Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay

 

 

1. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ là giải pháp đầu tiên, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trong đó lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là rất quan trọng. Đây là giải pháp nền tảng chi phối, chỉ đạo các giải pháp khác trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, tiếp tục nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nêu cao trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, người đứng đầu các cấp nêu cao tính tiền phong, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Kết hợp chặt chẽ công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở với xây dựng chính quyền, xây dựng tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở vững mạnh.

2. Kết hợp chặt chẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Kết hợp công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ luôn đòi hỏi Đảng phải có biện pháp, cơ chế kết hợp chặt chẽ việc lãnh đạo của hai công tác này. Trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và coi đó là yêu cầu, nội dung và biện pháp quan trọng hàng đầu để tìm ra giải pháp làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”. Và ngược lại, trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phải thấy rõ mối quan hệ của nó với “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, cái này đan xen, bện chặt vào cái kia, tác động, chi phối lẫn nhau. Vì vậy, phải coi đó là yêu cầu có tính nguyên tắc để có biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

3. Tăng cường đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo của Đảng; thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; đồng thời, thực hiện nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, đủ hiệu lực của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của cấp ủy các cấp đối với công tác này.

Duy trì nghiêm và phát huy hiệu quả cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, có tư duy mới và biện pháp lãnh đạo phù hợp. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát huy dân chủ, tạo động lực trong công tác đấu tranh. Tăng cường bồi dưỡng tri thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh giai cấp, dân tộc; nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng; sắp xếp, kiện toàn Ban Chỉ đạo 94 các cấp tinh gọn, hiệu quả; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và phổ biến kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để họ không mắc mưu địch.

4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Đề xuất được giải pháp mới nhằm phát huy vai trò của tổ chức đảng, cấp ủy đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên với việc chủ động lãnh đạo thực hiện chương trình, kế hoạch đấu tranh đã xác định. Tiếp tục thúc đẩy các Ban Chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hoà bình” các cấp hoạt động có kế hoạch, “chuyên nghiệp” và thực thi hơn, tránh mắc “bệnh” thành tích. Có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, phải tích cực, chủ động, tiên phong trong cuộc đấu tranh này.

5. Quan tâm chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa

Đây là giải pháp hỗ trợ trực tiếp, rất hiệu quả; phục vụ đắc lực cho công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; là thực lực sức mạnh và ưu thế của chế độ ta. Vì vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; chăm lo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm cho chế độ xã hội luôn luôn ổn định, được đổi mới và phát triển. Cùng với đó, thực hiện tốt giải pháp này là góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; không để “khoảng trống chính trị” để các thế lực thù địch lợi dụng, xâm nhập chống phá cách mạng Việt Nam.

Tóm lại, âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch là dùng “diễn biến hòa bình” để xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là yêu cầu khách quan - mệnh lệnh của cuộc sống.

Thực tiễn Đảng lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” thời gian qua đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về nhận thức và thực tiễn lãnh đạo; song còn có hạn chế nhất định. Nhận diện đúng âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và tính chất nguy hiểm, tác hại to lớn của nó để đề xuất các giải pháp “xây” và “chống” sao cho hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các thế lực thù địch sử dụng “trăm phương ngàn kế” để chống phá ta, đó là ý muốn chủ quan của chúng; còn chúng có thực hiện được mưu đồ đen tối ấy hay không quyền quyết định là của chúng ta./.

          T3.

 

Một số yêu cầu đối với công tác lãnh đạo của Đảng về đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới

 


