cụ”, “quyên tiền, mộ lính, giết voi khao quân”; khi vây thành thì kiên quyết tiêu diệt quân viện, triệt đường lương thảobuộc quân địch phải đầu hàng và rút quân về nước. Trong chiến tranh giải phóng, ta đã hết sức coi trọng đấu tranh chính trị, tích cực tiến hành công tác binh vận, địch vận, đánh vào lòng người, lôi kéo những người lầm đường, lạc lối về với chính nghĩa, hạn chế đổ máu. Thực hiện nghệ thuật vừa đánh, vừa đàm, mà nổi bật là Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973), đó chính là sự phát triển đỉnh cao nghệ thuật ngoại giao chiến tranh, hỗ trợ đắc lực cho tác chiến trên chiến trường. Trong chiến tranh, luôn phân biệt rõ kẻ địch với nhân dân nước đối phương, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phân hóa kẻ thù giành lợi thế kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất, hạn chế thương vong, tránh cho đất nước không bị tàn phá nặng nề.

3. Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai

Đây là nét đẹp, thể hiện rõ tính nhân văn, tư tưởng khoan dung trong văn hóa quân sự Việt Nam. Sau các cuộc chiến tranh, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, Việt Nam luôn đối xử nhân đạo với những người lầm đường, lạc lối, nhân cách của họ được tôn trọng và tạo điều kiện để họ hòa nhập với cộng đồng, làm ăn sinh sống. Với quân xâm lược, tù binh, hàng binh được đối xử tử tế và được tạo điều kiện trở về nước sum họp gia đình, người thân, sau này muốn trở lại thăm Việt Nam đều được đón tiếp hữu nghị, đoàn kết. Đối với các nước đã từng tham chiến tại Việt Nam, chúng ta đã từng bước thiết lập, tiến tới bình thường hóa quan hệ, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực với tinh thần Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Những việc làm đó chỉ có được từ lòng vị tha, tính nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng khoan dung trong văn hóa quân sự là nét đặc sắc, truyền thống, nội dung hết sức quan trọng trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Do vậy, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - 47 NĂM NHÌN LẠI

 Mùa xuân năm 1975, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã mở Chiến dịch Tây Nguyên, giành thắng lợi vẻ vang, mở ra thời cơ to lớn cho cuộc tổng tiến công chiến lược; đồng thời, tạo ra bước ngoặt quyết định cho thời kỳ toàn thắng trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


VẺ ĐẸP BẤT KHUẤT CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM

 “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” - đó là 8 chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phong tặng cho người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến.


CHỬI RỦA, CHÀ ĐẠP NGƯỜI KHÁC TRÊN MẠNG XÃ HỘI KHÔNG THỂ LÀ CHUYỆN BÌNH THƯỜNG

Vụ việc bà Nguyễn Phương Hằng là bài học cho những ai ngông cuồng, làm điều sai phạm nhưng bất chấp dư luận, bất chấp luật pháp. Mạng xã hội không phân biệt giàu nghèo và pháp luật cũng thế!

Chứng bệnh “ái kỷ chính trị”

 "Ái kỷ chính trị" là thói lố tự đánh bóng, khoe mẽ, thổi phồng về bản thân vì những ý đồ chính trị, từ đó đẻ ra đủ loại những thói hư, tật xấu tệ hại khác, như tính tham lam, đói khát danh vọng, dối trá, thói ghen tị, xu nịnh, kèn cựa, vụ lợi, tham ô, lãng phí...

Bắt chứng bệnh ái kỷ chính trị không khó, do thói hợm hĩnh, hám danh, “trưởng giả học làm sang”..., nên dù che giấu tinh vi đến đâu vẫn có ngày bị phơi bày, với cả mớ những kiểu thức rởm đời. Có kẻ vô sỉ hả hê lấy mồ hôi, nước mắt của người khác làm thứ màu tô vẽ vào bảng thành tích của mình, bằng tranh công đổ tội, chặn bát chèn đũa đồng nghiệp; có người huênh hoang tự cao tự đại khoe khoang về mình, thuyết giảng đao to búa lớn cả ngày không chán, vừa đôm đốp vỗ ngực tự thổi ta lên chín tầng mây, vừa vẫn không quên dùng thủ đoạn dìm ngay người khác xuống; có người “đánh bóng chuyên nghiệp” khi dùng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để khoe mẽ bản thân bằng những hình ảnh hào nhoáng nhưng đầy thói giả dối, rỗng tuếch, lố bịch, thậm chí lươn lẹo “mớm cung”, mượn tay kẻ khác để tâng hết lời về mình, hòng bịp mắt thiên hạ, dọn đường cho việc tranh quyền đoạt chức về sau; nhiều người tài hèn, đức mọn, nhưng háo danh tìm mọi cách gắn mác học hàm, học vị cho kỳ được, toan tính leo lên ông nọ bà kia; có kẻ dù đã vướng vào vòng lao lý thì vẫn cố vươn khỏi song sắt nhà tù để dùng đám bồi bút bênh vực giảm tội, không nghĩ tới quá khứ táng tận lương tâm bòn rút không tiếc của cải của nhân dân...

Kẻ “ái kỷ chính trị” luôn tìm thấy cảm giác thỏa mãn bản thân mình khi vượt được người khác, bằng mọi giá. Khi tài hèn, tất phải dùng thủ đoạn. Người có chút tài năng thì cũng bị những huyễn hoặc, ảo vọng về bản thân và ham hố danh vọng làm mờ mắt, sinh ra hành động khuất tất, thậm chí bất nhân. Song, dù bôi son trát phấn hào nhoáng thế nào thì chung quy vẫn khó lòng lấy hình thức mà lấp đi nội dung, lấy mớ hổ lốn danh hiệu, bằng khen, “công trạng” mà che đậy đi đống rỗng tuếch bên trong.  

Xưa - nay, Đông - Tây, nhìn khắp bốn bể đều thấy, một tổ chức do yếu kém mà dung túng cho nhiều kẻ “ái kỷ chính trị” thì lâu ngày cũng thành một tập thể ái kỷ chính trị, nơi thói xu nịnh, giả dối, rởm đời, bệnh hình thức, đấu đá, chạy danh hiệu, tự mãn lên ngôi; ngại, tránh những cách nói thẳng, nói ngay, dần mất đi sự công bằng, người tài, người hay ngoảnh mặt - tập thể đó tất đến lúc mạt thời. Nguy hại hơn là cả một đất nước, một dân tộc “ái kỷ”, bám víu vào những thành tích nhất thời, chuộng hư danh, thiếu thực lực, mà hàm hồ, thái quá trong ca tụng, ngủ mê với ảo vọng, khiến tinh thần quốc gia bạc nhược.  

Người mắc “chứng ái kỷ” nặng thường “không biết mình là ai”, đặt bản thân lên trên hết thảy, không chịu tu dưỡng, nên thiếu sự thấu cảm và đối ác với người khác, mất khả năng kiểm soát ham muốn và dị ứng với sự ăn năn, hối lỗi, do đó khó trông chờ vào sự tự sám hối. “Vực thẳm dễ lấp, nhưng túi tham khó đầy”.

Đây là chứng bệnh “kinh niên” trong đời sống chính trị, lây như vết dầu loang, âm thầm lan rộng, nhất là ở nơi có sức đề kháng kém, nguy cơ biến thành những sân khấu để phường tuồng chính trị diễn tấu; thuyên giảm đi trong môi trường mà sự minh bạch, công tâm, sự thực tài, điều thẳng ngay được coi trọng và có sức sống, cùng con mắt tinh tường, hiểu người, thấu lý, thấu tâm của người lãnh đạo.

Nước càng sâu càng tĩnh. Người thực tài thường khiêm cung. Kẻ yếu nhược lại hay tự cao, tự đại.

