Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

“Mưu sự tại nhân, thành sự tại…” ai!?

 Từ xưa cho tới tận giờ, khắp cõi nhân gian Việt Nam ta, không ai không biết, không nói: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, khi chiêm nghiệm nỗi thăng trầm cuộc đời, cuộc nổi chìm nhân thế, tấn bi thương lịch sử!

Bởi sự tôn kính Giời! Vị đứng đầu khai sáng trong lối nghĩ, quan niệm về “tam tài giả” có tự cổ xưa, tức ba lực lượng: siêu nhiên, tự nhiên và con người!

Bởi sự mong muốn tương hợp, hài hòa thiên - địa - nhân! Triết lý “tam tài nhất thể” - Giời - Đất - Người ấy thấm đẫm, hòa quyện, dẫn dắt nhân sinh, thế cuộc, lịch sử không thể chia cắt, không thể cô lập hay trọng, khinh một phía nào!

Bởi khát vọng hành động hợp nhẽ thiên thời - địa lợi - nhân hòa trong cuộc sống mỗi cuộc đời người, xa và cao hơn là trong sự thuận lý, hợp “đạo” trong sự vận hành của lịch sử, mà coi đó là nguồn gốc, là sức đẩy để quốc gia, dân tộc tồn tại và phát triển: Thời - Thế - Người!

Ấy là nhẽ thường thấy, thường trải đã suốt mấy ngàn đời nay.

Nhưng, thái quá thì thường bất cập!

Cái nhẽ tưởng như thường ấy, như tự nhiên nhi nhiên ấy lại lắm khi, dù ông cha ta nối đời tận thấu, tận cảm, tận hành, vẫn thảng hoặc vô tình lại buông tay “phó mặc mệnh Giời”, hay vô ý thúc thủ nệ vào “tiên thiên”, phó theo “nghiệp chướng”, do chưa tin vào mình và chưa thể vượt qua... chính mình.

Rồi bất động. Rồi xuôi theo định mệnh, cái số Giời do mình tưởng tượng ra! V.v... Mà đáng nhẽ ra, phải làm ngược lại.

Thế rồi thất bại, rồi chìm đắm, dù... nằm ngoài mong đợi! Và, thế rồi nuối tiếc muôn trùng:“Nhất thất túc thành thiên cổ hận. Tái hồi đầu thị bách niên thân” (Một bước sa chân hận thành muôn thuở. Ngoái đầu nhìn lại thân đã trăm năm). Thì đã muộn lắm rồi! Vì, “Giời không chiều lòng người”, “Giời nỡ phụ người”! Thế là, dù rằng ngửa cổ, nắm tay, hướng lên chín tầng cao mà than vãn với Giời, giậm chân lún ba tấc Đất ôm hận, song vẫn chỉ là vẹn nguyên... những khúc bi tráng mà thôi! Bởi chưng, tất cả hình như chưa tin vào chính... mình, thậm chí quên mất cả... chính nhân quần!

Và, ở đâu, thời nào cũng thảng hoặc thấy như thế, làm như thế và lịch sử đã nhuốm những khúc bi hùng như thế! Thăng trầm, thành bại dù gửi, dù tin “tại thiên”, lại hóa ra sự thất thường, bất thường là vậy và do vậy!

Nhớ năm 938. Sau cả nghìn năm Bắc thuộc, thiên thời, địa lợi, thậm chí không hơn trước đó, vì giặc dữ lại cả gan xâm lấn, nhưng bởi nhân hòa, với những đứa con sinh từ một bọc trứng Mẹ Âu Cơ, đã làm nên một trận Bạch Đằng giang đỏ ngầu máu giặc, mở ra thời kỳ độc lập nước Nam ta! Năm 1076, cũng thế, một trận huyết chiến bên sông Như Nguyệt, bằng thế trận lòng dân của đồng bào, cha con nước Việt, đã bất khuất bố cáo khắp trong gầm Giời: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”! Mỗi Con Người, cả cộng đồng thức dậy, toàn Dân tộc vùng lên! Người định thiên hạ chứ đâu có nệ “Mưu sự tại nhân” mà ngóng trông “Thành sự tại thiên”! Sức Dân đấy chứ!

Lại nhớ năm 1945. Chỉ với 20 triệu đồng bào, “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”, chỉ 16 ngày, Dân tộc đã làm một cuộc bẻ gãy xích xiềng nghìn năm phong kiến, cắt phăng vòng nô lệ thực dân quàng cổ Dân ta ngót 80 năm. Mưu người tính, sức người bình định giang san xã tắc, xây lại nền độc lập, chứ đâu trông đợi “Thành sự tại thiên”! Lòng Dân như Sóng cuộn đấy chứ!

Rồi năm 1946. Mở đầu chín năm Dân tộc kháng chiến chống Pháp xâm lược lần thứ hai, thiên cũng chưa thời (đất nước bị bao vây, lại bốn bề giặc dữ lăm le), địa càng chưa lợi (một mảnh đất ATK nhỏ bé làm đất đứng chân), nhưng chung cuộc kháng chiến thành công! Bởi sáu chữ, mà hai chữ đầu tiên không phải là bất cứ điều gì khác mà là: Toàn Dân rồi mới tới Toàn diện, Trường kỳ! Nhiều chữ Người viết hoa hợp lại thành Quần chúng và gọi Nhân Dân! “Chúng chí thành thành” vô địch! Ý Dân, Lòng Dân, Sức Dân như bức tường thành đấy chứ!

Xem thế, đủ thấy, cái nhẽ thường cổ xưa: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” mà ông cha ta di duệ, Dân tộc vượt lên theo mỗi thời gian, khi tiến khi thoái, biến thời thành thế, nhân lên sức mạnh..., mà vượt qua cái chết, tồn tại và phát triển. Do thế, mà lịch sử đã hun đúc và kết thành chân lý: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Dân chăng?

Đúng vậy! Thiên ở trong Lòng Dân! Địa ở nơi Dân đứng! Kính Giời chính là kính Dân! Vì, Ý Dân, Lòng Dân chính là Ý Giời, Lòng Giời vậy!

Quốc bảo Lòng Dân! Đó chính là Bảo vật Quốc gia - cái tôn quý nhất trong Giời Đất!

Đoái xem lịch sử, ai đánh mất Quốc bảo ấy, là chuốc lấy tội sát thân, họa mất nước, thể chế tan tành. Nhà Hồ (1400 - 1407) phạm điều cấm kỵ ấy nên đã tự trói mình nộp giặc trước khi đất nước bị giặc Minh xâm chiếm và vương triều Hồ sụp đổ. Mất Dân thì mất nước. Giời thì ở xa, Dân thì vạn đại! Quốc gia thịnh suy, đất nước còn mất ở khắp mọi thời, há chẳng phải do Dân định đoạt đó sao? Đó cũng là Ý Giời hợp Lòng Dân!

Ngẫm thế, thiển nghĩ và cẩn bút, kính chép ra đây: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Dân!

Chẳng thế, sao Cụ Phan Sào Nam từng nâng niu:

“Nghìn muôn ức triệu người trong nước

Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà

Người, Dân ta, của, Dân ta

Dân là Dân nước, nước là Nước Dân...

Sông phía Bắc, bể phương Đông

Nếu không Dân cũng là không có gì”.

Nhìn trong công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ của chúng ta, chân lý đó đang vằng vặc tỏa sáng, ai mà cản nổi, sao chẳng tất thành! Bởi chưng “Dân là gốc”, “Dân làm Chủ”, và nguyện sao cho xứng đáng: “Đảng ta là đứa con nòi của Nhân Dân”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh...” (Hồ Chí Minh).

Nhưng, tôi lại mài mực, kính cẩn biên lại nhời dặn về Quốc bảo ấy, từ gần tám trăm năm trước, của Cụ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Khoan thư sức Dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”.

Và như ngỡ mới hôm qua, nhời tụng Dân này từng đau đáu tâm khảm của Cụ Ức Trai, dù cách nay ngót sáu trăm bốn chục năm, từ sự chiêm nghiệm thành bại của lịch sử với sức mạnh Lòng Dân: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Làm lật thuyền mới biết sức Dân mạnh như nước); “Việc nhân nghĩa cốt ở yên Dân”.

Rằng:

“Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách

Chăn Dân mã nỡ mất Lòng Dân”./.

“Lịch sử để lại” hay chuyện “bắn” vào quá khứ

 Lâu nay, trong nhiều trường hợp, không ít những người đứng đầu của cơ quan, đơn vị thường dùng cụm từ “lịch sử để lại” để nói về những việc đã có trong quá khứ, do người tiền nhiệm của họ quyết định, thực hiện, nhưng hệ lụy của chúng vẫn tồn tại đến bây giờ và bản thân họ phải gánh chịu. Cùng câu nói ấy, cùng hoàn cảnh ấy, nhưng cách ứng xử với thực tế công việc thì có nhiều dạng: người có ý thức trách nhiệm thì thể hiện ý thức công vụ, trách nhiệm người đảm nhận trọng trách để giải quyết hậu quả đó, nhưng cũng có người tặc lưỡi “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy”; “cả làng mắt toét đâu chừa mình em”...

Sau đây xin kể 3 câu chuyện có liên quan đến nội dung này.

Chuyện “1 cõng 3” hay chuyện “con kiến mà leo cành đa”...

Đã lâu không gặp nhau, hôm qua tôi gặp lại anh bạn đang là trưởng phòng của một cơ quan bộ. Sau vài câu hàn huyên, anh thổ lộ về tình hình công việc thời gian gần đây của mình.

Số là sau khi được bổ nhiệm trưởng phòng, với năng lực và trách nhiệm bản thân, anh hăng hái, nhiệt tình công tác, có nhiều đóng góp cho công việc chung và nhận được sự đánh giá cao của tập thể cũng như người quản lý trực tiếp. Thời gian gần đây, phòng anh được bổ sung thêm mấy nhân sự mới vừa có bằng cấp chuyên môn phù hợp, vừa trẻ trung, nhiều hứa hẹn..., vì thế khối lượng công việc được giao cho phòng anh cũng tăng thêm. Thế nhưng, sau một thời gian anh phát hiện, thì ra những công việc tăng thêm đó đều chỉ giao cho anh trực tiếp thực hiện, với yêu cầu “nhanh, bảo đảm chất lượng”. Và tất nhiên là anh phải “cày ngày, cày đêm” cho kịp yêu cầu về chất lượng và tiến độ.

