Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ ỨNG XỬ NHÂN NGHĨA CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM!

         Đây là những giá trị tư tưởng, tình cảm còn lưu lại qua các triết lý, lối sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam trong quan hệ, ứng xử luôn coi trọng “tình sâu, nghĩa nặng”, “vì tình vì nghĩa không vì đĩa xôi đầy”. Con người gắn bó, ràng buộc với nhau trước hết không phải bằng lễ giáo thánh hiền răn dạy mà bằng tình người. Trong gia đình, lối sống được coi trọng theo tinh thần nhân văn. Đó là ứng xử trong mối quan hệ con cái - bố mẹ là “công cha, nghĩa mẹ”, trong quan hệ vợ - chồng là “đầu gối, tay ấp”, trong tình anh - em “như thể tay chân”, “máu chảy, ruột mềm”, trong tình xóm giềng là “tắt lửa, tối đèn có nhau”, tình đồng bào “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, “thương người như thể thương thân”… Ở cấp độ quốc gia, tư tưởng nhân nghĩa là một giá trị cao đẹp, trở thành lối ứng xử, niềm tự hào của dân tộc. Trong lịch sử, Trần Hưng Đạo chủ trương “nới sức dân để làm kế gốc sâu, rễ chặt”, Lê Lợi khuyên bảo triều thần và dặn dò con cái “khoan dân”, Nguyễn Trãi dạy lấy “nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm cành” và “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, hay “làm lật thuyền mới biết dân như nước”…

Truyền thống ứng xử đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc là một giá trị cao đẹp, là niềm tự hào của nhiều thế hệ. Đó là giá trị ra đời từ chính cuộc sống thích ứng với thiên nhiên, đấu tranh với các thế lực ngoại xâm để sinh tồn và phát triển. Đó là những giá trị được ra đời từ chính nhận thức, tâm lý, tình cảm, tâm hồn cao đẹp, từ sự lựa chọn, tạo dựng một nguyên lý trong ứng xử từ nhận thức, kinh nghiệm đến tình cảm giao tiếp của con người với con người với những cấp độ, thiết chế xã hội khác nhau từ gia đình - dòng họ - làng xã, thôn bản - quốc gia. Các giá trị đó được bồi đắp, hoàn thiện từ trong dòng chảy của lịch sử dân tộc và đã tạo nên một giá trị mang đặc trưng, truyền thống lịch sử đoàn kết, nhân nghĩa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam./.

Yêu nước ST.

Nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2022

Năm 2022, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục đẩy mạnh triển khai Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thức XIII của Đảng. Đối với công tác tuyên truyền biển, đảo sẽ tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức và đồng thuận của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về những định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; thực hiện tốt các chủ trương, quan điểm về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Nghị quyết số 36-NQ-TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Năm 2022 là năm có nhiều dấu mốc quan trọng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta; là năm đánh dấu 40 năm Công ước về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) ra đời, đóng vai trò là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động sử dụng và hợp tác về biển ở cấp độ quốc gia, khu vực và thế giới. Đây cũng là năm kỷ niệm 10 năm Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật Biển năm 2012, văn bản Luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng UNCLOS 1982. Chính vì vậy, trong năm nay, hoạt động tuyên truyên biển, đảo cần tập trung cao điểm vào những dịp kỷ niệm quan trọng nói trên. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền cần nêu bật quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo. Khẳng định quan điểm của đảng ta là “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường ổn định để phát triển đất nước”; khẳng định tầm quan trọng của duy trì hòa bình, an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước của mọi người dân, tạo sức mạnh nội sinh, động lực bảo vệ và phát triển quê hương, đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Song song với đó là chủ động đấu tranh có hiệu quả với hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị âm mưu lợi dụng các vấn đề liên quan đến biển, đảo Việt Nam để hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc và các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Kon Tum là một tỉnh miền núi, tuy nhiên không vì thế mà có sự lơ là, xem nhẹ công tác tuyên truyền biển, đảo. Mỗi cấp ủy, chính quyền và từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tuyên giáo, cán bộ làm công tác tuyên truyền cần nâng cao trách nhiệm, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo, định hướng tuyên truyền một cách chủ động, tích cực, thường xuyên, liên tục. Công tác tuyên truyền phải làm sao cho mọi người dân, kể cả đồng bào DTTS ở vùng xâu, vùng xa hiểu được vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo và một lòng hướng về biển, đảo; hiểu rằng mỗi người đều có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ biển, đảo - bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Tiếp nối kết quả việc thực hiện chương trình phối hợp giữa Tỉnh ủy Kon Tum và Quân chủng Hải quân của các năm trước, trong năm nay, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Quân cảng Sài Gòn sẽ tiếp tục phối hợp tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền biển, đảo kết hợp hoạt động dân vận, đền ơn đáp nghĩa trên địa bàn tỉnh. Để thực hiện tốt chương trình phối hợp giữa Tỉnh ủy Kon Tum và Quân chủng Hải quân và đưa những nội dung tuyên truyền chính xác đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, các ngành, địa phương, đơn vị cần tích cực thông tin, tuyên truyền truyền kết quả công tác phối hợp tổ chức tuyên truyền biển, đảo và hoạt động dân vận, đền ơn đáp nghĩa của Quân cảng Sài Gòn trên địa bàn tỉnh; về các chính sách hậu phương quân đội; khẳng định tình cảm gắn bó giữa nhân dân với cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam; mang hình ảnh về cán bộ, chiến sĩ Hải quân đến với đông đảo người dân. Tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diến biến phức tạp, làm ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có công tác tuyên truyền, biển đảo. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ của công tác tuyên truyền biển, đảo, phương thức và hình thức tuyên truyền cần có sự đổi mới, cấp ủy các cấp cần tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa việc sử dụng các phương tiện truyền thông mới. Trong đó, khai thác hiệu quả các mặt tích cực từ hình thức trực tuyến, mạng xã hội. Các ngành, địa phương cũng cần tiếp tục phát huy thế mạnh của hình thức tuyên truyền trực quan, sinh động qua các ấn phẩm tuyên truyền, tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài biển, đảo; tích cực tổ chức, hưởng ứng các phong trào, hoạt động hướng về biển, đảo quê hương.

TIẾNG NÓI CỦA DÂN TỘC

 Ở Việt Nam ta, từ xa xưa yêu cầu bảo vệ tiếng nói dân tộc đã được đặt ra như một nội dung quan trọng. Vua Trần Duệ Tông xuống chiếu cho quân dân không được bắt chước tiếng nói dân tộc khác. Nguyễn Trãi nhấn mạnh người nước ta không được bắt chước ngôn ngữ để làm loạn ngôn ngữ nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê phán căn bệnh nói chữ: “Của mình có mà không dùng lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”.

