Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022
TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ ỨNG XỬ NHÂN NGHĨA CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM!
Nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền biển, đảo năm 2022
TIẾNG NÓI CỦA DÂN TỘC
Ở Việt Nam ta, từ xa xưa yêu cầu bảo vệ tiếng nói dân tộc đã được đặt ra như một nội dung quan trọng. Vua Trần Duệ Tông xuống chiếu cho quân dân không được bắt chước tiếng nói dân tộc khác. Nguyễn Trãi nhấn mạnh người nước ta không được bắt chước ngôn ngữ để làm loạn ngôn ngữ nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phê phán căn bệnh nói chữ: “Của mình có mà không dùng lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”.
KHÔNG THỂ ĐÒI LẠI HOÀNG SA BẰNG CÁCH BIỂU TÌNH HAY GÂY CHIẾN TRANH!
VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH Ở NGỌC HỒI - ĐỐNG ĐA, ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ!
MỸ, ANH ĐANG DÙNG KẾ LY GIÁN!
LÊN LỚP VỀ CHUYỆN NHÂN QUYỀN Ư? XIN LỖI, HOA KỲ KHÔNG ĐỦ TƯ CÁCH!
Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022
Quy trình giải quyết thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thôngQuy trình giải quyết thủ tục hành chính một cửa, một cửa liên thông
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 61/2018/NĐ-CP quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân. Trong đó, Nghị định quy định rõ quy trình giải quyết thủ tục hành chính.
Theo quy định, tại cấp Bộ, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại bộ, cơ quan ngang bộ tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ.
Bộ phận
Tiếp nhận và Trả kết quả tổng cục và tương đương, cục thuộc bộ tiếp nhận hồ sơ
thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của
cơ quan, đơn vị mình.
Bộ phận
Tiếp nhận và Trả kết quả của các cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ
thống ngành dọc tại địa phương tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của cơ quan, đơn vị mình.
Tại cấp
tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính
thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của UBND cấp tỉnh, các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, những thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo
hệ thống ngành dọc tại địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, những
thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ, ngành, của UBND cấp
huyện được giao tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công.
Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tiếp
nhận thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết
của cơ quan mình, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các bộ,
ngành, của UBND cấp huyện được giao tiếp nhận tại cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.
Tại cấp
huyện, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện thực hiện tiếp nhận hồ sơ tất
cả thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết
của UBND cấp huyện, một số thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc
liên thông giải quyết của các cơ quan được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại
địa phương theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, Ủy ban nhân
dân cấp xã được giao tiếp nhận tại cấp huyện.
Tại cấp
xã, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp xã tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính
thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp xã và những thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của cấp huyện được giao tiếp nhận hồ sơ tại cấp xã.
Cách thức giải quyết
Tổ chức,
cá nhân có thể nộp hồ sơ, nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính thông qua
các cách thức theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ tục
hành chính gồm: 1- Trực tiếp tại Bộ phận Một cửa; 2- Thông qua dịch vụ bưu
chính công ích theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, qua thuê dịch vụ của
doanh nghiệp, cá nhân hoặc qua ủy quyền theo quy định của pháp luật; 3- Trực
tuyến tại Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh.
Đối với hồ
sơ được nhận theo cách thức 1,2 ở trên thì cán bộ, công chức, viên chức tiếp
nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa phải xem xét, kiểm tra tính chính xác, đầy đủ
của hồ sơ; quét (scan) và lưu trữ hồ sơ điện tử, cập nhật vào cơ sở dữ liệu của
Hệ thống thông tin một cửa điện tử của bộ, ngành, địa phương. Nếu hồ sơ đầy đủ,
chính xác theo quy định, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ và lập
Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn ngày trả kết quả.
Đối với hồ
sơ được nộp trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh, cán bộ,
công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận Một cửa phải xem xét, kiểm tra
tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ. Nếu hồ sơ của tổ chức, cá nhân đầy đủ, hợp lệ
thì cán bộ, công chức, viên chức tại Bộ phận Một cửa tiếp nhận và chuyển cho cơ
quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy trình quy định tại Điều 18 Nghị định
này.
Mỗi hồ sơ
thủ tục hành chính sau khi được tiếp nhận sẽ được cấp một Mã số hồ sơ được ghi
trong Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả. Tổ chức, cá nhân sử dụng Mã số
hồ sơ để tra cứu tình trạng giải quyết thủ tục hành chính tại Cổng Dịch vụ công
Quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh.
