Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Âm mưu chia rẽ và thách thức bên trong

Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.

Thực tế cho thấy, hiện nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi, phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.

Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”...

Đáng chú ý, chúng tập trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công an... Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”.

Bên cạnh đó, là những vấn đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại... Đại hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ... gây bức xúc xã hội và làm suy giảm vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta.

Sức mạnh nội sinh và bài học thịnh suy, thành bại từ lịch sử

Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế giới đương đại phản ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong “những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của thế giới hiện nay.

Tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


Những khó khăn, thách thức trong công cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ an ninh tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Trong những năm qua, việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị..., hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Trận địa tư tưởng chính trị được giữ vững, khẳng định địa vị chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị - tinh thần ở Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là thiếu đa dạng hóa các hình thức thông tin; chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của nhân dân; tính tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch còn hạn chế; chưa phát huy được hết vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội… Các cơ quan chức năng có lúc còn thiếu chủ động trong việc định hướng, cung cấp thông tin; thông tin tích cực, chính thống có lúc, có nơi chưa chiếm được thế thượng phong so với các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội còn hạn chế…

Công tác thông tin đối ngoại, nhất là tuyên truyền, quảng bá nhằm nâng cao uy tín, vị thế và hình ảnh của Việt Nam ổn định và phát triển ở khu vực và trên trường quốc tế có lúc, có nơi còn hạn chế, nên ở nhiều khu vực, nhân dân thế giới chưa hiểu rõ về tình hình Việt Nam, bị tác động tiêu cực bởi những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Dự báo trong thời gian tới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự phát triển bùng nổ của internet, mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, các thế lực thù địch, phản động ngày càng có những chiêu thức, thủ đoạn mới tinh vi hơn để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của đất nước. Ví dụ, trên lĩnh vực kinh tế, âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống và cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” theo kiểu phương Tây. 

Trên lĩnh vực đối ngoại, thông qua hoạt động “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhất là về dân chủ, dân tộc, tôn giáo, từ đó lợi dụng quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận, móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, tạo dựng lực lượng “nòng cốt” cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trong. Trong hợp tác, giao lưu về giáo dục, đào tạo, các thế lực thù địch truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Rèn giũa thực hành "nói đi đôi với làm"

 Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới bao hàm nhiều nội dung quan trọng, toàn diện. Một trong những đặc trưng cơ bản mang giá trị cốt lõi đó là: Nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân.

Người xưa có câu: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa mà bị kẻ cười, người chê, điều đó cho thấy các cụ ta ngày xưa đã rất quan tâm đến chữ tín, đề cao hành vi “nói đi đôi với làm”. Tìm hiểu sâu hơn nội hàm thuật ngữ “nói đi đôi với làm” trong Nghị quyết 847 cho thấy: Đây không đơn thuần là vấn đề đạo đức thông thường, mà ở tầm cao hơn chính là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động trong thực tiễn để được tập thể, nhân dân tin tưởng, ủng hộ. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tinh thần nói đi đôi với làm. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". 


Hòa bình, đất nước không còn tiếng súng nhưng các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng. Đáng chú ý là chúng lôi kéo, dụ dỗ đồng bào tham gia các tà đạo, lập "vương quốc" riêng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Xác định là lực lượng nòng cốt, để “nói dân nghe, làm dân tin”, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã thực hiện “3 bám, 4 cùng” (bám dân, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) với dân bản.
Bộ đội Cụ Hồ là danh hiệu cao quý được Đảng và nhân dân dành tặng cho cán bộ, chiến sĩ. Với sứ mệnh, trách nhiệm cao cả là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần giữ gìn, phát huy phẩm chất: Nói đi đôi với làm, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân. Gần 8 thập kỷ trôi qua nhưng nội dung, ý nghĩa 10 lời thề danh dự của quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam vang lên dưới lá cờ Tổ quốc luôn là kim chỉ nam trong lời nói và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên mọi mặt trận. Phẩm chất ấy được minh chứng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, kiến quốc thời bình, tựa như “ngọc càng mài càng sáng”, qua thời gian ngày càng thêm sáng đẹp.

Bằng phương pháp tuyên truyền linh hoạt, kết hợp vừa nói vừa làm, vừa tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, vừa cầm tay chỉ việc giúp dân xây dựng các mô hình kinh tế, Bộ đội Cụ Hồ trở thành điểm tựa của đồng bào, nhờ đó an ninh chính trị, trật tự địa bàn nơi phên giậu Tổ quốc được giữ vững. Hay, trong cuộc chiến chống "giặc Covid-19" vừa qua, hình ảnh bộ đội nhường lại doanh trại cho nhân dân cách ly, còn mình dựng lán ngủ ngoài rừng, ăn cơm bưng lá chuối đã làm lay động trái tim nhiều người. Hành động, nghĩa cử ấy càng làm tô thắm thêm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của dân, do dân, vì dân.

Khẳng định phẩm chất nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết là đặc trưng cơ bản cần tiếp tục lan tỏa, nhân rộng, thế nhưng thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Không ít người cho mình quyền được nói, được đề cao người này, phê phán người kia mà thực tâm không phải để đóng góp xây dựng mà cốt là để hạ bệ người khác, nâng cao bản thân và những người cùng lợi ích. Không ít người trong hội nghị thì im lặng, dĩ hòa vi quý, "tránh voi không xấu mặt nào" nhưng sau hội nghị thì xì xèo, bàn tán, đả kích người khác. Một hiện tượng hay gặp ở những người có thói quen xu nịnh là tâng bốc cấp trên bằng lời lẽ hoa mỹ, sáo rỗng nhưng khi hết quyền lợi thì thờ ơ, vô cảm. Xót xa hơn, vừa qua, một số cán bộ bị đưa ra khởi tố mà trước đó chưa lâu họ còn phô trương, tô vẽ những việc mình làm là “cống hiến vì dân, vì nước”.

Tình trạng trên được Nghị quyết 847 nhận diện là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đó là: “Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi... Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội...”. Những biểu hiện trên không chỉ là sự suy thoái về tư tưởng đạo đức, lối sống mà còn là biểu hiện của “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, trở thành rào cản sự phát triển, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Bộ đội Cụ Hồ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy phẩm chất, tài năng cống hiến cho đất nước, song cũng đặt ra thách thức lớn bởi lối sống thực dụng, ưa thụ hưởng và những cám dỗ về vật chất, các tệ nạn xã hội đang len lỏi. Bởi vậy, phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân cho bộ đội là việc làm quan trọng và cần thiết. Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nghị quyết 847 nhấn mạnh là: “Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ, để nói đi đôi với làm, trước hết cần phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Bởi, có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm. Muốn vậy, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, mơ hồ mất cảnh giác. Nói đi đôi với làm phải thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người. Việc gì làm được thì nói, chưa làm được thì không thể phô trương, tô vẽ.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần có nhiều chủ trương, giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng, tăng cường giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức, quán triệt, thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân và chức trách quân nhân. Đồng thời cần biểu dương, khen thưởng những gương cán bộ, đảng viên tận tụy, tâm huyết, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo, thật thà, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy phẩm chất nói đi đôi với làm, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, quân nhân sẽ ngày càng khẳng định được tài năng, bản lĩnh, trí tuệ và được tập thể, quần chúng ghi nhận, xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thiên tai, dịch bệnh

 Trong thiên tai, dịch bệnh, hình ảnh hàng vạn chiến sĩ Quân đội dầm mình trong mưa bão để cứu dân; chiến sĩ biên phòng ngày đêm canh gác trên chốt chống dịch; các anh bộ đội, dân quân phục vụ tại các khu cách ly tập trung… đã làm sáng thêm những phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Tiên phong trong đại dịch

Những ngày đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 xuất hiện, hoành hành khắp thế giới. Việt Nam cũng bị đe dọa và Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp. Ngay trong khó khăn, hiểm nguy khi tình hình dịch Covid-19 ngày càng lan rộng, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã xung kích vào điểm nóng tâm dịch; kiên cường trên các tuyến biên giới tham gia phòng, chống dịch bệnh.

Mặc cho thời tiết khắc nghiệt, giữa cái giá rét thấu xương những ngày Đông, trên các đường mòn, lối mở ở dọc tuyến biên giới, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ địa bàn để ngăn chặn các đối tượng nhập cảnh trái phép, chặn đứng nguy cơ dịch bệnh xâm nhập vào nội địa.

Ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thiên tai, dịch bệnh
 Lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Trị tuần tra biên giới phòng, chống dịch Covid-19.

Tham gia cắm chốt, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ không thể về nhà, phải hoãn cưới vợ, nhiều trường hợp bố mẹ mất cũng không thể về chịu tang. Tạ lỗi với bố mẹ, khất hẹn với vợ chưa cưới và người thân, những người lính Biên phòng “căng” mình để cắm chốt trong những lều bạt nơi rừng thiêng nước độc hàng tháng trời để thực hiện nhiệm vụ.

Trên mặt trận chống dịch, không chỉ những người lính biên phòng, mà các lực lượng làm nhiệm vụ trong các khu cách ly cũng đã trọn nghĩa với đồng bào và người nước ngoài đến Việt Nam. Nhưng ngày đầu năm 2020, thực hiện yêu cầu của Chính phủ cũng như quy định của Bộ Y tế, người Việt Nam ở nước ngoài về hay người nước ngoài sang Việt Nam phải thực hiện cách ly bắt buộc trong 14 ngày. Hàng nghìn khu cách ly tập trung trên địa bàn cả nước được thiết lập để đón công dân từ nước ngoài trở về thực hiện cách ly.  