Một là, phải không ngừng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; giúp họ nhận diện sao cho trúng, cho đúng đối tác, đối tượng, bạn, thù; bản chất sự điều chỉnh âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các tổ chức, lực lượng thù địch, cơ hội, xét lại trong tình hình mới và tính chất nguy hiểm, tác hại của nó đối với cách mạng Việt Nam. Muốn vậy, Đảng phải có biện pháp hữu hieuj để lãnh đạo cuộc đấu tranh đạt hiệu quả: bảo vệ được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là yêu cầu có tính nguyên tắc đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ của Đảng là bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào đều phải kiên định, vững vàng; tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ ràng “phải trái, trắng đen”; đâu là nhận thức lệch lạc, không đúng, không đầy đủ mà sinh ra quan điểm sai trái; đâu là sự cố tình chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, bọn cơ hội, xét lại; đâu là những yếu kém, khuyết điểm và hạn chế của ta, của cán bộ, đảng viên; đâu là sự chống phá “giấu mặt”, “trá hình” và công khai của các thế lực thù địch…Trong tình hình mới phải tìm ra phương cách tối ưu nhất để quản lý chặt bọn cầm đầu, chủ mưu; có kế hoạch chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của địch từ trong “trứng nước”; không để xảy ra hiện tượng “tả khuynh” và hữu khuynh; không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ.

Hai là, phải đẩy mạnh nghiên cứu dự báonắm chắc tình hình địch - ta; dự báo chính xác những nơi có thể xảy ra “điểm nóng”, “vùng nóng”; tìm được biện pháp tối ưu trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với kiên định ý chí tiến công; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, làm sao cho thực lực của ta ngày càng mạnh lên; biết lấy xây vững mạnh là chính, là quyết định, còn đấu tranh chống là rất quan trọng. Đây là yêu cầu khách quan đang đặt ra cấp bách đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh, kết hợp giữa “xây” và “chống” gắn với khắc phục các nguy cơ khác đe dọa cách mạng Việt Nam sao cho hiệu quả.

Ba là, phải tăng cường và đổi mới mạnh mẽ công tác lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Yêu cầu này cần phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quan hệ tác động qua lại giữa nó với “diễn biến hòa bình”; “diễn biến hòa bình” là nguyên nhân cơ bản, trực tiếp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “kết quả lôgíc”, hệ quả trực tiếp của “diễn biến hòa bình”. Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” chỉ đạt kết quả khi gắn liền với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, phải thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

          T3.

 

Một số kinh nghiệm về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Kinh nghiệm thứ nhất, thường xuyên nâng cao chất lượng giáo dục chính trị - tư tưởng cho tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân ở các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, xác định là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Đây là mặt trận tư tưởng mang ý nghĩa quyết định nhất đối với việc đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Kinh nghiệm thứ hai, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng cầm quyền thật sư đoàn kết, thống nhất, trong sạch vững mạnh là nhân tố quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ ba, xây dựng mối quan hệ máu thịt hữu cơ sống còn giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ tư, nền kinh tế đất nước ổn định, phát triển bền vững là sức đề kháng tốt nhất của xã hội trước âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

Kinh nghiệm thứ năm, lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân là công cụ sắc bén chuyên chính có hiệu quả với kẻ thù trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bao loạn lật đổ, chống phá Việt Nam.

          T3.

 

Công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

 


Một là, lực lượng vũ trang nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao; đạt nhiều thành quả quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số đơn vị, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. 

Hai là, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch phá hoại vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất - kỹ thuật. 

Ba là, xác định đúng đắn vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Bốn là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 

Năm là, làm thất bại mưu đồ bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam, cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế; nhờ đó, Việt Nam tạo được môi trường thuận lợi phục vụ cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Sáu là, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao; tranh thủ được nhiều diễn đàn quốc tế để tập hợp đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị.

          T3.

 

Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa - xã hội:

 


Một là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị văn hóa tư sản”; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình đổi mới.

Hai là, giữ vững được sự ổn định chính trị đất nước, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội về mọi mặt.

Ba là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng đổi mới để gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo, gây mâu thuẫn xã hội - giai cấp; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam; không ngừng củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội.

          T3.

 

hát huy hào khí Cố đô, chủ động, sáng tạo, xây dựng Ninh Bình phát triển bền vững

 

Phát huy hào khí Cố đô, chủ động, sáng tạo, xây dựng Ninh Bình phát triển bền vững

Tại lễ kỷ niệm 200 năm danh xưng Ninh Bình (1822-2022) và 30 năm tái lập tỉnh (1/4/1992-1/4/2022), Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã có bài phát biểu.

Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng:

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước!

Thưa các đồng chí lãnh đạo tỉnh Ninh Bình các thời kỳ!

Thưa các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang!