Ngẫm lại lời của người đứng đầu Đảng ta càng thấy thêm sự sâu sắc, rằng, mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng quyền lực. Đức Phật cũng dạy: “Thiểu dục và tri túc” (biết tiết chế dục vọng và biết đủ)... Âu đó cũng là đường sáng để những người mắc chứng bệnh này tỉnh ngộ, tự tiết chế bản thân, tránh thành bạo bệnh mà phải gánh hậu họa khôn lường!./.

Môi trường văn hóa quân sự với việc xây dựng nhân cách quân nhân

 

 Môi trường văn hóa quân sự đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục, xây dựng nhân cách quân nhân. Lê-nin cho rằng, giáo dục không nằm ngoài mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với một hệ thống các mối quan hệ xã hội, không thể nằm ngoài một hoàn cảnh xã hội nhất định. Mác thì khẳng định, hoàn cảnh tạo ra con người và trong một chừng mực nhất định, con người tạo ra hoàn cảnh.

Từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu rằng, công tác Đảng, công tác chính trị có chất lượng và hiệu quả cao nhất khi nó được tiến hành trong một môi trường mà ở đó con người được giáo dục và rèn luyện trong một "bầu trời" trong sáng, một "không khí" lành mạnh, dân chủ, công bằng, đoàn kết, đầy tình nhân ái, tình đồng chí, đồng đội, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, quan tâm đến nhau, chăm lo đời sống cho nhau cả về tinh thần lẫn vật chất, các mối quan hệ được thực hiện theo luật pháp của Nhà nước, điều lệ, điều lệnh và các chế độ, quy định của quân đội, mọi sinh hoạt đều có tính giáo dục sâu sắc.

Môi trường văn hóa quân sự, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là môi trường trong đó thể hiện một trình độ cao của sinh hoạt quân sự, mang đậm dấu ấn tư tưởng, tác phong, đạo đức, truyền thống và hiện đại với sự tổng hòa của các thành tố văn hóa tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách quân nhân.

Môi trường văn hoá quân sự mà quân đội ta xây dựng hiện nay cần phải căn cứ vào hệ thống các chuẩn mực văn hóa Việt Nam. Đó là cái cốt lõi của văn hóa dân tộc được vận dụng và thể hiện trong lĩnh vực hoạt động đặc thù - hoạt động quân sự, tạo nên quan niệm sống, chỉ đạo những hành vi ứng xử cơ bản của quân nhân. Đó là lòng yêu nước thương nòi và tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam; là những giá trị cao đẹp của lý tưởng xã hội tiến bộ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong đấu tranh cho tư tưởng xã hội tiến bộ được vận dụng và xây dựng trong điều kiện của hoạt động quân sự.

Như vậy, để xây dựng môi trường văn hóa quân sự thực sự trong sáng, lành mạnh thì phải xây dựng cho được một môi trường, trong đó, mọi sinh hoạt thực sự dân chủ, ở đó mỗi người lính là một nhân cách, một chủ thể độc lập, năng động, sáng tạo; loại bỏ tận gốc mọi biểu hiện gia trưởng; mọi quân nhân có lối sống, nếp sống và hành vi ứng xử có văn hóa cao, có chính kiến độc lập, không dựa dẫm vào nhau, phát triển văn hóa chính trị, văn hóa tranh luận.

Mặt khác, phải xây dựng một quân đội có tính tổ chức và kỷ luật cao, thực hiện toàn quân một ý chí. Với quan niệm như vậy, theo tác giả, cần giải quyết tốt mấy vấn đề quan trọng dưới đây:

1. Cần nhận thức rằng việc xây dựng chính quy là một nội dung quan trọng của môi trường văn hóa quân sự. Điều này đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng. Chính quy không chỉ tạo ra sức mạnh thống nhất của quân đội, mà còn tạo ra vẻ đẹp của văn hóa quân sự. Chính quy đòi hỏi một sự hy sinh, tiêu hao trí lực và thể lực cao hơn so với đời sống dân sự. Do đó, cần có những chính sách thích hợp để bù đắp sự tiêu hao đó, như chính sách tiền lương, phụ cấp, chính sách ưu đãi... Về mặt tâm lý, trong điều kiện gò bó của kỷ luật quân sự, của thời gian lao động quân sự…, người quân nhân thường ít có thời gian cho riêng tư nên phải có những chế độ, quy định phù hợp để họ không có mặc cảm về điều đó.

2. Môi trường văn hóa quân sự phải giàu tính lý tưởng, phải đưa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa nhân văn trở thành tính trội, làm đối trọng để loại bỏ sự tác động, xâm nhập của môi trường không lành mạnh ngoài xã hội. Đồng thời, phải làm cho nó thích nghi với cơ chế thị trường, không thuần lý tưởng một cách duy ý chí, thoát ly đời sống hiện thực. Nghĩa là phải quan tâm đến lợi ích chính đáng của quân nhân, thông qua việc giải quyết những lợi ích chính đáng của quân nhân, làm cho mỗi quân nhân thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự thương yêu đùm bọc và chăm sóc chu đáo của nhân dân, từ đó yên tâm phục vụ quân đội, tự hào với nghề nghiệp vinh quang và cao cả của mình.

Một môi trường văn hóa quân sự giàu tính lý tưởng đòi hỏi phải có thẩm mỹ quân sự. Do đó, phải đưa thẩm mỹ vào quân sự. Cuộc sống, ăn, mặc, ở, sinh hoạt của bộ đội phải sạch, đẹp, thống nhất. Doanh trại và hệ thống cảnh quan phải khang trang, có dáng vẻ của văn hóa sinh thái. Muốn vậy, phải mạnh dạn đầu tư, không sợ tốn kém, dĩ nhiên là phải tiến hành từng bước thích hợp trong điều kiện nền kinh tế cho phép.

3. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một môi trường trong đó mọi quân nhân tự giác chấp hành kỷ luật quân sự, thể hiện "quân lệnh như sơn", luôn luôn phát huy và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp, vừa chiến đấu, vừa xây dựng của quân đội ta… Những truyền thống đó đã trở thành đặc trưng và cốt cách của "Bộ đội Cụ Hồ". Tuy nhiên, để xây dựng môi trường văn hóa quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, thì phải làm cho các truyền thống cực kỳ quý báu do thế hệ đi trước kiến tạo có sức sống trường tồn, được chính giới trẻ quân đội hôm nay tiếp nhận, bảo tồn và phát huy lên một trình độ mới./.

Môi trường văn hóa quân sự với việc xây dựng nhân cách quân nhân

 

 Môi trường văn hóa quân sự đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục, xây dựng nhân cách quân nhân. Lê-nin cho rằng, giáo dục không nằm ngoài mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với một hệ thống các mối quan hệ xã hội, không thể nằm ngoài một hoàn cảnh xã hội nhất định. Mác thì khẳng định, hoàn cảnh tạo ra con người và trong một chừng mực nhất định, con người tạo ra hoàn cảnh.

Từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu rằng, công tác Đảng, công tác chính trị có chất lượng và hiệu quả cao nhất khi nó được tiến hành trong một môi trường mà ở đó con người được giáo dục và rèn luyện trong một "bầu trời" trong sáng, một "không khí" lành mạnh, dân chủ, công bằng, đoàn kết, đầy tình nhân ái, tình đồng chí, đồng đội, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, quan tâm đến nhau, chăm lo đời sống cho nhau cả về tinh thần lẫn vật chất, các mối quan hệ được thực hiện theo luật pháp của Nhà nước, điều lệ, điều lệnh và các chế độ, quy định của quân đội, mọi sinh hoạt đều có tính giáo dục sâu sắc.