Những nhân sự mới với đầy đủ bằng cấp cần thiết đó lại chỉ xuất hiện khi lãnh đạo quản lý trực tiếp phòng anh đến cơ quan, còn hằng ngày họ đều có những lý do và công việc rất chính đáng để vắng mặt, không tham gia công việc chung của phòng. Những lý do “tế nhị” và hoàn toàn “chính đáng” của họ khiến anh không thể phân công công việc, điều hành họ được, dù đó chính là quyền hạn, trách nhiệm của anh. Hỏi ra mới biết, cậu A là cháu đồng chí X, cô B là em họ đồng chí Y, anh C là em rể của đồng chí Z; mà các đồng chí X, Y, Z thì đều là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cơ quan. Từ câu chuyện này, nhớ lại sự ước lượng của nhiều người có trách nhiệm về tỷ lệ cán bộ, công chức đang được trả lương thật sự làm việc, có khả năng làm việc, chỉ là 30% trên tổng số.

Cuối câu chuyện, anh ướm hỏi ý tôi về việc chuyển công tác sang cơ quan tôi, bởi qua ai đó giới thiệu, anh đã lọt vào “mắt xanh” của một số lãnh đạo cơ quan tôi. Tất nhiên, tôi chỉ có thể khuyên anh cân nhắc kỹ trước khi đưa ra quyết định, bởi tuổi tác của anh cũng tương đối cao, không phù hợp cho sự dịch chuyển lần nữa nếu không được như ý muốn. Nhưng điều tôi không thể nói với anh chính là, ở cơ quan tôi xem ra cũng có tình trạng như vậy.

Chuyện “bố nó là ai?”

Ở câu chuyện khác, tình huống của người trong cuộc còn khiến những ai chứng kiến phải thông cảm với nhân vật chính hơn nữa. Làm lãnh đạo, quản lý mà không phân biệt được “chỗ dựa” hay “sức mạnh tiềm tàng” của những cá nhân có liên quan, thì nguy cơ lâm vào cảnh “chết mà không biết nguyên nhân vì sao?” hoàn toàn có thể xảy ra. Nhân vật chính trong câu chuyện này là trưởng phòng biên tập của một tờ báo nọ. Một hôm, khi có sự kiện liên quan trực tiếp đến công việc của phòng, đến giờ chót anh “tá hỏa” khi phát hiện không có tin về hoạt động của đồng chí lãnh đạo cao cấp, lý do bởi cậu phóng viên được giao nhiệm vụ theo dõi, đưa tin lại là con trai của đồng chí lãnh đạo bộ - cơ quan chủ quản của đơn vị anh, có “việc gia đình đột xuất” và đã không báo cáo với anh để cử người thay thế. Rất may, anh được đồng nghiệp ở cơ quan báo chí khác “giải cứu” trong gang tấc, khi cung cấp đầy đủ hình ảnh và thông tin chi tiết về hoạt động của đồng chí lãnh đạo. Xong việc, anh ngậm ngùi tâm sự với người đồng nghiệp rằng, phải cắn răng mà làm thôi, bởi nếu không thì, “việc của nó” không hoàn thành, nhưng “trách nhiệm là của mình”; “mình phê bình nó thì bố nó ký quyết định cho mình đi làm công việc hành chính ngay tức thì”.

Từ câu chuyện này và câu chuyện trên, có thể thấy ở một số cơ quan, đơn vị, không hiếm tình trạng các nhân viên có mối quan hệ thân thiết, khăng khít với lãnh đạo, được gửi gắm, nhờ cậy, được nhận vào cơ quan để chiếm một chỗ, chờ cơ hội thăng tiến, khi hoàn cảnh không thuận lợi lại tìm chỗ khác, hoặc nếu không thì làm việc theo kiểu “được chăng hay chớ”, gây khó khăn cho những người có liên quan cũng như ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc của cơ quan, đơn vị.

Chuyện “tạo ra lịch sử mới”

Tiếp tục câu nói “lịch sử để lại” đã dẫn ở phần mở đầu, có đồng chí lãnh đạo cơ quan nọ phát biểu như vậy về tình trạng thừa biên chế trong đội ngũ lao động cơ quan khi mới nhậm chức. Mặc dù vậy, trong quá trình lãnh đạo của mình, đồng chí đã bổ nhiệm, cất nhắc một số trường hợp, mà người có thông tin đều biết đó là sự trả ơn với người này vì đã giúp việc nào đó, ban ơn cho người kia vì một lý do khó nói. Dư luận trong đơn vị bình luận về phát ngôn trước đấy của đồng chí này và hành động trong thực tế của đồng chí rằng: Đổ lỗi cho lịch sử nhưng bản thân cũng tự tạo ra lịch sử mới của riêng mình; hoặc đã viết một bộ sử mới cho riêng bản thân mình... Trên thực tế, đây chính là biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ” mà gần đây Đảng ta đang quyết tâm đấu tranh phòng, chống.

Nước láng giềng của Việt Nam có một kinh nghiệm rất hay, đáng để tham khảo trong bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị là: khi được bổ nhiệm, phải sử dụng mọi nguồn lực hiện có để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, không được phép thay đổi chức năng, nhiệm vụ theo hướng bỏ bớt, không được xin thêm nguồn lực theo hướng “vay của tương lai để tiêu cho hiện tại, trả nợ cho quá khứ”. Nếu ai không làm được, lập tức thay thế; ngược lại, nếu cá nhân nào hoàn thành nhiệm vụ với những điều kiện đó sẽ được đánh giá cao, thậm chí là điểm cộng trong hồ sơ cán bộ, thuận lợi cho sự thăng tiến trong tương lai.

Ngạn ngữ phương Tây có câu khi anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ đáp trả anh bằng đại bác. Câu ngạn ngữ đó áp dụng vào trường hợp này có thể hiểu, khi đổ lỗi cho lịch sử, có nghĩa thể hiện mình không có trách nhiệm với hoàn cảnh hiện tại có những yếu tố của lịch sử, đồng thời người cán bộ đó cũng bộc lộ sự không đáng tin trong hiện tại và tương lai. Khi người đứng đầu không chịu trách nhiệm tương xứng với vị trí, chức trách của mình, thì hậu quả do những hành động vô trách nhiệm của cá nhân đó sẽ vô cùng thảm khốc, lâu dài cho tổ chức mà cá nhân đó là lãnh đạo. Và như vậy, họ không xứng đáng được giao phó trọng trách./.

PHÁI ĐOÀN UKRAINE-NGA BẮT ĐẦU ĐÀM PHÁN TẠI THỔ NHĨ KỲ!

         Vòng đàm phán hòa bình thứ năm giữa Nga và Ukraine diễn ra vào ngày 29/3 tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, theo AFP.
Theo hai nguồn tin của Reuters, tỷ phú Roman Abramovich cũng có mặt trong đoàn đàm phán.
Truyền hình Ukraine đưa tin rằng cuộc đàm phán bắt đầu mà không có cái bắt tay giữa hai bên, song không rõ liệu các phóng viên đã chứng kiến hay được thông báo về việc này.
Trước cuộc hội đàm, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan cho biết tiến triển trong các cuộc đàm phán giữa Nga và Ukraine hôm 29/3 sẽ mở đường cho cuộc gặp của nhà lãnh đạo hai nước, theo Reuters. "Cả hai bên đều có những mối quan ngại chính đáng", ông cho biết.
Ông Erdogan kêu gọi đã đến lúc các cuộc đàm phán mang đến kết quả cụ thể và kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức.
Trước đó, phái đoàn Ukraine cho biết ưu tiên hàng đầu của họ là đảm bảo một lệnh ngừng bắn, mặc dù vẫn có sự hoài nghi về việc liệu điều này có đạt được hay không. Đây là những cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên sau hơn hai tuần và sẽ do Tổng thống Erdogan chủ trì.
Trong khi đó, Nga đang yêu cầu Ukraine từ bỏ mọi ý định gia nhập NATO. Về vấn đề này, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết ông sẵn sàng thỏa hiệp.
Cuộc đàm phán tại Istanbul sẽ là vòng thứ 5 từ sau khi giao tranh bùng nổ. Bốn vòng đàm phán trước đó - một lần tại Ukraine, 2 lần tại Belarus và một vòng trực tuyến, theo DW - đều không tạo ra đột phá lớn./.
Môi Trường ST.

Dùng khéo và dùng đúng cán bộ

 Từ lâu, chúng ta đều biết, công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; sử dụng cán bộ thì cần phải “khéo dùng” và “dùng đúng”... Việc xem xét, đánh giá cán bộ cũng như sử dụng cán bộ phải khách quan, toàn diện, đúng người, đúng việc, đúng năng lực thực sự. Nếu dùng người mà chỉ thiên về “quan hệ khéo”, cơ hội thì rất tai hại cho sự phát triển chung, nhất là đối với những cán bộ chủ trì. Quan niệm và sử dụng cán bộ như thế ở một số cơ sở đã và đang bị phê phán, đẩy lùi, ngăn chặn.

Trong một lần tham dự lớp tập huấn công tác cán bộ do đảng ủy cấp trên tổ chức, sau phần nghe truyền đạt nội dung ở hội trường là thời gian trao đổi ở tổ để học viên nắm chắc kiến thức và đúc rút thêm kinh nghiệm. Rất hay là ở tổ chúng tôi có một anh hiện là bí thư đảng ủy tại một địa phương đã nhiều khóa nên có những kinh nghiệm, bài học quý trong thực tiễn lãnh đạo công tác cán bộ ở đó. Anh trao đổi: công tác cán bộ rất khó, trước hết là đánh giá cán bộ thế nào cho đúng để bố trí, sử dụng đúng thì mới phát huy được năng lực, trách nhiệm của cán bộ. Rồi kể một câu chuyện như là một đề dẫn để chúng tôi bàn luận.

Chuyện rằng, có lần cấp trên gặp và “dạo” trước với anh là tìm cho một cán bộ đủ trình độ, năng lực để điều lên cơ quan huyện làm công tác kế hoạch tổng hợp. Anh liền giới thiệu đồng chí A là cán bộ trẻ nhưng đã qua công tác thực tiễn ở cơ sở mấy năm rồi và lại được đào tạo cơ bản. Không đắn đo, “sếp” gật đầu ngay. Nhưng sau ít ngày, một vị cán bộ tổ chức của huyện lại gọi điện cho anh nhờ tìm chọn người khác, vì anh A hơi “cứng”. Ngụ ý phương pháp, tác phong hơi “rắn”, thẳng thắn quá. Nghe vậy, anh hỏi: “Cán bộ “cứng” thì càng tốt chứ sao, anh?”. Vị cán bộ tổ chức cười, giọng nhỏ nhẹ: “Công việc trên này cần phải khéo, nhất là việc tổng hợp báo cáo với trên càng phải “linh hoạt”, chứ cứ “thẳng như ruột ngựa”,... báo cáo mà có sao nói vậy là không được đâu...”.