Thưa đồng bào, đồng chí!

Hôm nay, tôi rất vui mừng, phấn khởi cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Lễ kỷ niệm 200 năm danh xưng Ninh Bình và 30 năm tái lập tỉnh Ninh Bình.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin gửi tới các đồng chí đại biểu; lãnh đạo tỉnh Ninh Bình các thời kỳ; các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang; các gia đình có công với nước, cùng đồng chí, đồng bào tỉnh Ninh Bình lời chào trân trọng và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thưa đồng bào, đồng chí!

Ninh Bình-một vùng đất địa linh, nhân kiệt, giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, yêu nước và cách mạng. Năm 968, sau khi thu phục 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh- Người con của quê hương Ninh Bình lên ngôi Hoàng đế, chọn Hoa Lư làm Kinh đô, đặt tên nước là Đại Cồ Việt - Nhà nước quân chủ Trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam. Qua ba triều đại Đinh - Tiền Lê - Lý, Ninh Bình tự hào là Kinh đô của nước Việt trong hơn 40 năm. Năm 1822, danh xưng Ninh Bình chính thức được xác lập, với ý nghĩa là một miền quê vững chãi, bình yên. 

Trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, với  tinh thần yêu nước, cần cù, sáng tạo, đoàn kết, dũng cảm, kiên cường, người dân Ninh Bình đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc, những thành tựu rực rỡ về kiến trúc, điêu khắc, lễ hội, nghệ thuật hát Chèo, Ca Trù, hát Xẩm, hát Văn…rất đặc sắc, làm giàu thêm kho tàng văn hóa dân tộc. 

Từ khi có Đảng, truyền thống hào hùng, vẻ vang của quê hương Cố đô tiếp tục được phát huy cao độ, là nguồn động viên to lớn, giúp Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình vượt qua mọi gian khó, hy sinh để xây dựng và bảo vệ quê hương. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, Ninh Bình vừa trực tiếp chiến đấu, vừa là hậu phương vững chắc, đóng góp to lớn sức người, sức của cho tiền tuyến, cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là 30 năm kể từ ngày tái lập tỉnh (tháng 4/1992 đến nay), từ một tỉnh thuần nông, xuất phát điểm, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, song, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Ninh Bình đã phát huy cao độ nội lực, khát vọng vươn lên, đoàn kết, đồng lòng, chung sức đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, huy động nguồn lực, thúc đẩy Ninh Bình phát triển về mọi mặt, giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tạo nên sự đổi thay vượt bậc trên quê hương Cố đô Hoa Lư.

Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất công nghiệp bứt phá mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách của tỉnh. Nông nghiệp chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, năng suất, chất lượng sản phẩm tăng cao. 

Phong trào xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực, hầu hết các xã đạt chuẩn nông thôn mới, nhiều xã đạt chuẩn nâng cao, kiểu mẫu. Thu ngân sách đạt kết quả ấn tượng, năm 2021 xếp thứ 16 toàn quốc. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Du lịch có bước phát triển đột phá; phát huy và khai thác hiệu quả các di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng: Chùa Bái Đính, quần thể danh thắng Tràng An, Tam Cốc Bích Động, Vườn Quốc gia Cúc Phương…. 

Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao; an sinh xã hội được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Quốc phòng, an ninh được tăng cường; trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng có chuyển biến tích cực; phương thức lãnh đạo của các cấp ủy có nhiều đổi mới.

Năng lực chỉ đạo, điều hành và quản lý của chính quyền các cấp có nhiều tiến bộ. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể được đổi mới, nâng cao chất lượng. Khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương - giáo tiếp tục được củng cố, tăng cường; niềm tin của nhân dân đối với Đảng không ngừng tăng lên. 

Sau 30 năm nỗ lực phấn đấu, những thành tựu mà Đảng bộ và Nhân dân Ninh Bình đạt được là rất đáng tự hào, để Ninh Bình hôm nay ngày thêm rực rỡ, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi nhiệt liệt chúc mừng, biểu dương, đánh giá cao những thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Ninh Bình đã đạt được trong những năm qua.

Thưa đồng chí, đồng bào!