Môi trường văn hóa quân sự, theo tư tưởng Hồ Chí Minh là môi trường trong đó thể hiện một trình độ cao của sinh hoạt quân sự, mang đậm dấu ấn tư tưởng, tác phong, đạo đức, truyền thống và hiện đại với sự tổng hòa của các thành tố văn hóa tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách quân nhân.

Môi trường văn hoá quân sự mà quân đội ta xây dựng hiện nay cần phải căn cứ vào hệ thống các chuẩn mực văn hóa Việt Nam. Đó là cái cốt lõi của văn hóa dân tộc được vận dụng và thể hiện trong lĩnh vực hoạt động đặc thù - hoạt động quân sự, tạo nên quan niệm sống, chỉ đạo những hành vi ứng xử cơ bản của quân nhân. Đó là lòng yêu nước thương nòi và tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam; là những giá trị cao đẹp của lý tưởng xã hội tiến bộ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong đấu tranh cho tư tưởng xã hội tiến bộ được vận dụng và xây dựng trong điều kiện của hoạt động quân sự.

Như vậy, để xây dựng môi trường văn hóa quân sự thực sự trong sáng, lành mạnh thì phải xây dựng cho được một môi trường, trong đó, mọi sinh hoạt thực sự dân chủ, ở đó mỗi người lính là một nhân cách, một chủ thể độc lập, năng động, sáng tạo; loại bỏ tận gốc mọi biểu hiện gia trưởng; mọi quân nhân có lối sống, nếp sống và hành vi ứng xử có văn hóa cao, có chính kiến độc lập, không dựa dẫm vào nhau, phát triển văn hóa chính trị, văn hóa tranh luận.

Mặt khác, phải xây dựng một quân đội có tính tổ chức và kỷ luật cao, thực hiện toàn quân một ý chí. Với quan niệm như vậy, theo tác giả, cần giải quyết tốt mấy vấn đề quan trọng dưới đây:

1.Cần nhận thức rằng việc xây dựng chính quy là một nội dung quan trọng của môi trường văn hóa quân sự. Điều này đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng. Chính quy không chỉ tạo ra sức mạnh thống nhất của quân đội, mà còn tạo ra vẻ đẹp của văn hóa quân sự. Chính quy đòi hỏi một sự hy sinh, tiêu hao trí lực và thể lực cao hơn so với đời sống dân sự. Do đó, cần có những chính sách thích hợp để bù đắp sự tiêu hao đó, như chính sách tiền lương, phụ cấp, chính sách ưu đãi... Về mặt tâm lý, trong điều kiện gò bó của kỷ luật quân sự, của thời gian lao động quân sự…, người quân nhân thường ít có thời gian cho riêng tư nên phải có những chế độ, quy định phù hợp để họ không có mặc cảm về điều đó.

2. Môi trường văn hóa quân sự phải giàu tính lý tưởng, phải đưa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa nhân văn trở thành tính trội, làm đối trọng để loại bỏ sự tác động, xâm nhập của môi trường không lành mạnh ngoài xã hội. Đồng thời, phải làm cho nó thích nghi với cơ chế thị trường, không thuần lý tưởng một cách duy ý chí, thoát ly đời sống hiện thực. Nghĩa là phải quan tâm đến lợi ích chính đáng của quân nhân, thông qua việc giải quyết những lợi ích chính đáng của quân nhân, làm cho mỗi quân nhân thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự thương yêu đùm bọc và chăm sóc chu đáo của nhân dân, từ đó yên tâm phục vụ quân đội, tự hào với nghề nghiệp vinh quang và cao cả của mình.

Một môi trường văn hóa quân sự giàu tính lý tưởng đòi hỏi phải có thẩm mỹ quân sự. Do đó, phải đưa thẩm mỹ vào quân sự. Cuộc sống, ăn, mặc, ở, sinh hoạt của bộ đội phải sạch, đẹp, thống nhất. Doanh trại và hệ thống cảnh quan phải khang trang, có dáng vẻ của văn hóa sinh thái. Muốn vậy, phải mạnh dạn đầu tư, không sợ tốn kém, dĩ nhiên là phải tiến hành từng bước thích hợp trong điều kiện nền kinh tế cho phép.

3. Xây dựng môi trường văn hóa quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một môi trường trong đó mọi quân nhân tự giác chấp hành kỷ luật quân sự, thể hiện "quân lệnh như sơn", luôn luôn phát huy và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp, vừa chiến đấu, vừa xây dựng của quân đội ta… Những truyền thống đó đã trở thành đặc trưng và cốt cách của "Bộ đội Cụ Hồ". Tuy nhiên, để xây dựng môi trường văn hóa quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, thì phải làm cho các truyền thống cực kỳ quý báu do thế hệ đi trước kiến tạo có sức sống trường tồn, được chính giới trẻ quân đội hôm nay tiếp nhận, bảo tồn và phát huy lên một trình độ mới./.

Hãy học từ cả những… thất bại!

 Lịch sử phát triển của thế giới càng gần đây càng cho thấy, tầm nhìn chính trị, một mặt, không thể không đặt trên kinh nghiệm hay bài học lịch sử; mặt khác, nếu muốn tiếp tục làm nên lịch sử bước cùng thời đại thì nhất định phải được dẫn dắt bởi tầm nhìn chính trị chiến lược.

Công cuộc đổi mới hiện nay của chúng ta đang cấp bách đòi hỏi và thách thức: Phải nhìn tới chân trời, nhưng để hành động trên đất nước mình!

Muốn thế, không có con đường nào cần hơn và ngắn hơn là: Học!

Vì, nói như cổ nhân: Nhân bất học bất tri lý (người mà không học thì không biết được lý lẽ)! Vì, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu! Và, vì chính UNESCO cũng đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Bài học kinh nghiệm hay rộng hơn là bài học lịch sử, mà chúng ta thường tổng kết, chính là chung đúc sự học vậy, nhìn qua 7 kỳ Đại hội của Đảng ta!

Nếu lịch sử định vị chúng ta là ai, ở đâu... thì tầm nhìn chiến lược chính trị cho chúng ta lời đáp: Vì sao chúng ta đi, đi tới đâu và đi như thế nào để phát triển mạnh mẽ và bền vững, chứ không đơn thuần chỉ là kinh nghiệm, dù to lớn đến mấy hay chỉ là bài học lịch sử nhất thời nào đó, dù quý báu tới đâu.

Từ lịch sử thế giới cả thành lẫn bại, nhất là những cường quốc mạnh mẽ hay đang suy tàn, đã và đang nổi bật một triết lý rằng, phải chăng học tập và việc tổng kết bài học kinh nghiệm có thể được xem như một quá trình, thậm chí bao hàm cả những khúc quanh, nhất là những thời khắc “đứt gãy” của lịch sử, chứ không phải là một tập hợp đơn thuần các kiến thức thực tế và nhất là khi bị ràng buộc bởi các hủ tục giáo điều, dù mỹ miều tới mấy. Từ đó và qua đó, mới có thể tổng kết những bài học kinh nghiệm cho tương lai và thuộc về tương lai một cách toàn vẹn!

Người ta không thể học cách kiếm tiền từ những người không có tiền! Những quốc gia này có thể thành công và trở nên hùng mạnh từ những bài học thất bại và thậm chí là sự sụp đổ của quốc gia khác! Vì, sự thăng  - giáng, thành - bại, thắng - thua... của lịch sử luôn là sự vận động và chuyển hóa không ngừng vô cương! Đó là sự vận hành và đắp đổi tự nhiên của lịch sử! Vấn đề còn lại là ở lòng dũng cảm và trách nhiệm với quốc gia, dân tộc!