Tiếng nói dân tộc chính là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập dân tộc, từ yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng dân tộc khỏi áp bức, giữ vững được tiếng nói là nắm vững chìa khóa giải thoát gông xiềng, nô lệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.
Trong các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cùng với chủ trương đường lối lãnh đạo đúng đắn, thời cơ và những điều kiện vật chất khác thì ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa, tình yêu tiếng nói dân tộc sẽ tạo ra một sức mạnh tổng hợp về tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng để đấu tranh bảo vệ dân tộc. Vứt bỏ tiếng nói dân tộc, khước từ tiếng nói dân tộc là từ chối bản sắc văn hóa của dân tộc. Một dân tộc thực sự độc lập không chỉ tự do về mặt chủ quyền, lãnh thổ mà hơn hết là giữ vững được bản sắc văn hóa riêng. Văn hóa lại kết tinh trong ngôn ngữ dân tộc. Một khi ngôn ngữ đã bị đồng hóa, bị lai căng mất đi tinh hoa dân tộc thì việc tự đánh mất mình, trở thành kẻ phụ thuộc “ăn nhờ ở đợ" sẽ là điều tất yếu..
Và tôi có nhớ ai đó đã từng nói như này: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”
Tình yêu tiếng Việt của người Việt, của dân tộc Việt là một minh chứng hùng hồn cho chân lý sáng ngời đó. Tiếng Việt của chúng ta có một lịch sử lâu đời. Lịch sử tiếng Việt là lịch sử của đời sống tư tưởng, tâm hồn, tình cảm người Việt, là lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước kiên cường, bất khuất.
Hiểu rõ được điều đó, mỗi người chúng ta phải nhận thức rõ tình yêu đối với tiếng mẹ đẻ. Tình yêu đó không chấp nhận sự pha tạp, lai căng, lạm dụng tiếng nước ngoài, không chấp nhận những cách nói thiếu văn hoá, thiếu lịch sự trong giao tiếp..!
TRÊN THẾ GIỚI CÓ CHỈ CÓ HAI DÂN TỘC BỊ ĐÔ HỘ HƠN 1000 NĂM MÀ VẪN KHÔNG BỊ MẤT ĐI TIẾNG NÓI DÂN TỘC MÌNH LÀ VIỆT NAM VÀ DO THÁI

KHÔNG THỂ ĐÒI LẠI HOÀNG SA BẰNG CÁCH BIỂU TÌNH HAY GÂY CHIẾN TRANH!

         Ngày 20/1/1974, sau 4 ngày tấn công, Trung Quốc đã chiếm toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa. Binh sĩ VNCH thua chạy thoát thân, Thiệu cho phi đội F5 dự định tái chiếm nhưng ông ta buộc phải dừng lại vì người Mỹ ra lệnh "không được tái chiếm Hoàng Sa". Đó là lời của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Nguyễn Thành Trung, thời điểm đó ông Trung đang thuộc biên chế của Không lực VNCH. Là người Việt Nam sẽ không ai dám quên nỗi đau mất Hoàng Sa năm 1974. Trường Sa, Hoàng Sa muôn đời là của Việt Nam. Chúng ta có đầy đủ các bằng chứng lịch sử về việc xác lập chủ quyền. Thế nhưng, đây là vấn đề gay go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì bằng biện pháp hoà bình để đòi lại Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa bị Trung Quốc chiếm năm 1988; việc biểu tình hay kích động chiến tranh không phải là bước đi khôn ngoan của kẻ cơ trí. Trung Quốc là một nước lớn và mạnh, nếu dùng vũ lực để đòi lại thì chắc chắn chúng ta sẽ thiệt hơn họ rất nhiều. 

 Với những ai am tường về lịch sử của dân tộc có thể nhận thấy một điều rằng cha ông ta đã rất khôn khéo trong việc chung sống hòa bình với người Trung Quốc - người làng giềng phương Bắc khổng lồ! Chung sống hòa bình vì bách tính của Đại Việt chứ không phải là lệ thuộc Bắc phương. Vua Lê, Chúa Trịnh đã rất khéo léo trong mối quan hệ với Trung Quốc và sau đó nhà Thanh đã phải trả lại 120 dặm đất Vị Xuyên cho chúng ta. Nói thế không có nghĩa là chúng ta đòi thì họ sẽ ngay lập tức trả, cái quan trọng nhất trước mắt là giữ vững chủ quyền, không để họ lấn chiếm thêm và hy vọng vào sự quật khởi của các thế hệ tiếp theo. Ta không bao giờ công nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc, làm đủ mọi cách để lấy lại hay chí ít cũng để cho thế giới biết rõ là họ đã xâm chiếm biển đảo của tổ quốc ta.

Lịch sử dân tộc ta chưa bao giờ có khái niệm “sợ Trung Quốc”, có nghĩa là một khi họ dấy can qua, mang sức mạnh để uy hiếp, xâm lược thì các Triều đại phong kiến của ta và nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân đứng lên để bảo vệ sơn hà xã tắc; khẳng định với giặc phương bắc chân lý bất diệt “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư”. Triều Tiền Lê và nhà Lý chống Tống; nhà Trần bình quân Mông Cổ, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đánh thắng quân Minh lập nhà Hậu Lê; Vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đập tan 60 vạn quân Trung Quốc tại biên giới phía Bắc năm 1979. Đó là những trận chiến long trời lở đất của quân và dân ta qua các thời kỳ khác nhau, làm cho giặc phương Bắc “chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn” khẳng định rằng “sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”!

Có một điều chắc chắn đó là, đến hàng triệu năm sau thì dân nước Nam ta và Trung Quốc vẫn sẽ là hàng xóm láng giềng, đó là điều bất biến! So về thế và lực thì chúng ta phải thừa nhận rằng họ mạnh hơn ta trên hầu hết các lĩnh vực ngoại trừ lòng yêu nước! Vậy nên khi đánh thắng chúng rồi, các bậc tiền nhân cấp ngựa xe, thuyền bè, lương thảo cho chúng về nước, cử sứ thần qua hòa hiếu với chúng. Không phải là chúng ta đớn hèn mà đó là vì tiền nhân lấy đại cục làm trọng nên đem đại nghĩa để đối trọng với hung tàn, lấy chí nhân để loại trừ cường bạo. Mục đích cuối cùng là thái bình cho tổ quốc, vì cuộc sống của bách tính nước Việt! Vì sách động binh đao không phải là hồng phúc cho muôn dân trăm họ!

Ta vẫn đang làm tất cả để đòi lại Hoàng Sa (do ngụy Sài Gòn làm mất năm 1974) bằng luật pháp quốc tế chứ không phải là ở bên bờ Đại Tây Dương kêu gào chống Trung Quốc như những kẻ đã làm mất Hoàng Sa. Sách động nhân tâm chống Trung quốc là chiêu bài nham hiểm của bọn lưu vong khi chúng muốn Việt Nam và Trung Quốc đánh nhau đến lưỡng bại câu thương để chúng “tọa sơn quan hổ đấu”, để chúng thừa nước đục thả câu. Lúc đó chúng là kẻ hưởng lợi trên cảnh điêu linh của đồng bào ta! 

Chiến tranh xảy ra thì ngọc đá đều tan, đó không phải là cái phúc của xã tắc nhưng lại là món lợi ngàn năm có một của các thế lực thù địch và bọn phản động trong và ngoài nước vì đó là thời cơ để chúng hòng “lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền nhân dân”, rước ngoại bang vào nhà để thỏa mãn mưu đồ đã trở thành bản chất của chúng là bán nước cho giặc để được “vinh thân, phì gia”, ấm no cho chúng và gia tộc của chúng chứ chẳng bao giờ chúng nghĩ cho nước cho dân đâu! Trái lại, những kẻ ấy càng lợi dụng phá thêm, thậm chí mong muốn “Trung Cộng đánh thẳng vào Hà Nội giết sạch Việt Cộng” năm 1979. Bọn Fulro và bọn khủng bố tiền thân của “Việt Tân” đã nhân cơ hội chiến tranh đó mà “đục nước béo cò” đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, ma túy, súng đạn vào khủng bố. Những kinh nghiệm từ lịch sử vẫn còn rành rành.

