Thứ Tư, 30 tháng 3, 2022

Đổi mới công tác tuyên giáo góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trong thời gian qua, công tác tuyên giáo của Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương thường xuyên được đổi mới, góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các quan điểm lệch lạc, sai trái của các phần tử cơ hội chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường và không ngừng nâng cao hiệu quả công tác này, công tác tuyên giáo phải thường xuyên đổi mới, luôn là lực lượng nòng cốt, là vũ khí sắc bén trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Trong những năm qua, Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị; thường xuyên nắm bắt tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng; chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; tăng cường phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Công tác tuyên giáo của Đảng bộ Khối thường xuyên đổi mới, góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các quan điểm lệch lạc, sai trái của các phần tử cơ hội chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ Khối xác định nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên giáo trong nhiệm kỳ là chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Đảng về chính trị, coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng, tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, cùng toàn Đảng xây dựng Đảng về văn hóa; thực hiện các nghị quyết về xây dựng Đảng, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Trọng tâm là thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị và tập trung ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn luận điệu sai trái, thù địch, công tác tuyên giáo trong Đảng bộ Khối phải thường xuyên đổi mới, trọng tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

Một là, thường xuyên, chủ động nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động ở các cơ quan Trung ương, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, mới phát sinh; đồng thời, thực hiện thật tốt công tác định hướng tư tưởng, dẫn dắt dư luận xã hội. Thông qua các cuộc giao ban đội ngũ cộng tác viên dư luận xã hội các cấp, giao ban Ban chỉ đạo 35 các cấp, hội nghị thông tin chuyên đề định kỳ và hội nghị báo cáo viên các cấp, hệ thống tuyên giáo các cấp trong Đảng bộ Khối chủ động bám sát tình hình trong nước và quốc tế để có những dự báo, phát hiện sớm những vấn đề nhạy cảm, phức tạp nảy sinh trong đời sống chính trị và xã hội. Nắm chắc, hiểu rõ tư tưởng, tâm trạng cán bộ, đảng viên và người lao động trước những biến động có thể xảy ra của xã hội, kịp thời chủ động tham mưu với các cấp ủy trong Đảng bộ Khối lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết kịp thời tư tưởng mới phát sinh trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động, tạo sự đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; chỉ đạo quyết liệt, kịp thời công tác đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hai là, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các lĩnh vực: tuyên truyền việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước; kết quả phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; kết quả công tác xây dựng Đảng; chú trọng tuyên truyền, biểu dương, cổ vũ, lan tỏa những điển hình tiêu biểu trong học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt; lên án, phê phán cái xấu, tiêu cực với phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực, đẩy lùi tiêu cực”. Nâng cao vai trò chủ đạo của hệ thống tuyên giáo các cấp ở Đảng bộ Khối trong chỉ đạo, định hướng thông tin trên báo chí, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm tính tôn chỉ, mục đích trong hoạt động. Chỉ đạo và kịp thời cung cấp, định hướng thông tin trên báo chí, chú trọng những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm ở các cơ quan Trung ương và của đất nước. Nắm bắt nhanh nhạy, chính xác và chủ động tấn công, kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ việc học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương, của Đảng ủy Khối và việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó chú trọng học tập, quán triệt ngay tại chi bộ. Bí thư cấp ủy các cấp trực tiếp quán triệt, truyền đạt và hướng dẫn tổ chức thực hiện. Gắn kết chặt chẽ việc nghiên cứu, học tập nghị quyết của Trung ương với việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của Đảng ủy Khối, kế hoạch của các cấp ủy, tổ chức đảng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng cơ quan, đơn vị tạo sự thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và tăng khả năng “tự đề kháng”; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả với những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Bốn là, tiếp tục đổi mới việc thực hiện Kết luận số 01-Kl/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các quy định nêu gương của Trung ương. Đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành việc thường xuyên, hằng ngày của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; qua đó, giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, chấn chỉnh tác phong, lề lối làm việc; đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống... Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị ở các cơ quan Trung ương phải thực sự tiên phong, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn tư cách, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gần gũi quần chúng, chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và kịp thời thông tin, giải đáp những nhu cầu chính đáng của quần chúng.

Năm là, tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Chỉ thị số 01-CT/ĐUK ngày 12/7/2021 của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương”. Đẩy mạnh hoạt động của Ban chỉ đạo 35 các cấp trong Đảng bộ Khối về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tham gia với các cơ quan liên quan để đấu tranh, xử lý và đề xuất xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nói và làm trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương là đảng bộ có vai trò, vị trí quan trọng, bao gồm các tổ chức đảng trong các cơ quan tham mưu chiến lược, quản lý ở tầm vĩ mô của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp ở Trung ương. Hoạt động của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị và sự phát triển của đất nước.

Hiện nay, Đảng bộ Khối có 61 đảng bộ trực thuộc với gần 8 vạn đảng viên. Các tổ chức đảng, đảng viên trong Đảng bộ Khối hoạt động rộng khắp trong toàn quốc và ở nước ngoài.

Sáu là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những vấn đề mới, vấn đề khó phát sinh trong các ngành, lĩnh vực, đặc biệt về công tác xây Đảng. Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp dạy và học lý luận chính trị; tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp chiến lược, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và đội ngũ báo cáo viên trong Đảng bộ Khối. Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 03-NQ/ĐUK ngày 26/7/2021 của Đảng ủy Khối về “Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”.

Bảy là, tiếp tục đổi mới, tăng cường nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng trong Đảng bộ Khối. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 18/1/2018 của Ban Bí thư về “Tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền và giáo dục lịch sử Đảng”; Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 6/7/2018 của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối về “Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn và giáo dục lịch sử Đảng trong Đảng bộ Khối”; biên soạn xuất bản các ấn phẩm lịch sử Đảng bộ Khối, lịch sử các đảng bộ trực thuộc nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên.

Tám là, kịp thời củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác tuyên giáo các cấp đảm bảo về số lượng và chất lượng hoạt động, đáp ứng nhiệm vụ công tác trong tình hình mới. Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo, đặc biệt cán bộ tuyên giáo ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu tham mưu, xử lý các vấn đề về tư tưởng phức tạp phát sinh. Để hoàn thành sứ mệnh “đi trước, mở đường” đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp trong Đảng bộ Khối phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, hiểu biết rộng, đủ khả năng thuyết phục, vận động cán bộ, đảng viên, nhân dân tin và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lý giải, thuyết phục các vẫn đề thực tiễn đang diễn ra. Tập trung xây dựng lực lượng tham mưu, giúp việc Ban chỉ đạo 35 các cấp, nòng cốt là ban tuyên giáo cấp ủy các cấp tinh gọn, chuyên nghiệp, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng; phát hiện từ sớm, từ xa âm mưu, thủ đoạn chống phá, kịp thời ngăn chặn, xử lý những yếu tố phức tạp; làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, phần tử thoái hóa biến chất, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ./.