Tận mắt chứng kiến và trực tiếp được chào đón, chăm sóc chu đáo ân cần, được quan tâm lo lắng như người thân của các cán bộ, chiến sĩ,… những công dân thực hiện nghĩa vụ cách ly phòng bệnh đều rất cảm động. Những hành động, việc làm cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã để lại trong lòng kiều bào và nhân dân những ấn tượng không bao giờ phai mờ. Đến bây giờ, sau hơn hai năm dịch Covid-19 bùng phát, câu chuyện về những “bà đỡ” bất đắc dĩ trong các khu cách ly giúp công dân “vượt cạn” hay chiến sĩ nhường suất ăn cho công dân… vẫn luôn được nhắc mãi. Và còn đó, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình trong tham gia giúp nhân dân phòng, chống dịch đã trở thành biểu tượng cao đẹp về lòng nhân ái, tinh thần quả cảm của Bộ đội Cụ Hồ.
Mặc cho đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy cơ lây nhiễm cao nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ phục vụ ở các khu cách ly luôn nỗ lực hết mình để đảm bảo điều kiện ăn, ở tốt nhất cho các công dân. Ai cũng xác định tốt tâm lý 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng chung tay phòng, chống dịch bệnh) với các công dân. Trong khu cách ly, cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, phục vụ tận tình, chu đáo các công dân thực hiện nghĩa vụ phòng dịch.

Nếu như trong cuộc chiến chống Covid-19, mỗi cán bộ, chiến sĩ chiến đấu với tinh thần “chống dịch như chống giặc” để hạn chế thấp nhất sự xâm nhập của dịch bệnh; sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” dành những điều kiện tốt nhất cho đồng bào mình trong khu cách ly… thì trong công cuộc phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã không quản gian khó, không sợ hy sinh, sẵn sàng tới những nơi khó khăn nhất, nguy hiểm nhất để giúp dân chạy lũ, tiếp tế lương thực, thực phẩm, tìm kiếm người bị nạn… khắc phục hậu quả thiên tai.Quên mình trong lũ dữ

Những ngày cuối tháng 10 năm 2020, đồng bào các tỉnh miền Trung oằn mình trong bão lũ. Nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của người dân trôi theo dòng nước dữ. Làng xã bị cô lập, đất đai sạt lở, hàng nghìn người dân rơi vào cảnh khó khăn. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, mệnh lệnh cứu dân, hạn chế thấp nhất thiệt hại của thiên tai lại được phát đi. Các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang đã huy động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều phương tiện như ô tô, xuồng máy, áo phao... có mặt kịp thời sơ tán, ứng cứu nhân dân. Xác định “phòng chống lụt bão là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có mặt ở những địa bàn khó khăn nhất giúp nhân dân ứng phó với bão lũ, khắc phục hậu quả thiên tai để hạn chế thấp nhất thiệt hại và đưa cuộc sống của người dân ổn định trở lại.

Dầm mình trong dòng nước lũ suốt cả ngày, tham gia sơ tán, di dời hàng trăm người dân và tài sản bà con đến nơi an toàn nhưng khi nghe tiếng người kêu cứu, cán bộ, chiến sĩ quân đội không ngần ngại lao mình xuống dòng nước lũ, quyết tâm cứu người bị nạn. Vẫn còn đó những tấm gương không quản hiểm nguy lao vào tâm lũ, hy sinh tính mạng cứu nhân dân trong phòng,chống thiên tai của cán bộ, chiến sĩ toàn quân.

Ngay sau khi nước rút, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang đã điều động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và dân quân tự vệ giúp dân khắc phục hậu quả sau lũ. Các cán bộ, chiến sĩ tích cực tham gia sửa chữa nhà cửa bị hư hỏng, khắc phục sạt lở đất, khai thông các tuyến đường giao thông, nạo vét kênh mương thủy lợi, hỗ trợ thu hoạch hoa màu, vệ sinh các trường học... giúp dân sớm ổn định lại cuộc sống.

Thật khó nói hết những gian lao của những người lính, các anh luôn có mặt ở những điểm nóng để giúp dân khi xảy ra thiên tai, hoạn nạn. Cùng với cứu hộ, cứu nạn, họ còn tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào, công tác chính sách xã hội, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa... Hình ảnh người lính đem con chữ đến những bản làng nghèo xa xôi, thắp lên hy vọng và ước mơ cho những em nhỏ vùng cao, chia sẻ cùng nhân dân những nhọc nhằn, gian khó đã trở thành quen thuộc.

Xung kích, đi đầu, gần dân, giúp dân vượt qua thiên tai, hoạn nạn, đó chính là mệnh lệnh chiến đấu trong thời bình của cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” xông pha vào các khu vực trọng yếu, nguy hiểm để giúp dân chống chọi với thiên tai, dịch bệnh góp phần tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Liêm Sỉ và Quốc Sỉ!

Xem khắp trong lịch sử từ cổ tới kim, dù bất cứ ở đâu, dẫu bất kể thời nào, cổ nhân ta cũng coi trọng, biểu dương, nêu cao và giữ gìn Liêm, Sỉ! Vì đặng làm một người chân chính thì dù là ai, cũng không thể xa rời Liêm, Sỉ!

Ấy là cái Hồn để chăm cho cho cái Căn bản con người xứng đáng là Con người, cái Cốt để vun cho cái Gốc thể chế vững mạnh. Vì muốn xứng đáng một quốc gia thì cần phải có Quốc Sỉ, Quốc thể.

Liêm Sỉ và Quốc Sỉ là những giềng mối căn bản làm nên địa vị, tiếng tăm, sức mạnh một con người; vị thế, sức mạnh và thanh danh Đất nước!

Thanh sạch, liêm khiết ấy chính là Liêm vậy. Người liêm khiết thì bất luận gặp hoàn cảnh nào cũng không động lòng tham cầu, cũng chẳng muốn ham hố vật chất. Hơn nữa, chính là tinh thần chí công vô tư, “dĩ công vi thượng” và biết quên mình mà làm chuyện ích lợi chung. Người liêm khiết thì luôn giữ cho nhân cách mình được vẹn toàn, thanh danh mình được thơm tho, không lợi dụng địa vị mình để chiếm công vi tư, để nhũng nhiễu, bóc lột đồng loại. Một công bộc quốc gia liêm chính phải: có đức, tài, biết kính trọng nghề nghiệp, vui vẻ với mọi người, công chính vô tư, biết lễ biết phép, biết hay dở phải trái... Chung quy, một người liêm chính là người tài đức xứng với danh vị của mình, với chức tước, phận vị của mình.

Liêm cũng lại là thấy của người, của quốc gia mà lòng không ham chiếm đoạt một cách phi pháp. Tức là biết xét nét đâu là giới hạn giữa công và tư, rồi không dám làm điều xấu, điều trái với quốc pháp và đạo lý luân thường. Nhất là không che đậy điều xấu, nghĩa là đức hạnh vẹn toàn. Nếu không Liêm thì của gì cũng cả gan lấy, không Sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế, thì không chỉ rước họa thân bại danh liệt, và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi lại là kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn làm, thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được!

Sỉ là biết xấu hổ, tức là biết hổ thẹn. Gặp chuyện gì không hợp đạo lý, đi ngược lại với lương tâm của mình thì tuyệt đối chẳng làm. Sẽ là mang tiếng xấu hổ vì khi không làm tròn phận sự mình, vì những điều xằng bậy mình đã trót nhúng chàm. Càng là xấu hổ vì mình đã không theo được lý tưởng mình đã vạch ra. Xấu hổ là lúc trong lòng thời gian ác, xấu xa mà bên ngoài mặt thời dùng lời nói hay, bộ tịch khéo léo, lịch sự để che đậy. Xấu hổ là khi bề trong thì oán ghét người, mà bên ngoài lại giả tảng thân thiết với người. Xấu hổ là khi trong nước còn nghèo, Nhân dân thiếu thốn, mà mình dùng những phương tiện bất chính để trở nên “giàu có bất thường”, dư dật kệch cỡm. Xấu hổ là lúc nào cũng bo bo nghĩ đến lợi lộc, áo cơm vị kỷ, còn gia phong, vận nước thì mặc cho gió cuốn nổi trôi. Người xưa nói, xấu hổ khi tài đức không xứng với chức vị, khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách, để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ; khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố... vô hình trung đã vứt bỏ mất tấc lòng hổ thẹn của mình rồi.

Vì thế, Liêm Sỉ là tính rất hay của loài người. Cổ nhân nói: Khi đã không còn có Liêm, Sỉ như mọi người, thì làm sao mà còn là giống người được nữa! Nó là cái đại tiết để giúp con người nên Người. Vì, người mà không Liêm thì cái gì cũng mưu đoạt lấy, không Sỉ thì việc gì cũng rắp tâm làm. Nhưng, khi mắc tội lại tỏ ra hèn hát, quỵ lụy, van lơn, tự hạ nhục mình! Người mà đến thế là người bỏ đi, không khác gì giống vật. Nhất là những bậc đứng chủ trương việc nhà, chủ trì việc công mà vô Liêm, vô Sỉ thì thân khoác ươn hèn, nhà phải suy bại, nước phải nguy vong!