Nghe chuyện anh bí thư đảng ủy kể, chúng tôi bàn luận khá sôi nổi, song mọi người gần như đều đồng tình với ý kiến nên chọn anh A. Bởi hiển nhiên, công việc tổng hợp báo cáo cùng với sự đòi hỏi về trình độ kiến thức, năng lực tổng hợp,... còn cần sự trung thực trong báo cáo phản ánh, đánh giá đúng kết quả thực hiện công việc. Có học viên trong tổ còn bày tỏ ý kiến phê phán gay gắt kiểu chọn cán bộ “mềm”, không phải vì chất lượng, hiệu quả công việc mà chỉ vì cán bộ đó biết “nghe nhạc hiệu đoán chương trình” hoặc “trên bảo sao nghe vậy”, chẳng có chính kiến gì mà chỉ làm mất uy tín của cơ quan, đơn vị trước cấp trên.

Nói lại câu chuyện đó, tôi thấy ở cơ sở nơi mình công tác cũng có không ít những trường hợp tương tự. Có cán bộ được tập thể đánh giá tốt nhưng không được sử dụng đúng việc, đúng chỗ. Thậm chí, đôi khi nhiều đồng nghiệp còn cho rằng, năng lực, trình độ của một cán bộ ra sao chỉ phụ thuộc vào... “lăng kính” của người đứng đầu, nhưng nhiều “sếp” có cách nhìn nhận và sử dụng mang tính chủ quan lắm(!). Như ở cơ sở tôi, có trường hợp một cán bộ cứ bị “sếp” chê yếu nhưng khi “sếp” nghỉ hưu, “sếp” mới về thay thì năng lực của chính người cán bộ đó lại được phát huy rất tốt, được tập thể thừa nhận và còn được tín nhiệm giao cho những nhiệm vụ quan trọng hơn...

Từ lâu, chúng ta đều biết, công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; sử dụng cán bộ thì cần phải “khéo dùng” và “dùng đúng”... Việc xem xét, đánh giá cán bộ cũng như sử dụng cán bộ phải khách quan, toàn diện, đúng người, đúng việc, đúng năng lực thực sự. Nếu dùng người mà chỉ thiên về “quan hệ khéo”, cơ hội thì rất tai hại cho sự phát triển chung, nhất là đối với những cán bộ chủ trì. Quan niệm và sử dụng cán bộ như thế ở một số cơ sở đã và đang bị phê phán, đẩy lùi, ngăn chặn.

Hơn bao giờ hết, nhân dân mong mỏi Đảng cần phải “nghiêm túc, kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu” trong thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 23-5-2018, về công tác cán bộ, như lời đồng chí Tổng Bí thư của Đảng ta phát biểu tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XII./.

Biết thế... liệu có đúng?

Một tháng sau ngày nghỉ hưu, ông Hùng quyết định rũ bỏ cái sự “buồn đầu, buồn chân, buồn tay” bằng quyết định về quê nghỉ ngơi, củng cố lại sức khỏe, hâm lại các mối quan hệ với anh em dòng tộc và bạn bè thời niên thiếu.

Hôm ấy, sau bữa cơm thân mật với bạn bè gọi là mừng ngày “hồi hương bền vững”, khi mọi người đã về hết, ông Hương ngỏ ý mời ông Hùng cùng đi làm vườn cho khuây khỏa.

Ông Hương và ông Hùng vốn là bạn nối khố thời niên thiếu, cùng chăn trâu, cắt cỏ ngày xưa và cùng nhập ngũ một ngày nên có nhiều kỷ niệm gắn bó. Hết chiến tranh, ông Hương không chọn con đường đi học mà ra quân và về quê quyết theo đuổi cơ đồ, làm bạn với cái cày, cái cuốc mà các cụ bao đời để lại. Ông đôn đáo, năng động và xây dựng được gần 1.000m2 trồng ổi, lê và cam sạch theo mô hình VietGap nên cho thu nhập kha khá. Không giống ông Hương, sau chiến tranh ông Hùng đi học bổ túc văn hóa, rồi học đại học. Ra công tác, ông Hùng miệt mài phấn đấu và làm đến chức cục trưởng thuộc một bộ có nhiều quyền uy trong xuất khẩu hàng hóa. Mấy năm trước, khi cậu con trai lớn của ông Hương đã học xong đại học và chờ xin việc thì được ông Hùng ra tay giúp đỡ, xin vào làm ở cơ quan trên Hà Nội. Ông Hương phấn khởi lắm và coi ông Hùng như ân nhân. Thế nên, ngoài tình bạn thủa hàn vi, giữa hai ông còn có một sợi dây khác níu kéo vô hình nhưng bền chặt. Ngày ông Hùng còn đương chức, mỗi khi lên thành phố có việc là kiểu gì ông Hương cũng phải rẽ qua thăm gia đình bạn.

Sau mấy ngày “đội nắng, đội mưa” theo ông Hương lăn lộn ngoài vườn xới gốc, nhổ cỏ cho cam, cho ổi, khuôn mặt trắng hồng vì ngồi trong phòng lạnh điều hòa của ông Hùng đã dần xạm nắng. Lòng bàn tay cầm cuốc có vài nốt phồng rộp, những ngón mũi mĩm vốn đỏ hồng cầm bút ký xưa kia cũng bắt đầu nhiễm tia cực tím.

Hôm ấy, dù cho công việc dang dở, nhưng ông Hương kiên quyết không cho ông Hùng làm nữa. Ông thông báo, đứa con trai mà ông Hùng xin việc cho đã vào biên chế chính thức sau hơn 3 năm tập sự. Ông vui ra mặt và cười nói râm ran. Ông bảo, cái thằng nông dân muôn đời cày cuốc như ông chẳng mơ có ngày con được làm trong cơ quan nhà nước ở Hà Nội. Nay thì ước mơ ấy đã thành sự thật. Quả là mở mày mở mặt với hàng xóm và thiên hạ.

Nghe thế, khuôn mặt ông Hùng thoáng buồn. Ông bảo, đó là may mắn và cháu nó cũng là người có năng lực, ham học hỏi và có chí hướng. Nhưng ông biết không, để lo được cho cháu nó vào cơ quan ấy tôi bị mang tiếng cả đời đấy!

- Ô hay, ông vừa khen con tôi có chí, năng lực thế thì tại sao lại phải mang tiếng?

Ông không biết đấy thôi, để lo cho cháu vào cơ quan bên ấy tôi phải nhờ người có chức quyền ở bên đó với điều kiện là tôi phải nhận con anh ta về làm việc. Nói cụ thể là đổi đi đổi lại mới xong chuyện. Nhưng điều quan trọng là, khi về cơ quan, con anh ta được cán bộ, nhân viên gọi với cái tên là “vô tích sự”. Công việc chính mà anh ta làm được ông có biết là gì không? Ông không thể tưởng tượng nổi một thạc sĩ mà chỉ thay mọi người làm vệ sinh, đánh rửa ấm chén, lau nhà và đi lĩnh văn phòng phẩm cùng các việc vặt khác. Việc chuyên môn thì anh ta thuộc diện “gà mờ”. Cũng vì chuyện này mà tôi xấu hổ và quyết định nghỉ hưu trước một năm đấy. Đỡ phải nghe lời ra tiếng vào của cấp dưới và đồng nghiệp.

- Trời, tôi không nghĩ chuyện nhà nước mà các ông gánh vác nó lại phức tạp đến vậy cơ chứ? Thế ra, bấy lâu nay, con đường tôi chọn làm anh nông dân chuyên nghiệp thay vì đi học như ông sau xuất ngũ lại là đúng. Đỡ lo nghĩ việc công, không tranh đoạt chức quyền, địa vị với mọi người sống khỏe. Vợ chồng tôi sống thanh thản, an nhàn, mỗi năm thu nhập hơn 200 triệu từ sản phẩm nông nghiệp sạch một cách bền vững và đủ nuôi con ăn học thành người lại là sự thịnh vượng.

- Ông nghĩ cũng có cái phải, nhưng nhiều người trong xã hội hiện nay không nghĩ thế đâu. Với họ, quyền và tiền che lấp cả lòng tự trọng và bản năng xấu hổ. Họ làm mọi thứ miễn là có lợi.

- Thế ông có khẳng định chắc chắn rằng, quyết định về nghỉ hưu trước tuổi của ông là đúng đắn chứ? Ông Hương đột ngột hỏi bạn.

- Dĩ nhiên, tôi cho đó là quyết định đúng. Bao năm lăn lộn ở chiến trường, cái chết nó chừa mình là may mắn hơn nhiều đồng đội còn đang nằm lại ở những cánh rừng già đại ngàn Trường Sơn, hay bên đất của nước bạn Lào. Giờ về nghỉ là để dưỡng sức, dưỡng tâm và hưởng an nhàn thì có gì vui hơn. Ông ạ, tôi nói thật, thời bình, càng làm to thì càng nhiều mối quan hệ và cũng càng lắm nguy cơ. Bởi khi có chức có quyền thì đồng nghĩa với có bổng lộc và cũng nhiều cạm bẫy xung quanh. Khi đã vào guồng máy ấy, khi chủ nghĩa cá nhân rình dập và phát tác thì những người có chức vụ, quyền hạn như tôi khó có thể chối bỏ được những “viên đạn bọc đường” nếu không có sự tỉnh táo cần thiết. Tôi không hổ thẹn với lương tâm vì không bao giờ để “tay nhúng chàm” và làm việc gì đó mà phải hối tiếc. Bà vợ tôi thì nói rằng, anh là con người cổ lỗ sĩ. Người ta thế, anh đứng ngoài cuộc của những “chiêu trò” mà người ta thực hiện thì anh chỉ có thiệt, mà thiệt nhiều nhất vẫn là vợ con, người nhà và bạn bè thân thiết của anh. Giờ ngẫm lại, việc vợ tôi nói cũng có lý. Giá thời còn đương chức tôi bỏ qua những suy nghĩ cao siêu, bớt xấu hổ thì cô ấy và các con tôi đỡ long đong phần nào.

Ông Hương cảm thông với nỗi lòng của bạn và truyền lệnh cho bà xã làm thịt con gà mái tơ chuẩn bị nhảy ồ để liên hoan, gọi là mừng cho sự thanh liêm của bạn. Ông Hùng cảm kích tấm lòng của cố nhân và uống một trận say quắc cần câu.