Đến hôm nay, nếu chiến tranh diễn ra thì cả Trung Quốc và Việt Nam đều chịu thiệt hại. Chúng ta sẽ chịu thiệt hại rất lớn về sức người sức của, kinh tế giảm sút mọi mặt, đời sống người dân sẽ bị ảnh hưởng nếu duy trì cuộc chiến lâu dài, chưa biết thắng thua. Chúng ta nên tranh thủ luật pháp quốc tế, sự ủng hộ của thế giới nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo, giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực. Dù vậy, chúng ta vẫn sẵn sàng cầm súng chiến đấu nếu Trung Quốc nổ súng gây chiến tranh, đe dọa quyền lợi quốc gia và sự tồn vong dân tộc; tuy nhiên đó là biện pháp bất đắc dĩ, biện pháp cuối cùng khi không còn sự lựa chọn nào khác. Chúng ta luôn trân trọng hòa bình. Vì thế, ta không hy sinh và dùng chủ quyền đánh đổi hòa bình phụ thuộc. Những năm tháng chống Trung Quốc (1979-1991) đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán trước sau như một, chúng ta vừa đánh để giành chủ quyền vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ thế lực thứ ba nào lợi dụng, khoét sâu, kích động để leo thang cuộc chiến, cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Đó là bài học lịch sử mà mỗi chúng ta cần nắm rõ để đập tan mưu đồ của bọn phản quốc!

Cổ nhân có câu “làm việc lớn không câu nệ tiểu tiết mà lấy đại cục làm trọng”. Những người Cộng sản Việt Nam luôn lo đến cái lợi lớn nhất của đất nước, cái tổng thể chung, lâu dài, bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái, không để bị kích động nhất thời mà làm hỏng chuyện lớn. Còn những kẻ chống đối, cơ hội chính trị, từng theo chân giặc vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá, nâng quan điểm về những cái gọi là “đại họa mất nước”, “Cộng sản bán nước cho giặc”, “Cộng sản đang bị Hán hóa”, “Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc”; "đóng của biên giới với Trung Quốc"; có một điều chắc chắn là nếu nước ta chuyển sang chống Trung Quốc như trong giai đoạn 1979-1992 thì chẳng bao giờ chúng theo ta chống Trung Quốc đâu. Những người vì nhẹ dạ cả tin mà theo chúng, hãy tỉnh ngộ đi! Chúng ta đoàn kết, thống nhất để lật bản mặt xấu xa và đê hèn của các tổ chức phản động lưu vong ở nước người và lũ phản phúc đang làm tay sai cho chúng ở trong nước./.
Yêu nước ST.

VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH Ở NGỌC HỒI - ĐỐNG ĐA, ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!

         Vua Càn Long nhà Thanh vốn tự cho mình là đế vương tài ba nhất, tự huyễn hoặc bản thân mình về cái gọi là "thập đại võ công", cổ kim không ai sánh bằng. Càn Long tự hào về việc mang quân chinh phạt các quốc gia nhỏ bé ở phía bắc, phía tây. Gặp lúc Lê Chiêu Thống sang cầu cứu, Càn Long đế sai Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân sang xâm lược nước ta. Người Mãn Thanh luôn tự đại và kiêu ngạo. Lúc quân Thanh vừa sang, Ngô Thì Nhậm đã cho quân đội lùi vào phòng thủ ở tuyến Tam Điệp - Biện Sơn. Đây là diệu kế của Ngô Thì Nhậm. Một mặt làm cho giặc chủ quan, khinh thường chúng ta, mặt khác cấp báo về Phú Xuân và đợi hợp binh cùng quân Tây Sơn từ Nam ra.

Nghe tin cấp báo, từ Phú Xuân, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập đàn tế lễ lên ngôi vua, lấy niên hiệu Quang Trung để có thể hiệu triệu muôn dân cùng đồng lòng tiến quân ra Bắc diệt giặc ngoại xâm. Trong chiếu lên ngôi vua có đoạn:

"Nước Việt ta từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần gầy dựng cho đến ngày nay, thánh minh dấy lên không phải là một họ, nhưng thịnh suy, dài ngắn, vận mệnh do trời, không phải sức người tạo ra được. Trước đây Nhà Lê mất triều chính, họ Trịnh và cựu Nguyễn chia bờ cõi. Hơn hai trăm năm nay, kỷ cương rối loạn, vua Lê chỉ là hư vị, cường thần tự ý vun trồng, giềng mối của trời đất một phen rơi xuống không nâng lên được, chưa có lúc nào hư hỏng quá như lúc này vậy. Vả lại mấy năm gần dây, Nam Bắc gây việc binh đao, người dân rơi vào chốn bùn than. Trẫm hai lần gây dựng họ Lê, thế mà tự quân họ Lê không biết giữ xã tắc, bỏ nước đi bôn vong, sĩ dân Bắc Hà không hướng về họ Lê, chỉ trông mong vào trẫm"...

Chiêu mộ binh sĩ, tích trữ quân lương, cắt đặt các đạo binh, vua Quang Trung xuống lịnh tiến quân thần tốc ra Bắc. Đêm 30 Tết từ Tam Điệp, sau khi đã cho quân lính ăn Tết sớm, vua Quang Trung truyền lịnh tấn công và hẹn cùng ba quân sẽ ca khúc khải hoàn tại Thăng Long thành vào mồng Bảy Tết. Hịch của vua Quang Trung vang vọng núi sông "Đánh cho chúng chích luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn, đánh cho để sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ".

Đại binh Tây Sơn chỉ có quân số khoảng 10 vạn quân, ít hơn quân Thanh và quân của Lê Chiêu Thống khoảng 3 lần nhưng lần lượt giành những chiến thắng liệt oanh, từ trận diệt đồn Gián Khẩu, Hà Hồi, Ngọc Hồi cho đến Khương Thượng, tức chiến thắng Đống Đa, buộc tướng Sầm Nghi Đống của quân Thanh phải treo cổ tự vẫn vì thất thủ. Đến Mồng Năm Tết, vua Quang Trung đã vào đến thành Thăng Long, sớm hơn dự định cả hai ngày. Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân phải cuống cuồng, hỗn loạn, cởi bỏ cả ấn tín, tháo chạy về phương Bắc. 

Vua quan nhà Lê cũng tìm đường bôn tẩu, chạy theo về Tàu. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa ghi thêm vào trang sử Việt về ý chí chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi của những bậc tiền nhân. Voi và hoả khí của Tây Sơn làm cho ngựa chiến và binh lính nhà Thanh khiếp vía, kinh hồn. Nhà thơ nổi tiếng đương thời là Ngô Ngọc Du đã khắc họa khung cảnh tưng bừng, náo nhiệt của Nhân dân kinh thành Thăng Long khi quân Tây Sơn toàn thắng: 
 
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa
Chen vai thích cánh cùng nhau nói:
Cố đô vẫn thuộc núi sông ta.