Lại Xuân Lâm
Phó Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương

Tuyengiao.vn

Phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Chủ động, kiên quyết, nghiêm minh hơn nữa

 

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ cấp cao là con đường ngắn nhất và trực tiếp không chỉ hạ thấp mà thậm chí còn thủ tiêu vai trò chính trị, thực lực chính trị và uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước.

1. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những hành vi tham nhũng, tiêu cực không còn là một khái niệm trừu tượng mà đã biểu hiện rất cụ thể trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, cấp cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Đảng cũng nhấn mạnh: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”(2).

Thực tế cho thấy, những sự suy thoái nêu trên ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Đó là hành vi lợi dụng quyền lực, biến quyền lực chính trị được nhân dân ủy thác thành “của riêng” để đổi chác, ban phát, mua bán... Bên cạnh đó là sự “a dua” “vào hùa” với những ý kiến lệch lạc, thiếu khách quan, thiếu toàn diện về sự nghiệp đổi mới của đất nước; đòi đa nguyên, đa đảng; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc....

Kinh nghiệm lịch sử chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ chức vụ cấp cao là con đường ngắn nhất và trực tiếp không chỉ hạ thấp mà thậm chí còn thủ tiêu vai trò chính trị, thực lực chính trị và uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước. Nếu  không kịp thời sửa chữa, Đảng sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo, đồng thời không còn là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam.

2. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân”(3). Đảng nhìn nhận sự suy thoái này có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc...

Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng phải “không lơi tay” trong thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; chủ động, kiên quyết, nghiêm minh hơn nữa, trong đó tập trung vào một số khâu đột phá:

Một là, tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đảng xác định: “Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng”(4). Theo đó, trong giáo dục phải hết sức coi trọng chất lượng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vận dụng sáng tạo lý luận phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Từng cơ quan, đơn vị phải xây dựng thực chất kế hoạch giáo dục cho mọi đối tượng, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Phương pháp giáo dục phải đa dạng, phong phú, cụ thể, gợi mở để cán bộ, đảng viên tự kiểm điểm, tự rèn luyện, tự tu dưỡng; nâng cao tính chiến đấu, tinh thần thẳng thắn, dũng cảm trong tự phê bình và phê bình, nhất là đối với những hành vi trái với chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách.

Coi trọng khâu đột phá trong giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm tăng cường sức đề kháng ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân. Ngại rèn luyện, lười suy nghĩ, lười học tập là nguyên nhân trực tiếp làm cho cán bộ, đảng viên trở nên lạc hậu, nảy sinh chủ nghĩa cá nhân. Khi chủ nghĩa cá nhân phát triển thì những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được cũng chỉ nhằm phục vụ cho mưu toan, tính toán, vun vén cho bản thân, gia đình, lợi ích nhóm. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất làm suy giảm nghiêm trọng sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của một đảng cách mạng chân chính, hết lòng vì nước vì dân.

Đảng xác định: “Chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp; thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, cán bộ giữ cương vị càng cao càng phải tiên phong, gương mẫu”(5). Theo đó, việc tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức phải chú trọng tăng cường trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, yêu cầu cán bộ càng cao càng phải gương mẫu thực hiện.

Hai là, phát huy hơn nữa vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.  

Cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về vai trò của công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, có ý nghĩa quyết định mọi thành công của sự nghiệp cách mạng cả trước mắt và lâu dài. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình để tự giác, gương mẫu thực hiện. Kết luận số 21-KL/TW của Đảng đã nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”(6).

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần có chương trình tổng thể, lộ trình khoa học để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, động viên được sự nỗ lực sáng tạo của các tổ chức, lực lượng. Trên cơ sở đánh giá đúng ưu điểm, hạn chế khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt, cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền cần điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch đội ngũ cán bộ các cấp; có kế hoạch luân chuyển, điều động, cất nhắc, bổ nhiệm cán bộ một cách khách quan; kiên quyết cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với những người tín nhiệm thấp, phẩm chất năng lực không tương xứng.

Cấp ủy các cấp và các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cán bộ cho phù hợp với điều kiện mới; xây dựng hoàn thiện quy chế, quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa tuyên truyền, giáo dục chính trị với công tác tổ chức, công tác cán bộ, công tác kiểm tra giám sát.

Cấp ủy, tổ chức đảng phải là nơi đầu tiên phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục những mầm mống của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xử lý tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực”(7). Kiên quyết đấu tranh với sự phai nhạt lý tưởng cách mạng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân...

Ba là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tổ chức và cá nhân trong kiểm tra, giám sát cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quá trình giải quyết vừa đề cao tính tích cực chủ động, tự giác của cá nhân vừa phát huy tốt vai trò của tổ chức với quy trình chặt chẽ, nội dung thống nhất, khoa học. Trên cơ sở những quy định chặt chẽ, cùng với những nội dung cụ thể, những tiêu chí rõ ràng, nhất là hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực được Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII bổ sung, làm rõ, đó là Quy định 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm (thay thế QĐ 47-QĐ/TW).

Từng cấp ủy, chi bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải chủ động, tự giác đối chiếu với những quy định, tự liên hệ, kiểm điểm để thấy rõ, thấy hết những ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm và có kế hoạch phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế khuyến điểm. Đó cũng là quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa mặt tốt và mặt xấu trong mỗi tổ chức, mỗi con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”(8).

Việc động viên, yêu cầu phát huy tính chủ động, tự giác của mỗi người phải đi cùng với những biện pháp, quy định chặt chẽ, nghiêm minh; sự kiên quyết phải đi liền với kiên trì, có lộ trình, bởi chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, hám danh, bè phái cục bộ... chắc chắn không thể “làm nhanh, làm gọn” - khắc phục triệt để trong một sớm, một chiều.

Đồng thời, phải “tập trung giám sát cán bộ, đảng viên có lời nói, việc làm biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý, kỷ luật nghiêm minh đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ngay tại cơ sở, chi bộ”(9).

Cùng với đề cao tính tích cực, chủ động, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, phải đi liền với phát huy tốt vai trò của tổ chức, thông qua các biện pháp mà Trung ương đã bổ sung, làm rõ trong những quy định. Những quy định bắt buộc được triển khai đúng, thực chất sẽ dần tạo nên thói quen tự giác, tích cực cho mỗi cá nhân và tập thể.

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong việc ngăn chặn, đẩy lùi, chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh phải “khuyến khích nhân dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực”(10). Cùng với tích cực, chủ động phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của nhân dân, nhất là đối với các chủ trương, chính sách tác động đến đông đảo người dân, cần đẩy mạnh phát huy vai trò của dư luận xã hội, vận dụng dư luận xã hội để phát huy các chức năng đánh giá, điều chỉnh các quan hệ xã hội, giáo dục, giám sát tư vấn - phản biện và giải tỏa tâm lý xã hội.

Đổi mới công tác dân vận của hệ thống chính trị, nhất là công tác dân vận chính quyền các cấp. Tạo bước chuyển biến thực chất hơn trong giám sát của nhân dân đối với việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Xây dựng và thực hiện nghiêm cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực.