Những tưởng việc bàn luận về sự thanh liêm của hai ông đã dừng ở đây. Những tưởng việc ông Hương “hạ cánh an toàn” đã là an toàn thì mới đây ông lại được mời đến cơ quan để thanh tra về một số việc trong thời gian giữ chức. Tất nhiên, đó không phải là vấn đề nhân sự mà là những việc khác liên quan đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ông phụ trách. Rất may, trong những việc ấy ông chỉ bị trách nhiệm liên đới, nên không ảnh hưởng nhiều đến thanh danh. Xong việc trở về quê, gặp ông Hương.

Nghe chuyện, ông Hương bảo: “Nếu ông đi quá giới hạn thì chắc gì đã có cơ hội làm dân muôn đời như tôi. Cái thanh liêm của ông mới là tài sản quý giá nhất. Tôi nghĩ, công danh, tiền bạc không thể coi là những số hạng làm nên danh dự của một con người. Ông như vậy mới xứng đáng là bạn tôi”.

Câu chuyện của ông Hùng và ông Hương, hai người ở hai lĩnh vực cuộc sống khác nhau, thậm chí giữa họ còn có nhiều điểm khác trong suy nghĩ, nhưng tựu chung lại ở họ là thấu hiểu giá trị của sự thanh liêm. Đó là điều mà nhiều cán bộ ở các lĩnh vực trong bộ máy cơ quan công quyền nhà nước hiện nay cần suy ngẫm./.

“Cán bộ nào phong trào ấy”

Nói về mối liên hệ giữa đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung, người đứng đầu nói riêng với chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị, có câu “cán bộ nào phong trào ấy”. Bởi, người đứng đầu là người cao nhất trực tiếp đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Qua hoạt động của họ có thể thấy rõ nhất, nổi bật nhất mối liên hệ cán bộ - phong trào.

Nhìn chung, những người được cất nhắc vào vị trí lãnh đạo đều là những cán bộ có phẩm chất, năng lực nhất định, thể hiện tốt ở cương vị lãnh đạo trong một quá trình. Họ có thể phát huy tác dụng tốt nhất khi được đặt đúng vị trí phù hợp năng lực sở trường, vào đúng thời điểm phù hợp nhất. Nếu không được như vậy, họ không thể phát huy tốt nhất những mặt mạnh của mình vào bất kỳ vị trí, cương vị được trao. Vì vậy, đã ảnh hưởng nhất định tới chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị như trong các câu chuyện dưới đây về một vài “mẫu hình” người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị với những “ứng xử... điển hình”.

Thứ nhất, “thủ trưởng cuối mùa”. Đây là những cán bộ được bổ nhiệm khi thời gian giữ chức vụ chỉ còn vừa đủ một nhiệm kỳ trước lúc về hưu; hoặc chỉ còn thời gian không dài trước khi nghỉ quản lý.

Trong số đó, có người đã sớm tỏ ra “buông xuôi” trách nhiệm được trao, buông quyền cho cấp dưới can dự vào những quyết định của người đứng đầu... Nếu đội ngũ trợ thủ hiểu việc, mẫn cán, trách nhiệm và không màng danh lợi... thì hoạt động của cơ quan còn giữ được ổn định, ít phạm sai lầm... Ngược lại, nếu đội ngũ trợ thủ thiếu hiểu biết việc, thiếu trách nhiệm, kèn cựa nhau,... thì chắc chắn hoạt động của cơ quan, đơn vị sẽ không tránh khỏi mất ổn định. Có “thủ trưởng cuối mùa” chỉ nghĩ đến việc “hạ cánh an toàn”, không muốn cơ quan, đơn vị có bất cứ một sự xáo động nào, cứ thực hiện công việc một cách làng nhàng... mà không biết hoặc cố tình không biết điều đó sẽ làm hạn chế sự nhiệt tình chung tay góp sức của bộ máy giúp việc, dẫn tới tâm lý thờ ơ, cuối cùng cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị.

Trong số “thủ trưởng cuối mùa” đó, còn có người dần buông lỏng ý thức đạo đức đảng viên, cộng thêm sự a dua của một số cấp dưới, đã tranh thủ “kiếm chác” cho bản thân mình, “ban phát” cho một số “cánh hẩu” về quyền lợi vật chất cũng như quyền lợi chính trị... Điều này thấy rõ ở không ít cơ quan, đơn vị, khi chuẩn bị nghỉ hưu, người lãnh đạo đã bổ nhiệm, tuyển dụng hàng loạt nhân sự, mà sau đó qua thanh tra, kiểm tra nhiều sai phạm trong các quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm đó đã được phanh phui.

Thứ hai, lãnh đạo “đầu tắt mặt tối”. Đặc điểm của người lãnh đạo kiểu này là không phân biệt được giữa sâu sát cấp dưới với cái nhìn tổng thể, toàn diện và việc bao biện, lấn quyền cấp dưới. Vì thế, thay vì sử dụng các trợ thủ, tổ chức bộ máy để lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ, thì mẫu lãnh đạo này lại trực tiếp “xắn tay” làm thay việc của cấp dưới. Điều này dẫn tới, nhiều khi “lực bất tòng tâm” bởi sức người có hạn nên không thể quán xuyến hết công việc của cơ quan, đơn vị; nhiều nhiệm vụ đề ra do vậy không tránh khỏi tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”. Và còn dẫn tới tình trạng cấp dưới sẽ nảy sinh tâm lý ỷ lại, rồi thờ ơ với công việc, thậm chí xảy ra va chạm giữa cán bộ và nhân viên dưới quyền trong quan hệ hằng ngày vì những căng thẳng không đáng có - điều hoàn toàn có thể tránh khỏi, hay có thể hạn chế đến mức thấp nhất, nếu xác định đúng cương vị của mình - người tổ chức và kiểm tra, giám sát chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới, mà không phải người “xắn tay làm hộ”.

Thứ ba, lãnh đạo của “dấu ấn điển hình”. Người lãnh đạo kiểu này thường chọn một số trong tổng số những nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị để thực hiện sao cho phù hợp với sở trường của mình, với việc tập trung đa số nguồn lực và nhân lực tốt nhất của cơ quan, đơn vị; thậm chí có khi đó không phải là chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan, đơn vị. Điều này dễ đem lại thành công nhất định trong thời gian ngắn, ít nhất là trong nhiệm kỳ của lãnh đạo đó. Tuy nhiên mặt trái là không chú trọng những nhiệm vụ còn lại của cơ quan, đơn vị; đồng thời, nhân sự và tổ chức, bộ máy của cơ quan, đơn vị cũng bị thay đổi, do đó về lâu dài không tránh khỏi có những lệch lạc, mất cân đối, rời xa nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, gây khó khăn cho người kế nhiệm trong triển khai công việc ở nhiệm kỳ tiếp theo. Điều tất yếu là ở nhiệm kỳ kế tiếp, cơ quan, đơn vị lại phải có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với yêu cầu mới, vì thế sẽ gây lãng phí về tài lực, vật lực, nhân lực và ngân sách chung.

Qua những câu chuyện trên có thể thấy, để cán bộ lãnh đạo phát huy tốt vai trò trong việc lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ, cấp trên trực tiếp cần bố trí đúng người lãnh đạo; đồng thời cần đánh giá người lãnh đạo đó không chỉ trong công tác lãnh đạo chuyên môn mà cả về thái độ và phương pháp thực hiện chức trách, nhiệm vụ được trao./.

Nghịch lý của “số đông”?

 Theo cách hiểu thông thường, dân chủ là quyền lực thuộc về số đông, đối lập với phi dân chủ là quyền lực thuộc về số ít. Trong điều kiện số đông hội tụ được các yếu tố cần và đủ cho thực hành dân chủ, nhất là trình độ dân trí và thông tin hoàn hảo, thì quyết định của số đông bao giờ cũng sáng suốt hơn quyết định của số ít.

Nhưng không phải lúc nào quyết định của số đông cũng mang ý nghĩa dân chủ thực chất, mà trong không ít trường hợp rơi vào “dân chủ hình thức” hay tình trạng “áp đặt của số đông thiển cận”.

Có thể thấy mấy nghịch lý sau đây khi quyết định của “số đông” không mang ý nghĩa dân chủ thực chất:

Quyết định của số đông khi họ không có đầy đủ thông tin, hoặc bị nhiễu loạn thông tin. Đây là biểu hiện rõ nhất của dân chủ hình thức, khi những người chủ trì lấy ý kiến của số đông, nhưng không đi kèm với công khai, minh bạch đầy đủ thông tin, buộc số đông quyết định trong tình huống không chắc chắn, do cảm tính chi phối. Thiếu thông tin là môi trường thuận lợi cho thiểu số vụ lợi thao túng, gây nhiễu loạn và hướng lái dư luận khiến số đông nhiều khi không tự chủ được ý chí và hành vi của mình khi đưa ra các quyết định.

Quyết định của số đông thụ động trong “hiệu ứng đám đông” có tính nhất thời. Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp hành động của số đông bị cuốn theo hiệu ứng “tâm lý đám đông” với sự lan truyền nhanh chóng mà người trong cuộc không đủ tỉnh táo để chẩn đoán tình hình và điều chỉnh hành vi của chính mình. Chỉ đến khi phải hứng chịu hậu quả của sai lầm thì người ta mới phản tỉnh, nhưng thường đã quá muộn, bởi “hiệu ứng đám đông” đã qua đi. “Hiệu ứng đám đông” thường thấy trong mua hay bán tháo chứng khoán, bất động sản, tụ tập đông người rồi phản ứng bột phát thiếu lý tính, thậm chí vi phạm pháp luật,... khi bị kích động từ một tác nhân nào đó mà không lường hết hậu quả phải trả giá.

Quyết định của số đông ở những cơ cấu mà quy mô không đủ lớn, dễ bị cá nhân lợi dụng để thao túng, tạo bình phong ban hành quyết định sai trái, buộc số đông phải miễn cưỡng phục tùng. Tình trạng này thường xuất hiện ở các cơ cấu đại diện quy mô quá nhỏ, số lượng ít, nguyên tắc vận hành của tổ chức thiếu khoa học, không có khả năng phát huy dân chủ thực chất và thiếu cơ chế bảo vệ quan điểm, ý kiến của người đấu tranh trước các quyết định sai lầm, buộc số đông phải “mũ ni che tai” và tập thể bị biến thành bình phong cho việc hợp thức hóa ý chí cá nhân.