Cùng với Lễ, Nghĩa, thì Liêm, Sỉ hợp thành bốn đầu dây của một quốc gia. Một đầu dây đứt thì nước phải nghiêng. Hai đầu dây đứt thì nước phải nguy. Ba đầu dây đứt thì nước phải đổ. Bốn đầu dây đứt thì nước phải diệt.Nếu nghiêng thì còn làm cho ngay lại được; nếu nguy có thể làm cho yên được; nếu đổ thì có thể nâng lên được; nếu diệt vong thì không thể nào gây dựng lại được nữa.

Thế mà từ bấy lâu nay, nhất là mấy năm nay, thử ngó trông mấy người đứng ra “giải trình” mà như là lấp liếm, cả tiếng “minh bạch hóa” nhưng lại tự chuốc tối tăm cho mình về sự phất lên chóng mặt đến mức bất thường của những khối tài sản to sụ của họ (cố bằng mọi cách để cướp đoạt): những “biệt phủ”, những “của nả như núi”, bào chữa cho “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, thậm chí nhen nhóm cả những “sứ quân”... mà thấy sự Liêm thời nay bị họ xúc phạm, chà đạp, bị làm cho tổn thương, thậm chí bị làm cho... bị xỉ nhục đau đớn!

Lại đoái nhìn những bản “tự kiểm điểm”, “rút kinh nghiệm” chốn công vụ của những “bộ mặt mo” tới mức quẩn quanh, dối trá mưu toan che đậy những mánh lới, thớ lợ của âm mưu “lẻn” vào chốn quan trường, rắp “cả họ làm quan”, “nhất hậu duệ, nhì tiền tệ...” mà không ai không... khinh bỉ. Rồi những thói lươn lẹo, cong queo, xảo trá, khuất tất nơi chính trường, trái với nghĩa chính trị là sự ngay thẳng (“chính giả chính dã”) khiến ai ai cũng... nổi giận! Vì chữ Sỉ bị chà đạp! Tệ hơn, cả thói quan chức “giả trang” thỏa chí “xuất ngoại chui”, rồi thói “táy máy” ti tiện, hành xử xa lạ với thứ văn hóa làm người ở nước ngoài, bất chấp thanh danh người Việt, thậm chí đây đó cả sự ươn hèn, hổ nhục trong bang giao quốc tế làm phương hại thể diện người nước Nam ta... mà dù ai trông thấy cũng phải bất bình, bỉ mặt! Họ có biết Quốc Sỉ bị tổn thương không?

Gớm ghiếc thay, lắm người rình rập “cuỗm lấy” cả trăm, nghìn tỷ đồng trong quốc khố, giở trò “đạo vị” bất chấp Liêm, Sỉ ở chốn công đường mà làm ngơ quốc nhục, thậm chí cả mưu mô “ăn cắp, buôn bán niềm tin” của Nhân dân, nhắm mắt cố tình xúc phạm quốc an mà không biết sợ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”..., lại còn lên mặt rao giảng nghĩa khí, càng thấy điều Sỉ ở thời nay bị họ làm cho bại hoại, bất chấp cả đạo lý, luân thường. Họ có thấu đấy là xương máu, lòng tin ký thác của đồng bào gom góp lại không? Và, sự hành Sỉ bị họ bôi nhọ, bẻ cong, chặt cụt, báng bổ cả đạo lý ở đời, chỉ thoáng thấy thôi, nhưng cũng đủ khiến bất cứ ai ai, dù hiền từ nhất, cũng không thể không bị xúc phạm và nổi giận, mà họ vẫn cứ nhởn nhơ không sợ quả báo sao! Tham nhũng không chỉ táng thất Liêm Sỉ cá nhân mà còn làm nhục Quốc thể trong các mối quan hệ bang giao quốc tế. Họ có biết, ấy là sự tự sát không?

Liêm, Sỉ là nền tảng của đạo làm người. Chính những người ấy, chứ không phải ai khác, là hiện thân của thói ô nhục làm cho nhân tình đảo ngược, làm cho phong tục suy đồi, khiến cho chính thể tổn thương, niềm tin nơi Nhân dân bị xâm hại. Những ai chỉ biết chăm chăm xu thời nịnh đời, vơ vét, biển thủ tài sản quốc dân,... nếu thử nghĩ lại, thì chẳng đáng cả thẹn lắm sao, chẳng đáng phải tự mình phải lấy đó làm run sợ, kinh hãi lắm sao!

Nếu cho Liêm, Sỉ là sự xấu hổ chung cho cả nước, mà họ “nhân danh” mọi thứ hành xử như thế, dù trong bờ cõi hay ngoài cương thổ, thì Quốc sỉ bị tổn thương, Quốc thể bị vấy bẩn, âu cũng không phải là sự nói ngoa. Ở đời, những công bộc giữ Sỉ thì hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm kia sẽ còn; chứ khi Liêm, Sỉ đã mất, nhất là Sỉ, thì còn gì là luân thường đạo lý ở đời, ai còn mong, còn tin cậy vào chính nghĩa quang minh nơi đâu được nữa? Nhất là những người giữ trọng trách, dù ở cấp nào, mà Liêm bị khinh, Sỉ bị hạ, thì danh dự nước nhà như “trứng để đầu đẳng”, thì Đảng và Nhân Dân biết trông đợi và dựa vào ai chính đại và lỗi lạc được nữa? Lúc ấy, thì vận nước nguy nan như “Gươm treo chỉ mành” kia hoặc họa quốc vong như “Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”, vòng Dân tộc bị nô lệ ắt sẽ cận kề, thì còn ai, còn đâu mà nói về Liêm, về Sỉ, mà luận về Quốc sỉ hay Quốc thể được nữa!

Vì thế, dù cho thế nào, đã bao thời qua và nay muôn dân đã xác quyết: Ai đó có thể bị nghiêng, ai đó có thể tự diệt, vì không Liêm, Sỉ, chứ quyết không thể để Nước nghiêng, bị diệt hay tự diệt. Thế nên, thiển nghĩ, cùng với Lễ, Nghĩa thì Liêm, Sỉ nhất định phải được gìn giữ vẹn toàn, để mỗi người trở thành Người, để Quốc gia vững bền, Dân tộc cường thịnh! Liêm Sỉ được tôn vinh, Quốc Sỉ, do đó, mà ngày càng cẩn trọng làm cho sạch sẽ tinh tươm (“tuyết Quốc sỉ”), Quốc thể theo đó mà ngày càng vững vàng, tỏa sáng!

Càng trông, càng ngẫm những chuyện như thế, nhỏ thì thử hỏi ai mà không lo cho Liêm, Sỉ, đạo lý ở đời bị nhiễu loạn; lớn thì không thể không tự vấn rằng, mọi cấp, mọi ngành, nơi đâu không canh cánh lo âu về trách nhiệm rửa sạch Quốc sỉ nước nhà, địa vị và uy tín cao thấp của Quốc thể giang san xã tắc nước Nam ta trên cõi hoàn cầu!?

Đến đây, nhớ câu chuyện kể hơn 88 năm trước, khi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được giới thiệu gia nhập Trung ương Đảng lâm thời, đã từ chối và đề cử đồng chí Trần Văn Lan thay mình, mà xiết bao cảm phục trước một nhân cách lớn, có thể là nói tấm gương vô song mang tầm vóc một lãnh tụ. Và nay, trước nghĩa cử “treo ấn từ quan”, “cởi áo”, “trả lại chức vụ” khi việc công được hứa trước Dân mà không thành do lẻ loi, do bị vô vàn “lực cản” hữu hình và vô hình ngáng trở; lại có người xin “về nghỉ sớm” mấy năm, để nhường vị trí lãnh đạo của mình đang nắm giữ cho lớp trẻ... càng bỗng vui rằng cái Liêm, Sỉ về sự “tri túc, tri chỉ” (biết đủ, biết dừng) hẵng còn vằng vặc sáng trong đời này! Nhưng, lo ngại rằng, mấy vị ấy chỉ là “quan nho nhỏ”, lại rất thưa thớt, còn bao “ông cả, bà nhớn” kia lại vốn gây bao nhời ong tiếng ve làm u ám Dân tâm, hoen ố thiên hạ, há đã mấy ai dám làm theo Liêm, Sỉ trên đời, và há mong gì ở họ về Quốc sỉ hay là Quốc thể nữa?

Vì thế, hiện thời, chẳng thể lùi bước và quyết không thể không làm: Khi Đạo lý chưa đủ răn, Liêm Sỉ chưa đủ thức, Đạo đức chưa đủ chuyển, Trách nhiệm chưa đủ buộc, Hậu họa chưa đủ sợ, Tự thân chưa quyết sửa, chưa biết tự xử (tối thiểu là từ chức, là “tam ban triều điển” xưa)... thì Pháp lý phải được toàn dụng, Dư luận kiểm soát phải được tôn vinh, với tinh thần Dân chủ, muôn người Bình đẳng, với phương châm “Quốc pháp vô thân”!

Không trừ một ai, không ngoại lệ một cấp nào, không bỏ sót một nơi đâu!

"Cầu thủ đa năng"

Trong trào lưu bóng đá hiện đại, bóng đá tổng lực, các huấn luyện viên, tuyển trách viên thường coi trọng xu hướng đào tạo, sử dụng các cầu thủ “đa năng” có thể chơi được ở mọi vị trí. Tuy vậy, họ không bao giờ tuyệt đối hóa điều đó. Tài năng của mỗi cầu thủ ở những vị trí chuyên biệt vẫn là tiêu chí hàng đầu trong lựa chọn cầu thủ cho đội bóng của ban huấn luyện. Đa năng hóa cầu thủ vẫn chỉ là một chiến thuật mà thôi.