Năm là, kịp thời phát hiện, vạch trần mọi âm mưu, luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, xuyên tạc, chống phá.

Một mặt, vừa phải đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và “xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân lợi dụng Internet, mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, kích động, gây rối, chia rẽ đoàn kết nội bộ”(11). Mặt khác, cần phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng chính trị. Bởi, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên có tác động trực tiếp từ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, sự dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo của các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, tiêu cực. Vì vậy, cần chủ động các phương án, biện pháp đột phá cụ thể, tổ chức lực lượng thích hợp để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị./.

Đại tá, PGS. TS. DƯƠNG QUANG HIỂN
Trung tá, ThS. NGUYỄN VĂN HÙNG
Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

_______________________

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2021, t.I,  tr.92.

(2) (3) (4) (5) (6) (7) (9) (10) (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2021, H, 2021, tr.1, 1, 2, 2, 3, 3, 4, 3, 2.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.15, tr.672.

Tuyengiao.vn

Phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.

Lịch sử cho thấy, các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, có những hạn chế, khuyết điểm bên trong nếu không sớm được khắc phục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nguy hiểm hơn là khi bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá...

Âm mưu chia rẽ và thách thức bên trong

Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn...”.

Thực tế cho thấy, hiện nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi, phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.

Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”...

Đáng chú ý, chúng tập trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công an... Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”.

Bên cạnh đó, là những vấn đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại... Đại hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ... gây bức xúc xã hội và làm suy giảm vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta.

Sức mạnh nội sinh và bài học thịnh suy, thành bại từ lịch sử

Đối với dân tộc Việt Nam, đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Theo Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Sức mạnh của nhân dân khi kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.

Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.

Thời kỳ Pháp thuộc, triều đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế giới đương đại phản ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong “những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của thế giới hiện nay.

Tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “... phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, để phòng chống chia rẽ, bảo vệ và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc. Đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, tuyên truyền, tăng cường đồng thuận của các tầng lớp nhân dân với đường lối lãnh đạo của Đảng. Thường xuyên nắm chắc, dự báo đúng, xử lý chính xác các vấn đề về tư tưởng, mâu thuẫn, bức xúc xã hội hiện nay. Tích cực, chủ động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, làm sáng tỏ chủ trương, chính sách, thành tựu đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta. Coi trọng tuyên truyền, giáo dục, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc làm nền tảng tinh thần vững chắc của khối đại đoàn kết trong giai đoạn mới.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; đặc biệt coi trọng chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị. Thường xuyên củng cố, thắt chặt mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Quán triệt, thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.

Bốn là, nâng cao ý thức cảnh giác, thường xuyên nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch, phản động. Có các giải pháp, biện pháp mạnh, nâng cao hiệu quả đấu tranh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trên không gian mạng-mặt trận nóng bỏng hiện nay. Chủ động, nhạy bén, sắc sảo phát hiện, vạch trần bản chất phản động, mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động; giành giữ, bồi đắp tình cảm cách mạng, niềm tin của toàn thể nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng đất nước.

Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, không ngừng hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bám sát thực tiễn phát triển của đất nước, kịp thời giải đáp một cách thuyết phục những vấn đề mới về lý luận, thực tiễn đã và đang đặt ra; cung cấp luận cứ, luận chứng khoa học bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.

Đảng ta là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ và phát huy sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết, phải phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN HÙNG OANH, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chính trị

Qdnd.vn

Xuyên tạc việc khởi tố bị can Nguyễn Phương Hằng để bôi nhọ chính quyền

 

Ngày 24/3, Công an TP Hồ Chí Minh đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh. Ngay sau đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng để xuyên tạc, hướng lái bản chất vụ việc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông hải ngoại vốn thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái. Điển hình trên mạng facebook của Việt Tân vu cáo: “Công an sử dụng Điều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái”, rồi suy diễn thành việc “doanh nhân đối đầu với thế lực chính trị như việc trứng chọi đá”. Bài viết đưa ra luận điệu hết sức lố bịch rằng: “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”...

Việt Tân vẫn lập lại thói quen xấu, diễn trò lố khó bỏ khi đưa ra cái gọi là “khảo sát quan điểm độc giả về việc Công an TP Hồ Chí Minh bắt tạm giam bà Nguyễn Phương Hằng”. Ở một bài khác, trang này dẫn một bài viết xuyên tạc rằng “Những điều luật phục vụ thủ đoạn của chính quyền cộng sản”, cho rằng việc khởi tố bà Hằng theo điều luật trên là “áp đặt một cách tùy tiện”! 

Còn RFA thì tìm cách phỏng vấn một số cá nhân với cái tên nghe rất mĩ miều như “nhà dân chủ”, “nhà phản biện”, “luật sư nhân quyền”… nhưng kỳ thực là số đối tượng phản động, chối bỏ quê hương, phản bội Tổ quốc, sống lưu vong ở nước ngoài. Được “hỏi ý kiến”, số này cho rằng, việc bắt bà Nguyễn Phương Hằng theo Điều 331 là “không hợp lý”, từ đó ra sức miệt thị Nhà nước, chính quyền.

Những hành vi trên của một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động không nằm ngoài các hoạt động chống phá Việt Nam, các đối tượng vin vào việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; đả phá, phỉ báng chính quyền các cấp, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Nguy hại hơn, các thế lực thù địch, phản động còn cổ xúy, xúi giục, thậm chí ca ngợi, tán dương các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để bôi nhọ, lăng mạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân, gây tổn hại đến truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; làm giảm vị thế, uy tín cũng như hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Cũng như các quốc gia trên thế giới, đối với Việt Nam, một mặt, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, không để các hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân”. Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Theo đó, Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” như sau:

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Điều 331, Bộ luật Hình sự là sự cụ thể hóa Hiến pháp, thể theo nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trở lại vụ án liên quan đến bị can Nguyễn Phương Hằng, theo điều tra ban đầu, Công an TP Hồ Chí Minh xác định, từ tháng 3/2021 cho đến trước khi bị bắt tạm giam, bà Nguyễn Phương Hằng đã thông qua nhiều tài khoản Youtube, Facebook, Tiktok, phát ngôn trực tiếp qua mạng internet, đưa các thông tin chưa được kiểm chứng, xúc phạm đến uy tín, danh dự của nhiều tổ chức, cá nhân, gây bất bình dư luận. Hành vi của bà Nguyễn Phương Hằng vừa xâm phạm danh dự, uy tín của các công dân, vừa ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa dân tộc, gây bất bình trong dư luận.

