Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

Phê phán những quan điểm sai trái về tự do tôn giáo ở Việt Nam

 


- Vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền luôn là tâm điểm mà các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam được đề cập trong các Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và một số trang mạng xã hội, đồng thời, đưa ra những bằng chứng để phê phán, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó, khẳng định những thành tựu của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. 

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên trong các Báo cáo của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cũng như trên một số trang mạng luôn có những nhận định sai trái, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, như: Ở Việt Nam chưa có tự do tôn giáo thật sự, vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam chưa đạt được quy định của Công ước quốc tế; luật pháp Việt Nam có nhiều điều luật quy định “không rõ ràng” để kiểm soát, hạn chế tự do tôn giáo, sử dụng điều khoản về an ninh quốc gia với các “tội danh mơ hồ” để “đàn áp, hạn chế” tự do tôn giáo; các tôn giáo ở Việt Nam bị buộc im tiếng hay biến thành công cụ của Nhà nước; Nhà nước Việt Nam gây khó khăn cho việc đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đặc biệt với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số; chính sách nghĩa vụ quân sự của Nhà nước Việt Nam cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer; các nhân vật đấu tranh cho tự do tôn giáo luôn bị nhà nước gây khó khăn trong hoạt động, bị hạn chế đi lại; ở Việt Nam có các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”, .v.v..(1)

Những nhận định trên hoàn toàn mang tính bịa đặt, bóp méo sự thật và xuyên tạc chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam. Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn kiện quốc tế liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và đã không ngừng nỗ lực bảo đảm quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế(2).

Một số nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản về bảo vệ, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các luật và bộ luật quan trọng của Việt Nam như: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 116), Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13, 20); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 17); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, v.v..

Theo đó, luật pháp Việt Nam có quy định rất rõ ràng về quyền và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ quyền tự do tin hoặc không tin theo tôn giáo, tự do bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. 

Trong thực tiễn, Nhà nước Việt Nam cũng đã và đang nỗ lực để đảm bảo quyền tự do tôn giáo của người dân­. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều được thực hiện các sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và các cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Các cá nhân và tổ chức tôn giáo được Nhà nước tạo thuận lợi và đảm bảo điều kiện sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật như: tạo điều kiện cho các tôn giáo hoàn thiện cơ cấu tổ chức giáo hội; tạo điều kiện về cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo, về kinh sách phục vụ cho việc tu học và hành đạo, về đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, người hướng dẫn việc đạo, về mở rộng các mối quan hệ quốc tế, .v.v..

Đến năm 2018, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26.689.748 tín đồ, trong đó có 57.716 chức sắc, 130.167 chức việc; các tôn giáo ở Việt Nam có 29.854 cơ sở thờ tự và hơn 60 cơ sở đào tạo, trong đó có 17 trường đào tạo trình độ đại học. 

Mỗi năm, ở Việt Nam có hàng trăm đầu sách và các ấn phẩm tôn giáo, với hàng triệu bản in được xuất bản phục vụ nhu cầu học tập và tìm hiểu của người dân. Chỉ riêng hai tôn giáo là Công giáo và đạo Tin lành, trong năm 2020 đã xuất bản hơn 1 triệu bản Kinh Thánh. Hiện nay, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí; hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có các trang thông tin điện tử. 

Từ năm 2003 đến năm 2017, có 9.343 cơ sở thờ tự của tôn giáo ở Việt Nam được phục hồi và xây mới đến năm 2020, hầu hết cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được trùng tu, sửa chữa, trong đó có khoảng 1/3 cơ sở được tu sửa ở quy mô lớn. 

Thời gian gần đây, Nhà nước đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo quy mô lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, diễn ra trong thời gian dài, như: Công giáo với Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012; Phật giáo với Đại lễ Phật đản Vesak các năm 2008, 2014, 2019; đạo Tin lành với Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017 v.v..

Với bất kỳ một quốc gia nào, việc đảm bảo ổn định an ninh, trật tự xã hội, đảm bảo chủ quyền quốc gia cũng luôn phải được đặt lên hàng đầu và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước, phải luôn đi liền với nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc. Điều này cũng đã được đề cập đến trong Khoản 3 Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. 

Như vậy, Công ước Quốc tế đã khẳng định, quyền tự do tôn giáo trên phương diện pháp lý cũng như các quyền khác, đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp. Do đó, ở mỗi quốc gia, quyền tự do tôn giáo sẽ có những giới hạn riêng. Chẳng hạn, Điều 25 Bộ luật Phân ly của Pháp quy định rõ: “Các cuộc họp để cử hành sự thờ phụng được tổ chức trong khuôn viên của một hiệp hội tôn giáo hoặc được tổ chức ở nơi công cộng phải chịu sự giám sát của chính quyền vì lợi ích của trật tự công cộng”. Tháng 3 năm 2004, Quốc hội Pháp đã thông qua đạo luật cấm học sinh các trường công lập mặc quần áo và mang các phù hiệu có “biểu hiện dễ thấy liên quan đến tôn giáo”; tháng 2/2021 Hạ viện Pháp thông qua dự luật chống “ly khai” nhằm ngăn ngừa các hoạt động lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ chia rẽ, ly khai dân tộc. 