Đó chính là hai mặt của việc học và tổng kết bài học kinh nghiệm. Chính vì vậy, nếu các nhiệm kỳ trước đây, chúng ta thường phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn thì giờ đây, cần tổng kết thực tiễn - phát triển lý luận! Lịch sử và thực tiễn đổi mới cũng cho chúng ta thấy và đã xác tín điều đó rằng, kinh nghiệm sẽ chỉ là quá khứ, bài bọc cũng chỉ là thực tiễn của ngày hôm qua (và dù là bài học nhưng liệu còn có thể thuộc không), nếu thiếu tầm nhìn chiến lược. Nói cách khác, ở góc độ nào đó, có thể thấy nếu kinh nghiệm là lịch sử thì tầm nhìn chính là triết học phát triển của tương lai.

Tổng kết thực tiễn - phát triển lý luận chính là kết tinh điều đó!

Do đó, bài học của chúng ta nhất định phải bao gồm cả những bài học thất bại, chứ không đơn thuần chỉ toàn những bài học thành công! Tầm nhìn chiến lược và toàn vẹn cũng nảy nở từ đây! Và, tới lượt nó, sự phát triển cũng được dẫn dắt bởi tầm nhìn này! Chính là lý luận được phát triển!

Chẳng hạn, chúng ta đang dỡ bỏ đủ thứ quỹ bình ổn, dù ở tầm quốc gia, mà nhiều người cho đó là kinh nghiệm quý báu! Vì, kinh tế thị trường không dung nạp nó! Nó là hữu hạn với kinh tế thị trường! Một khi đem cái hữu hạn để giải quyết cái vô hạn, lại biến ảo, chắc chắn sẽ thất bại! Nhận rõ bài học thất bại cũng là mục đích tổng kết của chúng ta.

Lại chẳng hạn, dù qua 20 năm, với tất cả sự nỗ lực, vì sao Khu Công nghệ cao Láng - Hòa Lạc không “cất cánh” nổi, như nhiều người kỳ vọng! Đến nay chúng ta vẫn chưa có một “thung lũng Si-li-côn” nào cả, dù ai cũng tâm đắc và hy vọng, vì đó là cách làm rập khuôn mà chúng ta học được từ các quốc gia phát triển trên địa hạt này. Lại là bài học của sự rập khuôn những thành công của người khác! Xưa nay, không có một sự thành công nào đáng kể cả, thậm chí còn thất bại nếu chỉ sao chép hay rập khuôn vọng ngoại! Nhưng, chúng ta không thành công, vì nó đụng chạm và mâu thuẫn tới rất nhiều lĩnh vực của luật hiện hành, cần phải sửa đổi và ban hành thể chế mới. Bài cần học ở đây, chính là học từ những thất bại của... chính mình!

Chúng ta cần học những bài học thất bại và học từ chính mình, trước khi học cách thành công và học từ người khác!

Đó là hai mặt của sự học, của việc xây dụng những bài học kinh nghiệm toàn vẹn và khả thi!

Đó cũng chính là mục tiêu, là động lực của việc “tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận”, để chúng ta tiếp tục bước đi một cách chủ động, vững chãi và thành công!./..

TỔNG THỐNG PUTIN NGƯỜI KHÔNG THỂ THIẾU CỦA NƯỚC NGA

 23 năm trước, ông Vladimir Putin mới chỉ là người đứng đầu cơ quan tình báo an ninh ít được mọi người biết tới và được cho là ít kinh nghiệm chính trường nhưng đã được Tổng thống Nga Boris Yeltsin tín nhiệm và trao quyền lãnh đạo nước Nga.


 Ở Việt Nam, chúc nhau vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc đã trở thành phong tục, là một nét đẹp văn hóa. Thế nhưng, những năm gần đây có hiện tượng, Tết lại trở thành cái cớ để một số cán bộ, công chức, viên chức “ra mắt”, chào hỏi, nhờ, cậy, lo lót, chạy chọt. Âu cũng là một trong muôn vàn sự “biến tướng” của hành vi hối lộ, dù Ban Bí thư vừa ký Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 10-12-2019, yêu cầu không tổ chức đi thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; thực hiện nghiêm chủ trương cấm biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức.

Cơ quan tôi có lẽ là một trong số ít cơ quan không có lệ biếu sếp ngày Tết. Trong khi bạn bè tôi chạy đôn chạy đáo, đau đầu lo chọn quà Tết, thì tôi lại thảnh thơi, thành ra, tôi như người “âm lịch” trước bạn bè.

Đang ngồi thì điện thoại kêu, hóa ra là anh bạn từng rất được nể phục vì “lên quan” sớm nhất lớp đại học. Giờ này mọi năm, có gọi thì anh bạn “kêu như vạc” vì “bận sấp mặt”. Nay nghe giọng anh bạn kém vui, hóa ra có tâm tư. Thì là thế này.

Năm nay đại hội, cũng có người gợi ý cho anh bạn tôi là sao “ngồi mãi” vị trí này 3 năm nay sau khi đi luân chuyển mà chưa thấy phát triển, nên hỏi ý tôi cần có “động thái” gì đó không. Anh bạn tôi đủ các bằng cấp, như tiến sĩ, cao cấp lý luận chính trị, tốt nghiệp lớp cán bộ nguồn, được đào tạo ngoại ngữ theo Đề án 165 ở Anh... nhưng cứ lận đận mãi. Anh bạn tôi tốt nghiệp bằng giỏi, sau 2 năm được đề bạt làm thư ký cho chủ tịch tỉnh, 35 tuổi đã được bổ nhiệm làm phó chánh văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, sau đó luân chuyển về làm phó bí thư một huyện và đi tận 5 năm mới được về (trong khi có người chỉ đi chưa tới 1 năm). Luân chuyển về địa phương, anh cũng muốn đóng góp sức mình vào sự phát triển của địa phương nhưng không được cơ cấu vào thường vụ. Sau khi về, được bố trí vào vị trí phó giám đốc sở như hiện nay và đã đưa ra chương trình hành động cụ thể, đề xuất với lãnh đạo tỉnh tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị khoa học thành công với nhiều giải pháp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế của tỉnh. Thế nhưng, anh bạn tôi không được cơ cấu vào đảng ủy. Vậy là luân chuyển đi không vào thường vụ, luân chuyển về không vào đảng ủy. Ở đâu, cũng “đứng ngoài cuộc chơi” dù rằng giữ vị trí lãnh đạo ở một sở quan trọng của tỉnh. Hôm nay có người gợi rằng, anh là người có năng lực thực sự nhưng không nhạy bén với thời cuộc nên bị “ngồi mãi một chỗ”. Đại hội đến nơi rồi, phương án nhân sự đã lên khuôn. Có ai chê chức tước, phẩm vị đâu. Nói mãi nên bạn tôi cũng sinh ra nghĩ ngợi: “Nếu mình cũng “nhạy bén” theo lời người ta, cũng bon chen, gặp gỡ, biếu xén, đề đạt, cậy nhờ... thì khác gì những người kia, mà còn vi phạm quy định của Đảng, Nhà nước. Nhưng nếu không làm, cứ ngồi mãi đây, rồi những người chẳng hơn, thậm chí kém xa mình chỉ đạo mình thì thật khó chịu”.

Anh bạn nói thế làm tôi cứ băn khoăn, bảo bạn không nên làm thì sợ nhỡ có gì bạn lại trách, bảo làm tới thì trái với những điều cán bộ, đảng viên không được làm. Quan trọng là cái tâm của người đảng viên không cho phép làm những điều trái với quy định của Đảng, của Nhà nước. Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 205- QĐ/TW, ngày 23-9-2019, quy định về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác cán bộ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có bài viết với tiêu đề: “Chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, trong đó nêu rõ quan điểm kiên quyết không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người có tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy phiếu bầu, chạy cơ cấu; bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói không đi đôi với làm; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính. Với tinh thần quyết liệt và những quy định chặt chẽ của Đảng, những hiện tượng như, đánh tiếng”, nhờ cậy, lo lót, cất nhắc, chạy ghế... trước Đại hội XIII của Đảng không dám nói là không còn nhưng chắc chắn sẽ giảm đi rất nhiều. Tôi suy nghĩ kỹ và quyết định phải nói với anh bạn tôi không thể, dứt khoát không thể tồn tại cái suy nghĩ có “động thái” trước đại hội vào dịp Tết được. Người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt như bạn tôi càng cần phải gương mẫu, từ suy nghĩ đến hành động đều phải nêu gương, tin tưởng vào tổ chức.