Trước những hành vi trên, từ ngày 15/2 đến 24/3/2022, cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã mời làm việc 4 lần đối với bà Nguyễn Phương Hằng để cảnh báo, nhắc nhở, khuyến cáo, răn đe và yêu cầu bà Hằng chấm dứt việc lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, sử dụng mạng xã hội thực hiện hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, bà Nguyễn Phương Hằng cố ý né tránh, không chấp hành. Công an TP Hồ Chí Minh xác định, bà Hằng đã quản lý, sử dụng 12 kênh trên mạng xã hội để trực tiếp livestream với nội dung xuyên tạc đời tư của nhiều người. Dù nhiều lần được cơ quan chức năng nhắc nhở nhưng bà Hằng vẫn cố ý né tránh không chấp hành mà tiếp tục các hành vi trên. Bên cạnh đó, bà Nguyễn Phương Hằng tổ chức các hoạt động tụ tập đông người tại TP Hồ Chí Minh và tại một số tỉnh, thành khác gây phức tạp về an ninh trật tự, bức xúc dư luận địa phương. Trước đó, ngày 8/4/2021, Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã xử phạt hành chính đối với bà Nguyễn Phương Hằng về hành vi cung cấp thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín của UBND tỉnh Bình Thuận. Cùng với đó, từ năm 2021 đến nay, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh thụ lý đơn thư của nhiều cá nhân tố cáo bà Nguyễn Phương Hằng, gồm: nhà báo Nguyễn Đức Hiển, nhà báo Đặng Thị Hàn Ni, bà Đinh Thị Lan, ca sĩ Vy Oanh, vợ chồng ca sĩ Thủy Tiên - Công Vinh… Các cá nhân trên tố cáo bà Nguyễn Phương Hằng về các hành vi đưa tin sai sự thật, vu khống, làm nhục nguời khác, lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…

Việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam đối với bị can Nguyễn Phương Hằng về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ hành vi phạm pháp là tuân thủ theo quy định của pháp luật, không có chuyện chính quyền các cấp “bóp nghẹt quyền tự do dân chủ” như luận điệu của các thế lực xấu.

Hiện nay, việc mỗi người thiết lập và sử dụng các tài khoản mạng xã hội là xu thế tất yếu. Pháp luật luôn bảo vệ việc biểu đạt tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của bản thân trên tinh thần xây dựng, thượng tôn pháp luật, theo đúng chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa của dân tộc. Đảm bảo điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội. Nhưng ngược lại, những tổ chức, cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, lấy cớ quyền tự do dân chủ của mình mà lại xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân khác hay xâm phạm đến tổ chức, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài tương ứng. Mặt khác, mạng xã hội cũng là nơi các thế lực thù địch, phản cách mạng, phần tử cơ hội chính trị sử dụng để thực hiện những thủ đoạn xấu nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, do đó, cần sự tỉnh táo để không bị lôi kéo, kích động.

Chu Xuân Đại Thắng

Cand.com.vn

Nhận diện bản chất của những đối tượng tham gia tổ chức khủng bố “Việt Tân”

Mặc dù liên tiếp thất bại trong âm mưu đưa người và phương tiện vào trong nước hoạt động khủng bố, chống Việt Nam nhưng số đối tượng cầm đầu tổ chức “Việt Tân” vẫn ngoan cố thực hiện kế hoạch đưa người về nước, tiến hành kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị. Hành vi xấu xa đó đã bị lực lượng an ninh cảnh giác, bóc trần.

Trị An

Suy ngẫm từ sự việc của bà Nguyễn Phương Hằng

 Là công dân của một đất nước, tất cả mọi lời nói (phát ngôn), việc làm, hành vi phải tuân thủ theo Hiến pháp và Pháp luật. Đó mới thực sự là một công dân có trách nhiệm. Bà Hằng đã vượt quá khuôn khổ của quyền tự do ngôn luận. Đây cũng là một bài học cho những người luôn đặt cái "tôi" lên trước cộng đồng xã hội.

Trị An

TỪ BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA LIÊN XÔ & ĐÔNG ÂU TRƯỚC ĐÂY LÀ MỘT SAI LẦM LỚN CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THẾ GIỚI!

         Sự sụp đổ chế độ Xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 là một cơn động đất chính trị lớn của thế kỷ 20. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới XHCN và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa.

Các ông trùm tài phiệt chiến lược, chiến lược gia và chính khách cỡ bự của chủ nghĩa tư bản đều hoan hỷ ăn mừng rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, tin rằng, các nước XHCN còn lại sẽ giữ vững trận địa, đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế XHCN sẽ tiếp tục đi dưới hình thức này hay hình thức khác.

Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Từ vùng Trung-Nam Mỹ đã phát sinh phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới tư bản chủ nghĩa huênh hoang về sức sống dài lâu của nó cũng lâm vào khủng hoảng cục bộ, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay, vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia "toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế", vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.

Điểm qua như thế để thấy rõ rằng, gần 30 năm qua, xung quanh vấn đề nên theo hay không theo CNXH, diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội ở nước ta cũng không thuần nhất và khá phức tạp, nhưng về cơ bản vẫn kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Quan điểm "phê phán quan điểm cho rằng CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, còn ngạo mạn nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Hội nghị Tua (năm 1921). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.

Với quan điểm ấy, họ đã sai lầm ít nhất là ở 8 điểm sau đây

Về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:
Thứ nhất: Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thứ hai: Chế độ Xô viết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và sau này trên toàn Liên bang Xô viết, đã tỏ rõ được tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Chính quyền Xô viết thực sự là chính quyền của công-nông-binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống XHCN thế giới. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20 sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xô viết ngộ nhận là CNXH đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xô viết cũng bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xô viết đã giành được là một sai lầm trong cách nhìn lịch sử.

Thứ ba: Vào những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước XHCN Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xô viết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây, mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.

Thứ tư: Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên (tuy chưa hết), còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng đẩy mạnh chạy đua vũ trang. Trong khi lãnh đạo Liên Xô chủ trương thi đua hòa bình thì chúng một mặt đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác đề ra chiến lược "diễn biến hòa bình" để xóa bỏ CNXH mà không cần chiến tranh và súng đạn. Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này của chúng mà không tự giác phát hiện.

Về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.

Thứ năm: Đúng là ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản". Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên làm cách mạng XHCN. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên CNXH. 87 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?

Thứ sáu: Trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải là mô hình Xô viết của Liên Xô, bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Bác Hồ từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). CNXH đối với Bác, như ngày nay chúng ta vẫn nói, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhầm lẫn giữa mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình Xô viết là một sự sai lầm lớn.

Thứ bảy: Vào những năm Liên Xô và Đông Âu tiến hành cải tổ và cải cách, Việt Nam cũng đề ra đuờng lối đổi mới. Những nhân tố đầu tiên của đổi mới xuất hiện từ những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhưng đổi mới toàn diện trở thành đường lối chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào cuối năm 1986 theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Đổi mới của chúng ta không đi theo vết xe đổ của cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu. Đảng ta đã nêu rõ 6 nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng XHCN, đổi mới chứ không đổi màu là nguyên tắc đầu tiên. Chúng ta cũng bác bỏ quan điểm cho rằng “đổi mới là nửa vời, không nhất quán”. Sự thật là đổi mới của chúng ta qua hơn 30 năm đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm cho Việt Nam càng vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc và CNXH. Đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý.