Ở Hoa Kỳ, mặc dù không ban bố bất cứ luật hay pháp lệnh riêng nào về tôn giáo, nhưng tất cả các hoạt động tôn giáo đều phải chịu sự điều chỉnh bởi các quy định trong hệ thống luật dân sự. Mỹ không thiết lập bộ máy quản lý riêng về tôn giáo, việc quản lý hoạt động tôn giáo được thực hiện theo từng bang và là công việc của các cơ quan hành chính, nhưng các tổ chức tôn giáo muốn hoạt động đều phải đăng ký với chính quyền và phải đảm bảo những điều kiện nhất định theo quy định của luật pháp. Hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn phải tuân thủ luật pháp và được giám sát trực tiếp bởi các cơ quan của chính quyền bang. Ở Đức, giáo sĩ Công giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ tôn trọng chính phủ hợp hiến, tôn trọng lợi ích của nước Đức, v.v.. 

Như vậy, rõ ràng quyền tự do tôn giáo là có giới hạn và tùy thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia. Do đó, không thể đem quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia áp dụng cho tất cả các quốc gia, không thể đem những giá trị và tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để đánh giá quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác.

Ở Việt Nam, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định rõ những hành vi và những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng bị nghiêm cấm gồm: “1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; 2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; 3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; 4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo: a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; 5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”. 

Những quy định này nhằm đảm bảo trật tự, an ninh công cộng, đảm bảo các quyền cơ bản của con người cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân, đảm bảo chủ quyền quốc gia, dân tộc. Điều luật này tuân thủ Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013(6) và cũng hoàn toàn phù hợp với Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. 

Nhận định cho rằng, Nhà nước Việt Nam gây khó khăn cho việc đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đặc biệt với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số là nhận định rất thiếu tính khách quan. Thực tế, Nhà nước Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt động và công nhận cho 311 chi hội, 1.742 điểm nhóm của đạo Tin lành ở Tây Nguyên, 14 chi hội và 797 điểm nhóm Tin lành ở khu vực miền núi phía Bắc. Điều này đã được thừa nhận trong Báo cáo thường niên năm 2020 của Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ(7). Ngoài ra, các tổ chức của Công giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Bàni giáo, Bàlamon giáo, ... cũng được Nhà nước Việt Nam thừa nhận và được tự do hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo (tổ chức của Công giáo, Phật giáo được thừa nhận và hoạt động trong vùng dân tộc thiểu số ở các khu vực Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, Tây Nam Bộ; tổ chức của Bàlamon giáo, Bà ni giáo, Hồi giáo được thừa nhận và hoạt động trong cộng đồng người Chăm).

Luận điệu cho rằng, một số hội, nhóm tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số chưa được thừa nhận như: “Hội thánh Tin lành đấng Christ”, “Hội thánh truyền giảng Phúc âm”, “Hội thánh Đề ga quốc tế”,... đang bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu cũng là những luận điệu hoàn toàn sai sự thật. Thực chất các tổ chức nói trên đang núp bóng hoạt động tôn giáo để âm mưu chống phá nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc. “Hội thánh Đề ga quốc tế” với những nhân vật chủ chốt như Ksok Kơk, Brạ Su Kbông ở Mỹ và Rah Lan Ngol, Y Wi Ksơn (A ma Trương) ở Việt Nam đã từng gây nên các vụ biểu tình và bạo loạn chính trị năm 2001, 2004 và nhiều cuộc biểu tình những năm sau đó với mưu đồ thành lập “Nhà nước Đề ga tự trị” ở khu vực Tây Nguyên. Người đứng đầu và nhóm cốt cán của các nhóm “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”, “Cây Thập giá Chúa Jêsu Krits” và “Hà Mòn” ở Tây Nguyên đều rất có ý thức tạo dựng các hiện tượng này trở thành đạo Tin lành mới và Công giáo mới của các dân tộc thiểu số trên địa bàn, còn gọi là “Tin lành Đề ga” và “Công giáo Đề ga” - được hứa hẹn là quốc giáo của “Nhà nước Đề ga”, thể hiện rõ ràng chủ nghĩa ly khai, phục vụ mưu đồ chính trị của các thế lực phản động nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam.