Công tác cán bộ là “công việc gốc” của Đảng, do đó, trong bản thân mỗi người phải tự chiến thắng tư tưởng chạy chức, chạy quyền; đồng thời vận động, tuyên truyền để bạn bè, đồng nghiệp, những người xung quanh không nên và không dám chạy chức, chạy quyền. Đây chính là một trong những biện pháp quan trọng góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước./.

Hội chứng vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý

 

Đến nhà ông G. được vài phút nhưng vì thấy gia chủ, một giáo sư có tên tuổi trong lĩnh vực văn hóa đang mải miết, say sưa với việc đo, đánh dấu, cắt gọt làm mô hình đèn giao thông, ông T đành lên tiếng:

- Lạ nhỉ, văn hóa thì liên quan gì đến giao thông cơ chứ?

Ông G. cười, kéo ông T. vào bàn nước và mở lời: Việc xây dựng đội ngũ cán bộ ở các cơ quan, đơn vị, địa phương tuy đã có những đổi mới, song hiện nay vẫn đang có những yếu kém, nhất là trong sử dụng, đánh giá cán bộ. Các cơ quan, đơn vị và địa phương chia tách công việc ra quá nhiều tầng nấc, phân cho nhiều người cùng quản lý một công việc nên dẫn đến tình trạng cán bộ “nhàn” quá.

- Nó chẳng liên quan đến cái mô hình đèn tín hiệu giao thông mà ông đang làm, ông T. cắt lời.

- Ấy, ông nghe này! Vì việc ít, vì nhàn, vì lương không đủ sống nên họ tìm cách làm thêm, trong đó làm thêm từ chính công việc được giao là cách đầu tư ít tốn kém nhất, thu lợi nhuận cao nhất. Chính cách “tăng gia” ấy đã trở thành thói quen khó bỏ, lây lan rất nhanh trong bộ máy. Đây chính là gốc, rễ đẻ ra chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực. Tôi làm cái mô hình đèn giao thông là để giảng cho sinh viên hiểu rằng, không được vượt “đèn đỏ” trong công tác quản lý, lãnh đạo.

- Do đâu mà ông lại có ý tưởng lạ đời này, liệu có hiệu quả không? Ông T. thắc mắc.

Ông G. thủng thẳng nói về ý tưởng của mình, rất nhiều người Việt khi tham gia giao thông cố tình vượt đèn đỏ, dù biết là nguy hiểm, đe dọa tính mạng. Ấy nhưng, nó chẳng thấm tháp gì so với vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý.

Ông G. còn phân tích thêm: Hiện tượng vượt “đèn đỏ” trong tham gia giao thông có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức chấp hành kỷ luật, pháp luật của người tham gia còn hạn chế, còn vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý thì xuất phát từ nguyên nhân chính là lợi ích cá nhân.

Vượt “đèn đỏ” giao thông thì có thể nhìn thấy ngay nhưng vượt “đèn đỏ” trong lãnh đạo, quản lý thì khó bị phát hiện hơn nhiều và hiện nay là tình trạng khá phổ biến. Thậm chí có trường hợp cán bộ vượt “đèn đỏ” nhưng vẫn thăng quan, tiến chức như thường.

Cứ theo như suy luận của ông G. thì trong xã hội đang tồn tại nhiều hiện tượng vượt “đèn đỏ”. Đây là việc nguy hiểm, vì nó khiến tình trạng tham nhũng trong bộ máy chính quyền tăng lên, gây bất bình đẳng, làm triệt tiêu mất động lực cạnh tranh lành mạnh và gia tăng phân hóa giàu nghèo.

Đặc biệt hơn, tình trạng vượt “đèn đỏ” này sẽ khiến cho niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý, điều hành của Nhà nước ngày càng giảm sút. Chính vì vậy, cần có hình thức xử lý đủ mạnh để tình trạng vượt “đèn đỏ” sẽ không có cơ hội xuất hiện./.

CHỮ "QUAN LIÊU" VIẾT THẾ NÀO

 Năm 1952, trong một lần đến thăm lớp "chỉnh huấn" chính trị cán bộ trung, cao cấp, anh em quây quần xung quanh Bác, nghe Bác kể chuyện, dặn dò.


Cuối buổi, Bác cầm một cái que nói:

Chọn vỏ, bỏ lõi

 Chuẩn bị đến kỳ đại hội đảng bộ các cấp, ở cơ quan, đơn vị, địa phương nào cũng nổi lên vấn đề về nhân sự khiến kẻ vui, người buồn. Lựa chọn nhân sự đôi khi không theo các quy định của Đảng mà lại theo kiểu “chọn vỏ, bỏ lõi”. Câu chuyện của M, bạn tôi xảy ra gần 5 năm trước là một điển hình.

Vào tuổi 45, độ tuổi đang chín để có thể cống hiến nhiều nhất, tốt nhất thì M quyết định viết đơn xin ra khỏi ngành. Vợ M khuyên can thế nào anh cũng không nghe. Chị nghẹn ngào gọi điện cho tôi nhờ tác động để anh rút bỏ lá đơn kia.

Là bạn nối khố, tôi đến nhà tìm hiểu sự việc và thực hiện nhiệm vụ mà vợ anh đặt nhiều hy vọng. Anh giãi bày, nếu nói anh không yêu, không gắn bó với nghề và công việc đã theo đuổi suốt 20 năm qua thì không đúng. Bỏ nghề anh cũng tiếc lắm nhưng không còn cách nào khác. Bởi theo anh, trong đợt bổ nhiệm vừa rồi, lãnh đạo cơ quan đưa một loạt cán bộ mới lên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, trong đó có những người năng lực cũng chỉ vào loại “thường thường bậc trung” chẳng lấy gì làm xuất sắc. Điều anh buồn nhất là họ còn thiếu nhiều tiêu chí để trở thành lãnh đạo. Vì vậy, anh quyết định xin nghỉ bởi nếu tiếp tục làm thì hàng trăm cái diễn ra hằng ngày có thể gây ra những xung đột mà anh không thể làm chủ được, dễ dẫn đến bất hòa sâu sắc... Anh bảo, nếu được giải quyết về nghỉ, anh sẽ mở một doanh nghiệp. Mấy năm đầu sẽ vất vả, nhưng anh tin, với khả năng của mình, doanh nghiệp của anh sẽ có chỗ đứng và vị thế.

Thực ra, câu chuyện của M còn nhiều tình tiết và những trăn trở mà anh không tiện nói ra. Học với nhau từ nhỏ, tôi biết M là người cương trực, ngay thẳng và tin tưởng vào nguyên tắc của tổ chức. Theo M, nguyên tắc là để tạo ra sự công bằng, là “bà đỡ” để sự miệt mài làm việc của mỗi cá nhân đến được kết quả và thành công. Anh tin, “gái có công thì chồng không phụ”. Với kết quả làm việc và phẩm chất đạo đức tốt, một ngày kia tổ chức sẽ “gọi tên anh”.