Nhưng đó là câu chuyện của bóng đá.

Trong làm ăn kinh tế, người Việt ta có lời khuyên rất ý nhị: “Một nghề thì sống, đống nghề thì chết” với hàm ý mỗi người hãy cố học lấy một nghề thật giỏi, thật “tinh” phù hợp với bản thân mình để mà kiếm sống, lập thân, lập nghiệp. Nhưng đó cũng chỉ là chuyện của “cái đời” dân dã. Bởi nếu có thua thiệt, thất bại thì cái hại mới chỉ liên quan đến một hay một nhóm ít người mà thôi.

Trong lĩnh vực lãnh đạo quản lý, vai trò người đứng đầu liên quan không chỉ đến số phận hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu con người mà còn đến sự phát triển hoặc trì trệ của cả xã hội, bởi vậy người đứng đầu ngoài đủ đức thì còn phải có chuyên môn sâu. Không thể “đa năng hóa cán bộ” như kiểu cầu thủ bóng đá đa năng trong việc sắp xếp, bố trí cán bộ.

Anh bạn tôi là một trường hợp thú vị của việc “đa năng hóa cán bộ” đó.

Khi còn ở trường đại học, học lực của anh thuộc loại trung bình. Tốt nghiệp đại học, anh không được giữ lại ngạch cán bộ giảng dạy của trường. Song, do ở anh có những ưu thế: đã trải qua quân đội, là đảng viên, tính tình cởi mở, và đặc biệt là lý lịch của anh thuộc diện “thành phần cơ bản”, nên anh được nhận làm giáo vụ của trường. Sau đó, nhờ mối quen biết, anh được nhận về làm công tác nghiên cứu khoa học ở một viện nghiên cứu. Qua hai năm, anh không tỏ ra có năng lực nghiên cứu khoa học, nên lãnh đạo viện buộc phải chuyển anh sang làm trợ lý đào tạo của một đơn vị khác, phụ trách về hồ sơ, giấy tờ, thực chất công việc anh làm như một nhân viên văn thư lưu trữ.

Rồi anh trúng vào cấp ủy của chi bộ. Còn trẻ, lại hiền lành, việc chuyên môn cũng ít, nên anh được giao “trọng trách” làm bí thư chi bộ. Rồi lại vì “cơ cấu”, anh trúng cử vào đảng ủy cơ quan. Và thế là, “do yêu cầu nhiệm vụ chính trị phải gắn với thực tiễn công tác”, anh được đề bạt làm phó ban đào tạo. Cũng vẫn phụ trách hồ sơ lưu trữ, nhưng nay đã là phó ban, anh có thêm chút quyền - quyền khen, quyền chê. Hai năm sau, đồng chí trưởng ban đến tuổi nghỉ hưu. Anh trở thành trưởng ban. Rồi một năm sau nữa, do yêu cầu khách quan và để tiện giao dịch, làm việc với các cơ quan bên ngoài được thuận lợi hơn, cái ban bé xíu của anh được nâng cấp thành vụ. Và anh trở thành vụ trưởng. Giờ thì anh nắm trong tay quyền khen, quyền chê, đánh giá năng lực, trình độ, khả năng phát triển của hàng trăm cán bộ khoa học đủ cỡ từ các giáo sư, tiến sĩ đến các nhà khoa học trẻ; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các đề tài nghiên cứu của họ; “ban phát” các chuyến xuất ngoại cho ai đó theo nguyên tắc “có trời mới biết được”. Và anh đang chuẩn bị để bảo vệ “đặc cách” luận án tiến sĩ chuyên ngành. Có lẽ cũng phải thế thôi, vì không lẽ người phụ trách việc đào tạo, phát hiện, nâng đỡ các nhà khoa học, tài năng khoa học của một cơ quan khoa học tầm cỡ mà lại không có một học vị khả kính nào!

Chỉ có điều đáng nói ở đây là, chính vì anh không giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, nên vừa bị cấp dưới không phục, thậm chí lợi dụng để làm ăn phi pháp và tiến thân, vừa gây nên phản ứng, sự trì trệ, chồng chéo công việc trong vụ. Mặc mọi người, anh vẫn “yên bề tại ngoại”, vẫn ngồi “vững như bàn thạch” trên cái ghế của anh.

Cứ cái đà này, và với kiểu bố trí cán bộ như vậy, thì rồi một ngày nào đó, nếu anh chuyển công tác thì tất nhiên anh cũng sẽ lại làm vụ trưởng hoặc được “thăng” cao hơn. Đã có cấp vụ trưởng rồi, ở đâu mà chẳng làm vụ trưởng được!

Trong tình hình hiện nay, khi chúng ta đang nói nhiều, bàn luận nhiều về công tác cán bộ, về năng lực, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ cùng với việc tinh giản bộ máy theo hướng tinh gọn “thà ít mà tốt”, thì vấn đề đặt ra là phải căn cứ vào phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn và tính chất, yêu cầu công việc cụ thể để bố trí, tuyển chọn một cách cẩn trọng, khoa học và khách quan nhất, nhằm phát hiện những người có đủ năng lực, trình độ chuyên môn để lãnh đạo công việc đó. Nhưng xem ra, từ chỉ thị, nghị quyết, chính sách đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách quá xa.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu “người cứ như con dao pha”. Đó là lời khen cho những ai có khả năng làm được nhiều loại việc của đời thường. Thế nhưng, trong cái ngạch tổ chức cán bộ nếu chỉ dùng cán bộ như “con dao pha” hay như kiểu “cầu thủ đa năng” trong bóng đá, như trường hợp anh bạn tôi ở trên (mà trong xã hội ta hiện nay không thiếu), thì xem ra không ổn.

V. I. Lê-nin đã nói: ở trong quần chúng nhân dân có rất nhiều tài năng, cần phải phát hiện và sử dụng họ vào cuộc kiến thiết xã hội mới. Nhưng vấn đề quan trọng là phát hiện ai và phát hiện như thế nào, với biện pháp nào và sử dụng ra sao, chứ nếu cứ như “sự phát hiện” ra người như anh bạn tôi thì không phải là phát hiện mà là phát… họa.

Còn bao nhiêu “vị thủ trưởng” như anh bạn tôi đang yên bề tại ngoại trong các ngành, các địa phương?./.

Đi tìm hình bóng người thầy

 

“Tôn sư trọng đạo” vốn là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Xưa đã vậy, nay có khác. Sứ mệnh giống nhau, mục tiêu không thay đổi, nhưng góc nhìn và khoảng cách thầy - trò, nhà trường - phụ huynh, nền giáo dục - xã hội đang có những chiều không thuần nhất. Tín hiệu vui cũng có, nhưng những chuyện buồn không hiếm.

Bệnh thành tích, thiếu lộ trình trong cải cách thi cử rồi bạo lực học đường đã và đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Liên tiếp những hành vi không đẹp diễn ra trong một thời gian ngắn đủ để người ta đặt ra câu hỏi: Đâu rồi hình bóng người thầy trong một môi trường mô phạm?

Sự phát triển của xã hội cùng với sự du nhập của văn hóa ngoại lai đang làm nên một thứ “dân chủ quá trớn” trong trường học. Sự thân thiện thoái quá dễ trở thành thầy trò như thể ngang trang, ngang lứa với nhau từ kiểu cách xưng hô đến áo quần, giày dép.

Lấy trò làm trung tâm, vì thế, vô tình học sinh và phụ huynh coi mình là số một. Nhất cử, nhất động của giáo viên được cập nhật lên mạng xã hội. Không học bài bị cô la, phạt (dù dưới hình thức nhắc nhở hay cảnh cáo) cũng là đề tài để có hẳn một cộng đồng mạng phán xét, truy kết. Để yên thân, thầy cô chọn “im lặng là vàng”. Nhưng “vàng” rồi lại biến thành “tro” khi vô hình chung lại là điều không thuận. Không nói đồng nghĩa là không có sự tương tác qua lại, không có sự gắn kết giữa thầy và trò. Đừng nói đến kiến thức mà tình cảm cô trò còn xa hơn khoảng cách giữa bục giảng và lớp học.

“Thôi thì mặc kệ, chúng ưa học gì thì học”, không ít thầy cô chặc lưỡi trước sự nhếch nhác, lười biếng của không ít học sinh. Khi người học không chú trọng mục đích học tập, coi đến trường với tinh thần “vui là chính”, còn thách thức cả thầy cô cho chúng ở lại lớp, thì vị trí của người giáo viên là gì khi xung quanh trường giăng giăng những câu khẩu hiệu “trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Sự bất lực hay tâm lý lo sợ đã ngấm ngầm ăn mòn nhuệ khí, nhiệt huyết của những người truyền lửa.

Một thực tế không thể phủ nhận khi ở đâu đó, trình độ nhận thức và phẩm chất đạo đức của một bộ phận giáo viên chưa đạt chuẩn. Khi thầy cô đứng lớp, một tay cầm phấn, tay kia lướt điện thoại. Hay cô giáo mặc quần đáy ngắn, tóc nhuộm nâu vàng đủ kiểu, thầy hút thuốc lá phì phèo, lên lớp còn thoang thoảng mùi men. Nhìn qua những hình ảnh ấy, dù tân thời nhưng đã làm méo mó phần nào sự chỉn chu, nghiêm túc về mẫu hình sư phạm trong mắt trò, phụ huynh và xã hội. Đó là chưa kể sự non yếu trong giáo dục học sinh về tri thức và nhân cách.