Quyết định của số đông khi họ bị tư lợi chi phối. Không phải lúc nào số đông cũng vô tư, nhất là trong các hoàn cảnh số đông quy mô nhỏ, bị lợi ích cục bộ chi phối. Nhiều vụ xung đột đất đai ở địa bàn nông thôn cho thấy, không ít cán bộ cấp cơ sở khi vi phạm pháp luật thường tìm cách lôi kéo toàn thể dân làng vào thế đối đấu với chính quyền, đan cài hành vi sai trái của mình trong lợi ích cục bộ cả làng, biến cái sai của mình thành cái sai của cả dân làng, nhân danh “dân làng” để tập hợp lực lượng tạo áp lực với chính quyền khi thương lượng, mặc cả, còn khi bị xử lý theo pháp luật thì được giảm nhẹ mức độ trừng phạt. Hoặc trong bầu cử ở quy mô nhỏ hẹp, số đông có khi chỉ vì tư lợi mà khuất phục trước các hành vi “mua phiếu”, khước từ bỏ phiếu cho người xứng đáng và ủng hộ người không xứng đáng.

Hãy thận trọng và cảnh giác với các quyết định của số đông mà không mang ý nghĩa dân chủ thực chất!

Hãy tỉnh táo phân biệt “dân chủ thực chất” với “số đông thiển cận” hay “hiệu ứng đám đông”!

Phải đấu tranh kiên quyết với các hành vi lợi dụng tình trạng dân trí kém hiểu biết, thiếu thông tin để kích động “tâm lý đám đông”, gây tổn hại cho các lợi ích công cộng, trong đó có quyền lợi của những người tham gia không ý thức được đầy đủ hành vi của chính mình!

Phát huy dân chủ thực chất, thực hành dân chủ rộng rãi cả trong Đảng và ngoài xã hội là một quan điểm nhất quán của Đảng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, để có dân chủ thực chất phải đấu tranh loại bỏ căn bệnh dân chủ hình thức và các biểu hiện mang màu sắc dân túy, phải tạo lập các điều kiện, môi trường cho thực hành dân chủ.

Phải thực hiện chế độ thông tin công khai, minh bạch để số đông có cơ sở chắc chắn khi đưa ra quyết định; không ngừng nâng cao vốn hiểu biết và rèn luyện năng lực thực hành dân chủ trong Đảng và toàn xã hội, phòng ngừa “hội chứng đám đông” và biểu hiện “dân túy”; hoàn thiện các thể chế, quy định phát huy vai trò dẫn dắt, trách nhiệm gương mẫu của người đứng đầu trước tập thể và phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện “số đông tư lợi”; có cơ chế bảo vệ cá nhân bày tỏ chính kiến đúng đắn, mang tính chiến đấu, trước các hành vi sai trái. Trong các tình huống xuất hiện “hội chứng đám đông” tạo nên “điểm nóng”, phải cô lập, bóc tách những “kẻ đứng hậu trường” đẩy số đông làm bình phong, che chắn cho các hành vi đen tối./.

Năm “đạo” băng hoại nhân quần

 Muôn vật trong vũ trụ, muôn người giữa thế gian đều có đạo, đều mang trong mình cái đạo. Đạo, ấy là con đường của sự đắp đổi một cách tự nhiên của vũ trụ; cũng là phương hướng, đường lối hợp nhẽ nhân quần dẫn dắt con người đi trên cõi đời. Đạo là vô hình nhưng lại hiện hữu, vô biên.

Đó chính là đạo của vũ trụ, của Người, của nhân thế trên đời.

Muôn vật đi chệch cái đạo Giời thành ra bất thường, trái quy luật tự nhiên... và tự diệt một cách tự nhiên nhi nhiên. Con người đi ngược cái đạo Người, đạo nhân thế cũng sẽ lâm vào vòng suy vong, tự diệt, khó cưỡng lại được, cũng một cách tự nhiên nhi nhiên. Đạo Giời và đạo Người ở trong nhau, khó mà cắt chia, khó mà tách bạch! Không phải thế, thì sao Thiên - Địa - Nhân xưa nay há chẳng phải chính là chuyện tự nhiên nhi nhiên “tam tài giả”, “tam vị nhất thể” đó sao!?

Có thể nói không ngoa: Đó là minh đạo.

Muôn vật trong vũ trụ vận hành trái nhẽ tự nhiên là phi đạo Giời!

Con người làm trái minh đạo Người, tôi gọi là hắc đạo! Trong số những hắc đạo mà con người đi, có một thứ đạo - đó là sự trộm cắp. Nhớ tháng 6-1949, chả thế mà trong bài “Cần Kiệm Liêm Chính”, Cụ Hồ nói: “Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”.

Như thế, đạo là trộm cắp. Nó như thế nào?

Có thể gọi ra:

Đạo chích, đó là thói ăn cắp vặt, kẻ trộm trong làng xã, cơ quan, cộng đồng. Hở ra là trộm, từ chổi cùn cho tới rế rách, “thó” bất kể con cá lá rau, ở nơi thôn dã, phố phường hay vật dụng ở chốn công đường,... Nó làm cho cộng đồng bất an, cơ quan nặng nề, đơn vị u uất... vì bực mình, rồi nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau.

Đạo danh, đó là nạn biển thủ tên tuổi, công trình của người khác làm của mình: đạo văn, đạo nhạc... Rồi tệ mua bán điểm giả, bằng cấp, học vị, học hàm... Rộng ra là ăn cắp tri thức, danh tiếng... để chui sâu vào bộ máy, leo cao những phẩm trật quan trường một cách ô nhục. Lúc sự dối trá, giả hiệu lộng hành thì là khắc sự trung thực, ngay ngắn bị tiêu diệt! Nó làm cho thật giả hỗn mang, trắng đen lẫn lộn, nhân phẩm suy đồi, lòng tin bại hoại.

Đạo vật chính là tệ trộm cắp, tham nhũng vật chất, tiền bạc.... Nó đục khoét của công, biển thủ quốc khố, bòn rút mồ hôi, xương máu Nhân dân để bỏ túi cá nhân, rắp vinh thân phì gia, bành trướng dòng họ, khiến muôn dân bị xâm hại, quốc gia khánh kiệt, quốc thể chênh vênh, xã hội rối ren, thể chế nguy cơ tan tành. Chả thế, mà cách nay 250 năm Cụ Lê Quý Đôn từng răn rằng, trong năm nguy cơ làm mất nước, thì nguy cơ “tham nhũng tràn lan” kia, không thể không đứng hàng thứ tư đó sao! Quan lại càng giàu nhanh một cách khuất tất, trăm họ càng mau lầm than, rên xiết, đất nước càng chóng suy mạt, bại vong. Nó nguy hiểm hơn cả nạn giặc giã, giặc ngoại xâm.

Đạo vị, đây là sự trộm cắp chức vụ trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước và của hệ thống chính trị. Nhân dân và chúng ta thì gọi là, tham nhũng quyền lực. Từ “cả họ làm quan”, “cha truyền con nối” tới các thủ đoạn tham nhũng tuổi tác, bằng cấp để “lẻn” vào chốn quan trường, rồi mua phiếu bán danh, trộm cắp chức vụ bằng mọi quỷ kế. Khi các “chính trị gia” bắt tay một cách tăm tối với các doanh nhân thì nền chính trị không hủ bại, chính trường không bị “dắt mũi” mới là chuyện lạ! Từ dùng tiền để “cuỗm” quyền lực chính trị, rồi dùng chính trị để “cướp” lấy quyền lực kinh tế, lại dùng kinh tế để chui sâu leo cao vào chính trường, rắp đoạt lấy quyền lực chính trị cao hơn. Thì không nghi ngờ gì nữa, nó tác họa muôn dân, băm nhỏ lợi ích quốc gia, trộm cắp từng mảnh chính trị, kinh tế đất nước và lũng đoạn thể chế quốc gia. Nó làm cho nhân quần ly tán, nền chính trị rối loạn, thể chế suy đồi, quốc gia hỗn mang, đất nước tan vỡ, thậm chí diệt vong hoặc làm nô lệ cho giặc ngoại bang. Mua quan bán tước, buôn bán quyền lực dẫn tới nạn hoặc nhỏ thì “anh hùng nhất khoảnh”, lớn thì “sứ quân”, “dòng họ cát cứ”, thậm chí cả sự ô nhục bán nước cầu vinh chỉ là bước “tự chuyển hóa” rất ngắn, thậm chí trong chớp mắt mà thôi! Lịch sử đã cho thấy không ít sự nhãn tiền sinh tử ấy.

Đạo tâm, đó chính là nạn ăn cắp lòng tin. Nói mà không làm, làm ngược nhời nói. Trên diễn đàn thì, rao giảng đạo lý, dạy dỗ chính liêm, nơi chính sự thì ức vạn tối tăm, phè phỡn phù hoa, xa xỉ... Cụ Trang Tử bảo: Người không biết xấu hổ thì không ra giống người! Nó khiến muôn dân ai còn dám tin cậy được nữa! Nếu không nói nó khiến trăm họ oán thán, nổi giận! “Khẩu Phật tâm xà”, “Miệng rao đạo lý, tay che đạo vị, tay lấp đạo tặc” thì sự còn, mất muôn dân, thật cũng... thôi rồi! Nhẫn tâm! Thế là đạo đức giả lộng hành! Thử hỏi, lúc ấy, bách tính còn dám hy vọng gì ở họ về liêm sỉ, về quốc sỉ hay quốc thể được nữa? Ông cha ta bảo: Mất niềm tin là mất hết! Nếu lòng tin nơi muôn dân bị đánh cắp, thật không còn gì nguy hiểm hơn, sinh tử hơn... để mà bàn nữa! Ngay cả tội đạo quốc, tức là ăn cắp quốc gia kia (như thoán đoạt vương triều, quốc gia cho dòng họ mình hoặc “dâng” xã tắc cho ngoại bang), thì so với thứ đạo tâm này, ắt hẳn còn thua! Vì, nếu mất nước, Dân ta có thể lấy lại được, nhưng Lòng tin của Nhân dân với thể chế bị đánh cắp, thì nhãn tiền quả báo, và dẫu Giời xanh kia cũng khó cứu nổi họa đối với quốc gia đâu!

Còn thứ đạo gì tăm tối nữa trong hắc đạo không?

Suy xét rộng và xa hơn, những thứ của hắc đạo ấy do nhiều nhẽ, nhưng một phần căn bản do bất liêm mà ra. Cụ Hồ nói: “Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”.