Thế nhưng, dù quy trình công tác cán bộ có ngặt nghèo đến đâu thì M vẫn không được lựa chọn cũng bởi “thước đo” có thể thẳng nhưng “người cầm thước” chắc gì đã không cong. Sau này có dịp hỏi lại về quyết định khó khăn trong đời ấy, tôi được M cho biết, những cán bộ kia lọt được vào quy hoạch, lọt được vào “vòng ngắm” và trở thành người lãnh đạo, quản lý, nhưng sau đó cũng trải qua quãng thời gian không mấy ngọt ngào do còn thiếu về phẩm chất cũng như năng lực lãnh đạo. Thế nên, theo anh, chức mua thì chẳng thể tạo được danh. Nó giống người ta đi mua một chiếc áo hàng hiệu đắt tiền nhưng khi mặc vào thì không hợp và cái sự không hợp đấy thì ít ai không nhìn thấy.

Công tác cán bộ nếu tiến hành không nghiêm, không hướng vào chọn người có đức, có tâm, có tầm, có tài để phục vụ sự nghiệp chung mà lại bị coi là phương tiện để vụ lợi thì chẳng thể cho ra những “công bộc” hết lòng, hết sức vì sự phát triển đi lên của cơ quan, đơn vị, địa phương.

Vỏ chỉ là bề ngoài hào nhoáng mà mắt thường có thể nhìn thấy được, đánh giá được nhưng muốn biết cái lõi ra sao cần có thời gian trực tiếp tiếp cận, cảm nhận, chính vì vậy không dễ để trong thời gian ngắn có thể chọn ngay được “lõi”. Bởi vậy nếu còn “chọn vỏ bỏ lõi” thì dù chúng ta có chống chạy chức, chạy quyền mạnh mẽ đến đâu đi chăng nữa cũng không thể chọn được “lõi” làm nòng cốt./.

Dại, khôn

 C ó người nhất quyết về nước, bỏ hết lại sau lưng mình Pa-ri hoa lệ với tuổi trẻ, với lương cao bổng hậu, đoạn tuyệt trước đầy dãy nhời mời mọc chức quyền oai phong, trùng trùng bổng lộc của chế độ thực dân, mà dứt khoát khoác ba-lô theo Cụ Hồ lên rừng làm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, trong khi bao lứa cùng thời, họ đi con đường khác để vinh thân, phì gia một cõi an nhàn. Rồi, kháng chiến thành công, lại cả đời còn lại, dốc tâm vì đại nghiệp chấn hưng nền giáo dục nước nhà, mà hy sinh, mà phấn đấu, cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, tịnh không một tấm huân chương trên lồng ngực bảy mươi lăm năm trên đời!

Khi ấy, người ta bảo, Con Người ấy: thật Dại!

Lại có người quan phẩm tột đỉnh Thượng thư, oai quyền nghiêng giời lệch đất, của nả phồn hoa tọa hưởng tới mấy đời, thế mà ngoảnh mặt quay đi, tạm biệt những người đồng liêu ở lại, nghe theo tiếng gọi núi sông, lòng nhẹ tựa lông hồng, một gậy tre gày, một gánh sách nặng, ngược sông Lô, mải miết đi theo kháng chiến trường kỳ, với “chí nam nhi chống kiếm ra đi”, đầy hào sảng... Cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, không nhà cao cửa rộng, không tài sản như ai, chỉ nguyên vẹn một tấc lòng ái quốc vô biên, lặng lẽ như Thu liễm, Đông tàng, như cố đợi mùa Xuân sinh, Hạ trưởng!

Bây giờ, thiên hạ lại bảo, Con Người ấy: rất không Khôn!

Khôn - Dại - Dại - Khôn... luân hồi đắp đổi, biến hóa vô thường, nhân thế vô cương!

Thế mới hay!

Bởi chưng vậy, mà Cụ Trạng Trình sống cách nay chừng 500 năm, vẫn rằng: “Chớ cậy mình khôn cười kẻ dại. Gặp thời dại cũng hóa nên khôn”. Rồi, chuyện dại, khôn, thời gian trôi đi cả gần 370 năm sau ấy, người đời vẫn còn mãi lúng túng: “Thế sự đua nhau nói dại khôn. Biết ai là dại, biết ai khôn”, như Cụ Trần Tế Xương từng thốt lên như nghìn câu hỏi, tới tận hồi đầu thế kỷ XX!

Nhưng, chuyện dại, khôn, dù vi nan thế, dù đắp đổi thế, dù lòng người chưa tận tường, thậm chí hỗn mang như thế, mà vẫn minh bạch, rạch ròi như là nhẽ đất kia dày không qua ba thước, giời này cao chẳng quá chín tầng xanh, một cách tự nhiên nhi nhiên!

Này, có kẻ: “Danh lợi đề cao người thả lưới. Lòng nhân hạ thấp kẻ giăng câu”, chui vào bộ máy, đầy mưu mô giảo quyệt, ủ mưu và đoạt được chức này quyền nọ! Thậm chí, chà xéo cả lên bạn đồng môn, bạn đồng liêu không tranh chấp, họ tịnh không rơi lệ, để “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”. Ai cũng bảo, họ khôn. Nhưng, giời xanh có mắt, chỉ hai năm sau, “người thả lưới”, “kẻ giăng câu”, tất cả bọn họ nhìn nhau “qua lỗ tò vò... nhìn nhau”! “Trí trá, leo cao khôn hóa dại. Thẳng ngay, điềm đạm dại thành khôn”. “Cúi luồn đi dưới cửa môn. Khôn này mới hãi đáng chôn huyệt đời”.

Thì ra, sự khôn, dại dù vô chừng, song không thoát nổi nhời tiên báo của Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Khôn mà hiểm độc là khôn dại. Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”.

Kia, lại lắm kẻ: Quyền cao chức trọng một đống, vơ vét bạc tiền như nước mười sông, “đánh bóng tài mình” bởi những thứ bằng cấp chen chúc bán mua đông như nêm cối! Ai cũng bảo họ: Khôn. Trong khi bao người kia: Phẩm hạnh có thừa, tài năng đủ cả, nhưng “ngọc không bán rao”, lại chỉ lầm lũi như “rùa trong linh điện”, “rồng thiêng đợi hội Long vân”, quyết chí làm tròn bổn phận của mình, không một lời oán thán, không một tiếng kêu ca, không một ý tỵ hiềm... Và, họ cứ thế suốt một đời như thế! Ai cũng than thương cho họ: Dại, thậm chí những kẻ “mũ cao áo dài” cũng xuống ngôn phán họ: Thậm ngu! 

Xem ra, sự dại, khôn nhân thế chua xót tới mức: “Đời muôn mặt nửa lời khôn dại. Thâm trầm tình tê tái dại khôn”. Khôn, dại trên đời tưởng như một cõi vô lường! 

Nhưng chung cuộc, tới khi “cháy nhà ra mặt chuột”, cả đám “mũ cao áo dài”, “bằng cấp bán mua”... kia, ngỡ Khôn, thì thân mang tội tù, thì người đời lại bảo, đích thị đại ngu: “Tham của hại người khôn hóa dại. Mua bằng chạy chức dại đâu khôn”. Và, còn “những con rùa trong linh điện” ấy, vẫn bình yên đã đành, mà thời vận tới, “ngọc tự quang” rạng rỡ! Thì ra: “Chịu thiệt người đời đừng tưởng dại. Tranh hơn thiên hạ chớ lầm khôn”.

Viết tới đây, lại nhớ nhời Cụ Trạng Trình truyền bảo: “Chớ cậy mình khôn cười kẻ dại. Gặp thời dại cũng hóa nên khôn”.

Ngắm nhìn thời thế dại, khôn, vậy rằng:

“Sống thực cần chi khôn với dại
Mai ngày mới biết kẻ dại khôn”! ./.

“Ba nổi, bảy chìm”

 Họp lớp năm nay, tất cả đều mừng cho anh bạn lớp trưởng - người được coi là “thành đạt” nhất khóa - chuẩn bị được bổ nhiệm vị trí công tác cao hơn.