Vua Quang Trung không may mất sớm khi sự nghiệp thống nhất sơn hà còn dở dang. Vua Cảnh Thịnh kế vị còn nhỏ tuổi, lại chỉ tin dùng cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Những kẻ sĩ như Ngô Thì Nhậm, vị quân sư đại tài mà sinh thời Vua Quang Trung rất trọng dụng...lại không được Cảnh Thịnh tin dùng. Các tướng lĩnh của nhà Tây Sơn bất hoà quay ra đánh giết hoặc không ứng cứu lẫn nhau khi lâm trận. Đó là nguồn cơn dẫn đến việc nhà Tây Sơn mất nước vào tay Nguyễn Ánh, kẻ cỏng rắn cắn gà nhà

Vua Quang Trung là nhà chính trị, quân sự đại tài, cổ kim xưa nay hiếm; anh hùng dân tộc ta, người đã đánh cho quân Thanh phải "chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn; đánh cho sử tri Nam quốc Anh hùng chi hữu chủ" bằng chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm Kỷ Dậu 1789. Đánh cho quân Xiêm La biết thế nào là uy vũ của cọp Tây Sơn, tiêu diệt chúng ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785.

Kỷ niệm 233 năm ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, nhân dân ta tưởng nhớ đến Vua Quang Trung với lòng thành kính, tri ân, cảm phục và xen lẫn tiếc nuối về một tài năng tuyệt thế, tiếc vì mặt trời không may phải "lặn giữa lúc sáng chói nhất". Nếu ông sống thêm khoảng 10 năm thì có thể lịch sử nước ta bước sang một trang khải hoàn. Xin mượn mấy câu thơ của tướng Võ Văn Dũng, một trong những Tây Sơn thất hùng, viếng vua Quang Trung năm nào để tưởng nhớ đến người Anh hùng của dân tộc ta và cũng để kết thúc bài viết:

"Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng"./.
Yêu nước ST.

MỸ, ANH ĐANG DÙNG KẾ LY GIÁN!

         Sau khi Mỹ và đồng minh cấm vận Nga, người Nga cũng rất khó khăn với các lệnh "trừng phạt" về kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực năng lượng. Thế nhưng, cả Hoa Kỳ và Tây Âu cũng thấm đòn bởi chính lệnh mà họ ban ra. Tuần trước Mỹ đã phải xuống nước khi cử phái đoàn sang Venezuela để tìm nguồn cung cấp dầu trong bối cảnh giá xăng dầu liên tiếp tăng cao, do thiếu nguồn cung từ Nga. Hôm qua đến lượt Vương quốc Anh đã cử người sang Iran để thương thảo. Anh chấp nhận trả lại số tiền 400 triệu USD mà Iran đã chuyển cho họ để mua xe tăng, nhưng Anh nhận tiền mà không giao hàng. Lý do là theo đuôi Mỹ để trừng phạt Iran. Rõ mặt dày!

     Với trường hợp của Thổ Nhĩ Kỹ, người Thổ cũng đã hiểu rõ bản chất của Hoa Kỳ và đồng minh. Tình báo Thổ đã phá được mưu ám sát Tổng thống nước này - Ông Recep Tayyip Erdogan trong đêm diễn ra cuộc đảo chính bất thành 15/7/2016. Recep Tayyip Erdogan hiểu rõ ai là bạn, ai là thù. Lúc nguy cấp chính Putin và người Nga đã phối hợp với họ để phơi bày bản chất thật của người Mỹ. Thổ cũng chẳng tha thiết gì về cái gọi là "vì hoà bình quốc tế". Chẳng đời nào Recep Tayyip Erdogan ngây thơ để rước hoạ vào thân. Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên NATO nhưng bây giờ họ sống theo cách "gió chiều nào theo chiều đó" chứ không theo Mỹ.

     Mỹ, Anh một mặt nối lại quan hệ với Venezuela, Iran nhằm nỗ lực tìm kiếm giải pháp thay thế nguồn cung xăng dầu từ Nga. Nhưng quan trọng hơn là họ muốn nhân cơ hội này để chia rẽ Nga và các đồng minh thân cận của họ như Venezuela, Iran... Mỹ, Anh muốn nhất tiễn hạ song điêu, vừa cung cấp vũ khí, lương thực, trang thiết bị quân sự để Ukraine kéo dài cuộc chiến với Nga, làm Nga suy yếu để họ dễ bề khống chế và nâng cao tầm ảnh hưởng ở Trung Đông, Nam Mỹ. Một mặt cố ly gián Nga và đồng minh của họ. Chiêu bài hết sức thâm sâu nhưng cả Nga, Venezuela, Iran...đã thừa hiểu bản chất của con ngáo ộp sen đầm quốc tế để không dính đòn.

     Mỹ và NATO luôn xem Iran, Venezuela là cái gai trong mắt, họ cấm vận kinh tế và có chính sách thù địch. Thế nhưng khi Nga và Ukraine bước vào cuộc chiến thì ngay lập tức họ quay lại ve vãn các nước mà họ luôn xem là kẻ thù. Rất đơn giản vì lúc này cái mà Mỹ và NATO cần đó chính là tập trung cô lập Nga và Nga rõ ràng mạnh hơn Venezuela, Iran. Có nhiều cái gai trong mắt, tập trung nhổ cái gai lớn trước. Người Mỹ lâu nay đã dần đánh mất lợi thế ông chủ của thế giới đơn cực. Trục Nga, Trung, Iran, Venezuela, Syria...thách thức và có xu hướng triệt tiêu chủ nghĩa đế quốc đơn cực. Ukraine chỉ là con tốt trên bàn cờ. Cuộc chơi của các nước lớn giờ mới bắt đầu. Đây không đơn thuần là cuộc chiến giữa Ukraine và Nga mà là cuộc chiến vì lợi ích của các nước lớn. Cuộc chiến giữa một bên là Mỹ và NATO, chư hầu hòng duy trì trật tự đơn cực theo quỹ đạo của Hoa Kỳ, một bên là Nga và đồng minh. Hy vọng các đồng minh của Nga không trúng kế ly gián./.

Môi Trường ST.

LÊN LỚP VỀ CHUYỆN NHÂN QUYỀN Ư? XIN LỖI, HOA KỲ KHÔNG ĐỦ TƯ CÁCH!

         Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn. Vậy nên dù là cựu thù nhưng ngày nay quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng trở nên tốt đẹp. Việt Nam, Mỹ ngày càng hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực. Đó là điều hết sức vui mừng. Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, vì hoà bình và phát triển, vì lợi ích của hai nước. Việt Nam chào đón ông Derek Chollet đến Việt Nam. Thế nhưng nếu Ông vẫn cứ giữ thói quen mà những người tiền nhiệm hay làm, đó là kêu gọi về nhân quyền Việt Nam thì tốt nhất là đừng nên làm. Việc này ảnh hưởng đến mối quan hệ hai nước và vì Hoa Kỳ không đủ tư cách để nói chuyện nhân quyền với Việt Nam. 

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ các ông đã được long trọng công bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ. Bản Tuyên ngôn nêu rõ: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ. Trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Nghĩa là trong những quyền cơ bản của con người thì quyền được sống là quyền tối thượng. Vậy xin hỏi ai đã tàn sát người da đỏ để cướp lãnh thổ của họ? Người da đỏ có vào khoảng 15 triệu khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890 và hiện nay gần như tuyệt chủng. Ai đã mang quân cướp một nữa lãnh thổ và tàn sát người Mexico? Ai đã ném bom nguyên tử hủy diệt Hiroshima và Nagasaky, khiến 220.000 người chết? Ai đã mang cả nửa triệu quân cùng chư hầu xâm lược Việt Nam và tàn sát người vô tội ở Việt Nam?...