Kỷ niệm 200 năm Danh xưng Ninh Bình và 30 năm tái lập tỉnh là dịp để Đảng bộ và nhân dân tỉnh Ninh Bình ôn lại chặng đường vẻ vang đã qua, biến thành sức mạnh, thành hành động của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân Ninh Bình trong chặng đường sắp tới; phấn đấu đến năm 2030, Ninh Bình trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực đồng bằng sông Hồng. Với tinh thần ấy, tôi xin nêu một số nội dung có tính chất gợi mở để các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể tỉnh Ninh Bình quan tâm trong thời gian tới: 

Thứ nhất, Ninh Bình cần khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, đặc thù riêng có của mình, nhất là lợi thế vị trí kết nối khu vực Bắc Bộ, Trung Bộ và Tây Bắc, nằm trong tứ giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Thanh Hóa để phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. 

Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển hợp lý cả chiều rộng và chiều sâu, gắn với bảo vệ môi trường phát triển bền vững; chú trọng quy hoạch liên kết vùng. Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh; xác định động lực phát triển của Ninh Bình là công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp ô tô và dịch vụ, du lịch chất lượng cao. 

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với chế biến sâu, gia tăng giá trị sản phẩm. Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, xây dựng Ninh Bình trở thành trung tâm du lịch quốc gia, điểm đến yêu thích của du khách cả nước và quốc tế. Thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu. Trước những diễn biến khó lường của đại dịch COVID-19, tỉnh cần có giải pháp phù hợp, thích ứng linh hoạt, bảo đảm an toàn sức khỏe cho nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội. 

Thứ hai, trong phát triển kinh tế -xã hội phải hết sức quan tâm quản lý tốt tài nguyên, khoáng sản, coi trọng bảo vệ môi trường. Đó vừa là mục tiêu, vừa là nội dung cơ bản của phát triển bền vững, trên cơ sở ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, lấy bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân làm mục tiêu hàng đầu. 

Bảo vệ môi trường hôm nay là đầu tư cho phát triển bền vững trong tương lai; không phát triển kinh tế bằng mọi giá, kiên quyết loại bỏ những dự án, hoạt động gây ô nhiễm môi trường. Chú trọng trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng quốc gia Cúc Phương, rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ ven biển, khu dự trữ sinh quyển. Bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, "xanh, sạch, đẹp" là một giải pháp quan trọng không chỉ cho phát triển chung của tỉnh, mà còn phục vụ đắc lực cho phát triển du lịch.

Thứ ba, phải hết sức chăm lo bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, lịch sử, truyền thống văn hóa cao đẹp của vùng đất Cố đô Hoa Lư nghìn năm văn hiến trong phát triển văn hóa, xây dựng con người; phát triển du lịch; khơi dậy lòng tự hào, ý chí, khát vọng vươn lên,tạo động lực tinh thần mạnh mẽ cho mỗi người con quê hương Ninh Bình trong xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. 

Coi trọng phát triển giáo dục - đào tạo, tập trung phát triển nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đầu tư nhiều hơn cho khoa học - công nghệ, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà; quan tâm nhiều hơn nữa cho bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tiếp tục phát huy truyền thống "uống nước, nhớ nguồn", chăm lo thật tốt cho các gia đình chính sách, người có công. Tập trung giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Là tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng sông Hồng, với vị trí chiến lược quan trọng, ranh giới của 3 khu vực Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung bộ, Ninh Bình phải hết sức quan tâm công tác quốc phòng, an ninh; chú trọng củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; giải quyết tốt những vấn đề an ninh phức tạp ngay từ cơ sở, không để hình thành "điểm nóng", bảo đảm ổn định xã hội để phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, tăng cường và tạo chuyển biến thực sự trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị theo nội dung Kết luận 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Kế hoạch 03 của Bộ Chính trị; qua đó, nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên; bộ máy chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. 

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy theo hướng chủ động, sáng tạo, quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, trên cơ sở thực hiện nghiêm nguyên tắc sinh hoạt đảng và quy chế làm việc. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi trọng công tác tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên và đoàn viên, hội viên các tổ chức chính trị-xã hội, trước hết là người đứng đầu; siết chặt kỷ cương, kỷ luật, đồng thời khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung. 