Nhận định cho rằng, chính sách nghĩa vụ quân sự của Nhà nước Việt Nam cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer là hoàn toàn không có căn cứ. Chính sách nghĩa vụ quân sự của Việt Nam áp dụng cho tất cả mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo và trên thực tế khi thực hiện chính sách này cũng hoàn toàn không cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer. Theo truyền thống, nam thanh niên Khmer từ 13, 14 tuổi trở lên có thể vào chùa tu học trong một thời gian (thời gian dài hay ngắn là tùy thuộc vào điều kiện của mỗi người) và mỗi người đàn ông Khmer có thể vào chùa tu nhiều lần trong đời. Nhà nước Việt Nam tôn trọng truyền thống tu học của thanh niên Khmer và không hề có cản trở nào gây khó khăn cho việc nhập tu và xuất tu của thanh niên Khmer. Thậm chí, Nhà nước Việt Nam còn hết sức tạo điều kiện cho công tác giáo dục, đào tạo của hệ phái Phật giáo Nam tông và cho việc tu học, nâng cao trình độ Phật học và thế học cho thanh niên Khmer. Bằng chứng là, Nhà nước khuyến khích các chùa và các sư tăng Khmer mở các lớp dạy ngôn ngữ, dạy chữ Pali cho người Khmer; quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho trường Trung cấp Pali (đặt tại thành phố Sóc Trăng) được duy trì hoạt động, phát triển; cấp đất, đầu tư kinh phí cho việc xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông; tạo cơ chế đặc thù cho Phật giáo Nam tông trong đào tạo nâng cao trình độ thế học cho sư tăng (ưu tiên cho các cơ sở giáo dục của Nhà nước liên kết với hệ phái Phật giáo Nam tông mở các lớp đào tạo trình độ đại học và sau đại học cho sư tăng Phật giáo Nam tông Khmer), v.v..   

Về nhận định cho rằng, Nhà nước Việt Nam hạn chế quyền tự do đi lại của một số chức sắc tôn giáo, gây khó khăn cho việc phân công, chuyển giao công việc giữa các chức sắc tôn giáo, thực tế là một số chức sắc đã lợi dụng tự do tôn giáo để tuyên truyền sai sự thật về chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ mất đoàn kết trong nội bộ Công giáo, chia rẽ đoàn kết dân tộc, lợi dụng hoạt động tôn giáo để chống chính quyền, xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Hoạt động của các chức sắc này đã vi phạm đường hướng hành đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam(8), vi phạm ở những mức độ nhất định các nội dung trong mục a và d, khoản 4, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, các nhân vật nói trên đã bị Giáo hội Công giáo điều chuyển vị trí công tác. Vì vậy, những luận điệu cho rằng, Nhà nước Việt Nam hạn chế quyền tự do đi lại hay gây khó khăn cho việc phân công và chuyển giao công việc giữa các chức sắc tôn giáo chỉ là những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ở Việt Nam, mọi người dân nếu vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật, không có sự phân biệt về niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng. Một số nhân vật được nhắc tên trong các Báo cáo thường niên của Ủy ban tự to tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cũng như trên một số diễn đàn xã hội, được gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” thực chất là những công dân Việt Nam có hoạt động chống đối Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc nhân danh tôn giáo vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam nên đã bị xử lý theo quy định. Điều này cũng hoàn toàn bình thường, giống như ở nhiều nước phương Tây đã từng có rất nhiều người bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì có hành vi nhân danh tôn giáo, vượt qua những giới hạn cho phép của luật pháp.

Có thể nói, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo cho mọi người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số phẩn tử phản động trong tôn giáo đang cố tình phớt lờ những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta, phớt lờ những thành tựu về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam là nằm trong mưu đồ của các thế lực chính trị phản động, muốn lợi dụng các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo như những công cụ mềm để đưa Việt Nam vào quỹ đạo ảnh hưởng, phục vụ cho lợi ích của các nước lớn, gây sức ép, “mặc cả” Việt Nam đánh đổi các vấn đề về chính trị và lợi ích kinh tế trong quan hệ quốc tế và từng bước cải cách Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam hoặc có thể tạo cớ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Do đó, các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tạo sự ổn định để phát triển đất nước theo mục tiêu mà dân tộc ta đã lựa chọn./.

PHẬT GIÁO VIỆT NAM: “HỘ QUỐC AN DÂN, ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC”

 

Phật giáo Việt Nam là tôn giáo có truyền thống “hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc", luôn gắn bó với vận mệnh của đất nước. Lịch sử đã minh chứng: khi đất nước hùng cường thì Phật giáo hưng thịnh; khi Tổ quốc lâm nguy, Phật giáo sẵn sàng đứng lên tham gia chống giặc ngoại xâm, cùng toàn dân giành lại độc lập chủ quyền cho dân tộc. 