Ngay sau
khi tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính theo quy định trên, cán bộ, công chức,
viên chức tiếp nhận chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Người
đứng đầu cơ quan có thẩm quyền phân công cán bộ, công chức, viên chức xử lý xem
xét, thẩm định hồ sơ, trình phê duyệt kết quả giải quyết thủ tục hành chính.
Lợi dụng diễn biến hai vụ án “nóng” để xuyên tạc, bôi nhọ thể chế
Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm.
Cụ thể, ngày 29/3, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với
ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC.
Trước đó, ngày 24/3, Cơ quan CSĐT Công an TP
Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự “Lợi dụng các quyền tự do
dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, đồng thời khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam
đối với bà Nguyễn Phương Hằng, SN 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam,
về hành vi nêu trên.
Đây là hai cá nhân nổi tiếng trước hết đến từ
sự giàu có và các hoạt động kinh doanh trên thương trường. Với bị can Trịnh Văn
Quyết, ngoài danh tiếng Tập đoàn FLC mà ông với vai trò Chủ tịch HĐQT thì khối
tài sản đồ sộ của cá nhân thuộc top đầu cả nước, trong đó đỉnh điểm năm 2016,
thị trường chứng khoán Việt Nam diễn ra sự kiện hoán đổi vị trí người giàu nhất
Việt Nam và ông Trịnh Văn Quyết vươn lên dẫn đầu (thời điểm đó, khối tài sản
của ông Quyết vào khoảng 34.000 tỉ đồng đến từ 289,6 triệu cổ phiếu ROS (tương
đương 67,34% cổ phần FLC Faros) và 114,2 triệu cổ phiếu FLC (tương đương 17,9%
cổ phần), chưa kể khối tài sản động sản, bất động sản ở các vùng miền.
Với bà Nguyễn Phương Hằng, Phó Chủ tịch HĐQT
kiêm Tổng Giám đốc điều hành CTCP Đại Nam cũng sở hữu khối tài sản rất lớn và
bà từng tiết lộ qua livestream: “Nếu nói về tài sản thì 500, 700 triệu đô đến 1
tỷ đô tôi có... Mỗi lần tôi xuất hiện sẽ có một bộ trang sức khác. Kim cương
của tôi lên đến hàng ký… Tôi đi những chiếc xe 40, 50 chục tỷ, có đến vài chiếc
là chuyện bình thường. Tôi ở bao nhiêu căn nhà mặt tiền, sổ đỏ tôi cân ký”…
Sau khi hai cá nhân trên
bị khởi tố, bắt tạm giam, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá
nhân chống phá đã đặt ra những câu hỏi nhằm đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án
sang chiều hướng tiêu cực. Thủ đoạn của các đối tượng là:
Thứ nhất, xuyên tạc việc khởi tố, điều tra các
bị can trên là “nhắm vào giới doanh nhân, giới siêu giàu”. Trang Việt Tân rêu
rao “Chiến dịch đánh tư sản bắt đầu”, từ đó suy diễn: “Nhiều tỷ phú lần lượt bị
bắt giam, một số khác đang được dự đoán sẽ xộ khám trong thời gian tới. Trong
bối cảnh kinh tế đất nước đang lâm vào cảnh khánh kiệt, nhiều đồn đoán về chiến
dịch đánh tư sản tại Việt Nam”!
Nguy hiểm hơn, bài viết bịa ra chuyện Nhà nước
“khánh kiệt” tài sản sau đại dịch COVID-19, nói rằng trong 3 năm tới phải trả
1,2 triệu tỷ nợ công nên “đó là lý do giới nhà giàu lên thớt”! Từ việc đưa ra
những lời lẽ trên, bài viết nhắm vào việc thu hút các bình luận chỉ trích Đảng,
Nhà nước, cho rằng đang có chủ trương “đánh” vào doanh nhân, tập đoàn, công ty
tư nhân để “răn đe” và “cướp vốn”. Đây là kiểu xuyên tạc nguy hiểm, cố tình
đánh tráo bản chất vụ án, hướng lái sang vấn đề chính trị, từ đó kích động
chống phá.