“Nhất quỷ nhì ma”, học trò thời nào cũng vậy, hiếu động và nghịch ngợm. Nhưng nếu để so sánh “trò xưa” với “trò nay” thì sự khác nhau dễ nhận thấy nhất, đó là: xưa ngoan ngoãn, nay nhạy bén. Sự “nhạy” từ việc tiếp nhận tri thức đến cách nhìn nhận cuộc sống. Do vậy, “dạy” gắn liền với “dỗ”, uốn nắn kịp thời. “Nhu” quá không được, nhưng “cương” quá không xong, thế nhưng không phải người cầm phấn nào cũng ý thức được điều đó. Họ tự cho mình quyền được bắt ép, dọa nạt, sỉ nhục với lập luận “thương cho roi cho vọt”. Thế nhưng, sự quá tay, quá miệng… lại trở nên phản tác dụng, phản đạo đức và đi ngược lại mục đích giáo dục con người. Ấy là họa, là mảng màu xám giữa một bức tranh tổng thể còn rất nhiều màu xáo trộn của giáo dục nước nhà.

Khi cơ chế thị trường phát triển, giá trị vật chất được đề cao, ngày lễ tết của các thầy cô lại trở thành chủ đề của các phụ huynh hơn là học sinh. “Đi bì thư cho khỏe”! Mặt trái của vấn đề “nhạy cảm, tế nhị” này đã nhuốm vào đầu óc non trẻ của học sinh về mối quan hệ cô - trò, giáo viên - phụ huynh trong sự gọn nhẹ nhưng thờ ơ, vô cảm!

Đời sống giáo viên vẫn mãi là bài ca muôn thuở khi chưa đến tháng đã hết lương, nghề tay trái của thầy cô trong thời đại công nghệ 4.0 không gì nhiều bằng bán hàng qua mạng, tiếp thị bảo hiểm… Chuyện bi hài là không hiếm học sinh, phụ huynh lại trở thành bạn hàng, khách hàng, đối tác của cô, thầy. Vì vậy, khó để có khoảng cách chừng mực cần thiết giữa người dạy và người học, cũng như sự toàn tâm của thầy cô.

Đi tìm hình bóng thầy giáo già, áo dài quần nải, tay mang sách thánh hiền như những bậc hiền triết của một thời đã xa, giờ chỉ là dĩ vãng. Nhưng nhân cách của các thầy Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đồ Chiểu… mãi là những bức tượng đài trong nền tảng đạo đức - tri thức - cách mạng của giáo dục nước nhà.

Hôm qua vẻ vang, hôm nay vẫn thế, còn có rất nhiều những chiến sĩ vô danh không tên, không tuổi ngày đêm vượt hàng nghìn ki-lô-mét đưa con chữ đến với những em nhỏ nơi địa đầu Tổ quốc hay hải đảo xa xôi. Đẹp thay là hình ảnh bà giáo già Hồ Hương Nam, ở cái tuổi 83 vẫn miệt mài dạy chữ bên những đứa trẻ bệnh tật, hay thầy Đặng Văn Cương tự tay chăm cậu học trò tí hon Đinh Văn K’Rể khôn lớn từng ngày. Còn nhiều, nhiều nữa những tấm gương nhà giáo chưa được biết tới, chưa được vinh danh, nhưng cái đích của họ chỉ là đơn giản với hai chữ “trồng người”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “nghề nhà giáo không chỉ trau dồi về kiến thức phổ thông mà cần trau dồi đạo đức cách mạng”. Cái đẹp và cái chưa đẹp vẫn còn đan xen nhau, nhưng để phân biệt được cái nên học và điều nên tránh là trách nhiệm của những thầy. Tự trang bị cho mình những kiến thức cơ bản, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, không ngừng trau dồi tâm lý sư phạm và phương pháp giáo dục hiệu quả, đó vẫn còn là con đường học hỏi không ngừng. Thế nhưng, để phân định chính xác vị trí của người thầy trong nhà trường và xã hội cần có sự chung tay. Thầy không thể tròn vai nếu người học không hợp tác, quan hệ nhà trường và phụ huynh sẽ rời rạc bất nhất nếu như cha mẹ ỷ thác toàn bộ nhận thức và lối sống lên thầy cô, xã hội thích phán xét hơn là khách quan và bình tâm, dễ dãi đầu vào rồi lại chật vật, sấp ngửa tìm kiếm đầu ra cho ngành sư phạm, lương sao cho giáo viên toàn tâm hơn để họ chân thấp, chân cao với nghề tay trái.

Robot có thể làm hộ con người nhiều thứ trong cuộc sống sinh hoạt, nhưng người thầy trên bục giảng thì không có gì có thể thay thế được. Vị trí cao cả nhưng không kém phần vất vả, gian nan khi xã hội trao cho họ trọng trách đối với thế hệ tương lai của đất nước. Tự mình phải xây dựng hình ảnh và tạo nên thương hiệu “người giáo viên nhân dân” là một trọng trách và vinh dự của những ai đã, đang và sẽ trở thành những thầy, cô giáo./.

“Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”

Đừng vì danh mà đánh mất đi những gì cao quý nhất trong mỗi con người, đó là lòng tự trọng. Người lãnh đạo biết hy sinh quyền lợi bản thân vì cái chung, vì quyền lợi của anh em thì uy tín của họ càng cao, anh em càng quý trọng và nể phục. Đấy mới là danh hiệu cao quý nhất, danh hiệu sống mãi trong lòng dân.

Đến hẹn lại lên, cứ cuối năm là các cơ quan, đơn vị tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả công tác của năm, đề ra phương hướng, kế hoạch cho năm tiếp theo. Bao giờ cũng vậy, phần không thể thiếu và được mọi người háo hức mong chờ là tôn vinh các danh hiệu thi đua. Đi kèm với bằng khen, giấy khen là chút phần thưởng, động viên, khuyến khích vật chất.

Thi đua, khen thưởng là nhằm tạo động lực lôi cuốn, khuyến khích mọi người vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có sự kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích vật chất. Danh hiệu thi đua là hình thức ghi nhận, biểu dương, tôn vinh cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào, hơn thế nữa, còn là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ…

Tuy nhiên, tổng kết cuối năm ở không ít cơ quan, khi danh sách các cá nhân được xướng lên thường nổi lên những tiếng xì xào: “toàn thấy lãnh đạo nhỉ? nhân viên sao ít thế?”. Trên bục vinh danh đa số là lãnh đạo, tìm mãi mới thấy nhân viên… “Đúng là danh hiệu thì từ trên xuống, cuốc xẻng thì từ dưới lên”, “Lãnh đạo toàn xuất sắc thế thì từ năm sau để lãnh đạo làm hết một thể, lĩnh thưởng luôn, cần gì anh em nữa” - lại có những tiếng xì xào. Nghe xong những câu này, nhiều người giật mình, không khỏi e ngại.

Đành rằng vai trò lãnh đạo là rất quan trọng, nhưng nếu chỉ có toàn lãnh đạo nhận khen thưởng thì đúng là anh em thực sự ngậm ngùi và chưa “tâm phục, khẩu phục”, bởi lãnh đạo hưởng đãi ngộ cao thì đòi hỏi phải cao, thành tích phải thực sự xứng đáng và thuyết phục. Người lãnh đạo, cùng trách nhiệm với công việc thì cũng đã có những đãi ngộ vượt trội, đòi hỏi phải có đóng góp tương xứng. Còn với người lao động, những lời khen và danh hiệu thi đua là nguồn động viên rất lớn, ghi nhận những nỗ lực mà họ phấn đấu trong suốt một năm trời. Đó cũng là sự nhìn nhận, đánh giá của lãnh đạo và tôn vinh của đồng nghiệp đối với họ.

Hiện tượng “thành tích thì lãnh đạo hưởng, khuyết điểm thì tại nhân viên” ngày càng trở nên phổ biến, và có phần không bình thường, bởi trong số những lãnh đạo đó không phải ai cũng xứng đáng. Bởi lẽ, nếu lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngoài thành tích chung thì đơn vị còn phải đoàn kết, không để xảy ra tình trạng cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ hay công tác luân chuyển, lựa chọn, cất nhắc cán bộ phải đúng người, đúng việc... Sự vinh danh không thuyết phục chính là một trong những nguyên nhân làm giảm đi tâm huyết, sự cố gắng phấn đấu và năng lực làm việc của cán bộ, nhân viên.

Lại có ý kiến cho rằng tất cả đều đúng với “quy trình”, “quy định”, rằng lãnh đạo cũng được anh em bầu bán từ cơ sở, không có ý kiến phản đối?. Thực tế, đâu có đơn giản thế!!! Nhiều lãnh đạo chỉ lo vun vén bản thân, “trang bị” đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện để nhận danh hiệu mà quên đi những nhân viên dưới quyền; khi bầu chọn đã có sự “định hướng”, “gà bài” thậm chí là xin xỏ… để cuối cùng có người giới thiệu để đưa ra bầu với lý do rất thuyết phục “lãnh đạo là bộ mặt” của đơn vị!!! Nếu lãnh đạo không có danh hiệu thi đua thì người ta đánh giá thế nào về đơn vị!? Thôi thì muôn vàn lý do rất chi là xác đáng!!! Cán bộ dưới quyền thì e ngại, thấy sai, thấy chưa thuyết phục cũng không dám đấu tranh vì sợ bị “trù”, chọn dĩ hòa vi quý, ậm ừ cho qua chuyện.