Trở lại với minh đạo nơi nhân thế. Muốn nhìn thấy nó thì phải tu luyện và phải dụng công tích đức thì mới đắc đạo. Đạo không phải chỉ nơi lời nói, mà ở kết quả của việc mình làm. Lại chẳng phải chỉ nơi câu kinh câu kệ mà cốt yếu là buộc ở nơi hành xử của người tầm đạo. Cái khó khăn của nó chẳng phải tại nơi giảng dạy mà cốt ở chốn thực hành. Càng chẳng phải tất cả tại nơi yếu lý của đạo, mà ở hành động sống của kẻ giáo truyền và người mong hành đạo. Đó là một phương châm dẫn lối muôn người ra khỏi hắc đạo, tự mình tỉnh ngộ, đặng trở về với minh đạo trên đời. Đức Phật chẳng đã từng dạy: Kẻ thù lớn nhất của đời người chính là mình, đó sao!

Hẳn ai cũng thấu rằng, (bất liêm sinh ra) trộm cắp là điều thậm xấu hổ, là mắc tội với Dân, với Nước, báng bổ nòi giống tổ tiên ta! Và, nói như Cụ Khổng Tử: Người mà không liêm, không bằng súc vật. Nhưng họ làm như thế mà không sợ đạo Giời có mắt, Đất dày linh thiêng, không sợ đạo Người trừng phạt, không sợ quả báo đời sau, không sợ mình tự mình gieo họa và tự chính mình chuốc lấy cái vạ quả báo tự diệt hay sao!? Cái liêm, cái sỉ ở họ liệu có còn không?

Và, Nhân dân cần được và phải biết đâu là quyền hạn của mình, phải được bảo vệ, để cùng Đảng và Nhà nước kiểm soát nhằm dẫn những người lâm vào những nẻo đường hắc đạo tăm tối ấy tự đối diện với mình, với nhân quần, tự gột rửa mình sạch sẽ; quyết bài trừ hắc đạo ấy trong xã hội.

Nhưng, nếu sự răn dạy của đạo lý chưa đủ thấu, sự tỉnh ngộ của bản thân chưa đủ độ, tai mắt của Nhân dân chưa đủ rộng, sâu, thì quốc pháp bất vị thân phải kiềm tỏa. Nghĩa là, phải lấy đạo Người “thẳng tay trừng trị” những kẻ trộm cắp ấy, “bất kể kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì... từ trên xuống, từ dưới lên trên”, như Cụ Hồ nói!

Chửa thấy những con đường tự giáo hóa, tự phòng ngừa, cũng chửa thấy phương cách ngăn chặn, gột rửa và tẩy trừ nào khác tất dụng hơn! Tại lúc này đây!

Và, thử hẵng trông lên, còn đạo Giời lồng lộng chín tầng cao kia nhưng ứng nghiệm... vô cương, cũng đang soi rọi đạo Người chốn nhân gian kia nữa!

Thấu chăng?./.

Tượng đài và tượng… tâm!

 Làng tôi là làng khoa bảng!

Thuở bé, lúc chửa biết chữ, tôi học lịch sử bằng... bia đá, qua ông nội. Bao nhiêu ông nghè, ông cử của làng, tôi ngắm bia đá, trên đó dày đặc những chữ nho, ghi tên những bậc khoa bảng. Tôi học bằng miệng. Và, thuộc lòng, tất tật các vị khoa bảng của làng! Bẵng đi, bia đá cũng rêu phủ. Trí nhớ cũng mòn theo. Tôi không còn đọc thuộc nguyên vẹn nữa! Trăm năm bia đá thì mòn...

Huyện tôi là huyện của những anh hùng và danh nhân!

Nhớn lên chút nữa, cha tôi dạy tôi lịch sử bằng những tượng đài. Nhìn tượng nhớ người! Và, tôi cũng thuộc lòng lịch sử qua những pho tượng sừng sững, đứng trên cả mấy sào đất! Tôi học bằng mắt! Lâu dần, tượng mòn đi bởi nắng đốt gió cào, rêu phong, chẳng thể nhận ra thuở ban đầu. Cứ lần theo thời gian, nhiều pho trông mòn hẳn, lại mốc mác, thậm chí nhếch nhác, lòng tôi thành ra bập bõm! Chưa kể, cũng một người, mà mỗi nơi tạc một dạng. Thành thử, đem một vị ra đối sánh mấy pho tượng, rồi mấy pho tượng đối sánh với nhau. Đến cha tôi nhìn, cũng lúc nhớ, khi quên, thậm chí cũng chẳng nhận ra là tượng ai nữa! Hình như, quê tôi không có tượng đài, người ta như sợ bị nhiễm... bệnh không lớn được, vì thiếu oai phong!

Nhớn hẳn lên, tôi ra ngang dọc thiên hạ. Lúc mỏi mệt, quay về làng. Khi rỗi rãi, mẹ tôi thường kể sử, bằng cách nói những đền thờ, những miếu thờ trong xứ. Những ai mở đất xứ ta, những ai lập ấp khẩn hoang làng tôi, những ai có công đánh giặc giữ nước, những ai chia gạo nhà mình cho dân mỗi đận tháng tám ngày ba hồi cải cách... Tôi lớn, mẹ tôi dạy tôi học bằng tự cảm! Trăm năm, ngàn năm chỉ còn truyền lại bằng những miếu, qua những ban thờ, tịnh không ảnh vẻ, càng tịnh không một bóng tượng đài. Mẹ tôi nhắc những nhời của Bà Đoàng cứu tế cho làng, lúc tản cư lánh giặc, khi giáp hạt, rằng “Một nắm khi đói hơn một gói khi no”! Mẹ tôi dạy nhắc tôi nhớ màu của củ khoai lang Ông Đùng cứu cả họ buổi tháng tám, khi đói quắt quay do vỡ đê Văn Giang 18 năm liền thời vua Tự Đức... Rồi nhời của những hạt lúa làng ăn mang dáng hình của những giọt mồ hôi tiền nhân mở đất lúc hoang sơ, cũng giống như hình giọt máu giữ đất mùa giặc giã mà các ông bà ấy quẩy theo lúc lũ lụt, khi tản cư lánh giặc! Miếu thôn Thượng, đền làng Hạ khắp xứ tôi, do các làng lập ra để thờ các vị ấy. Bé xíu... Rêu phong... Trầm mặc... Đứng nép trong hơi ấm lũy tre làng... mà bốn mùa nghi ngút khói hương. Mẹ tôi chậc lưỡi, nhẹ như gió thoảng, và đăm chiêu: - Ai thương Dân, Dân lập ban thờ!

Bây giờ, thì đường xa chân mỏi. Một đời ngang dọc sơn hà. Lại về quê. Ngoại tôi móm mém: - Giờ, rỗi rồi, chả còn ỷ bận công nước việc non, con năng sang thắp hương cho ông giáo Thức hơn nhá! Ông ngoại con nên ông nghè, ông trạng, là ngày xưa bà gửi gắm cả vào cửa nhà ông giáo cả! Nhân bất học bất tri lý! Xứ này, mấy ông nghè ông trạng đều bước từ cửa mấy đời nhà ông giáo mà ra đới! Chợt ngoại tôi chỏ ra cây đa đầu xứ đã tỏa rợp bóng cả đường làng, rồi bảo: -Tượng Cụ Trạng đấy! Cả xứ bảo thế! Cây đa Cụ Trạng! Cụ Trạng trồng trước khi về với ông bà ông vải: - Để lấy bóng mát cho lũ trẻ đi học trường đồng bãi nắng nôi về nghỉ chân đấy! Ai cũng chăm. Thảo nào, xứ tôi có đến dăm cây đa, nhưng tuổi dễ đến cả mấy trăm năm như thế! Mỗi gốc đa ở đó là một miếu thờ một ông thần treo ấn từ quan, về xứ mở trường. Đi xa về, ngóng làng, chả thấy gì, trong tầm nhìn mút mắt, chỉ thấy những đa làng, mà ở đó ngự những vị đã thành những ông thần lòng Dân!

Tôi lặng đi! Giời bỗng im đất cũng chợt ắng! Bà ngoại tôi móm mém, bàn tay hơn trăm năm gội nắng gió, quệt ngang khóe môi tràu đỏ, bỏm bẻm mấy câu của ai đó... rất xa xăm. Nhẹ hơn lời gió!

Rằng:

Đất nước trải mấy ngàn năm lịch sử

Đã bao bận thiếu vua nhưng không thể thiếu Thày

Tượng đài vua, ai dựng trên lối cũ

Tượng đài Thày, Dân tạc ở trong tim! ./.

“Sống giả”

 “Sống giả” thực chất là cách sống chủ yếu vì mình mà ít vì mọi người, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động, phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Một nhóm cán bộ hưu trí ngồi nói chuyện với nhau. Một ông khơi mào: “Theo dõi trên báo chí thời gian gần đây, các ông có thấy lời phát ngôn nào thu hút sự quan tâm của dư luận?”.

Tất cả trầm ngâm suy nghĩ, rồi một ông rành rẽ trả lời: “Tôi nhớ một vị lãnh đạo nói rằng, trong xã hội hiện nay có nhiều cái giả quá. Nào là hàng hóa giả, buôn bán giả, học hành giả, chứng chỉ giả, “cái gì cũng giả” khiến không biết đâu là ranh giới chuẩn mực của xã hội, từ đó ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với chế độ”.

Mọi người đồng tình và rôm rả trao đổi làm rõ thêm câu chuyện: “Giả” không chỉ có nghĩa “không phải là thật”, mà còn bao hàm nhiều nghĩa, như giống vật gì nhưng không phải mang bản chất của vật ấy; làm ra để thay thế một vật nào đó; làm giống như thật; bắt chước sự thật... Nhưng chung quy lại, giả là đối lập với thật, là lợi dụng cái thật để làm y như thật nhằm che mắt, lừa dối thiên hạ vì mục đích hẹp hòi, nhỏ nhoi, không chính đáng. Làm hàng hóa giả để kiếm lợi nhuận bất chính. Buôn bán giả nhằm tận thu lời bất hợp pháp. Học hành giả gắn với chứng chỉ giả nhằm kiếm bằng cấp làm “trang sức”, lòe bịp, “đánh bóng” lý lịch cá nhân hòng vụ lợi... Phải nói rằng, cái gì giả cũng đáng lo ngại, đáng phê phán!

Rồi ông cán bộ khơi mào câu chuyện lại thốt lên: “Nhưng có một cái giả đáng sợ hơn? Các ông có biết đó là cái giả gì không?”.