Thứ hai, các đối tượng bịa ra chuyện “đang có
đấu đá quyền lực”, cho rằng những cá nhân bị khởi tố là các quân bài bị đưa ra
mổ xẻ. Trong một bài viết có tên “Những con mồi của Đảng không thể bỏ qua” đăng
trên trang Việt Tân, người viết đã tráo trở biến việc khởi tố các bị can thành
“hai đại gia về bất động sản Nguyễn Phương Hằng và Trịnh Văn Quyết đã trở thành
miếng mồi ngon của những thế lực đang đấu đá với nhau”, từ đó miệt thị “sống
dưới chế độ độc tài cộng sản hiện nay, những đại gia, tài phiệt hoặc người giàu
có tài sản đều là những người nằm trong tầm ngắm của các lãnh đạo Đảng Cộng
sản, cho dù họ làm ăn chân chính cũng không thoát khỏi”! Một số bình luận cũng
cổ suý cho luận điệu này, quy kết việc khởi tố, bắt tạm giam các bị can là “có
ý đồ chính trị” để hướng lái, xuyên tạc vụ án hình sự sang “nghi vấn đấu đá nội
bộ”.
Thứ ba, các đối tượng tiếp tục chỉ trích tội
danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331, BLHS, từ đó
xuyên tạc rằng việc khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng là tuỳ
tiện, bóp nghẹt dân chủ. Một số bài viết xâu chuỗi những vụ án trước đây cùng
tội danh này để đưa ra bức tranh xám về tự do, dân chủ ở Việt Nam, cho rằng
Điều 331-BLHS “chỉ nhằm phục vụ đảng”, bỏ tù những ai “đảng không thích”.
Thứ tư, từ việc đưa ra những nghi vấn thiếu cơ
sở để suy diễn, chỉ trích cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ trích Đảng, Nhà nước.
Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối
với bị can Trịnh Văn Quyết về hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Theo cơ
quan điều tra, ông Quyết bị khởi tố, bắt giam để làm rõ những sai phạm liên
quan đến việc bán “chui” 74,8 triệu cổ phiếu FLC trước đó. Cũng liên quan đến
vụ bán “chui” cổ phiếu này, ông Quyết đã bị phạt hành chính 1,5 tỷ đồng, đình
chỉ hoạt động chứng khoán 5 tháng bởi quyết định xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi “không báo cáo về giao dịch dự kiến” từ Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
(UBCKNN). Về vụ việc này, có người đặt câu hỏi: Vì sao UBCKNN đã ra quyết định
xử phạt ông Trịnh Văn Quyết 1,5 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động chứng khoán 5
tháng nhưng vẫn bị khởi tố? Từ đó cho rằng, một hành vi vừa xử lý hành chính
lại xử lý hình sự là thể hiện sự “lộng quyền”, hình sự hoá vấn đề hành chính.
Qua đó, suy diễn vụ án là bị đẩy lên hình sự để phục vụ mục đích, ý đồ khác!
Luận điệu trên có thể khiến những người thiếu
hiểu biết bị các đối tượng đánh lạc hướng, cho rằng đang có khuất tất phía sau
vụ án, cơ quan CSĐT phạm luật. Thực tế, vấn đề này đã được Cơ quan CSĐT Bộ Công
an giải thích rõ. Thiếu tướng Lê Văn Tân, Phó Chánh Văn phòng Cơ quan CSĐT Bộ
Công an cho biết, tháng 1/2022, ông Quyết bị xử phạt hành chính về hành vi
không báo cáo, không công bố thông tin trước khi thực hiện giao dịch theo Nghị
định 128/2020/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán.
Sau khi vào cuộc xác minh, điều tra, cơ quan
chức năng phát hiện trong vụ việc bán chui cổ phiếu ngày 10/1/2022, ông Quyết
đã có nhiều thủ đoạn, mánh khóe tinh vi để tạo cung, cầu giả, đẩy giá cổ phiếu
nhằm thu lời bất chính số tiền từ 500 triệu đồng trở lên. Do đó, Cơ quan CSĐT Bộ
Công an đã khởi tố về hành vi thao túng thị trường chứng khoán.