Thứ tám: Tổng kết 30 năm đổi mới cho thấy: Nhận thức của Đảng ta về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".

Cương lĩnh nêu lên 8 đặc trưng của CNXH mà nhân dân ta xây dựng, trong đó 3 đặc trưng đầu tiên là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.

Thử hỏi, con đường độc lập dân tộc đi lên CNXH xán lạn như vậy tại sao chúng ta phải từ bỏ chỉ vì mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ?

Trong khi nêu lên 8 sai lầm cơ bản như trên, người viết bài này muốn đặt ra câu hỏi đối với các tác giả đòi chúng ta từ bỏ con đường XHCN, ý đồ thực sự của các vị phía sau đòi hỏi này là gì?
Yêu nước ST.

QUYỀN LỰC VÀ THA HÓA QUYỀN LỰC

 


Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay - dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”, hiểu khái quát đó là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy. Còn tha hóa là “1. Trở nên khác đi, biến thành cái khác…2. Trở thành người mất phẩm chất đạo đức, một cán bộ bị tha hóa”. Hiểu theo nghĩa chung nhất, đó chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái khác, là hiện tượng làm biến tướng bản chất hoặc mục đích của sự vật, hiện tượng. Tha hóa quyền lực là căn bệnh của những người có chức, có quyền, vì thế cần phải phòng và chống sự tha hóa quyền lực bằng cách: “1. Kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định… 2. Đặt trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm”.

Tiếp cận từ góc độ “phạm vi quyền hành và trách nhiệm”, có thể nhận dạng sự tha hóa quyền lực ở một số biểu hiện cơ bản như sau: 1) Lạm quyền: chủ thể nắm quyền tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Sự “tạo thêm” này là “dạng vượt quá giới hạn”, làm biến dạng quyền lực. 2) Lộng quyền: là sự liều của chủ thể của quyền lực khi “làm” mà không cần biết hậu quả xảy ra thế nào và cũng không sợ trách nhiệm mình phải gánh chịu. 3) Trục lợi từ quyền: hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực, do các chủ thể quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng để đòi hỏi các lợi ích vật chất và tinh thần cho mình. 4) Độc đoán, chuyên quyền: người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về mình; trấn áp tất cả các thế lực chống đối để tuyệt đối hóa quyền lực của mình. 5) Quan liêu: biểu hiện người nắm quyền không bám sát thực tế, không dựa trên những cơ sở thực tế để thực thi quyền lực công mà chỉ nhằm bảo vệ lợi ích ích kỷ của mình, nhóm mình, địa phương mình,v.v.. 6) Tuỳ tiện: người nắm quyền hoặc không biết rõ quyền lực của mình đến đâu hoặc cẩu thả trong thực thi quyền được trao mà không ý thức được hậu quả mình gây ra. 7) Tiếm quyền: là biểu hiện người nhận được quyền lực một cách không hợp pháp mà là sự “đoạt được” địa vị của người có quyền lực hợp pháp. 8) Vô trách nhiệm: là thờ ơ hoặc buông xuôi trước trước yêu cầu của việc thực thi quyền lực được trao; thường gây thiệt hại cho xã hội và cho chính người trao quyền. 9) Bất lực: thể hiện trong việc người nắm quyền lực dần mất đi thực quyền hoặc kém khả năng quyết đoán; chỉ có danh mà không có sức mạnh để thực thi ý chí của mình; thường bị thao túng bởi một thế lực nào đó. 10) Tham quyền cố vị: là biểu hiện người có quyền lực bằng mọi cách giữ lại địa vị vốn có mà không từ một thủ đoạn nào để loại trừ đối thủ. 11) Phân tán quyền lực: là sự biến tướng dưới dạng cục bộ địa phương, lợi ích cá nhân, chia bè kéo cánh; làm mất đi tính thống nhất về quyền lực nhà nước cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc,v.v..

Với một chính đảng đã cầm quyền, việc thực thi quyền lực và yêu cầu phải phòng, chống sự tha hóa quyền lực đối với tổ chức đảng, nhất là với các cán bộ, đảng viên được trao quyền giữ các chức vụ trọng yếu trong Đảng, các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị xã hội là nhằm đảm bảo cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành được vận hành hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, ngăn ngừa và phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng cầm quyền ở đây hiểu theo nghĩa là Đảng lãnh đạo Nhà nước và “lãnh đạo” thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ những trọng trách trong tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, hệ thống chính trị. Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng, dẫn đến từng bước vô hiệu hóa vai trò của tổ chức, làm mất đi tính tiên phong của Đảng cách mạng. Theo đó, người được trao quyền đã vượt quá "phạm vi quyền hành và trách nhiệm" của mình; đã sử dụng quyền lực để chiếm đoạt các giá trị vật chất, tinh thần của xã hội, xâm phạm tới lợi ích của các thành viên khác nhằm mưu cầu cho mình, người thân,v.v.. Tha hóa quyền lực biểu hiện ở nhiều sự việc: từ sự nhũng nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh để “tham nhũng vặt” người dân; quan liêu, thờ ơ trước yêu cầu, bức xúc của nhân dân, chậm giải quyết các thủ tục hằng ngày cho người dân ở địa bàn cơ sở,v.v.. đến việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực công vụ để mưu lợi ích, tham ô, “tham nhũng lớn” cho cá nhân, nhóm lợi ích… Ở chiều cạnh này, sự tha hóa quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ phản ánh sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên mà còn phản ánh thực chất mức độ sự suy thoái quyền lực nhà nước mà đảng đang cầm quyền. Đặc biệt quan tâm vấn xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

tHỦ ĐOẠN Núp bóng “tổ chức đại diện người lao động” để chống phá Đảng, Nhà nước

 

 Ngày 20/11/2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi), có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021, trong đó quy định cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp ngoài công đoàn, trên cơ sở phù hợp với các quy định quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã tham gia. Khoản 2, Điều 170 Bộ luật Lao động năm 2019 (sửa đổi) quy định: “Người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật”. Đây là một vấn đề mới, chưa từng có tiền lệ trong pháp luật lao động Việt Nam.