Nhưng với vẻ trầm ngâm, suy tư, anh chia sẻ: Tổ chức cho biết, năng lực của tôi được đánh giá cao, đã được quy hoạch vào một vài vị trí, tình cờ mấy nơi đó đều đang “khuyết”, nên muốn tham khảo ý kiến lựa chọn của tôi, mà tôi thì nghĩ mãi chưa xuôi. Có một chỗ tôi ưng hơn vì khá phù hợp năng lực hiện tại; chỗ kia hơi khác ngành, nhưng nếu cố phấn đấu chắc cũng tốt, lại được mấy “quân sư” khuyên chọn, vì đó là nơi có nhiều “hoạt động bề nổi”, dễ tạo “dấu ấn” không lo hình ảnh bị “chìm”.

Lời tâm sự đó lập tức trở thành chủ đề “nóng” về “ba nổi, bảy chìm” hay “bảy nổi, ba chìm” trong công tác, như ngày xưa lớp tôi từng tranh luận sôi nổi về thuyết “tảng băng trôi” trong văn học.

Nào là, không ít nơi, không ít người có xu hướng đánh giá cán bộ qua “hoạt động bề nổi”, cho rằng lãnh đạo, quản lý trước hết phải biết “đi đứng”, “ăn uống”, “cư xử”,…; rồi “hoạt động bề nổi” có “ưu điểm” 3 dễ: Dễ làm, dễ thấy, dễ ghi điểm,… Mà để có “thành tích bề nổi” thì có “muôn hình vạn trạng” cách “đánh bóng” bản thân, như trong công việc lấy phương châm “dễ làm khó bỏ”, trong quan hệ thì “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”; tìm cách “lăng xê” thành tích “ít xít ra nhiều”, chả ngại mang tiếng “vẻ ngoài che cái sơ sài bên trong”, “thùng rỗng kêu to”…. Nào là, khối “cán bộ diện COCC” dễ dàng “thăng tiến chóng mặt” bởi “sinh ra đã ở vạch đích”, hội tụ đủ các yếu tố “hậu duệ”, “quan hệ”, “tiền tệ”, “đồ đệ”; còn “trí tuệ” thì… bản thân mấy “thế mạnh” kia cũng đủ tạo ra “cả quyển” “thành tích bề nổi”…

Lại nữa, với “tư duy nhiệm kỳ”, “nhấp nha nhấp nhổm”, một số lãnh đạo không đánh giá cán bộ theo chiều sâu của cả một quá trình phát triển mà lại căn cứ theo “thành tích bề nổi”, thành tích trong thời gian ngắn, nhất là khi “chạy nước rút”.

Và như thế, dường như những người làm việc “thâm trầm” lặng lẽ, tự chỉn chu, cố gắng hoàn thành công việc, không thích “PR bản thân”, tránh bị lôi cuốn vào các nhóm lợi ích, đôi khi lại thiệt thòi trong đánh giá, đề bạt (?!).

Đợi bớt “lao xao”, một anh bạn trong ngành tổ chức xây dựng đảng mới thủng thẳng: Các bạn lại cũng nhìn “bề nổi” để đánh giá hiện tượng “cán bộ bề nổi” và từ một vài hiện tượng đánh giá cả công tác cán bộ rồi. Thực tế, áo choàng không làm nên thầy tu. Những cán bộ càng “bề nổi” thì càng dễ “phát lộ”. Không đủ năng lực gánh vác trọng trách tất dẫn tới mất kiểm soát, bị cấp trên/dưới, đối tác/cộng tác “qua mặt”, “vượt mặt”… mà mình lại là người chịu trách nhiệm. Khi xảy ra sai phạm, bị kỷ luật, mất chức còn là nhẹ, là may; nặng thì không ít người vướng vào lao lý. Còn cán bộ có trình độ, chiều sâu, họ vẫn được đề bạt, thăng tiến đó thôi; chỉ là vì họ ở lĩnh vực không phải “bề nổi” hoặc khiêm tốn trong hào quang tập thể, ngỡ tưởng “phần chìm” nên chính các bạn chưa thấy. Rồi anh kể một số ví dụ tiêu biểu thời gian qua, khi “lò” đang “nóng rực”.

Mọi người vỡ nhẽ, biểu hiện đồng tình. Và gương mặt anh bạn lớp trưởng dãn ra, chắc tự trong lòng đã có quyết định.

Qua câu chuyện để thấy, về phía mình, cán bộ phải biết “tự lượng sức mình”, cầu tiến trong khả năng; quyết chí tiến thủ, đã nhận trọng trách thì phải hết lòng, hết sức, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, làm tròn và làm tốt phận sự. Đồng thời, lãnh đạo, đặc biệt là khâu tổ chức cán bộ, cần xem xét, đánh giá cán bộ cho đúng và trúng. Cần thấu suốt phần chìm, phần nổi trong mỗi con người đáp ứng ra sao với lĩnh vực công tác, đừng để cán bộ “lênh đênh” trong những tiêu chí xem xét, đánh giá, bổ nhiệm thiếu khoa học, chưa công tâm./.

Bệnh “lệnh ông không bằng cồng bà”!

 Lẽ thường, ai cũng hiểu câu “lệnh ông không bằng cồng bà” theo nghĩa bóng, ám chỉ vai trò làm chủ của người vợ, chứ không phải người chồng trong gia đình và cụ thể hơn là ảnh hưởng quá lớn của các bà vợ sếp tới mọi công việc của các ông xã, can thiệp quá sâu vào những việc bên ngoài gia đình, thậm chí là cả những công việc liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm, phận sự của người chồng đang làm lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, trong đó có công tác hết sức quan trọng của Đảng là công tác cán bộ.

Ở một số nơi, dư luận râm ran kháo nhau, muốn được bổ nhiệm, lên chức nhanh chóng thì cán bộ nhất định phải qua nhà riêng “gặp chị” mà nhờ vả. Bởi lẽ, anh đồng ý rồi mà chị chưa xuôi thì nhân sự ấy cũng còn phải đợi... “đến mùa quýt”; còn ngược lại, trường hợp nào chị nhà đã “chấm”, đã ủng hộ rồi thì anh nhà cũng khó mà làm trái ý được. Ở một cơ quan nọ, các nhân viên rỉ tai nhau, vợ sếp mới là “Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ” đích thực của cơ quan! Đồng chí Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ có gặp chị thì cũng chỉ biết tấm tắc xuýt xoa, gật đầu lia lịa “vì chị cao siêu quá”! Mọi thứ ở cơ quan cứ thế mà “đi vào nền nếp”, cho dù ai cũng biết nhưng chẳng dám nói ra và lời ca thán của cán bộ, nhân viên dưới quyền tuy vẫn có nhưng “quân lệnh như sơn”, “sếp ông” đừng hòng mà dám ho he, cứ thế mà thi hành!

Dĩ nhiên, “sếp ông” ở cơ quan oai hùng là thế nhưng về nhà thì “cũng thầm khâm phục vợ mình”. Bao nhiêu khẩu hiệu, quyết định, quy trình về công tác cán bộ ban hành ở cơ quan tuy rất bài bản, chi tiết, nhưng chẳng “xi-nhê” tẹo nào, chỉ có quyết tâm của “chị nhà” mới làm nên chuyện, nhất là việc chị luôn có ý kiến đề nghị cất nhắc những “đứa em” rất “yêu quý chị”, hết mực quan tâm, “chăm sóc” chị và con cái. 

Lệnh ông không bằng cồng bà là thế!

Vô số giai thoại về các “chị nhà”, phu nhân sếp lớn, xứng đáng “lưu danh sử sách” cơ quan trong những câu chuyện phiếm của cán bộ lúc “trà dư, tửu hậu” đã chứng thực điều ấy!