“Trong trường hợp cơ quan chức năng đã xử phạt
hành chính mà sau đó xác định hành vi vi phạm đủ cấu thành tội phạm, phải xử lý
hình sự thì cơ quan điều tra sẽ khởi tố để điều tra, xử lý theo quy định của
pháp luật. Theo đó, sau khi bị khởi tố, điều tra thì toàn bộ quyết định xử phạt
hành chính trước đây đều không có hiệu lực” – Thiếu tướng Lê Văn Tân nêu rõ.
Theo CQĐT, hành vi thao túng thị trường chứng
khoán của ông Quyết tác động tiêu cực tới thị trường và gây thiệt hại lớn cho
các nhà đầu tư. Ngoài ông Quyết đã bị khởi tố, bắt tạm giam, hiện nay, Cơ quan
CSĐT Bộ Công an đang tích cực điều tra những cá nhân giúp sức tích cực để bị
can thực hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình xác minh điều tra, cơ quan Công
an sẽ xem xét, làm rõ mục đích, vai trò của từng người để xử lý nghiêm theo quy
định của pháp luật. Nếu những người đó thực hiện hành vi dưới danh nghĩa công
ty (pháp nhân) nhằm trục lợi bất chính cho đơn vị thì tùy theo mức độ thiệt hại
gây ra cho nhà đầu tư và số tiền thu lợi bất chính, pháp nhân này có thể bị
phạt tiền từ 2- 10 tỷ đồng.
Trường hợp người thực hiện hành vi dưới danh
nghĩa cá nhân, tiếp tay làm lũng đoạn thị trường nhằm tư lợi bất chính, gây
thiệt hại cho nhà đầu tư, nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình
sự. Ngoài ra, những đối tượng này còn phải bồi thường dân sự cho những nhà đầu
tư bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, không có chuyện một hành
vi “thích thì xử lý hành chính, không thích thì hình sự hoá” và không phải một
hành vi bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Lý giải này đã được Cơ quan CSĐT
giải thích rõ nhưng một số đối tượng vẫn tỏ ra “không biết” để tìm cách bôi
nhọ, chỉ trích.
Ở đây, chúng ta cần thấy rằng, hai vụ án trên
dư luận đặc biệt quan tâm vì chủ thể tội phạm là những cá nhân có vị thế kinh
tế giàu có cùng những ảnh hưởng trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, tính chất đó
của chủ thể tội phạm không làm thay đổi bản chất vụ án. Việc khởi tố, điều tra
là căn cứ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó có các hành vi phạm vào tội
danh quy định trong BLHS, như với ông Quyết là sai phạm về hoạt động chứng
khoán, với bà Hằng là sai phạm về lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Sai phạm đó đủ yếu tố cấu thành
tội phạm và cơ quan CSĐT khởi tố để điều tra, làm rõ. Không thể viện bất cứ lý
do nào để hướng lái vụ án sang vấn đề chính trị, không thể lấy lý do bị can là
những doanh nhân giàu có để xuyên tạc thành “chiến dịch đánh tư sản”, “tấn
công vào kinh tế tư nhân”. Mọi bị can khi bị khởi tố, điều tra đều căn cứ vào
hành vi, khách thể bị xâm hại, các yếu tố lỗi, không có bất cứ lý do nào để
ngụy biện thành việc phân biệt kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác.
Mọi thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện
phát triển, trong đó kinh tế tư nhân đã được Đảng ta xác định “thực sự trở
thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”. Đây là chủ trương lớn,
nhất quán của Đảng vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, vừa phát
huy vai trò của thành phần kinh tế này trong phát triển kinh tế - xã hội, củng
cố an ninh, quốc phòng. Những thành công đạt được của Tập đoàn FLC cũng như vai
trò cá nhân của ông Trịnh Văn Quyết có được là nhờ chủ trương nhất quán đó của
Đảng, được tạo điều kiện để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, tất
cả đều có hành lang pháp lý điều chỉnh, hành vi nào xâm phạm vào quy định của
pháp luật hình sự, gây nguy hiểm cho xã hội thì sẽ bị điều tra, xử lý theo quy
định và việc xử lý không phân biệt chủ thể phạm pháp thuộc thành phần kinh tế
nào, dù là tỷ phú, triệu phú hay ở các tầng lớp khác. Do đó, không thể bôi nhọ
rồi xuyên tạc, đánh lận bản chất vụ án./.
Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
- Những năm qua, công tác thu hồi tài sản tham nhũng đã có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, tỷ lệ tài sản thu hồi được còn thấp hơn nhiều so với tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát cần thu hồi. Bài viết làm rõ những hạn chế, bất cập trong việc phát hiện, xác định và thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
1. Những khó khăn, bất cập trong việc phát hiện, xác định tài sản tham nhũng ở Việt Nam.
Thứ nhất, công tác phát hiện, xác minh tài sản tham nhũng còn hạn chế xuất phát từ những khó khăn trong việc xác định và chứng minh tội danh tham nhũng
Quy định của Bộ luật Hình sự về các tội danh tham nhũng có những điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh, chứng minh hành vi phạm tội và xác định thiệt hại do tội phạm gây ra. Ví dụ Khoản 1, Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có nêu: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” nhưng lại không giải thích cụ thể thế nào là “gây thiệt hại khác”(1).
Trong khi đó, tội phạm tham nhũng được xếp vào nhóm tội phạm có “xu hướng ẩn” cao. Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn; có trình độ học vấn, am hiểu về pháp luật; có nhiều mối quan hệ xã hội có khả năng “che chắn”, “bảo vệ” cho hành vi sai phạm; có sự chuẩn bị “chu đáo” trước khi thực hiện hành vi phạm tội và có nhiều biện pháp để xóa dấu vết, tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, tẩu tán tài sản có được do tham nhũng.
Tội phạm tham nhũng, đặc biệt là những đại án về tham nhũng, thường được tổ chức theo một quy trình khép kín rất tinh vi, có sự cấu kết về lợi ích với nhiều người. Nếu công tác thanh tra, kiểm tra không được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, cán bộ thanh tra hạn chế về nghiệp vụ, chuyên môn thì rất khó phát hiện và buộc tội hành vi tham nhũng.
Thực tế điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến tham nhũng cho thấy, việc xác định, chứng minh hành vi tham nhũng, từ đó xác định các tài sản liên quan đến tham nhũng không hề đơn giản. Có những vụ việc, các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ căn cứ để xử lý đối tượng với tội danh tham nhũng mà chỉ có thể xử lý về một trong những tội danh như “cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc các tội phạm kinh tế khác. Do đó, việc xác định cũng như thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án như vậy hầu như không thể thực hiện được(2).
Thứ hai, ngay cả khi đã xác định được hành vi tham nhũng, việc xác định đâu là tài sản có được do tham nhũng cũng gặp nhiều trở ngại
Pháp luật hình sự hiện hành chưa quy định bị can, bị cáo phải tự chứng minh nguồn gốc tài sản là hợp pháp hay bất hợp pháp. Trách nhiệm đó vẫn thuộc về cơ quan điều tra. Do đó, trong trường hợp cơ quan điều tra không chứng minh được đó là tài sản bất hợp pháp thì cũng không có căn cứ để quy kết đây là tài sản có được do tham nhũng.
Bên cạnh đó, pháp luật nước ta còn khoảng trống lớn về quản lý, đăng ký tài sản và xử lý tài sản không rõ nguồn gốc, khiến khả năng bóc tách và truy thu tài sản bất minh liên quan đến tham nhũng rất khó khăn. Chúng ta chỉ mới có quy định về kiểm soát tài sản cá nhân cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị mà thiếu vắng các quy định pháp luật về quản lý, kiểm soát tài sản đối với các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Nếu các đối tượng có thủ đoạn che giấu tài sản có được do tham nhũng ở ngoài xã hội thông qua việc nhờ người khác đứng tên tài sản như xe ô tô, nhà đất, cổ phiếu, thậm chí dịch chuyển tài sản ra nước ngoài… thì chúng ta khó có thể xác định đâu là tài sản tham nhũng và về mặt pháp lý cũng không thể đụng đến những tài sản này(3).