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Không ngừng tăng cường sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương - giáo, bảo đảm bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, tiến bộ, thực hiện tốt lời Bác đã căn dặn khi về thăm Ninh Bình là "Phải đoàn kết toàn dân, đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng, đoàn kết lương giáo… Đoàn kết chặt chẽ để thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội…".

Thưa đồng chí, đồng bào!

Phát huy truyền thống quê hương Cố đô Hoa Lư nghìn năm văn hiến và những thành tựu sau 30 năm tái lập tỉnh, tôi tin tưởng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Ninh Bình tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, khơi dậy, phát huy hào khí Cố đô, chủ động, sáng tạo, với tư duy mới, tầm nhìn mới, quyết tâm mới, xây dựng Ninh Bình phát triển bền vững, trở thành tỉnh giàu đẹp, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh".

Chúc các quý vị đại biểu, đồng bào, đồng chí tỉnh Ninh Bình mạnh khỏe, hạnh phúc, giành nhiều thắng lợi hơn nữa trong thời gian tới.

 

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2022

Kết quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trên lĩnh vực kinh tế:

 


Một là, nền kinh tế của Việt Nam vẫn giữ được độc lập, tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước ngoài, đã chủ động phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại ý đồ “tư nhân hóa” nền kinh tế, tiến công vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. 

Hai là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; từ năm 1986 đến nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. 

Ba là, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định với tốc độ tăng trưởng cao từ 6 - 7%/năm. Bốn là, phát triển kinh tế đã gắn chặt với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo đảm công bằng xã hội.

                   T3.

Kết quả lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị.

 


Một là, đã làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam. 

Hai là, đã vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng. 

Ba là, góp phần củng cố giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân; đã gắn chặt “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính. 

Bốn là, đã làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam về tổ chức, về công tác cán bộ; hệ thống chính trị của Việt Nam không ngừng được xây dựng và phát triển. 

Năm là, đã chủ động xây dựng bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo; tổ chức lực lượng và các điều kiện bảo đảm cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 94 Trung ương, Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật; Ban Chỉ đạo 94 Đảng ủy Công an Trung ương; Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương và các Ban Chỉ đạo 94 trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47, cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam.

          T3.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

 


Lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là một bộ phận quan trọng, nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách của công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần quan trọng vào việc giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc tác hại vô cùng to lớn của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đã làm cho chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào và chính nó đã và đang gây không ít khó khăn, cản trở công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới của các nước chủ nghĩa xã hội còn lại, trong đó có Việt Nam và Cu Ba.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên cứu kỹ bản chất, âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu và tìm ra được những nguyên nhân chủ yếu làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu mất quyền lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩ bị sụp đổ. Về nguyên nhân chủ quan: Một là, Đảng Cộng sản biến chất, nội bộ mất đoàn kết và chia rẽ sâu sắc. Hai là, Đảng Cộng sản từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện cải tổ, cải cách đất nước, xây dựng xã hội “dân chủ” kiểu phương Tây. Ba là, không thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang và làm trong sạch các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Về nguyên nhân khách quan, nổi lên hai điểm chính: Một là, chủ nghĩa đế quốc và một số nước phương Tây hỗ trợ đắc lực cho lực lượng đối lập chống đối trong nước chống phá Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội củ nghĩa; thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Hai là, lợi dụng thời điểm khó khăn, đời sống nhân dân không được đảm bảo, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và bộ máy nhà nước, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã lôi kéo, mua chuộc, tập hợp được một bộ phận đông đảo quần chúng đứng về phía họ để chống Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận thức trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “diễn biến hòa bình” là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ cấp bách của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, diễn ra quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội; là công cuộc giữ nước của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, gồm tổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,...được tiến hành bằng hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa là vấn đề cơ bản, lâu dài; kết hợp giữa phòng ngừa, ngăn chặn và răn đe, trừng trị với việc tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Đây là cuộc chiến đấu trong thời bình, một “cuộc chiến không bom rơi, đạn nổ, không tiếng súng” nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, giữa dân tộc Việt Nam kiên cường trong chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập dân tộc và đi theo con đường chủ nghĩa hội với “lũ giặc nội xâm”, đang tìm “trăm phương nghìn kế” để phá hoại công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” là nhất quán và được khẳng định là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn chặt với thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thể hiện qua các kỳ đại hội và các hội nghị Trung ương kể từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986) đến nay.

Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, tại Hội nghị Trung ương Ba khóa VII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống “diễn biến hòa bình”. Vạch trần những âm mưu thâm độc và những luận điệu chiến tranh tâm lý. Quản lý chặt chẽ các cuộc hội thảo, các dịch vụ thông tin, ngăn chặn việc lợi dụng diễn đàn và các cơ hội để thu thập tin tức tình báo, truyền bá các quan điểm thù địch và lối sống tư sản”1. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng xác định 4 nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ tham nhũng và các tệ nạn xã hội; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Hội nghị Trung ương Tám khóa IX, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta”. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”. Hội nghị Trung ương Tám khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới khẳng định: “Chủ động đấu tranh với âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Không để hình thành tổ chức chính trị đối lập dưới bất kỳ hình thức nào”. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định 4 nguy cơ vẫn tồn tại, “có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. 

Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đảng qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương ở các khóa tiếp theo; đồng thời, được bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa trong thực tiễn lãnh đạo công tác đấu tranh này.    

          T3.

 

HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC

* Cách đây 97 năm, ngày 9-4-1925, Nguyễn Ái Quốc với bút danh L.T viết thư nhận xét về tập luận văn “Cách mệnh” theo yêu cầu của tác giả H. H. ở đây chính là Nguyễn Thượng Huyền, con trai nhà yêu nước Nguyễn Thượng Hiền, lúc này cũng đang hoạt động chính trị ở Trung Quốc.
Trong thư, Nguyễn Ái Quốc bày tỏ một số quan niệm sâu sắc về công việc cầm bút: “Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thúy của các điển tích thường cũng bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm... Một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt... Một lối hành văn giản dị chính xác hơn hẳn cái lối hành văn rườm rà, hoa mỹ. Nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành văn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì”.
Về nội dung của luận văn bàn về cách mạng, Nguyễn Ái Quốc góp ý rằng, viết về cách mạng mà: “Ông không nói: 1.Phải làm cái gì trước cách mệnh; 2.Phải làm gì trong cách mệnh; 3.Phải làm gì sau cách mệnh. Ông chưa bàn đến lực lượng mà người Pháp có thể sử dụng ở nước ta, cũng chưa bàn đến lực lượng của ta”. Cuối thư viết: “Tôi đã nói thẳng những ý kiến của tôi về bài viết của ông và cũng nhân cơ hội này nêu lên một số vấn đề để thảo luận, mong rằng có thể rút ra từ đó một cái gì để mở rộng kiến thức của tôi. Xin thành thực và nhiệt liệt hoan nghênh tài cao trí lớn của ông. Bất cứ một người lao động nào, dù thông minh đến đâu, đôi lúc cũng có thể sai lầm. Chỉ có những kẻ ngồi không mới không sai lầm. Nhưng làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh tay ngồi không”.
* Cách đây 83 năm, ngày 9-4-1939, tờ “Notre Voix” (Tiếng nói của chúng ta) đăng bài “Thư từ Trung Quốc” của PC.Lin, bút danh của Nguyễn Ái Quốc - lúc này đang ở Quế Lâm và mang bí danh là Hồ Quang, trong vai một báo vụ viên trong đơn vị “Bát Lộ Quân”. Qua tờ báo, Bác liên hệ với nhóm cộng sản đang hoạt động công khai từ thời Mặt trận Bình dân để chuẩn bị đón chờ những cơ hội cách mạng đang đến gần.
* Ngày 9-4-1946, tại Bắc bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các Khu tự vệ thành Hà Nội. Bác động viên và nhắc nhở cần bình tĩnh, nhấn mạnh đến phương châm: “Một sự nhịn là chín sự lành” và xác định những nhiệm vụ trước mắt.