Lợi dụng quy định này, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đang ra sức tuyên truyền, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp thành lập “tổ chức đại diện người lao động” nhằm biến tướng thành các tổ chức “công đoàn độc lập” tại Việt Nam; từng bước tập hợp lực lượng, xây dựng ngọn cờ, kích động biểu tình, đình công, đòi tự do, dân chủ… Âm mưu của chúng là nhằm hình thành lực lượng chính trị đối lập trong nội địa, tiến tới thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” lật đổ Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ chính trị tại Việt Nam.
Để thực hiện âm mưu trên, nhiều cá nhân, tổ chức nước ngoài đang tìm cách tác động, can thiệp, gây sức ép với Việt Nam trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động, nhất là Nghị định quy định về quy trình, thủ tục thành lập các tổ chức đại diện người lao động, hòng tạo tiền đề cho việc hình thành những đảng phái chính trị đối lập trong nước. Chúng công khai lộ trình gồm 4 giai đoạn: (1) Yêu cầu Việt Nam sớm ban hành Nghị định quy định về tổ chức đại diện người lao động; (2) từng bước tác động để người lao động thay đổi nhận thức và đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình thông qua tổ chức đại diện người lao động; (3) hình thành tổ chức “Công đoàn độc lập” để tạo ra sự cạnh tranh với Công đoàn Việt Nam; (4) khi đa nguyên công đoàn thì Việt Nam sẽ đa nguyên về chính trị. Mục tiêu trước mắt được chúng đặt ra là đến năm 2025 sẽ xuất hiện mô hình “Liên hiệp các tổ chức người lao động” tại Việt Nam để cạnh tranh trực tiếp với TLĐLĐVN, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của TLĐLĐVN.
Một số tổ chức “xã hội dân sự” nước ngoài đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thành lập tổ chức độc lập với TLĐLĐVN tại các doanh nghiệp. Họ tìm cách gây sức ép, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một số chế độ, chính sách, quyền lợi ngoài quy định của doanh nghiệp và Bộ luật Lao động; yêu cầu cung cấp thông tin về người lao động, bảng lương; lấy lý do điều tra xã hội học phục vụ công tác nghiên cứu để tìm hiểu đời sống công nhân tại doanh nghiệp, chế độ, giờ giấc làm việc, việc đối xử của doanh nghiệp với công nhân...
Các tổ chức khủng bố, phản động ráo riết đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền lôi kéo công nhân, người lao động thành lập các hội, nhóm, tổ chức bất hợp pháp trên lĩnh vực lao động, công đoàn tại các địa phương nhằm đón bắt thời cơ thành lập “Công đoàn độc lập” tại Việt Nam. Điển hình như tổ chức khủng bố Việt Tân công khai mưu đồ thành lập các “nghiệp đoàn độc lập” ở trong nước với 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: Củng cố hoạt động “nhóm bạn công nhân” (được thành lập từ tháng 12/2019 trên không gian mạng với mục tiêu phát hiện, lôi kéo, kết nối số công nhân, người lao động có quan điểm chống đối đấu tranh đòi quyền lợi, làm lực lượng nòng cốt cho các “nghiệp đoàn độc lập”). Giai đoạn 2: âm mưu thành lập tổ chức phi chính phủ để thúc đẩy ra đời “nghiệp đoàn độc lập”. Giai đoạn 3: Công khai hóa tổ chức “nghiệp đoàn độc lập”. Tổ chức Lao động Việt (do Trần Ngọc Thành, Việt kiều Ba Lan làm chủ tịch) vận động tổ chức Công đoàn quốc tế công nhận là thành viên chính thức để công khai là tổ chức “công đoàn độc lập” tại Việt Nam; đồng thời kêu gọi, kích động các đối tượng ở trong nước móc nối, phát triển lực lượng trong công nhân để hình thành các hội, nhóm, “nghiệp đoàn độc lập” trong công nhân nhằm tiến hành hoạt động đình công, lãn công, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự.
Trong khi đó, một số đối tượng phản động, phần tử xấu ở trong nước, nhất là số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, thúc đẩy hình thành các tổ chức công đoàn, nghiệp đoàn trong tôn giáo theo kiểu “Công đoàn đoàn kết Ba Lan” tại Việt Nam, thành lập các “công đoàn độc lập” trong các cơ sở của tôn giáo (trường học, bệnh viện, công ty, xí nghiệp…).
Những hoạt động trên đã làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các tổ chức “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” biến tướng ở Việt Nam. Đồng thời, cũng làm xuất hiện nguy cơ “đa nguyên công đoàn”, gây chia rẽ, phân hóa giai cấp công nhân, đe dọa trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thực tiễn lịch sử ở nhiều quốc gia đã cho chúng ta thấy nhiều bài học đắt giá về việc buông lỏng quản lý đối với các phong trào công nhân, đặc biệt khi nó được dẫn dắt bởi các tổ chức công đoàn độc lập với nhà nước. Phong trào công nhân tại Ba Lan được dẫn dắt bởi “Công đoàn đoàn kết Ba Lan” (tổ chức liên hiệp của các công đoàn độc lập trong xã hội Ba Lan) những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đã dẫn đến sự mất vai trò lãnh đạo của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan và sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Ba Lan vào năm 1989. Tại Pháp, phong trào “áo vàng” bắt nguồn từ phong trào đình công, biểu tình của công nhân phản đối chính sách về thuế, nhất là chính sách về thuế nhiên liệu của Chính phủ Pháp kéo dài từ tháng 11/2018 đến tháng 9/2020 đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề khi các cuộc biểu tình, bạo loạn bùng phát trên diện rộng, sau đó lan sang các quốc gia lân cận như Hà Lan, Bỉ. Tại Campuchia, tổ chức công đoàn tự do đã lôi kéo, kích động hàng chục ngàn công nhân đình công, biểu tình phản đối chính sách của chính phủ, kêu gọi Thủ tướng Hun Sen từ chức…
Có thể thấy rằng, ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, công đoàn là tổ chức rất phổ biến, ở đâu có tồn tại quan hệ lao động thì ở đó có công đoàn, không phân biệt thể chế chính trị, trình độ phát triển. Dù tên gọi, cách thức tổ chức và hoạt động của công đoàn ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều có điểm chung là đại diện cho quyền lợi của người lao động. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm quá trình hình thành và hoạt động của hệ thống các tổ chức đại diện người lao động lành mạnh, song hành cùng hệ thống Công đoàn Việt Nam, cùng thực hiện đồng bộ, thống nhất chức năng, nhiệm vụ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, người lao động. Tính đến trước thời điểm làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát, Việt Nam có khoảng 14 triệu lao động đang làm việc tại các loại hình doanh nghiệp, trong đó có hơn 10,5 triệu đoàn viên công đoàn, trong đó hiện vẫn còn hàng triệu công nhân, người lao động chưa quan tâm hoặc chưa tìm được tổ chức đại diện cho mình.
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, hệ thống Công đoàn Việt Nam vẫn chưa thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích của công nhân, người lao động dẫn đến nhiều nơi tỉ lệ công nhân, người lao động tham gia công đoàn chưa cao. Đây sẽ là điều kiện mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng nhằm lôi kéo, kích động công nhân, người lao động thành lập các “tổ chức đại diện người lao động”, âm mưu tập hợp lực lượng, thúc đẩy sớm ra đời tổ chức “công đoàn độc lập”, “nghiệp đoàn độc lập” tại Việt Nam nhằm tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, tiến tới thực hiện mưu đồ thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Bởi vậy, hơn lúc nào hết chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện và đấu tranh với thủ đoạn nguy hiểm này. Cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho công nhân, người lao động nắm rõ mục đích, ý nghĩa việc tham gia Công đoàn, đồng thời nhận diện âm mưu của kẻ xấu lợi dụng việc kêu gọi thành lập các tổ chức công đoàn độc lập, giúp công nhân tẩy chay, loại trừ

“CHÍ PHÈO” THỜI HIỆN ĐẠI

 

          Nếu như “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao là những nạn nhân bị bần cùng hóa của một chế độ thực dân, phong kiến trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thì “Chí Phèo” trong thời đại ngày nay là nạn nhân của chính bản thân mình trước những mưu toan, lợi ích thấp hèn và tự đặt biến mình thành một kẻ đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chí Phèo trong tác phẩm  của nhà văn Nam Cao được khắc họa qua những cơn say, còn những “Chí Phèo” thời nay, không cần có rượu, không cần say vẫn có thể chửi, vẫn có thể ăn vạ.