Kể từ năm 1946 đến nay, quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tấn công 9 quốc gia (Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Grenada, Afghanistan, Iraq, Nam Tư, Panama, Cuba), các cuộc chiến này gây ra cái chết của 10 tới 15 triệu người. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng gây ra đảo chính hoặc ngầm can dự vào xung đột tại 28 quốc gia khác, gây ra cái chết của 9 tới 14 triệu người. Tổng cộng Hoa Kỳ đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của khoảng 20 đến 30 triệu người trong các cuộc chiến tranh và xung đột rải rác trên khắp thế giới kể từ năm 1946 đến nay.

Cần khẳng định rõ rằng, Việt Nam là đất nước đấu tranh mạnh mẽ nhất trên thế giới này để giành giật quyền con người từng bị cướp đoạt trong tay quân xâm lược, đô hộ. Một đất nước đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giành độc lập, tự do, bảo đảm dân chủ, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự quyết vận mệnh dân tộc. Nước Việt do dân Việt làm chủ, chế độ lấy tổ quốc, nhân dân làm trung tâm để phụng sự. Dân tộc đó phải là dân tộc tự do nhất, dân chủ nhất, dân quyền nhất! 

Vừa qua một số đối tượng như Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Tường Thụy…bị bắt, họ bị bắt để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật. Khởi tố về tội theo Điều 117 Bộ luật hình sự “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam”. Những kẻ đó không phải là thực hiện quyền tự do dân chủ cũng như cổ súy nhân quyền mà bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. Các người cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, bịt các tiếng nói đối lập” là hoàn toàn không có cơ sở, không đúng bản chất sự việc bởi họ bị bắt là vì vi phạm pháp luật chứ không phải vì tiếng nói đối lập hay trung lập gì cả. Vậy cớ gì Hoa Kỳ lại đi tôn vinh những kẻ như Phạm Đoan Trang?

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy. Vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việt Nam không như Hoa Kỳ hay một số nước Tây Âu, mồm thì ra rả dân chủ nhân quyền nhưng thực chất là những kẻ sát nhân tàn bạo nhất, đúng là những kẻ thiếu thứ gì thì hay rao giảng về thứ đó. Bom đạn Mỹ vẫn nổ khắp nơi trên thế giới, máu tươi tanh tưởi vẫn trào ra, ly tán, chia rẽ và khổ đau mà các nước Trung Đông hay Bắc Phi, Nam Mỹ, Châu Á…vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Nhân quyền ở đâu khi mà quyền tối thượng của mỗi con người là quyền được sống vẫn thường xuyên bị các nước lớn uy hiếp, tước bỏ? 

Vi phạm nhân quyền mà làm cho họ từ thân phận nô lệ, tôi đòi mà đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của tổ quốc. Vi phạm nhân quyền mà từ chỗ hơn 2 triệu người chết đói do chính sách bạo tàn của người Pháp và đặc biệt là phát xít Nhật gây ra 1945 mà có ngày hôm nay. Người Việt không hề có quyền con người dưới chế độ thực dân, phong kiến mà trở thành những con người có áo đẹp, cơm ngon với đầy đủ các quyền tự do, dân chủ. Vi phạm nhân quyền mà vào sinh ra tử để cứu dân khỏi nước sôi, lửa bỏng, cứu dân khỏi thiên tại lũ lụt, dịch bệnh. Vi phạm nhân quyền mà chỉ sau 30 năm đổi mới, đất nước từ chỗ nghèo đói nhất thế giới, quy mô nền kinh tế 180/195 quốc gia năm 1991 đã vươn lên thành nền kinh tế thứ 31 thế giới, đứng thứ 3 Đông Nam Á và chính thức cạnh tranh sòng phẳng vị trí thứ hai với Thái Lan sao. Người Mỹ nên nhận thức lại khái niệm về nhân quyền. Nói về nhân quyền thì xin lỗi, Hoa Kỳ không đủ tư cách./.
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Quy trình giải quyết thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thôngQuy trình giải quyết thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thông

 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân. Trong đó, Nghị định quy định rõ quy trình giải quyết thủ tục hành chính.

Theo quy định, tại cấp Bộ, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại bộ, cơ quan ngang bộ tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ.

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tổng cục và tương đương, cục thuộc bộ tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan, đơn vị mình.

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của các cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan, đơn vị mình.

Tại cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ, ngành, của UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tiếp nhận thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan mình, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ, ngành, của UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

Tại cấp huyện, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện thực hiện tiếp nhận hồ sơ tất cả thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp huyện, một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã được giao tiếp nhận tại cấp huyện.

Tại cấp xã, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp xã tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã và những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện được giao tiếp nhận hồ sơ tại cấp xã.

Cách thức giải quyết

Tổ chức, cá nhân có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua các cách thức theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục hành chính gồm: 1- Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; 2- Thông qua dịch vụ bưu chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật; 3- Trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh.

Đối với hồ sơ được nhận theo cách thức 1,2 ở trên thì cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa phải xem xét, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ; quét (scan) và lưu trữ hồ sơ điện tử, cập nhật vào cơ sở dữ liệu của Hệ thống thông tin một cửa điện tử của bộ, ngành, địa phương. Nếu hồ sơ đầy đủ, chính xác theo quy định, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ và lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn ngày trả kết quả.

Đối với hồ sơ được nộp trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa phải xem xét, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ. Nếu hồ sơ của tổ chức, cá nhân đầy đủ, hợp lệ thì cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ phận Một cửa tiếp nhận và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy trình quy định tại Điều 18 Nghị định này.

Mỗi hồ sơ thủ tục hành chính sau khi được tiếp nhận sẽ được cấp một Mã số hồ sơ được ghi trong Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả. Tổ chức, cá nhân sử dụng Mã số hồ sơ để tra cứu tình trạng giải quyết thủ tục hành chính tại Cổng Dịch vụ công Quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh.

Ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính theo quy định trên, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền phân công cán bộ, công chức, viên chức xử lý xem xét, thẩm định hồ sơ, trình phê duyệt kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Lợi dụng diễn biến hai vụ án “nóng” để xuyên tạc, bôi nhọ thể chế

 

Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm.

Cụ thể, ngày 29/3, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC.

Trước đó, ngày 24/3, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, đồng thời khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, SN 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam, về hành vi nêu trên.

Đây là hai cá nhân nổi tiếng trước hết đến từ sự giàu có và các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Với bị can Trịnh Văn Quyết, ngoài danh tiếng Tập đoàn FLC mà ông với vai trò Chủ tịch HĐQT thì khối tài sản đồ sộ của cá nhân thuộc top đầu cả nước, trong đó đỉnh điểm năm 2016, thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra sự kiện hoán đổi vị trí người giàu nhất Việt Nam và ông Trịnh Văn Quyết vươn lên dẫn đầu (thời điểm đó, khối tài sản của ông Quyết vào khoảng 34.000 tỉ đồng đến từ 289,6 triệu cổ phiếu ROS (tương đương 67,34% cổ phần FLC Faros) và 114,2 triệu cổ phiếu FLC (tương đương 17,9% cổ phần), chưa kể khối tài sản động sản, bất động sản ở các vùng miền.