* Ngày 9-4-1960, Bác dự họp Bộ Chính trị bàn về việc xây dựng Nhà Quốc hội do Trung Quốc thiết kế. Bác lưu ý khi tiến hành xây dựng phải cần, kiệm tránh lãng phí, phối hợp giữa các nhà chuyên môn hai nước. Sau đó, vì nhiều lý do, thiết kế này đã không thực hiện được. 

“Chi bộ là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chứ không phải là một tổ chức hành chính”.

 Đó là lời được trích trong bài viết “Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.

Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.
Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.
Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA “…Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt, chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”.

  Đây là nội dung trong thư khen ngợi bộ đội Pháo binh mà Bác Hồ gửi ngày 13 tháng 4 năm 1967 vì đã lập được thành tích vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ - Ngụy và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên - Dốc Miếu. Trong thư khen, Người còn cǎn dặn: "Phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh quân giải phóng miền Nam tài giỏi, anh hùng".

Binh chủng Pháo binh là Binh chủng chiến đấu, Binh chủng kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trưởng thành trong chiến đấu và gắn liền với những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; truyền thống của Bộ đội Pháo binh gắn liền với truyền thống và sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Pháo binh luôn khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm sắt đá, vượt mọi khó khăn gian khổ, tích cực huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nắm chắc kỹ, chiến thuật, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội, truyền thống vẻ vang của Binh chủng mỗi cán bộ, chiến sỹ Pháo binh không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực làm chủ tiến bộ khoa học kỹ thuật , công nghệ hiện đại, đoàn kết thống nhất, xứng đáng với truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” và danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Đấu tranh với cái nhìn phiến diện, sai lệch về chính sách quốc phòng Việt Nam

 Trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ. Mọi luận điệu xuyên tạc, đi ngược lại lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đất nước, nhân dân Việt Nam đều phải bị lên án, bác bỏ.

Điều 4, Luật Quốc phòng chỉ rõ: “… không tham gia lực lượng, liên minh quân sự của bên này chống bên kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định: “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế,…”. Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn chính sách quốc phòng đã đề ra với đường lối quốc phòng, quân sự độc lập, tự chủ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, tạo sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng thời, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định nhất quán quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về chính sách quốc phòng phù hợp với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, có tính nhân văn sâu sắc; được công khai, minh bạch nhằm tăng cường sự hiểu biết, xây dựng lòng tin của các quốc gia với Việt Nam.

Song, với dã tâm thâm độc, âm mưu nham hiểm, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ sử dụng nhiều hình thức, phương tiện, như: viết tin, bài, bình luận; quay, cắt ghép, phát tán các video clip trên YouTube và livestream trên các trang mạng xã hội; núp bóng dưới chiêu trò cái gọi là “Người yêu nước”, “Chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, phản biện “Sách trắng Quốc phòng”,... để suy diễn, bịa đặt, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Chúng cho rằng, chính sách quốc phòng Việt Nam đã lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp; chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ dùng vũ lực trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “ tự cô lập mình”, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn trong bảo vệ Tổ quốc, không phù hợp với tình hình thực tế, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Họ lợi dụng các điểm mới trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 để đưa ra bình luận, quy chụp thiếu căn cứ về nguyên tắc “bốn không”; đưa ra tư vấn, góp ý, kiến nghị Việt Nam thiết lập, tham gia liên minh quân sự. Xảo trá, trắng trợn hơn, chúng còn quy chụp việc Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh là khơi mào cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, là để chống lại một nước thứ ba. Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biển, đảo, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, v.v. Từ đó, hô hào, cổ súy tư tưởng sai trái, kêu gọi dựa vào nước ngoài, nhất là các nước lớn và tham gia liên minh quân sự để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ đất nước.

Vậy, sự thật phía sau cái nhìn sai lệch, phiến diện, chống phá quyết liệt chính sách quốc phòng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là gì? Trước hết, cần khẳng định rằng, bản chất, mục đích chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là không hề thay đổi, nhưng âm mưu, thủ đoạn, sách lược ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách dẫn dắt, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, dần đi sâu vào quỹ đạo lệ thuộc, tiến tới thay đổi chế độ chính trị, xã hội. Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa” Quân đội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Thứ tư, kích động, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong nhân dân, lừa bịp, dẫn dắt dư luận, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.