Tưởng như mọi chuyện êm đẹp, câu chuyện danh hiệu thi đua cứ thế trôi đi. Tuy nhiên, dần dà, một tâm trạng bất mãn, tư tưởng làm cho xong, tội gì phấn đấu, có cố gắng cũng chỉ đến thế thôi, bắt đầu len lỏi, ăn sâu bám rễ vào một số người. Nhìn qua thì thấy bình an, nội bộ đoàn kết, không có vấn đề gì, nhưng thực chất một “làn sóng ngầm” đã xuất hiện, lan dần và có nguy cơ trồi lên lúc nào không biết. Câu chuyện thi đua tưởng chừng nho nhỏ vậy thôi nhưng nếu cứ tiếp diễn từ năm này sang năm khác thì e rằng sẽ không hề nhỏ chút nào.

Đành rằng, ai chẳng thích được khen, được hưởng danh lợi, là lãnh đạo ai cũng muốn được cấp dưới tôn vinh, ngưỡng mộ… Nhưng mọi danh hiệu đều phải xuất phát từ kết quả lao động, từ sự cống hiến xứng đáng, được những người xung quanh đánh giá, nhìn nhận và tôn vinh. Còn nếu chỉ là danh hiệu “hờ” do mình tự “giành lấy” mà không được quần chúng chấp nhận, nể phục, tôn vinh, thì đó chỉ là thứ trang trí phù phiếm mà thôi!

Là người lãnh đạo, nếu không tỉnh táo, không kiềm chế được cái tôi bản thân, không biết nhìn ra xung quanh mà chỉ lo vun vén cho cá nhân, thì sớm hay muộn, uy tín cũng sẽ bị giảm sút. Và điều gì đến rồi cũng sẽ phải đến. Người xưa đã có câu “tức nước vỡ bờ”, những bức xúc, tâm tư dồn nén, tích tụ cũng đến lúc bùng phát, gây ảnh hưởng xấu đến tổ chức, đến công việc chung.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải biết thấm nhuần lời dạy của Bác, phải chí công vô tư, "khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau", "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".

Đối với công tác thi đua khen thưởng, để có cơ sở chặt chẽ trong công tác bình bầu danh hiệu cuối năm, thiết nghĩ cần có sự tính toán lại quy chế thi đua cho phù hợp hơn. Ví dụ: cần phân định rõ giành bao nhiêu phần trăm cho các vị trí lãnh đạo, bao nhiêu phần trăm cho cán bộ, nhân viên. Có như vậy mới động viên, khuyến khích và phát huy tối đa tinh thần làm việc hăng say, sáng tạo và thi đua của quần chúng. Và những người được tôn vinh cũng cảm thấy tự hào, hãnh diện ngẩng cao đầu trước anh em, đồng nghiệp. Hội đồng Thi đua khen thưởng mỗi cơ quan, đơn vị cũng cần có sự nhìn nhận đánh giá đúng người, đúng việc, bởi trong thực tế có những người âm thầm làm việc, cống hiến, không màng danh lợi, hoặc như đã nói ở trên, để “giữ bộ mặt cơ quan” nên “nhường” cho lãnh đạo, thì cũng nên có sự ghi nhận, động viên xứng đáng, qua đó bảo đảm mục tiêu động viên, khuyến khích của thi đua.

Đừng vì danh mà đánh mất đi những gì cao quý nhất trong mỗi con người, đó là lòng tự trọng. Người lãnh đạo biết hy sinh quyền lợi bản thân vì cái chung, vì quyền lợi của anh em thì uy tín của họ càng cao, anh em càng quý trọng và nể phục. Đấy mới là danh hiệu cao quý nhất, danh hiệu sống mãi trong lòng dân./.

Nhập nhằng... trách nhiệm

 Một bộ phận cán bộ lãnh đạo vẫn tự cho mình có được “cái quyền to”, nhưng lại luôn có những biểu hiện “trách nhiệm nhỏ” trong thừa hành việc công. Nếu để cái bóng quyền lực khuếch trương như người “khổng lồ”, trong khi trách nhiệm với dân với nước nhỏ con như “tí hon” thì nguy cơ thoái hóa, biến chất, thậm chí dẫn tới “thân bại danh liệt” là khó tránh khỏi.

Theo Từ điển tiếng Việt, “Trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Còn “quyền lực” được hiểu là “quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”(1).

Mỗi chức danh cán bộ đều có quyền lực, quyền uy nhất định do Nhà nước, tập thể ủy quyền, giao cho. Nhưng nhiều người cứ ảo tưởng đó là quyền của riêng mình, thế nên lúc nào cũng nghĩ mình như “ông vua con”, tự tạo cho mình “lãnh địa riêng, tài sản riêng” theo kiểu “anh hùng nhất khoảnh”, rồi tự do tự tung, tự tác, thậm chí “tác oai, tác quái”, làm biến dạng, méo mó quyền lực công.

Làm người lãnh đạo ai chẳng hiểu rõ nguyên tắc: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, tập thể ở đây là ban thường vụ và cấp ủy. Trên thực tế, “ông thường vụ” có quyền hành to lắm. “Ông” có quyền chỉ đạo, cho ý kiến và nhiều khi quyết định những vấn đề hệ trọng, như nhân sự, tài chính, dự án đầu tư kinh tế... của cơ quan, địa phương mình. Ấy nhưng đó không phải chuyện để bàn cãi. Dư luận chỉ bức xúc với trường hợp khi những chủ trương, quyết sách đúng đắn, phù hợp, mang lại hiệu quả thì “ông” nhận; còn khi những quyết sách đó có bất cập, sai sót, kém hiệu quả thì lỗi thường bị “quy”... là do tập thể lãnh đạo, chứ đâu phải lỗi của cá nhân ông?!. Cái thứ quy “trách nhiệm chung chung”, đổ lỗi cho “cả làng” như thế cũng chỉ tại thái độ đùn đẩy trách nhiệm của người lãnh đạo!

Tương tự, quy trình bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng nhân sự do ban thường vụ, cấp ủy cho ý kiến thông qua, nhưng ký quyết định bổ nhiệm lại là cá nhân người đứng đầu. Nếu cán bộ được bổ nhiệm bảo đảm đủ điều kiện, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, kinh nghiệm, tuổi tác và được dư luận “khẩu phục, tâm phục” thì công là của “ông”. Còn nếu cán bộ chưa đủ độ chín; tuổi tác, kinh nghiệm và năng lực chưa tương xứng với vị trí được giao, lại bị dư luận phê phán và sau đó bị cơ quan chức năng cấp trên bãi bỏ quyết định bổ nhiệm trước đó, thì người đứng đầu lại “lý sự” rằng: quyết định nhân sự đúng sai đều do thường vụ thông qua, chứ bản thân “ông” cũng chỉ góp một lá phiếu mà thôi?! Cái sự “đổ vấy” trách nhiệm cho tập thể thực chất là biểu hiện thoái thác trách nhiệm cá nhân của người “đứng mũi chịu sào”!

Theo nguyên tắc lãnh đạo, những vấn đề quan trọng, chính yếu bao giờ cũng phải được thường vụ, cấp ủy thông qua. Nhưng một khi người đứng đầu có tư tưởng, tác phong gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ thì nhiều khi thường vụ, cấp ủy chỉ là “tấm bình phong” để che đậy “ý chí hóa” cá nhân thủ trưởng. Có người đứng đầu miệng hay “thao thao bất tuyệt” là phải tôn trọng và phát huy dân chủ trong thường vụ, cấp ủy, nhưng trong lòng khi thì khéo léo “vỗ về” tập thể lãnh đạo nương theo ý kiến cá nhân; lúc lại lạm dụng tối đa quyền lực để định hướng, “lèo lái” thường vụ, cấp ủy. Cái sự bám dựa, vin vào “trách nhiệm tập thể” này cũng là một dạng trốn tránh trách nhiệm cá nhân người lãnh đạo khi có chuyện tiêu cực xảy ra!

Tình trạng đưa “con ông cháu cha” vào bộ máy công quyền; đua nhau “chạy” những dự án kinh tế “béo bở” để rồi gây thất thoát nhiều tỷ đồng của Nhà nước; vấn nạn “chạy chức, chạy quyền” và mối quan hệ “đi đêm” quan chức - doanh nghiệp thiếu lành mạnh... nổi cộm thời gian gần đây bị dư luận lên án, là sự tích hợp từ nhiều lý do, nhưng có một lý do không thể xem thường là ở nhiều nơi, nhiều chỗ trách nhiệm giám sát, kiểm soát quyền lực của tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu đã bị lơ là, buông lỏng.

Một bộ phận cán bộ lãnh đạo vẫn tự cho mình có được “cái quyền to”, nhưng lại luôn có những biểu hiện “trách nhiệm nhỏ” trong thừa hành việc công. Nếu để cái bóng quyền lực khuếch trương như người “khổng lồ”, trong khi trách nhiệm với dân với nước nhỏ con như “tí hon” thì nguy cơ thoái hóa, biến chất, thậm chí dẫn tới “thân bại danh liệt” là khó tránh khỏi. Gương tày liếp còn đang sờ sờ trước mắt của nhiều cán bộ lãnh đạo, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao, quyền lực “nổi đình nổi đám” một thời nay đã bị “đứt gánh giữa đường” và sa vào vòng lao lý, hẳn ít nhiều sẽ thức tỉnh những ai đang tự nhập nhằng, bào mòn, mọt ruỗng trách nhiệm chân chính của người cộng sản!./.