Thế mới biết, tại sao trong Quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 23-9-2019 tại Điều 6, mục c, Đảng ta đã nghiêm cấm các hành vi, trong đó có cấm “để người khác, nhất là vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ”. Và trước đó, trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng cũng đã chỉ ra biểu hiện là: “Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”.

Hiện nay, khi các bộ, ban, ngành, địa phương đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng thì vấn đề lựa chọn được người cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa “hồng” vừa “chuyên” là công việc rất hệ trọng. Cán bộ lãnh đạo nào mắc phải bệnh “lệnh ông không bằng cồng bà” trong lựa chọn nhân sự sẽ gây tác hại cho công tác cán bộ của Đảng nói chung và của cơ quan, đơn vị nói riêng, vì nó gây ra nguy cơ đưa những người không đủ đức, đủ tài lên vị trí lãnh đạo, “y phục không xứng với kỳ đức”.

Cần phải quyết liệt “vạch mặt, chỉ tên” và có chế tài răn đe, xóa bỏ căn bệnh này trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, cho dù đây là việc không hề dễ dàng. Nó làm giảm sút tinh thần làm việc, ý chí phấn đấu của những cán bộ có tâm và tầm, có đức, có tài và nếu nhìn rộng hơn nữa, còn làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng!

Do vậy, cần quyết liệt hơn nữa trong phòng, chống căn bệnh “lệnh ông không bằng cồng bà” hết sức nguy hại này. Đây cũng là một trong các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong công tác lựa chọn quy hoạch và giới thiệu nhân sự cho đại hội đảng các cấp./.

Một bệnh nan y

 Trong tháp nhu cầu Maslow gồm 6 bậc do nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943, thì nhu cầu bậc cao nhất của con người là: “Muốn sáng tạo, muốn được thể hiện khả năng, khẳng định bản thân, được công nhận là có năng lực và thành đạt”, nói ngắn gọn là “nhu cầu được thể hiện mình”.

Suy cho cùng, nhu cầu được thể hiện mình là một trong những nhu cầu chính đáng của con người. Và chuyện sẽ chẳng có gì đáng bàn, khi nhu cầu, tham vọng cá nhân phù hợp với lợi ích tập thể. Điều đáng nói là, ở một số cá nhân, nhu cầu này đã phát triển một cách thái quá đến mức lệch lạc, phá vỡ sự hài hòa cần thiết, thậm chí biến chứng thành một “căn bệnh nan y”- bệnh ham quyền lực. Một số biểu hiện cụ thể là, có người dù đã về hưu vẫn thích thể hiện quyền lực như khi đang đương chức; có người chỉ là lãnh đạo ở một cơ quan, lĩnh vực nhất định nhưng lại mang thói hách dịch, cửa quyền đến cả những nơi không thuộc phạm vi mình phụ trách; có người chỉ nắm giữ quyền lãnh đạo nho nhỏ nhưng vẫn thích “ra oai”, thể hiện mình… Biểu hiện của bệnh ham quyền lực hết sức phong phú, đa dạng, nhưng cao nhất phải kể đến những người vì tham vọng quyền lực mà bất chấp mọi hậu quả, sẵn sàng “dìm” người khác để nâng mình lên; năng lực hạn chế nhưng ham hố "mũ cao áo dài" muốn phải ngồi nghế vượt qua cả cái đầu của mình; vì lợi ích cá nhân mà bất chấp lợi ích của tập thể; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; không gương mẫu trong công tác; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó;…

Tham vọng quyền lực là một trong 27 biểu hiện được chỉ rõ trong Nghị quyết số 04-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đây là một “căn bệnh nan y” bắt nguồn từ sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mà mỗi đảng viên phải luôn nhớ đến, phải lấy đó làm điều tự răn mình để tránh. Công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng lần thứ XIII đang bước vào giai đoạn nước rút, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra những chỉ đạo nghiêm khắc cho vấn đề này, sao cho không bỏ sót người có đức, có tài, nhưng cũng không được để “lọt” vào những người không xứng đáng, không đủ phẩm chất, tư cách, trong đó có những người mắc bệnh ham quyền lực. Muốn vậy, phải nhìn ra căn nguyên của bệnh, mà cái gốc của nó chính là chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”(1).

Để công việc chung, lợi ích chung không bị ảnh hưởng, để bệnh ham quyền lực không có cơ hội nảy nở và phát triển, một trong những yếu tố cốt lõi là phải chọn lựa và rèn luyện được những cán bộ có đủ cả hai yếu tố “đức” và “tài”, trong đó “đức” phải là cơ sở vững chắc cho “tài” bộc lộ và phát triển. Và, một trong những phẩm chất cơ bản của “đức” là phải biết tôn trọng lợi ích tập thể, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Các cấp ủy đảng, người đứng đầu các đơn vị phải thực sự công tâm, khách quan khi lựa chọn cán bộ, nhất định không để những người mắc bệnh này “lọt vào” cấp ủy, vào Trung ương; phải nghiêm túc thực hiện Quy định số 214-QĐ/TW, ngày 2-1-2020, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Ngoài ra, cần phải mở rộng dân chủ nhằm đẩy lùi thói độc đoán, vị quyền…

“Biết đủ thì không nhục, biết dừng thì không nguy” (Đạo đức kinh - Lão Tử). Người có bản lĩnh, có trí tuệ sẽ biết tiết chế dục vọng, biết “đủ” mà dừng lại đúng lúc. Khi tham vọng quyền lực quá lớn, vượt qua năng lực thực chất của bản thân, không phù hợp với lợi ích chung của tập thể…, chính là đang tự rước lấy tai họa cho bản thân mà không hay.

Tiếc rằng, trong thực tế, những người mắc “căn bệnh nan y” này, lại không phải là hiếm!

Nới trần làm thêm lên 60 giờ mỗi tháng

 

Giờ làm thêm mỗi tháng của người lao động được nâng từ 40 giờ lên tối đa 60 giờ, khống chế 300 giờ mỗi năm, theo nghị quyết của Thường vụ Quốc hội.

Chiều 23/3, 100% thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí thông qua nghị quyết về số giờ làm thêm trong một năm, một tháng của người lao động trong bối cảnh phòng chống Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/4/2022 (riêng quy định về số giờ làm thêm trong một năm từ ngày 1/1/2022), đến hết 31/12/2022.

Các trường hợp không áp dụng giờ làm thêm gồm: Người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi; người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; lao động nữ mang thai từ tháng thứ 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở vùng cao, vùng xa, biên giới, hải đảo; lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Trước khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định, Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung đề nghị nâng số giờ làm thêm một tháng của người lao động từ 40 giờ lên tối đa 72 giờ (gấp 1,8 lần). Quá trình kiểm tra vừa qua, Bộ ghi nhận do sức ép đơn hàng, một số doanh nghiệp thỏa thuận trực tiếp với người lao động để tăng giờ làm thêm.

"Chính việc ngấm ngầm này đôi khi khiến quyền lợi của người lao động không được đảm bảo, như tiền lương làm thêm giờ vào ngày thường ít nhất bằng 150%, ngày nghỉ hàng tuần ít nhất bằng 200%, ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lương ít nhất bằng 300%", ông Dung nói.

Ông Phạm Tấn Công, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đề nghị nâng kịch trần 72 giờ vì số công nhân mắc Covid-19 cao. Chỉ trong 23 ngày đầu tháng 3, có hơn 4 triệu ngày công bị mất do công nhân nhiễm Covid-19. "Doanh nghiệp phải dồn sức dồn người, phải tăng ca tăng kíp thì mới hoàn thành đơn hàng. Đây không phải là ưu đãi cho doanh nghiệp mà là ứng phó với Covid-19, vì trách nhiệm khôi phục và phát triển kinh tế", ông nói.