Việc kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cũng chưa thực sự chặt chẽ. Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định tương đối cụ thể, rõ ràng về cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, việc thực hiện kê khai tài sản chưa hiệu quả, việc xác minh và kiểm soát khó khăn. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ, cán bộ, công chức chỉ phải kê khai tài sản của bản thân, vợ (hoặc chồng) và con chưa thành niên. Quy định phạm vi kê khai hẹp như vậy đã bỏ qua những đối tượng thân thích khác như con đã thành niên, bố, mẹ, anh chị em ruột…
Trên thực tế, quá trình điều tra nhiều vụ án tham nhũng cho thấy, tài sản mà người phạm tội có được đã đứng tên của chính bố, mẹ đẻ hoặc con đã thành niên, thậm chí có những trường hợp nhờ cả bạn bè, anh chị em đứng tên như vụ Huỳnh Thị Huyền Như, Giang Kim Đạt, Trịnh Xuân Thanh, Phan Sào Nam…
Ngoài ra, đối với trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không hợp lý, thiếu trung thực thì Luật mới quy định việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức mà chưa quy định trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự; cũngchưa có điều khoản nào quy định về việc xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc(4).
Nền kinh tế và thói quen sử dụng tiền mặt cũng là nguyên nhân của việc khó kiểm soát tài sản, thu nhập cũng như các giao dịch tiền mặt, là điều kiện cho các tổ chức, cá nhân dễ dàng che giấu nguồn gốc bất minh của tài sản. Các cơ quan có thẩm quyền khó khăn trong việc lần theo dòng tiền, chứng minh mối liên hệ giữa tài sản và hành vi tham nhũng.
Hơn nữa, việc giải quyết các vụ án trong một số lĩnh vực đặc thù như xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, mua sắm công… đòi hỏi nhiều kết quả giám định tài sản, cần chuyên gia có trình độ và điều kiện kỹ thuật. Trong khi đó, phương tiện, quy trình, quy chuẩn giám định ở một số lĩnh vực này hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu; do đó rất khó để bóc tách, xác định mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Đặc biệt, hiện nay chúng ta còn có lỗ hổng trong kiểm soát cổng thanh toán quốc tế Paypal, các giao dịch tiền ảo qua hệ thống điện tử… Các cổng thanh toán quốc tế như Paypal, Payoneer, tiền ảo tồn tại dưới dạng mật mã trên máy tính vẫn chưa được cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Như vậy, các giao dịch trên cổng thanh toán quốc tế, giao dịch tiền ảo trên hệ thống điện tử đang không chịu sự quản lý của cơ quan nào(5).
2. Khó khăn, bất cập trong việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam.
Thứ nhất, việc tiến hành giao dịch tiền mặt phổ biến không chỉgây khó khăn cho việc kiểm soát tài sản, thu nhập của cá nhân, tổ chức mà còn gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế, các đối tượng phạm tội dễ dàng thực hiện việc rửa tiền, tẩu tán tài sản, dẫn đến khó khăn trong thu hồi tài sản tham nhũng.
Thứ hai, việc xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn vì có những khoản tiền, tài sản không tách bạch được và những khoản tiền, tài sản có được do tham nhũng nhưng đã được thay đổi, tách biệt khỏi hành vi phạm tội. Vì thế, khi tòa án xét xử, quyết định về mức bồi thường thiệt hại thường thấp hơn nhiều so với tổng số thiệt hại mà các đối tượng phạm tội gây ra. Nhiều vụ án có số lượng tài sản thất thoát rất lớn, nhưng số lượng thu hồi không đáng kể.
Thứ ba, việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng thường phức tạp, kéo dài. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử mất rất nhiều thời gian, bị cắt khúc do có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau, dẫn tới việc các cơ quan có thẩm quyền không kịp thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu giữ, kê biên tài sản của các đối tượng phạm tội theo đúng quy định pháp luật. Không kịp thời kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố là nguyên nhân dẫn đến nhiều đại án khó thu hồi tài sản phạm pháp.
Thứ tư, quy định của pháp luật về kê biên tài sản còn bất cập. Theo Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại. Việc kê biên tài sản chỉ được áp dụng khi nào đối tượng bị khởi tố bị can hoặc bị đưa đi xét xử, còn trước đó, dù đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kể cả trong thời gian khởi tố vụ án nhưng chưa khởi tố bị can cũng đều được miễn trừ trách nhiệm. Đây chính là kẽ hở của pháp luật, tội phạm lợi dụng để tẩu tán, che giấu, hợp lý hóa tài sản phạm tội mà có.