Làm giàu - thêm một lời bàn

  Người chiến sĩ tôi gặp vào những năm chiến tranh giờ là bí thư chi bộ ở một khu dân cư trong thành phố. Chuyện để nói với nhau mở đầu thường là những hồi ức tình đồng đội ở chiến trường. Loanh quanh chuyện dẫn sang đề tài của ngày hôm nay, theo dòng thời sự, sự kiện mới làm chìm lấp sự kiện có khi chỉ xảy ra cách mấy ngày.

Nhưng có những sự kiện, những câu chuyện “sống” dai dẳng như câu chuyện về cách làm giàu. Người ta làm gì mà giàu thế? Xe hơi, nhà lầu chuyện như xưa cũ, lạc hậu quá rồi. Có người buông câu nói vài trăm triệu, vài chục tỷ đồng không hề tỏ ngạc nhiên hay xuýt xoa như trước nữa. Đã nói là phải nói vài nghìn tỷ mới đáng luận, đáng bàn. Chao ôi, thời của nền công nghệ tiến bộ, hiện đại sản sinh ra biết bao nhiêu những nhân vật nổi tiếng về cách làm giàu, nhưng lại có những con người, con đường tiến đến giàu sang cứ như gà mắc tóc không sao vượt thoát.

Đặt câu hỏi và tự trả lời câu hỏi cho nhau, song không phải câu hỏi nào cũng trả lời được. Có câu hỏi phải qua kiểm chứng, qua thực tế mới dần sáng rõ, ông tổng giám đốc cai quản cơ ngơi hàng ngàn cán bộ công chức lại nhận toàn những dự án lớn, “ăn” những khoản tỷ lệ, phần trăm theo hợp đồng dài hạn, nhận tiền tỷ là “lẽ đương nhiên”, bà chủ tịch hội đồng quản trị có trong tay dự án bất động sản khắp trong Nam ngoài Bắc, lại có tài “phù phép” biến đất cằn thành vàng mười, hỏi không giàu có, thì ai giàu có đây. Nghìn lẻ câu chuyện về cách làm giàu, nói ra e có người bĩu môi: “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Nhưng không thể không nói! Vì cách làm giàu nó mang nhiều “dáng vẻ” lắm. Có cách làm giàu bằng thủ đoạn lập lờ, ma trơi, tranh tối, tranh sáng, lợi dụng sự sơ hở của luật định để “lách”. Cách làm giàu nhờ quyền lực “hô mưa, gọi gió” mọi việc, mọi người phải dạ vâng phục vụ theo mệnh lệnh để mang lại hiệu quả cho một nhóm người giàu sang. Nhưng cũng không ít cách làm giàu bằng trí tuệ, sáng tạo, năng động, biết cách dịch chuyển, tuy nhiên nước mắt, mồ hôi đổ ra không ít. Những nhân vật này cũng gọi là giàu nhưng là cách làm giàu được cộng đồng xã hội khâm phục, tôn vinh. Tôn vinh còn bởi họ có tấm lòng biết sẻ chia đồng loại, những hoàn cảnh khó khăn do bão lũ, thiên tai, bệnh tật...

Luận rồi bình cách làm giàu thời hiện đại, người đồng đội gặp thuở xa xưa nơi chiến trường ác liệt, có lúc như muốn chùng xuống: Hãy bằng lòng vậy, điều quan trọng là phải giữ được niềm tin yêu được “nuôi dưỡng” từ thời trai trẻ: “một lòng, một dạ con đường, sự nghiệp đã chọn”! Ông thấy đấy - Người bạn tôi lại tiếp: kẻ giàu sang nhờ vô vàn chiêu quái lừa đảo, đã bị lật tẩy, kẻ hầu tòa, kẻ lẩn trốn chui lủi, thân bại danh liệt. Vinh quang tột đỉnh đi liền tới đáy đắng cay, rơi vào cảnh: “Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường” (Truyện Kiều - Nguyễn Du).

Đến đây hai người chúng tôi cùng chung cái gật đầu rằng: Dù cho ai có ngả nghiêng, hãy bằng lòng với cuộc sống mình cho là đủ, sống trong tình cảm cộng đồng bền vững là “lành” hơn cả. Tham vọng làm giàu không chính đáng, bài học đắt giá để đời, thấm thía, đã cho người đời lời cảnh báo hữu ích./.

Lời hứa nghị trường

 Hơn 15 giờ, dứt cơn mưa rào không lâu, ông Thường, tổ trưởng tổ dân phố số 7 cầm cây thước bằng gỗ, cái giẻ lau và vài viên phấn màu được gói cẩn thận trong túi ni lông đi ra bảng tin. Ông hỳ hục kẻ, rồi cẩn trọng viết nắn nót từng chữ lên chiếc bảng đen dòng thông báo ngay ngắn “kính mời các hộ gia đình đi họp tiếp xúc cử tri tại nhà văn hóa vào tối thứ hai...”

Bỗng tiếng còi xe bim, bim, bim... vội vã, kéo tràng dài chưa dứt thì chiếc xe máy đã vòng vào ngõ với tốc độ khá cao lao tới, khiến nước đọng trên mặt đường, phía sau ông Thường bắn tung tóe, tạo thành vệt lem nhem bám trên bảng tin. Ông lắc đầu, miệng lụng bụng nói với theo tiếng xe máy: “Đồ vô ý thức”. Phải mất tới hơn 30 phút sau, ông Thường mới viết lại xong những dòng chữ thông báo trên bảng tin. Dĩ nhiên là nó không thể đẹp bằng “tác phẩm” ông thực hiện ban đầu.

Ông đang ngắm nghía tác phẩm của mình thì chiếc xe máy lúc nãy đi ra. Anh Hùng xuống xe, vừa cười ngượng vừa lý nhí nói lời xin lỗi. Anh bảo, do vội đi nhanh nên không để ý, đã làm nước bẩn bắn tung tóe, hỏng cả “tác phẩm” của ông Thường.

Ông Thường cười cho qua và bảo anh Hùng chở ông về hàng bia hơi ở đầu phố. Đến nơi, ông Thường tuyên bố phạt anh Hùng một cốc bia cho nhớ vì cái tội không chấp hành luật giao thông, ảnh hưởng đến người khác khi thi hành công vụ. Ông Thường thông báo, nếu tiếp xúc cử tri lần này anh Hùng không có mặt sẽ không đưa vào bình xét danh hiệu “gia đình văn hóa” năm 2018. Nghe thế, anh Hùng xổ một tràng dài, đến là khó nghe.

- Nhà cháu bận lắm chẳng đi được bác ạ. Với lại, nhà cháu có gì đề đạt cơ chứ. Đấy bác xem, trong họp Quốc hội, các “ông nghị, bà nghị” đầu toàn kiến thức cao siêu, hoạt ngôn, đặt vấn đề khúc triết, gai góc, đưa ý kiến của cử tri chất vấn các bộ, ngành và chính phủ gai cả người còn chẳng giải quyết được gì nữa là chúng cháu.

- Anh nói lạ thật, họp Quốc hội để quyết những vấn đề lớn, lâu dài của quốc gia, dân tộc. Làm cái gì thì cũng phải có thời gian, có lộ trình thì mới mang lại kết quả chứ. Cứ như nhà anh, nước múc, gạo xúc, quanh năm chỉ biết kiếm cơm qua cái cửa hàng đầu phố thì làm sao nắm được chủ trương, chính sách để mà thực hiện.

- Ối giờ, bác nói hay cứ như đài ấy. Chúng cháu là dân, kiếm miếng cơm, miếng cháo nuôi con học hành tử tế, không vi phạm pháp luật và nếu có tý tiền dự phòng khi ốm đau, rủi do là mãn nguyện rồi. Mà bác không thấy dư luận đồn thổi đấy à? Quốc hội họp, đấu tranh quyết liệt đến mấy thì kết quả dân ta vẫn chậm phát triển, thu nhập vẫn thấp. Thế nên từ “lời hứa nghị trường” đến thực tế còn đợi lâu lắm.

- Anh “nổ như tên lửa” chung chung thế, không có bằng chứng xác đáng thì làm sao có thể thuyết phục được ông già này?

- Bác cần chứng cứ gì, cháu có ngay. Này nhé, ở bình diện lớn thì xem truyền hình bác thấy, gần một tháng qua, tai nạn đường sắt xảy ra liên miên. Sáu năm trước, Quốc hội đã bàn và quyết định xây dựng dự án đường sắt Bắc - Nam, nhưng bộ chủ quản có triển khai đâu, Chính phủ cũng có đốc thúc đâu? Các kỳ đại hội, đại biểu đều chất vấn cả đấy nhưng vẫn chỉ là “hứa treo” rồi “dậm chân tại chỗ” thôi bác ạ. Theo cháu nghĩ, ở ta quen làm đường bộ rồi, làm đường bộ lợi nhiều hơn nên không có doanh nghiệp nào lao vào làm đường sắt cả. Trong khi đó, cả thế giới đều công nhận, đường sắt thì lợi hơn đường bộ cả về sản lượng vận chuyển, tính an toàn, tốc độ và giá thành. Vậy, nguyên nhân sâu xa là ở đâu?