          Chúng ta có thể thấy họ là những con người quen thuộc trên các diễn đàn mạng xã hội, đến các vụ việc tập trung đông người biểu tình trước của cơ quan Đảng, Nhà nước hoặc cơ quan đai diện ngoại giao của nước ngoài gây rối trật tự công cộng, ngăn chặn xe cộ lưu thông  trên quốc lộ, ăn vạ... Họ luôn lấy lí do  “Vì lợi ích của dân tộc, vì lợi ích của Nhân dân”, họ có những lời nói, việc làm đi ngược lợi ích của toàn dân tộc. Họ lợi dụng các trang mạng xã hội đăng tải thông tin sai trái, không đúng sự thật, một số người làm thơ ca, hò vè, biếm họa, phim ảnh, tiểu thuyết nói xấu chế độ, vu cáo Nhà nước Việt Nam là độc tài, đảng trị, không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo... Từ đó, họ lập ra các hội như: “Dân oan”, “Nhà báo độc lập”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Hội bầu bí tương thân”... để tập hợp lực lượng đối lập, kêu gọi sự can thiệp từ nước ngoài vào Việt Nam, đòi thay đổi thể chế chính trị đấu tranh đòi đa nguyên, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị - xã hội. Cách nhận biết những con người đó chính là những câu từ “chửi bới”, những chiêu trò gây rối thu hút sự chú ý của người dân hiếu kỳ và truyền thông nước ngoài. Họ chửi từ chính sách đối ngoại của đất nước đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả những người dân lên tiếng phản đối bất chấp hay phủ nhận những thành tựu về kinh tế, chính trị, đối ngoại mà Việt Nam đã đạt, đã được quốc tế ghi nhận trong thời gian qua. Khi lực lượng chức năng vận động, thuyết phục và giải thích việc làm của họ đang gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự công cộng, đến cuộc sống thường ngày và sự vận chuyển hang hóa giao thông vận tải thì họ lại lấy quyền tự do ngôn luận, quyền phản biện xã hội, quền con người ra bao biện, vu không lực lượng chức năng, nhà nước Việt Nam vi phạm quyền con người.

          Trên tinh thần xây dựng đất nước, rõ ràng, mỗi người Việt Nam đều có quyền bày tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Thế nhưng “Chí Phèo” thời nay lại lấy việc phát ngôn tự do, vô lối, xuyên tạc, kích động gây rối, đập phá tài sản, vi phạm pháp luật là những hành động góp ý, tự do ngôn luận, phản biện xã hội, thậm chí là đe dọa, chửi bới những người không cùng  quan điểm với họ. Họ ngụy tạo bức tranh sai lệch về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền con người tại Việt Nam, phát tán tin giả, dựng chuyện về số “Chí Phèo” đội lốt các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, “người bất đồng chính kiến” bị chính quyền đàn áp, tra tấn nhằm tạo tâm lý bất bình cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội, gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ta.     Phải thừa nhận rằng, ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng luôn tồn tại những hạn chế, yếu kém nhất định, bên cạnh sự tiến bộ, phát triển, do chế định của điều kiện cụ thể. Vấn đề là mỗi quốc gia sẽ có sự nhìn nhận, khắc phục những mặt hạn chế đó một cách kịp thời, thấu đáo, toàn diện, quyết liệt,... Tại Việt Nam, qua những sự việc gấy rối an ninh, trật tự gần đây của số “Chí Phèo” trên có thể thấy rằng, người dân cũng cần phải có một cái nhìn thấu đáo về “tự do ngôn luận”, “phản biện xã hội” một cách đúng đắn, xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, biết phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, xây dựng - phá hoại,... để từ đó tự trang bị, bảo vệ mình trước những kẻ “Chí Phèo” lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng bức xúc của nhân dân để kích động chống phá. Tự do không có nghĩa là tùy tiện, vô lối, muốn làm gì thì làm, tự do ngôn luận, phản biện xã hội đích thực phản ánh năng lực nhận thức và khả năng tự chủ bản thân cả về mặt phát ngôn và hành động. Suy cho cùng, hành động đúng đắn mới là thước đo chính xác về giá trị đích thực của tự do ngôn luận, phản biện xã hội và quyền con người. Không thể nói “tự do nguôn luận”, “phản biện xã hội”, “yêu nước” bao biện cho các hành động lại phá hoại tự do của người khác, tự do xã hội theo kiểu của “Chí Phèo” được.

          Từ chỗ là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới, Việt Nam đã phát triển vượt bậc, trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp, với GDP đầu người đạt khoảng 2.800 USD năm 2019, hơn 45 triệu người thoát nghèo; là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và năng động nhất trong khu vực. Tính theo quy mô tổng sản phẩm quốc nội, Việt Nam là nền kinh tế đứng thứ 46 trên thế giới. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), GDP của Việt Nam hiện nay ước đạt hơn 340 tỷ USD, vượt Singapore, Malaysia, đứng thứ tư trong khu vực.. Chính vì lẽ đó. Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng sáng 26/1/2021, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định "Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta..." Một lần nữa khẳng định con đường đúng đắn đi lên Chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam và những thành tựu của Việt Nam đã đạt được./.

"Sáng kiến thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á" ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN

 