Các ông khác lại suy nghĩ, rồi một ông trả lời: “Theo tôi, đáng sợ nhất bây giờ chính là tình trạng “sống giả”!”.

Các ông lại bàn tán: “Sống giả” không chỉ có nghĩa là sống không thật lòng mình, mà còn là kiểu cách sống bằng mọi giá để “lấy lòng, mua chuộc” người khác. Những người “sống giả” luôn có cách hành xử thế này: Với cấp trên, thì cái gì cũng phải, cũng đúng, cũng hay; với thủ trưởng thì bao giờ cũng nhũn nhặn “một dạ, hai vâng”; với mọi người thì “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “gió chiều nào theo chiều ấy”, “thấy xôi khen xôi ngọt, thấy thịt bảo thịt bùi”, lúc nào cũng ứng xử theo kiểu “dĩ hòa vi quý” để cố gắng không làm mất lòng, phật ý một ai. Nhưng còn có một thứ “sống giả” tinh vi hơn, đấy là một số người ứng xử đến mức “siêu khéo”, luôn sử dụng những “lời có cánh”, những mỹ từ để khen ngợi người này, vuốt ve người khác, biết tận dụng thời cơ để “cung kính” cấp trên, “chiều chuộng” cấp dưới, “cưng nựng” đồng nghiệp. Cái sự “sống giả” này càng thấy rõ nhất ở một số người đang trong thời điểm chuẩn bị đại hội, chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm, chuẩn bị bầu cử, chuẩn bị bổ nhiệm chức vụ mới.

Nhưng những người “sống giả” lại... không dễ bị phát hiện như “hàng giả”, “chứng chỉ giả”, “bằng cấp giả”. Vì đó là những con người bằng xương bằng thịt hẳn hoi, đôi khi được “khoác” trên mình một diện mạo bóng bẩy hào hoa, nhưng họ khéo léo thể hiện “cử chỉ giả” để làm “xiêu lòng” người khác, “mua chuộc” nhân tâm.

Một ông trong nhóm nói giọng đầy bức xúc: “Như vậy, “sống giả” cũng là một trong những hình thức tạo dựng “uy tín giả” cho cán bộ, đảng viên, một triệu chứng không thể xem thường trong bộ máy công quyền, đúng không?”.

Các ông khác đồng thanh: “Đúng vậy!”.

Thực tế đã có những người tiến thân không phải do tài năng, đức độ, mà đi lên bằng cái “môi mỏng lưỡi mềm” siêu đẳng của họ. Họ hiếm khi gây mất lòng ai, nhưng do tài cán có hạn, lại chỉ khư khư “giữ mình” vì ngại đụng chạm, ngại va vấp,... thế nên những người này thường không có chính kiến rõ ràng, không có tính quyết đoán, không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, do đó không góp phần tạo ra động lực thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc cho tập thể, cho bộ máy công quyền. “Sống giả” thực chất là cách sống chủ yếu vì mình mà ít vì mọi người, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động, phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

“Sống giả” như thế thì không chỉ đáng sợ, mà còn đáng nguy nữa. Vì thế, đã đến lúc chúng ta cần tỉnh táo nhận diện những “khuôn mặt thật” nhưng lại được bao bọc bởi cái “mặt nạ sống giả” dễ làm mập mờ, lẫn lộn ranh giới tốt - xấu, đúng - sai, hay - dở và gây “ung nhọt” đạo đức cán bộ, đảng viên./.

Đừng quên sự trung thực

Trong buổi họp tiếp xúc cử tri gần đây ở xã Chu Hồng, cử tri Long giơ tay đến lần thứ tư thì được ban tổ chức mời phát biểu. Khác với những cử tri đã “đăng đàn” trước đó, ông Long không dẫn vấn đề dài dòng mà thẳng thắn đặt câu hỏi rất ngắn.

- Trước vấn đề khuyết điểm của cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền các cấp ngày càng nhiều, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phạm vi ngày càng rộng và có sự liên kết mang tính tổ chức ngày càng rõ; tôi cho rằng đó là biểu hiện của hiện tượng cán bộ thiếu trung thực với dân với tổ chức Đảng. Vậy, tôi xin hỏi, việc đánh giá sự trung thực của các bộ trong Đảng như thế nào, cách thức tiến hành ra sao?

Mặc dù bất ngờ trước câu hỏi này, nhưng người của ban tổ chức cũng đứng lên trả lời cử tri Long rằng, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp được tiến hành theo quy trình thống nhất, thông qua chỉ đạo của Đảng từ Trung ương xuống đến cơ sở. Mỗi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức ở các cấp đều quy định rõ các điều kiện cần và đủ về học vấn, phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn, uy tín... Trung thực của cán bộ chỉ là một tiêu chí nằm trong phẩm chất đạo đức nên các văn bản chỉ đạo của Đảng ít nhắc cụ thể vấn đề này.

Cử tri Long tiếp tục tranh luận rằng, mỗi người Việt Nam đều thuộc lòng 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng từ khi bắt đầu đi học. Trong đó Bác có dạy cần phải “thật thà”. Đây chính là một biểu hiện cơ bản của tính “trung thực”. Thật thà, trung thực được biểu hiệu qua phương pháp mà cán bộ tiến hành công việc, qua giải quyết các mối quan hệ và qua tiếp xúc với nhân dân... Thời gian qua, rất nhiều những “con sâu”, “con mọt” trong bộ máy công quyền bị “lôi ra ánh sáng” đã cho thấy rằng, đức tính thật thà, trung thực được họ sử dụng vào mục đích làm lợi cho cá nhân và nhóm người chứ không phải cho dân, cho nước. Vấn đề là tại sao Đảng ta không cập nhật, coi trung thực là tiêu chí đánh giá cán bộ để kiểm soát. Cử tri Long nhấn mạnh: “Đề nghị các đại biểu chuyển ý kiến của tôi đến với các cấp có thẩm quyền”.

Tôi được biết về câu chuyện này qua chính lời kể của cử tri Long, đúng vào chiều hôm mà Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh gặp gỡ nhân dân Thủ Thiêm lần thứ hai vừa qua. Cử tri Long phấn khởi vì suy nghĩ của mình đồng quan điểm với nhiều người dân địa phương. Ông viện dẫn, theo lời một bài viết trên một tờ báo, tại đây, những người dân Thủ thiêm đã đề nghị chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cần phải trung thực với nhân dân. Họ cho rằng, các nhiệm kỳ trước, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã không trung thực trong vấn đề quy hoạch Thủ Thiêm, dẫn đến làm lợi cho một bộ phận người có tiền và lại làm hại nhiều hộ dân địa phương.

Trung thực vốn là một đức tính của con người được hình thành trong cuộc sống, trong lao động, học tập, rèn luyện, công tác và trong giải quyết các mỗi quan hệ hằng ngày. Một con người trung thực là thành thực với chính mình, với người khác, luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức chân thật trong mỗi lời nói, cử chỉ và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị của một con người chân chính.

Phân tích như vậy để thấy rõ ràng là, ở mỗi người, đức tính thật thà, trung thực có ý nghĩa vô cùng quan trọng và là cơ sở để kết giao, tạo ra niềm tin và xây dựng uy tín với cá nhân, tập thể xã hội. Tính trung thực giúp con người trở nên đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ, giao dịch, đó là sức mạnh lớn nhất để thuyết phục người khác. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên nhân cách con người. Có thể nói rằng, sự trung thực là một phẩm chất quan trọng hàng đầu trên hành trình hiện thực hóa ước mơ của mỗi cá nhân.

Đối với công dân bình thường, sự thật thà, trung thực đã có ý nghĩa lớn như vậy thì đối với cán bộ của Đảng trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, trung thực được nhìn nhận như là phẩm chất quan trọng hàng đầu. Bởi việc dấn thân vào con đường làm cán bộ của Đảng là tự nguyện hiến dâng, đi theo mục tiêu, lý tưởng và luôn sẵn sàng cống hiến, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đất nước. Những vấn đề này đã được hiện diện đầy đủ trong Điều lệ Đảng hiện hành và trong những lời dạy hết sức ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thế nhưng, ngày nay, trước sự tác oai tác quái của xã hội sùng ái vật chất, trong cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương đang xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ, công chức, viên chức thiếu thật thà, trung thực và thừa mưu mô cũng như những thủ đoạn nhằm trục lợi và liên kết trục lợi từ cơ chế chính sách hoặc “bán” thông tin của Nhà nước. Trải qua thời gian, những cán bộ “con lươn, con trạch” vẫn luôn có đất dụng võ, sống khỏe, tồn tại và phát triển, được giao đảm nhận các vị trí công tác và luôn chờ cơ hội để trục lợi mà chưa bị đưa ra ánh sáng. Hiện tượng cán bộ “giàu nhanh”, “giàu ngầm”, vô cảm với nhân dân, xa dân, hành dân... là những sự thật nhức nhối trong xã hội đã làm cho niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng bị mai một và ngày càng roãng rộng, là cớ để cho các thế lực thù địch vin vào và khoét sâu mâu thuẫn.

Thực tế, những cán bộ thiếu thật thà, thiếu trung thực vi phạm khuyết điểm, vi phạm kỷ luật đã bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý. Vì không thật thà, trung thực nên họ đã tự hủy hoại các mối liên hệ, kể cả đối với những người thân. Do vậy, muốn cho tiếng thơm được lưu danh muôn đời, muốn cho kết quả cống hiến được bền vững dài lâu thì mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy chính quyền từ Trung ương tới địa phương không ngừng tu dưỡng, tự rèn luyện và không để chủ nghĩa cá nhân trỗi dậy, phát tán, đè bẹp sự thật thà, trung thực./.

Sự suy thoái tư tưởng chính trị - Nhìn từ vấn đề cán bộ, đảng viên nghỉ hưu xin nghỉ sinh hoạt Đảng vì lý do sức khỏe

Trên cơ sở tiếp cận nguồn tài liệu của một số đảng bộ địa phương, bài viết đề cập vấn đề một số cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu lấy lý do sức khỏe để xin thôi không tham gia sinh hoạt Đảng. Từ đó, đề xuất đánh giá khách quan, toàn diện về một vấn đề xã hội đã và đang diễn ra, góp phần vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Khi tiếp cận các tài liệu, văn kiện này để phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, chúng tôi thấy nổi lên một vấn đề rất đáng quan tâm.