- Đó là việc lớn, miễn bàn. Anh là cử tri, anh có quyền được tiếp xúc với đại biểu hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội khi mặt trận tổ chức. Tại cuộc tiếp xúc ấy, anh được đề đạt ý kiến của mình về các vấn đề mà anh thấy còn bất cập hoặc cần phải cải tiến theo hướng mới, nhằm đem lại hiệu quả, lợi ích cho người dân, địa phương, đất nước. Nếu ai cũng nghĩ như anh mà không đi tiếp xúc cử tri, không nghe chủ trương thì tức là sẽ thủ tiêu dân chủ, thủ tiêu đấu tranh, thủ tiêu cả trí tuệ của nhân dân à?

- Ấy, sao bác nặng lời với nhà cháu thế. Cháu cũng muốn nắm chủ trương, chính sách lắm chứ, nhưng nó có tác dụng gì nhiều đâu cơ chứ. Mấy lần trước, cháu nghe nói dân mình chẳng ý kiến mạnh mẽ về con kênh ô nhiễm cạnh trục đường của phường ta là gì. Đấy, 4 năm nay, ô nhiễm của nó ngày càng nặng hơn. Có “ông nghị, bà nghị” nào để ý đến việc cỏn con ấy đâu cơ chứ. Hằng ngày, người dân chịu cả. Chúng cháu phân tích rồi, thực tế là, muốn làm cái gì theo chính sách của Nhà nước bây giờ cũng phải có tiền, có vai, có vế, có mối quan hệ... Không có những thứ ấy, đố bác làm được.

Cháu thêm một ví dụ nữa nhé. Đấy, như cậu em cháu ở quê thôi, chỉ thuê đất dôi dư sau dồn điền đổi thửa để làm dự án phát triển nông nghiệp sạch mà cũng mướt mồ hôi hột, đánh vật với đủ loại giấy tờ, phương án và nhiều vấn đề không có tên khác rất nhiêu khê. Bác thấy đấy, cơ hội làm giàu có nhiều đâu. Mất thời gian là mất cơ hội. Thế nên, dân ta mãi nghèo là phải bác ạ.

- Thôi, tôi chẳng nói chuyện với nhà anh nữa. Anh không đi, tôi có biện pháp để phạt. Phạt cho bằng đi thì thôi. Nếu cần, tôi cho anh ra khỏi họ ấy chứ?

- Ấy, bác đã nói thế thì cháu sẽ thu xếp thời gian để đến họp tiếp xúc cử tri cho đàng hoàng. Bác vui lòng chưa ạ?

- Được, tôi tạm tin lời anh. Anh nhìn tôi mà xem, gần 70 tuổi mà vẫn vác việc phố với ít tiền phụ cấp chưa đủ ăn sáng trong cả tháng. Đấy, vết bẩn trên người tôi do anh “cho” vẫn còn đây mà có dám kêu đâu. Nói thật với anh, phố mình cũng còn nhiều người lười giống anh lắm. Họ viện dẫn đủ lý do để không tham gia sinh hoạt chung nên sau đó chẳng nắm được gì. Nói gì cũng là ú ớ vịt bầu. Chỉ đến khi liên quan đến quyền lợi cá nhân thì mới ba chân bốn cẳng tìm hết chỗ này với chỗ khác để được nhờ vả, giúp đỡ.

Anh Hùng cúi đầu lý nhí: Thực ra thì chúng cháu không tham gia sinh hoạt chung ở địa phương cũng có lỗi, trong đó lỗi lớn nhất là chưa có ý thức xây dựng cộng đồng. Tối nay, về nhà cháu sẽ truyền đến tai vợ cháu mệnh lệnh của bác tổ trưởng tổ dân phố, để cô ấy sắp lịch cho cháu tham gia.

Anh Hùng nổ xe máy và vù khỏi quán bia đầu phố bỏ lại cụm khói mong manh phía sau và tan dần vào không khí. Còn lại một mình, ông Thương trầm ngâm nâng cốc bia nghĩ ngợi về lời của Hùng đã nói. Đúng là trong thời gian qua, mặc dù là các cấp chính quyền đã hết sức cố gắng để nâng cao dân trí, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng những bất cập trong cách tổ chức quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội chưa tiến được bao nhiêu. Điều này đã gây ra không ít vướng mắc cho những người “ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng” như ông. Giá kể những “lời hứa nghị trường” ở các cấp đều được quan tâm, triển khai đầy đủ và đồng bộ thì chắc hẳn dân ta sẽ đồng thuận cao hơn, kinh tế phát triển nhanh hơn và xã hội ta cũng sẽ dân chủ, văn minh hơn.

Ông uống cạn cốc bia và tính tiền ra về. Dòng phương tiện giao thông sau giờ tan tầm trên con phố dẫn đến ngã tư, cách quán bia ông ngồi không xa vẫn tiếp tục di chuyển với tốc độ nhỏ hơn rùa bò. Ông mỉm cười và vẩn vơ hy vọng: Rồi đây, khi “lời hứa nghị trường” được thực hiện triệt để, ít nhất cảnh ùn tắc giao thông ở con phố này sẽ không còn nữa./.

“Trì quốc” và lòng dân, vận nước

 

 Xưa, ông cha ta đúc kết: Trị quốc là việc dễ, trì quốc mới khó!

Trì quốc là giữ nước, là việc không chỉ của một số ít người nắm quyền bính, mà còn là của chính trăm họ, của muôn dân.

Thời nào đất nước phú cường, vua sáng, cơ nghiệp vững như bàn thạch thì đều do triều đình biết tựa vào lòng dân mà giữ nước. Lòng dân yên thì vận nước mới lên. Ngược lại, khi lòng dân oán thán, thì mạt lộ không xa. Cứ đem lòng dân mà đo vận nước thì luôn chính xác. Nếu số ít những người cầm quyền chỉ lo giành giật điều có lợi cho riêng mình, mà gây thiệt hại cho quảng đại dân chúng, thì đấy sẽ là đầu mối của sự loạn lạc.

Trì quốc là lòng dân tự phục, quy về một mối, trọng dân, dân là chủ thể. Trì quốc là để nước thịnh, lấy chính sức dân, trí dân mà làm giàu cho dân, cho nước.

Khi binh biến, để chống giặc ngoại xâm, sức mạnh vô địch của muôn dân luôn được phát huy. Thời bình, lại càng phải dựa vào sức mạnh của trăm họ để bồi đắp nguyên khí, nội lực quốc gia; dựa vào tai mắt của dân để chống “giặc nội xâm” tham ô, biển thủ công quỹ, tham nhũng... Những giai đoạn thịnh trị đều có những hình luật hết sức nghiêm khắc xử lý hành vi tham ô, tham nhũng, biển thủ công quỹ, bởi những hành vi đó đều bị coi là trọng tội. Phàm kẻ mắc các trọng tội này, án tử treo trước mặt! Người xưa cũng áp dụng tiền dưỡng liêm để người làm quan không tơ hào của công, không làm việc khuất tất, tự gột rửa lòng mình, giữ thân liêm khiết, gắng gỏi việc công, yêu thương và giúp dân yên nghiệp...

Công cuộc phòng, chống tham nhũng đang được Đảng ta đẩy mạnh hiện nay cũng là một nhiệm vụ trì quốc, đang được toàn dân đồng tình và tích cực tham gia. Lòng dân tiếp tục quy tụ bên Đảng, đó là chỉ báo về thế nước đang lên!

Trì quốc thì trước hết phải giữ nghiêm kỷ cương trong Đảng. Kỷ luật của Đảng là “kỷ luật thép”, cán bộ, đảng viên bất kể ở cương vị nào, nếu phạm tội, nhất là tội tham ô, tham nhũng đều phải bị xử lý theo pháp luật. Giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng thì mới giữ vững kỷ cương trong xã hội. Kỷ luật đảng vừa thể hiện tính nghiêm minh, tinh thần tự giác cao độ, vừa mang tính dân chủ, nhân đạo sâu sắc. Những ai “trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác tự gột rửa”, như lời cảnh tỉnh của Tổng Bí thư tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII.

Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta ngày càng tăng cường hơn với những giải pháp căn cơ, sâu xa mang tính phòng ngừa, như minh bạch hóa nền kinh tế bằng quy định dần thanh toán mọi giao dịch qua ngân hàng, tiến tới loại bỏ nền kinh tế tiền mặt; thực hiện cải cách tiền lương để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động sống được bằng chính sức lao động chính đáng của mình, hạn chế những phát sinh tiêu cực...

Vừa tròn 5 năm Đảng ta sơ kết Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, càng thấy, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử và thời kỳ nào của cách mạng, công tác dân vận cũng có tầm quan trọng chiến lược. Sức mạnh của Đảng là sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Lòng dân chính là hàn thử biểu, là thước đo uy tín của Đảng. Nhưng dân vận không phải là những lời nói suông, dân vận là hành động, là “miệng nói - tay làm”, “làm nhiều hơn nói”. Những kết quả của công cuộc phòng, chống tham nhũng và những chuyển biến tích cực của nền kinh tế đất nước hiện nay chính là những minh chứng sống động và thuyết phục hơn cả đối với người dân cả nước về việc trì quốc của Đảng ta.

Người dân tin tưởng, trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, Đảng ta ngày càng bền gan vững chí, chân cứng đá mềm!

Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, nhưng khi toàn dân đồng lòng bên Đảng, “ý Đảng lòng dân” là một, thì không một khó khăn nào có thể cản nổi thế đi lên và tiền đồ tươi sáng của đất nước./.