Thứ năm, quy định về thủ tục, trình tự thu hồi tài sản tham nhũng chưa cụ thể. Luật Thanh tra đã quy định về việc thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, bị sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật gây nên. Nhưng hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về quy trình, trình tự, thủ tục thu hồi tiền, tài sản. Pháp luật cũng chưa phân định rõ ràng giữa cơ chế thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, bị sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra gây nên theo quy định của pháp luật về thanh tra và cơ chế tịch thu tiền, tài sản theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Điều này đã phần nào giảm hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản qua hoạt động thanh tra.
Thứ sáu, hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng bị tẩu tán ra nước ngoài còn khó khăn, vướng mắc. Việc thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về chế độ chính trị, pháp luật và cơ chế phân công trách nhiệm phòng, chống tội phạm ở mỗi nước.
Cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế cũng chưa đầy đủ, một số quy định chỉ mang tính nguyên tắc, thiếu các điều khoản cụ thể điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp.
Việt Nam đã ký 19 hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hình sự, 01 hiệp định khu vực ASEAN và là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), nhưng việc hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ này chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Luật Tương trợ tư pháp của Việt Nam thiếu quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục phối hợp yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp thu hồi tài sản trong tố tụng hình sự, nhất là quy định liên quan đến phong tỏa, kê biên, thu giữ, tịch thu tài sản và xử lý tài sản do phạm tội mà có(6).
Đối với những vụ án có liên quan đến những quốc gia mà Việt Nam chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp thì tình hình còn khó khăn hơn. Chẳng hạn, trong vụ án Dương Chí Dũng, Cơ quan điều tra Bộ Công an đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định số tiền chênh lệch bị thất thoát trong việc mua ụ nổi 83M bởi thời điểm đó Việt Nam và Nga chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp nên việc xác định giá trị ụ nổi mà công ty bên Nga bán cho Vinalines không thực hiện được. Cơ quan điều tra chỉ xác định được giá trị mà công ty môi giới AP ở Xinhgapo bán cho Vinalines vì Việt Nam và Xinhgapo có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp. Lượng tiền thất thoát mà chúng ta không thể chứng minh và thu hồi lên đến con số 6,7 triệu USD(7).
3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý và kiểm soát tài sản, về xác lập quyền sở hữu tài sản, chuyển quyền sở hữu tài sản; xây dựng cơ chế, chính sách để minh bạch hóa về tài sản, tiến tới xây dựng Luật đăng kí tài sản.
Thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi kê khai không trung thực và kịp thời điều tra nếu có dấu hiệu tham nhũng.
Quản lý chặt chẽ việc mở tài khoản ngân hàng, yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn phải kê khai các tài khoản ngân hàng mà họ sử dụng. Trường hợp phát hiện ra việc cho thuê, cho mượn, sử dụng tài khoản ngân hàng của người khác trái phép thì cần có những biện pháp hành chính, thậm chí hình sự để tránh việc các đối tượng phạm tội nhờ tài khoản ngân hàng của người khác để cất giấu tài sản tham nhũng.
Ngoài ra, cần phải xác định trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức tín dụng cũng như những người đứng tên tài khoản khi để xảy ra trường hợp cho mượn tài khoản, chuyển tiền hộ, giữ tiền hộ, tiếp tay cho hành vi tham nhũng. Kiểm soát chặt chẽ việc công dân Việt Nam mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài và chuyển tiền ra nước ngoài để hạn chế cơ hội tẩu tán tài sản phạm tội sang các ngân hàng ở các quốc gia có tính bảo mật cao.
Thứ hai, tăng cường công tác quản lý đất đai, nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu trong các lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần để kiểm soát tài sản chặt chẽ, hạn chế việc tẩu tán, che giấu, hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có, tạo thuận lợi cho công tác thu hồi tài sản tham nhũng.
Hoàn thiện các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện theo dõi dòng tiền; quy định về việc phải chứng minh nguồn thu nhập hợp pháp để được mua và đứng tên bất động sản.
Với những trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng, sở hữu bất động sản bằng các giao dịch mua bán, chuyển nhượng mà nguồn tiền không rõ ràng, không minh bạch thì kiên quyết không thực hiện thủ tục. Đối với những tài sản là bất động sản mà không rõ nguồn gốc, không chứng minh được nguồn gốc thì Nhà nước có thể thu hồi, đồng thời chuyển cho cơ quan điều tra xem xét làm rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể thực hiện khi việc quản lý tài sản trong xã hội được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, tránh xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân. Đồng thời, khi các tài sản trong xã hội được quy chủ, quản lý chặt chẽ, xác định rõ ràng thì không còn chỗ để cất giấu tài sản tham nhũng.