Với bà Nguyễn Phương Hằng, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc điều hành CTCP Đại Nam cũng sở hữu khối tài sản rất lớn và bà từng tiết lộ qua livestream: “Nếu nói về tài sản thì 500, 700 triệu đô đến 1 tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương của tôi lên đến hàng ký… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân ký”…

Sau khi hai cá nhân trên bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá đã đặt ra những câu hỏi nhằm đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn của các đối tượng là:

Thứ nhất, xuyên tạc việc khởi tố, điều tra các bị can trên là “nhắm vào giới doanh nhân, giới siêu giàu”. Trang Việt Tân rêu rao “Chiến dịch đánh tư sản bắt đầu”, từ đó suy diễn: “Nhiều tỷ phú lần lượt bị bắt giam, một số khác đang được dự đoán sẽ xộ khám trong thời gian tới. Trong bối cảnh kinh tế đất nước đang lâm vào cảnh khánh kiệt, nhiều đồn đoán về chiến dịch đánh tư sản tại Việt Nam”!

Nguy hiểm hơn, bài viết bịa ra chuyện Nhà nước “khánh kiệt” tài sản sau đại dịch COVID-19, nói rằng trong 3 năm tới phải trả 1,2 triệu tỷ nợ công nên “đó là lý do giới nhà giàu lên thớt”! Từ việc đưa ra những lời lẽ trên, bài viết nhắm vào việc thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước, cho rằng đang có chủ trương “đánh” vào doanh nhân, tập đoàn, công ty tư nhân để “răn đe” và “cướp vốn”. Đây là kiểu xuyên tạc nguy hiểm, cố tình đánh tráo bản chất vụ án, hướng lái sang vấn đề chính trị, từ đó kích động chống phá.

Thứ hai, các đối tượng bịa ra chuyện “đang có đấu đá quyền lực”, cho rằng những cá nhân bị khởi tố là các quân bài bị đưa ra mổ xẻ. Trong một bài viết có tên “Những con mồi của Đảng không thể bỏ qua” đăng trên trang Việt Tân, người viết đã tráo trở biến việc khởi tố các bị can thành “hai đại gia về bất động sản Nguyễn Phương Hằng và Trịnh Văn Quyết đã trở thành miếng mồi ngon của những thế lực đang đấu đá với nhau”, từ đó miệt thị “sống dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay, những đại gia, tài phiệt hoặc người giàu có tài sản đều là những người nằm trong tầm ngắm của các lãnh đạo Đảng Cộng sản, cho dù họ làm ăn chân chính cũng không thoát khỏi”! Một số bình luận cũng cổ suý cho luận điệu này, quy kết việc khởi tố, bắt tạm giam các bị can là “có ý đồ chính trị” để hướng lái, xuyên tạc vụ án hình sự sang “nghi vấn đấu đá nội bộ”.

Thứ ba, các đối tượng tiếp tục chỉ trích tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, từ đó xuyên tạc rằng việc khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng là tuỳ tiện, bóp nghẹt dân chủ. Một số bài viết xâu chuỗi những vụ án trước đây cùng tội danh này để đưa ra bức tranh xám về tự do, dân chủ ở Việt Nam, cho rằng Điều 331-BLHS “chỉ nhằm phục vụ đảng”, bỏ tù những ai “đảng không thích”.

Thứ tư, từ việc đưa ra những nghi vấn thiếu cơ sở để suy diễn, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ trích Đảng, Nhà nước. Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với bị can Trịnh Văn Quyết về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Theo cơ quan điều tra, ông Quyết bị khởi tố, bắt giam để làm rõ những sai phạm liên quan đến việc bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC trước đó. Cũng liên quan đến vụ bán “chui” cổ phiếu này, ông Quyết đã bị phạt hành chính 1,5 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng bởi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “không báo cáo về giao dịch dự kiến” từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Về vụ việc này, có người đặt câu hỏi: Vì sao UBCKNN đã ra quyết định xử phạt ông Trịnh Văn Quyết 1,5 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng nhưng vẫn bị khởi tố? Từ đó cho rằng, một hành vi vừa xử lý hành chính lại xử lý hình sự là thể hiện sự “lộng quyền”, hình sự hoá vấn đề hành chính. Qua đó, suy diễn vụ án là bị đẩy lên hình sự để phục vụ mục đích, ý đồ khác!

Luận điệu trên có thể khiến những người thiếu hiểu biết bị các đối tượng đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán.

Sau khi vào cuộc xác minh, điều tra, cơ quan chức năng phát hiện trong vụ việc bán chui cổ phiếu ngày 10/1/2022, ông Quyết đã có nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi để tạo cung, cầu giả, đẩy giá cổ phiếu nhằm thu lời bất chính số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Do đó, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã khởi tố về hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

“Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ.

Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng.

Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi nhọ, chỉ trích.

Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác.

Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án./.

Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

  - Những năm qua, công tác thu hồi tài sản tham nhũng đã có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, tỷ lệ tài sản thu hồi được còn thấp hơn nhiều so với tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát cần thu hồi. Bài viết làm rõ những hạn chế, bất cập trong việc phát hiện, xác định và thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

1. Những khó khăn, bất cập trong việc phát hiện, xác định tài sản tham nhũng ở Việt Nam.

Thứ nhất, công tác phát hiện, xác minh tài sản tham nhũng còn hạn chế xuất phát từ những khó khăn trong việc xác định và chứng minh tội danh tham nhũng

Quy định của Bộ luật Hình sự về các tội danh tham nhũng có những điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh, chứng minh hành vi phạm tội và xác định thiệt hại do tội phạm gây ra. Ví dụ Khoản 1, Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có nêu: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” nhưng lại không giải thích cụ thể thế nào là “gây thiệt hại khác”(1).

Trong khi đó, tội phạm tham nhũng được xếp vào nhóm tội phạm có “xu hướng ẩn” cao. Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn; có trình độ học vấn, am hiểu về pháp luật; có nhiều mối quan hệ xã hội có khả năng “che chắn”, “bảo vệ” cho hành vi sai phạm; có sự chuẩn bị “chu đáo” trước khi thực hiện hành vi phạm tội và có nhiều biện pháp để xóa dấu vết, tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, tẩu tán tài sản có được do tham nhũng.

Tội phạm tham nhũng, đặc biệt là những đại án về tham nhũng, thường được tổ chức theo một quy trình khép kín rất tinh vi, có sự cấu kết về lợi ích với nhiều người. Nếu công tác thanh tra, kiểm tra không được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, cán bộ thanh tra hạn chế về nghiệp vụ, chuyên môn thì rất khó phát hiện và buộc tội hành vi tham nhũng. 

Thực tế điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến tham nhũng cho thấy, việc xác định, chứng minh hành vi tham nhũng, từ đó xác định các tài sản liên quan đến tham nhũng không hề đơn giản. Có những vụ việc, các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ căn cứ để xử lý đối tượng với tội danh tham nhũng mà chỉ có thể xử lý về một trong những tội danh như “cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc các tội phạm kinh tế khác. Do đó, việc xác định cũng như thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án như vậy hầu như không thể thực hiện được(2).