Đó là từ năm 1991 đến năm 2017, có không ít cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt Đảng, sau khi nghỉ hưu vì lý do sức khỏe và một số lý do khác. Vấn đề này rất ít được các tài liệu, văn kiện Đại hội Đảng bộ các cấp đề cập tới, nếu có, cũng chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn, thậm chí có nhiều đảng bộ, từ năm 1991 đến năm 2017, không hề nhắc đến thực tế đó, cho dù, có việc một số cán bộ, đảng viên sau khi nhận quyết định nghỉ hưu được một vài năm đã vin vào lý do sức khỏe yếu để xin thôi sinh hoạt Đảng tại các chi bộ, đảng bộ địa phương nơi mình cư trú. Thật khó để xác định lý do sức khỏe mà những cán bộ, đảng viên này đưa ra là thật hay chỉ là một nguyên cớ thiếu tính thuyết phục đối với các cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong một chi bộ, đảng bộ, rộng hơn là với cộng đồng dân cư sống trên cùng một thôn, xóm, ngõ, ngách hay phường, xã...

Cho dù trong Điều lệ Đảng và các văn bản hiện hành của Đảng không có điều khoản nào bắt buộc cán bộ, đảng viên, vì lý do sức khỏe, bệnh tật thường xuyên vẫn phải tham gia sinh hoạt Đảng, tuy nhiên, vấn đề cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu, lấy lý do vì sức khỏe yếu, ốm đau, bệnh tật hoặc một số lý do khác để xin nghỉ sinh hoạt Đảng ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống chính trị - xã hội đã diễn ra thời gian qua, cần được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, nhằm giải quyết vấn đề đã và đang đặt ra trong công tác xây dựng Đảng. Điều này càng trở nên cấp thiết hơn, khi mà Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều năm qua đã, đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, nhằm loại bỏ những cán bộ, đảng viên không đủ phẩm chất đạo đức, lập trường chính trị ra khỏi bộ máy tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, lấy lại niềm tin của đại bộ phận quần chúng nhân dân đối với Đảng. Do đó, tiến hành khảo sát, nghiên cứu thực trạng một số ít cán bộ, đảng viên ở các chi bộ, đảng bộ trên khắp 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, lấy lý do sức khỏe không bảo đảm để xin nghỉ sinh hoạt Đảng trong suốt phần đời còn lại thực sự là một vấn đề bức thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn không chỉ trước mắt mà cả lâu dài.

Vấn đề đặt ra ở đây là: Liệu thực trạng cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu lấy lý do sức khỏe để xin nghỉ sinh hoạt Đảng, hay ra khỏi Đảng có phải là những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái tư tưởng chính trị, trong từng cán bộ, đảng viên hay không? Tuy số liệu thống kê chưa đầy đủ, nhưng thử hỏi: trong số hàng ngàn cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt Đảng ở tất cả các chi bộ, đảng bộ thuộc 63 tỉnh, thành phố của cả nước từ năm 1991 đến nay, tỷ lệ cán bộ, đảng viên vì ốm đau, bệnh tật thường xuyên, sức khỏe không cho phép để tham gia sinh hoạt Đảng tại các chi bộ, đảng bộ là bao nhiêu, hay lý do sức khỏe chỉ là một trong số ngàn lẻ lý do để họ xin nghỉ sinh hoạt Đảng?

Thực tế đó đã tồn tại nhiều năm qua nhưng các cấp ủy ở các địa phương vẫn chưa có các giải pháp, biện pháp cụ thể, hữu hiệu để có thể ngăn chặn, đẩy lùi. Điều đáng quan tâm là trong số đó, có cả những cán bộ, đảng viên, từng giữ cương vị này, cương vị khác trong hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng trước khi họ nghỉ hưu và điều kiện kinh tế gia đình thuộc vào diện hộ khá, hộ giàu, con cái thành đạt trong cuộc sống...

Vậy, vì sao, thay vì gương mẫu tham gia sinh hoạt Đảng tại các chi bộ cơ sở nơi họ cư trú, tiếp tục cống hiến cho công cuộc xây dựng, phát triển quê hương, đất nước bằng những việc làm cụ thể, họ lại xin nghỉ sinh hoạt Đảng? Động cơ, mục đích của số ít cán bộ, đảng viên này khi lấy lý do sức khỏe để xin nghỉ sinh hoạt Đảng là gì? Và, liệu họ có nghĩ tới những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đối với các chi bộ, đảng bộ và cộng đồng cư dân nơi họ sinh sống khi họ không còn đứng trong hàng ngũ của Đảng nữa hay không? Đây có phải là một trong những biểu hiện cụ thể của sự suy thoái tư tưởng chính trị hay không? Giải pháp nào để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng đó?...

Từ thực tế trên, chúng tôi cho rằng cần phải tiến hành, khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng cán bộ, đảng viên xin nghỉ sinh hoạt Đảng nói chung và cán bộ, đảng viên nghỉ hưu lấy lý do sức khỏe để xin nghỉ sinh hoạt Đảng nói riêng trên phạm vi cả nước.

Cần xem xét một cách nghiêm túc, thẳng thắn vấn đề, cán bộ, đảng viên sau khi nghỉ hưu xin nghỉ sinh hoạt Đảng vì những lý do khác nhau, để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể, hữu hiệu, sát hợp với từng chi bộ, đảng bộ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thực trạng trên./.

Lạm nghĩ trọng dụng hiền tài

 Có thể không nhầm lẫn và không ngoa, rằng khi xem thế giới, dù chỉ hạn hẹp trong khoảng dăm chục năm nay, không thể không ngộ ra rằng: Mọi con đường phát triển rực rỡ ấy, thường hội tụ ở ba nhân tố: Con người - Thể chế - Công nghệ?

Và, có lẽ càng không thể nhầm lẫn, nếu ngẫm lịch sử từ cổ chí kim, lại từ Đông sang Tây, mà nói rằng: Muôn sự thành bại của chính nhân, vạn sự thăng trầm, còn mất của mọi thể chế chính danh, mọi quốc gia chính đạo, quy lại ở tại việc trồng người, chăm người và dùng người, nhất là hiền tài. Ấy là cái Gốc của mọi sự phát triển của lịch sử!

Trong ba việc ấy, thiển nghĩ, trọng yếu nhất là trọng dụng hiền tài!

Vì, sự nâng niu: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp” (Thân Nhân Trung).

Vì, xây dựng đất nước lấy dạy học làm đầu, tìm lẽ trị bình, tuyển nhân tài làm gấp (Nguyễn Huệ Quang Trung).

Vì, khi đất nước có nhiều người tài, đất nước càng hưng thịnh (Mặc Tử).

Và, cao hơn cả, là vì sự tôn vinh những người tài trong việc trọng dụng hiền tài: Nơi đây an nghỉ một người biết dùng người giỏi hơn mình. Ấy là lời khắc trên bia mộ của Andrew Carnegie (1835 - 1919).

Trông lại lịch sử nước nhà, càng trước những đại sự sinh tử, càng đối mặt những thử thách mất còn, trong trọng sự dụng nhân, đối đãi với hiền tài, làm nên sự vững vàng của thể chế, vì sự phồn thịnh của quốc gia dân tộc, có thể chiêm nghiệm và thực hành:

Dùng thì phải tin tưởng, tôn trọng hiền tài. Bởi, hiền tài trọng danh tiếng hơn trọng thân phận, trọng liêm sỉ hơn trọng thân mình.

Dùng thì phải xứng với hiền tài. Bởi, hiền tài trọng hành, trọng sự hơn trọng mớ danh hão, trọng lối từ chương (tức nói suông).

Dùng thì phải đừng cố chấp hiền tài. Bởi, hiền tài vốn trọng bản ngã, trọng khí tiết hơn mọi thứ danh lợi cá nhân, thậm chí thà chết không chịu nhục và bị làm nhục.

Dùng thì phải khích lệ hiền tài. Bởi, hiền tài không cần sự ban ơn vô lối, tránh xa mọi sự phủ dụ sáo rỗng, giả dối bề trên. Ngọc không bán rao.

Dùng thì phải bảo vệ hiền tài. Bởi, hiền tài trọng phận sự, quốc phận hơn danh phận, tiếng tăm hão huyền; trọng liêm sỉ hơn tất cả, không có liêm sỉ không thành người được huống chi mà thành chính nhân, quân tử.

Trái những điều ấy, hiền tài tối thiểu sẽ rũ áo khoanh tay, hiền sĩ bỏ đi, thậm chí quay lưng lại... thì muôn sự chông chênh, thể chế bạc nhược, lòng người phân rã, nhân tài ly tán, vận mệnh quốc gia như trứng để đầu đẳng, khôn mà lượng trước.

Từ đó và qua đó, lạm nghĩ, mọi việc muốn thành, mọi sự nghiệp muốn nên, không trừ một ai, một cấp nào, trước hết những người, những tổ chức nắm giữ trọng sự quốc gia dân tộc, nên chăng nhất định:

Không thể không sửa chữa con mắt hạt đậu, thiển cận khi xét đoán hiền tài. Trái điều này, không tranh thủ, không hợp tác được với ai, vô hình gây nên bè đảng. Tất cô độc.

Không thể không từ bỏ lối câu nệ, kỳ thị, hẹp hòi khi trọng dụng hiền tài. Vì đại cục, tôn trọng và tin cậy hiền tài; bỏ qua lỗi nhỏ mưu lấy cái lớn; nâng niu khác biệt cốt giữ đại đồng. Trái điều này, hiền tài nghểnh ngảng thờ ơ, người giỏi xa lánh, thậm chí phó mặc thế sự, buông lơi mọi điều. Tất suy bại.

Không thể tự mình không trở thành tấm gương về nhân đức, hài hòa với sự chân thành, tin cậy (khác với nuông chiều) mà đối đãi thành tín, thủy chung khi sống và mực thước trong đối đãi với hiền tài. Không là muối không thể ướp mặn được người khác. Trái điều này, trên dưới bất phân, thượng bất chính hạ tắc loạn, vạ nảy trong tường vách, họa tự mình gây nên. Tất phải tiêu vong.

Không thể không lấy việc mà đo, lấy nhân tâm mà lượng thật nghiêm khắc, lấy sự cầu thị làm đầu khi cắt đặt, xét công và chung lòng hành sự với hiền tài. Trái điều này, hiền tài buông tay, mọi sự bê trễ, cơ đồ lung lay, thậm chí thân mình khó giữ, tổ chức khó toàn. Tất đổ vỡ tan tành.

Không thể không thưởng phạt phân minh, công bình khi thẩm xét, coi việc hiền tài. Trái điều này, lòng người rối ren, thể chế hỗn độn. Tất loạn./.