Cuối tháng 3/2021, "Sáng kiến thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á" thông báo sẽ tiến hành tuyển mộ và quy tụ khoảng 150 đại biểu trẻ từ các nước Đông Nam Á và Đông Timor theo học tại học viện YSEALI. Chương trình xét tuyển đến t5/2021, Chương trình thảo luận trực tuyến sẽ diễn ra từ tháng 7 đến tháng 8/2021, tổ chức Hội nghị thượng đỉnh trực tiếp tại TP.HCM từ ngày 18 đến 22/10/2021. Những thành viên theo học tuổi đời chỉ giới hạn từ 18 - 25 tuổi. Điều mà mỗi chúng ta, nhất là các gia đình đang có con em chuẩn bị bước vào các trường Đại học cần nhận rõ Chương trình này. Đó là, năm 2014, khi Barack Obama thành lập cái gọi là “Học bổng YSEALI” (Sáng kiến Thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á) với mục tiêu thu hẹp các rào cản đối với thế hệ trẻ ở khu vực Đông Nam Á - Đông Á, và kết nối thế hệ trẻ này với Hoa Kỳ. Qua đó sẽ cung cấp cho các “thủ lĩnh trẻ” tổng quan về đóng góp vào việc hình thành lịch sử, tư tưởng, tổ chức chính phủ và xã hội dân chủ kiểu Hoa Kỳ cũng như về các cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề xã Hội đặt ra theo chương trình đào tạo: Cách mạng đường phố, cách mạng màu để lật đổ chính quyền sở tại đi đến tổng tuyển cử quốc gia có sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và sẽ trở thành thủ lĩnh (Tổng thống, thủ tướng, ngoại trưởng ...) mà không cần bất cứ sự rèn luyện về đạo đức, trí thức nào ngoài việc "thủ lĩnh từ đường phố đến chính trường chính trị quốc gia". Các sinh viên này đều được phía Mỹ lựa chọn từ những quốc gia mà Mỹ muốn ban phát nền dân chủ, qua các chương trình tìm kiếm thủ lĩnh sinh viên và đưa sang Mỹ đào tạo. Khi trở về nước, Mỹ tiếp tục hỗ trợ từ đánh bóng tên tuổi cá nhân, đến cổ vũ biểu tình và biến họ thành thủ lĩnh các phong trào sinh viên chống lại Nhà nước sở tại bất tuân lệnh Mỹ. Sáng kiến thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á là một hoạt động rất mềm, nhưng lại rất nguy hiểm cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nó hoạt động ẩn mình, tinh vi tương tự như các chương trình học bổng VOICE do đối tượng Trịnh Hội cầm đầu -một tổ chức phản động, cánh tay nối dài của tổ chức khủng bố Việt tân. Chúng ta đã chứng kiến, các cuộc biểu tình căng thẳng, bạo lực leo thang đáng báo động ở Hồng Kông, Indonesia, Thái Lan, những năm vừa qua và Myanmar trong những ngày gần đây sẽ thấy rõ, hầu như đều có một vài thủ lĩnh trẻ hoặc nhóm thủ lĩnh trẻ đứng lên tập hợp giới trẻ chống đối chính quyền. Các cuộc biểu tình kéo dài liên tiếp đến 7 tháng trong năm 2020 đã làm rung chuyển Hồng Kông nguyên nhân sâu xa liên quan đến vấn đề chính trị phản đối Trung Quốc, yêu cầu nước này trả Hồng Kông về cho nước Anh. Điều đáng nói là những nhân vật đứng đầu cuộc biểu tình đều theo học các chương trình tài trợ học bổng của Mỹ, như học bổng Yseali của Thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á. Điển hình như Josua Wong (Hoàng Chi Phong), Agnes Chow (Chu Đình), Andy Chan (Trần Hạo Thiên), Alex Chow (Chu Vĩnh Khang), Nathan Law (La Quán Thông) hay ở Indonesia: Fuad Wahyudin, Shahrul Aman Shaari. Ở Thái Lan, tháng 10/2020, cũng xảy ra các cuộc biểu tình chống chính phủ do 1 nhóm có tên "Free Youth" khởi xướng nhóm này đã tập hợp hơn 200.000 người tham gia và làm rúng động cả đất nước Thái Lan. Đầu năm 2021, tại Myanmar xảy ra biểu tình lớn, người lãnh đạo các cuộc biểu tình này cũng là một nhân vật đã từng theo nhóm sáng kiến trẻ Đông Nam Á, có tên là Myo Aye. Rốt cuộc, những thủ lĩnh này sau đó đã bị chính quyền bắt giữ và bị xử lý trước pháp luật. Ở Việt Nam, ít nhất 03 sinh viên từng tham gia khóa học YSEALI có các hoạt động “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”, Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đã bị xử lý theo quy định của pháp luật. Trong đó Trần Hoàng Phúc là cái tên tiêu biểu. Ngày 03/7/2017, Cơ quan ANĐT CA TP Hà Nội ra thông báo bắt bị can tạm giam đối với Trần Hoàng Phúc về hành vi Tàng trữ, làm, đăng tải các video có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên mạng Internet, phạm vào Điều 88 - Bộ luật Hình sự... Hiện YSEALI được Bộ Ngoại giao Mỹ triển khai rất mạnh ở Đông Nam Á với sự tham gia hỗ trợ của Malaysia. Với gần 6 năm hoạt động, đến nay đã có gần 400 thành niên, sinh viên đang theo học bậc Cao đẳng trở lên tại các nước trong khu vực Đông Á (Nhật, Hàn, Hong Kong, Đài Loan, Ma Cao, Trung Quốc) và Đông Nam Á (Brunei, Myanmar, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Timor-Leste, Việt Nam) được nhận Học bổng này. Đến nay, học bổng này tổ chức được ít nhất 3 khóa học, tuy nhiên chưa có bất kỳ quốc gia nào ghi nhận được việc các sinh viên theo học khóa học YSEALI đã có đóng góp tích cực cho xã hội, cộng đồng. Ngược lại, họ chỉ đóng góp cho các cuộc biểu tình, bạo loạn, một mặt chống chính quyền, gây bất ổn an ninh chính trị quốc gia, thậm chí là lật đổ một chính quyền hợp pháp. Mặt khác, phá hoại các công trình kinh tế, kiến trúc văn hóa, đẩy một bộ phận trẻ mất cơ hội tiến thân hoặc bị cầm tù, hoặc bị lưu vong... Ví dụ điển hình nhất là Nhóm phản loạn tại Hồng Kông do Hoàng Chí Phong cầm đầu đã bị Tòa án Hồng Kông đã lần lượt đưa ra xét xử với mức án: Hoàng Chi Phong, Chu Đình, Lâm Lãng Ngạn. Hoàng Chi Phong bị tuyên 13,5 tháng tù, Chu Đình 10 tháng và Lâm Lãng Ngạn 7 tháng. Qua đây có thể thấy ý đồ trong diễn biến hòa bình trên lĩnh vực giáo dục của Mỹ tại Việt Nam rất rõ, và đã có những mầm mống được Mỹ gây dựng sẵn để thực hiện các ý đồ chính trị của Mỹ đối với Việt Nam. Lần này, YSEALI tập trung vào các chủ đề quan trọng mà thanh niên trong khu vực quan tâm như: Tinh thần tích cực của công dân, môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên, khởi nghiệp và phát triển kinh tế... nhưng khi ra trường họ lại trở thành những nhân vật đi đầu trong chống phá Nhà nước. Đã gần đến ngày quyết định của cha mẹ và lựa chọn của những chàng trai, cô gái trưởng thành tốt nghiệp THPT cho một tương lai tươi sáng, các bạn cần thận trọng và hết sức cảnh giác. Chọn nhầm vào cái gọi là "Học bổng YSEALI" chắc chắn coi như xong, ra trường chúng lại tạo ra cho gia đình, đất nước không khác gì một Hoàng Chí Phong ở Hồng Kông hay một Myo Aye ở Myanmar là điều không tránh khỏi./.