Thứ hai, ngay cả khi đã xác định được hành vi tham nhũng, việc xác định đâu là tài sản có được do tham nhũng cũng gặp nhiều trở ngại

Pháp luật hình sự hiện hành chưa quy định bị can, bị cáo phải tự chứng minh nguồn gốc tài sản là hợp pháp hay bất hợp pháp. Trách nhiệm đó vẫn thuộc về cơ quan điều tra. Do đó, trong trường hợp cơ quan điều tra không chứng minh được đó là tài sản bất hợp pháp thì cũng không có căn cứ để quy kết đây là tài sản có được do tham nhũng.

Bên cạnh đó, pháp luật nước ta còn khoảng trống lớn về quản lý, đăng ký tài sản và xử lý tài sản không rõ nguồn gốc, khiến khả năng bóc tách và truy thu tài sản bất minh liên quan đến tham nhũng rất khó khăn. Chúng ta chỉ mới có quy định về kiểm soát tài sản cá nhân cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị mà thiếu vắng các quy định pháp luật về quản lý, kiểm soát tài sản đối với các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Nếu các đối tượng có thủ đoạn che giấu tài sản có được do tham nhũng ở ngoài xã hội thông qua việc nhờ người khác đứng tên tài sản như xe ô tô, nhà đất, cổ phiếu, thậm chí dịch chuyển tài sản ra nước ngoài… thì chúng ta khó có thể xác định đâu là tài sản tham nhũng và về mặt pháp lý cũng không thể đụng đến những tài sản này(3)

Việc kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cũng chưa thực sự chặt chẽ. Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định tương đối cụ thể, rõ ràng về cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, việc thực hiện kê khai tài sản chưa hiệu quả, việc xác minh và kiểm soát khó khăn. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ, cán bộ, công chức chỉ phải kê khai tài sản của bản thân, vợ (hoặc chồng) và con chưa thành niên. Quy định phạm vi kê khai hẹp như vậy đã bỏ qua những đối tượng thân thích khác như con đã thành niên, bố, mẹ, anh chị em ruột… 

Trên thực tế, quá trình điều tra nhiều vụ án tham nhũng cho thấy, tài sản mà người phạm tội có được đã đứng tên của chính bố, mẹ đẻ hoặc con đã thành niên, thậm chí có những trường hợp nhờ cả bạn bè, anh chị em đứng tên như vụ Huỳnh Thị Huyền Như, Giang Kim Đạt, Trịnh Xuân Thanh, Phan Sào Nam… 

Ngoài ra, đối với trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không hợp lý, thiếu trung thực thì Luật mới quy định việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức mà chưa quy định trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự; cũngchưa có điều khoản nào quy định về việc xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc(4).

Nền kinh tế và thói quen sử dụng tiền mặt cũng là nguyên nhân của việc khó kiểm soát tài sản, thu nhập cũng như các giao dịch tiền mặt, là điều kiện cho các tổ chức, cá nhân dễ dàng che giấu nguồn gốc bất minh của tài sản. Các cơ quan có thẩm quyền khó khăn trong việc lần theo dòng tiền, chứng minh mối liên hệ giữa tài sản và hành vi tham nhũng. 

Hơn nữa, việc giải quyết các vụ án trong một số lĩnh vực đặc thù như xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, mua sắm công… đòi hỏi nhiều kết quả giám định tài sản, cần chuyên gia có trình độ và điều kiện kỹ thuật. Trong khi đó, phương tiện, quy trình, quy chuẩn giám định ở một số lĩnh vực này hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu; do đó rất khó để bóc tách, xác định mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Đặc biệt, hiện nay chúng ta còn có lỗ hổng trong kiểm soát cổng thanh toán quốc tế Paypal, các giao dịch tiền ảo qua hệ thống điện tử… Các cổng thanh toán quốc tế như Paypal, Payoneer, tiền ảo tồn tại dưới dạng mật mã trên máy tính vẫn chưa được cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Như vậy, các giao dịch trên cổng thanh toán quốc tế, giao dịch tiền ảo trên hệ thống điện tử đang không chịu sự quản lý của cơ quan nào(5).

2. Khó khăn, bất cập trong việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam.

Thứ nhất, việc tiến hành giao dịch tiền mặt phổ biến không chỉgây khó khăn cho việc kiểm soát tài sản, thu nhập của cá nhân, tổ chức mà còn gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế, các đối tượng phạm tội dễ dàng thực hiện việc rửa tiền, tẩu tán tài sản, dẫn đến khó khăn trong thu hồi tài sản tham nhũng.

Thứ hai, việc xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn vì có những khoản tiền, tài sản không tách bạch được và những khoản tiền, tài sản có được do tham nhũng nhưng đã được thay đổi, tách biệt khỏi hành vi phạm tội. Vì thế, khi tòa án xét xử, quyết định về mức bồi thường thiệt hại thường thấp hơn nhiều so với tổng số thiệt hại mà các đối tượng phạm tội gây ra. Nhiều vụ án có số lượng tài sản thất thoát rất lớn, nhưng số lượng thu hồi không đáng kể. 

Thứ ba, việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng thường phức tạp, kéo dài. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử mất rất nhiều thời gian, bị cắt khúc do có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau, dẫn tới việc các cơ quan có thẩm quyền không kịp thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu giữ, kê biên tài sản của các đối tượng phạm tội theo đúng quy định pháp luật. Không kịp thời kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố là nguyên nhân dẫn đến nhiều đại án khó thu hồi tài sản phạm pháp.

Thứ tư, quy định của pháp luật về kê biên tài sản còn bất cập. Theo Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại. Việc kê biên tài sản chỉ được áp dụng khi nào đối tượng bị khởi tố bị can hoặc bị đưa đi xét xử, còn trước đó, dù đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kể cả trong thời gian khởi tố vụ án nhưng chưa khởi tố bị can cũng đều được miễn trừ trách nhiệm. Đây chính là kẽ hở của pháp luật, tội phạm lợi dụng để tẩu tán, che giấu, hợp lý hóa tài sản phạm tội mà có. 

Thứ năm, quy định về thủ tục, trình tự thu hồi tài sản tham nhũng chưa cụ thể. Luật Thanh tra đã quy định về việc thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, bị sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật gây nên. Nhưng hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về quy trình, trình tự, thủ tục thu hồi tiền, tài sản. Pháp luật cũng chưa phân định rõ ràng giữa cơ chế thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, bị sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra gây nên theo quy định của pháp luật về thanh tra và cơ chế tịch thu tiền, tài sản theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Điều này đã phần nào giảm hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản qua hoạt động thanh tra.

Thứ sáu, hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng bị tẩu tán ra nước ngoài còn khó khăn, vướng mắc. Việc thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về chế độ chính trị, pháp luật và cơ chế phân công trách nhiệm phòng, chống tội phạm ở mỗi nước. 

Cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế cũng chưa đầy đủ, một số quy định chỉ mang tính nguyên tắc, thiếu các điều khoản cụ thể điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp. 

Việt Nam đã ký 19 hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hình sự, 01 hiệp định khu vực ASEAN và là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), nhưng việc hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ này chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Luật Tương trợ tư pháp của Việt Nam thiếu quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục phối hợp yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp thu hồi tài sản trong tố tụng hình sự, nhất là quy định liên quan đến phong tỏa, kê biên, thu giữ, tịch thu tài sản và xử lý tài sản do phạm tội mà có(6).