Thứ ba, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng, nhất là các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt; về cơ chế thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt không qua thủ tục kết tội; cơ chế xử lý tài sản bị kê biên, phong tỏa; sớm khắc phục những bất cập, vướng mắc trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp.
Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật về thanh tra, kiểm toán, phòng, chống rửa tiền, tố tụng hình sự, thi hành án dân sự và các quy định pháp luật liên quan theo hướng bổ sung cho thanh tra viên, kiểm toán viên thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc truy nguyên, truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ngay từ giai đoạn thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Cần ban hành các quy định về việc tuyên bố các hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu do tẩu tán tài sản, thủ tục tuyên bố vô hiệu nhanh gọn, đơn giản và có những án lệ rõ ràng để có thể vận dụng khi phát hiện ra những hiện tượng có dấu hiệu tẩu tán tài sản.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện tham nhũng. Khi phát hiện ra hành vi có dấu hiệu tham nhũng thì cần áp dụng kịp thời các biện pháp ngăn chặn để truy lùng, khoanh vùng, phong tỏa các tài sản có nghi ngờ liên quan đến hành vi tham nhũng.
Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, các cơ quan, tổ chức liên quan để truy tìm và thu hồi tài sản,tránh thất thoát và bị tẩu tán. Sau khi có quyết định khởi tố điều tra, tạm giam, khám xét thì song song với đó cần điều tra, xác minh và phong tỏa tài sản, tài khoản.
Tăng cường ứng dụng công nghệ vào công tác quản lý nói chung và quản lý tài sản nói riêng để kịp thời phát hiện tham nhũng cũng như truy lùng dấu vết tài sản tham nhũng, nhanh chóng tiến hành phong tỏa, kê biên để thu giữ, xử lý theo quy định pháp luật.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản tham nhũng. Hoàn thiện cơ chế tương trợ tư pháp với các nước để hỗ trợ công tác phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản do tham nhũng mà có ở nước ngoài(8).
Việt Nam có thể nghiên cứu xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, tách khỏi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, trong đó tập trung điều chỉnh vấn đề thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Tăng cường ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với các nước nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp, bao gồm hợp tác thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Xác lập cơ chế chia sẻ thông tin, cơ chế phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong việc thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài.
__________________
(1), (2), (7) Lại Sơn Tùng: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, https://phaply.net.vn/giai-phap-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-thu-hoi-tai-san-trong-cac-vu-an-tham-nhung-a253752.html, truy cập ngày 4-11-2021.
(3) Tạ Hiển: Vì sao tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp?, https://vtv.vn/chinh-tri/vi-sao-ti-le-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-con-thap-20211025121416323.htm, truy cập ngày 3-11/--2021.
(4), (5) Nam Kiên, Văn Thư: "TS Trần Văn Độ - nguyên Phó Chánh án TANDTC: Thu hồi tài sản tham nhũng hiệu quả chưa cao, bởi chưa chú trọng cơ chế phòng ngừa và thiếu chặt chẽ trong các biện pháp tố tụng", https://phaply.net.vn/ts-tran-van-do-nguyen-pho-chanh-an-tandtc-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-hieu-qua-chua-cao-boi-chua-chu-trong-co-che-phong-ngua-va-thieu-chat-che-trong-cac-bien-phap-chong-tham-nhung-a248300.html, truy cập ngày 3-11-2021.
(6) Bùi Thị Thu Huyền: Thu hồi tài sản tham nhũng: Thực trạng và những vấn đề đặt ra, https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202108/thu-hoi-tai-san-tham-nhung-thuc-trang-va-nhung-van-de-dat-ra-310008/, truy cập ngày 4-11-2021.
(8) Đặng Văn Cường: Cần có những giải pháp đồng bộ để thu hồi tài sản tham nhũng đạt hiệu quả cao, https://lsvn.vn/can-co-nhung-giai-phap-dong-bo-de-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-dat-hieu-qua-cao1629567415.html, truy cập ngày 5-11-2021.