Đối với những vụ án có liên quan đến những quốc gia mà Việt Nam chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp thì tình hình còn khó khăn hơn. Chẳng hạn, trong vụ án Dương Chí Dũng, Cơ quan điều tra Bộ Công an đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định số tiền chênh lệch bị thất thoát trong việc mua ụ nổi 83M bởi thời điểm đó Việt Nam và Nga chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp nên việc xác định giá trị ụ nổi mà công ty bên Nga bán cho Vinalines không thực hiện được. Cơ quan điều tra chỉ xác định được giá trị mà công ty môi giới AP ở Xinhgapo bán cho Vinalines vì Việt Nam và Xinhgapo có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp. Lượng tiền thất thoát mà chúng ta không thể chứng minh và thu hồi lên đến con số 6,7 triệu USD(7).  

3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý và kiểm soát tài sản, về xác lập quyền sở hữu tài sản, chuyển quyền sở hữu tài sản; xây dựng cơ chế, chính sách để minh bạch hóa về tài sản, tiến tới xây dựng Luật đăng kí tài sản. 

Thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi kê khai không trung thực và kịp thời điều tra nếu có dấu hiệu tham nhũng. 

Quản lý chặt chẽ việc mở tài khoản ngân hàng, yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn phải kê khai các tài khoản ngân hàng mà họ sử dụng. Trường hợp phát hiện ra việc cho thuê, cho mượn, sử dụng tài khoản ngân hàng của người khác trái phép thì cần có những biện pháp hành chính, thậm chí hình sự để tránh việc các đối tượng phạm tội nhờ tài khoản ngân hàng của người khác để cất giấu tài sản tham nhũng. 

Ngoài ra, cần phải xác định trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức tín dụng cũng như những người đứng tên tài khoản khi để xảy ra trường hợp cho mượn tài khoản, chuyển tiền hộ, giữ tiền hộ, tiếp tay cho hành vi tham nhũng. Kiểm soát chặt chẽ việc công dân Việt Nam mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài và chuyển tiền ra nước ngoài để hạn chế cơ hội tẩu tán tài sản phạm tội sang các ngân hàng ở các quốc gia có tính bảo mật cao. 

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý đất đai, nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu trong các lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần để kiểm soát tài sản chặt chẽ, hạn chế việc tẩu tán, che giấu, hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có, tạo thuận lợi cho công tác thu hồi tài sản tham nhũng.

Hoàn thiện các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện theo dõi dòng tiền; quy định về việc phải chứng minh nguồn thu nhập hợp pháp để được mua và đứng tên bất động sản. 

Với những trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng, sở hữu bất động sản bằng các giao dịch mua bán, chuyển nhượng mà nguồn tiền không rõ ràng, không minh bạch thì kiên quyết không thực hiện thủ tục. Đối với những tài sản là bất động sản mà không rõ nguồn gốc, không chứng minh được nguồn gốc thì Nhà nước có thể thu hồi, đồng thời chuyển cho cơ quan điều tra xem xét làm rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm. 

Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể thực hiện khi việc quản lý tài sản trong xã hội được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, tránh xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân. Đồng thời, khi các tài sản trong xã hội được quy chủ, quản lý chặt chẽ, xác định rõ ràng thì không còn chỗ để cất giấu tài sản tham nhũng. 

Thứ ba, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng, nhất là các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt; về cơ chế thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt không qua thủ tục kết tội; cơ chế xử lý tài sản bị kê biên, phong tỏa; sớm khắc phục những bất cập, vướng mắc trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp. 

Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật về thanh tra, kiểm toán, phòng, chống rửa tiền, tố tụng hình sự, thi hành án dân sự và các quy định pháp luật liên quan theo hướng bổ sung cho thanh tra viên, kiểm toán viên thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc truy nguyên, truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ngay từ giai đoạn thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Cần ban hành các quy định về việc tuyên bố các hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu do tẩu tán tài sản, thủ tục tuyên bố vô hiệu nhanh gọn, đơn giản và có những án lệ rõ ràng để có thể vận dụng khi phát hiện ra những hiện tượng có dấu hiệu tẩu tán tài sản.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện tham nhũng. Khi phát hiện ra hành vi có dấu hiệu tham nhũng thì cần áp dụng kịp thời các biện pháp ngăn chặn để truy lùng, khoanh vùng, phong tỏa các tài sản có nghi ngờ liên quan đến hành vi tham nhũng. 

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, các cơ quan, tổ chức liên quan để truy tìm và thu hồi tài sản,tránh thất thoát và bị tẩu tán. Sau khi có quyết định khởi tố điều tra, tạm giam, khám xét thì song song với đó cần điều tra, xác minh và phong tỏa tài sản, tài khoản.

Tăng cường ứng dụng công nghệ vào công tác quản lý nói chung và quản lý tài sản nói riêng để kịp thời phát hiện tham nhũng cũng như truy lùng dấu vết tài sản tham nhũng, nhanh chóng tiến hành phong tỏa, kê biên để thu giữ, xử lý theo quy định pháp luật.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản tham nhũng. Hoàn thiện cơ chế tương trợ tư pháp với các nước để hỗ trợ công tác phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản do tham nhũng mà có ở nước ngoài(8)

Việt Nam có thể nghiên cứu xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, tách khỏi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, trong đó tập trung điều chỉnh vấn đề thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Tăng cường ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với các nước nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp, bao gồm hợp tác thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Xác lập cơ chế chia sẻ thông tin, cơ chế phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong việc thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài.

__________________

(1), (2), (7) Lại Sơn Tùng: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũnghttps://phaply.net.vn/giai-phap-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-thu-hoi-tai-san-trong-cac-vu-an-tham-nhung-a253752.html, truy cập ngày 4-11-2021.

(3) Tạ Hiển: Vì sao tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp?, https://vtv.vn/chinh-tri/vi-sao-ti-le-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-con-thap-20211025121416323.htm, truy cập ngày 3-11/--2021.

(4), (5) Nam Kiên, Văn Thư: "TS Trần Văn Độ - nguyên Phó Chánh án TANDTC: Thu hồi tài sản tham nhũng hiệu quả chưa cao, bởi chưa chú trọng cơ chế phòng ngừa và thiếu chặt chẽ trong các biện pháp tố tụng", https://phaply.net.vn/ts-tran-van-do-nguyen-pho-chanh-an-tandtc-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-hieu-qua-chua-cao-boi-chua-chu-trong-co-che-phong-ngua-va-thieu-chat-che-trong-cac-bien-phap-chong-tham-nhung-a248300.html, truy cập ngày 3-11-2021.

(6) Bùi Thị Thu Huyền: Thu hồi tài sản tham nhũng: Thực trạng và những vấn đề đặt rahttps://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202108/thu-hoi-tai-san-tham-nhung-thuc-trang-va-nhung-van-de-dat-ra-310008/, truy cập ngày 4-11-2021.

(8) Đặng Văn Cường: Cần có những giải pháp đồng bộ để thu hồi tài sản tham nhũng đạt hiệu quả caohttps://lsvn.vn/can-co-nhung-giai-phap-dong-bo-de-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-dat-hieu-qua-cao1629567415.html, truy cập ngày 5-11-2021.