Khi đất nước hòa bình, Phật giáo tích cực tham gia xây dựng cuộc sống và có những đóng góp trên tất cả các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức xã hội…

Dù Phật giáo phát tích từ Ấn Độ, nhưng nếu người Việt Nam định nghĩa Phật giáo là tôn giáo của dân tộc cũng vẫn chính xác. Vì sao lại như vậy? Vì Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam hàng nghìn năm, hoà vào dòng chảy chung của văn hoá Việt Nam. Mặt khác, giáo lý tu tập của Phật giáo vốn cũng đã rất gần gũi với đạo đức của người Việt. Đơn cử như giáo lý về Tứ trọng ân mà mỗi một chúng sinh phải luôn ghi nhớ: đó là Ân cha mẹ; Ân Tam bảo sư trưởng; Ân Quốc gia xã hội; Ân chúng sinh vạn loại. Trong đó Ân quốc gia xã hội được hiểu qua mỗi việc làm thiết thực vì quốc gia, vì xã hội cũng chính là cách hành đạo “phụng sự dân tộc là cúng dường chư Phật”. 

Xuất phát từ minh triết Phật giáo và đạo học truyền thống của người Việt nên Phật giáo đã có chỗ đứng, vị trí trong lòng dân tộc, lịch sử dân tộc Việt đã ghi nhận những đóng góp của Phật giáo trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần trọng tâm vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam trong mọi thời đại, mọi hoàn cảnh lịch sử.

Những đóng góp thiết thực vào đời sống văn hóa và công cuộc đổi mới đất nước qua hàng ngàn năm lịch sử đã minh chứng Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo nhập thế, luôn đồng hành cùng dân tộc trên mỗi bước đường phát triển.

Phật giáo không chủ trương đi sâu vào các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật hay đường lối chính sách quốc gia, mà đề cập nhiều hơn khía cạnh con người, vì chính “con người là chủ nhận của Nghiệp, là kẻ thừa tự của Nghiệp”. Do vậy, trong lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam luôn gắn vận mệnh Phật giáo với vận mệnh dân tộc.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tư cách là tổ chức kế thừa truyền thống vẻ vang đó sẽ tiếp tục chèo lái, dẫn dắt tăng ni, phật tử phát huy truyền thống, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa các tôn giáo, hoà hợp Đạo - Đời; trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội nhằm xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh và thu được nhiều thành tựu Phật sự hơn nữa; đồng thời tiếp tục có những đóng góp tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xứng đáng là tôn giáo “hộ quốc an dân”, tôn giáo của dân tộc.

QUAN VŨ KHÔNG THỂ SO SÁNH VỚI HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

 

Trong ít ngày qua tại nhiều diễn đàn lịch sử đã có những bài viết gây tranh cãi đến từ việc so sánh Quan Vũ với Trần Hưng Đạo.

XIN GIẢM ÁN, RA KHỎI TÒA KHÓC NHƯ MƯA, LUÔN MIỆNG CHỬI BỌN PHẢN ĐỘNG KÍCH ĐỘNG LÀM ANH SA VÀO TỘI LỖI!

        Bị cáo Lê Chí Thành ăn năn về hành vi sai phạm của mình và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án để sớm được về với gia đình, lo cho con. 

Sau khi tuyên án, ra khỏi tòa bị cáo Thành khóc nức nở vì trót dại và luôn miệng không quên nói tại bọn nó (bọn phản động) kích động nên bị cáo mới ra nông nỗi này.

Ngày 13/4, TAND TP.HCM mở phiên xét xử phúc thẩm bị cáo Lê Chí Thành (SN 1983, hộ khẩu xã Tân Đức, huyện Hàm Tân, Bình Thuận) về tội "Chống người thi hành công vụ" đã tuyên phạt Lê Chí Thành 2 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Tại phiên tòa, bị cáo Thành thừa nhận những hành vi của mình đã làm ảnh hưởng đến người thi hành công vụ, cản trở cảnh sát giao thông phương tiện về nơi tạm giữ phương tiện vi phạm là vi phạm pháp luật.“Cấp sơ thẩm tuyên bị cáo tội “chống người thi hành công vụ” là không oan sai, nhưng mức án 2 năm tù là quá nặng. Bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án, để sớm về với gia đình, lo cho con”, bị cáo Thành nói.

Lê Chí Thành nguyên là cán bộ công an. Năm 2003 - 2019, Thành công tác tại trại giam Thủ Đức (Z30D Bình Thuận); năm 2020, công tác tại trại giam Xuân Lộc. Đến tháng 7/2020, do có vi phạm chế độ công tác ngành, suy thoái phẩm chất chính trị, bị một số đối tượng phản động kích động, Thành đã vu khống, chống lại ngành công an, Bộ Công an tước danh hiệu công an nhân dân lúc đang mang hàm đại uý./.
Yêu nước ST.

Nhận thức về an ninh phi truyền thống theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 Vấn đề ANPTT được Đảng ta nhận thức từ rất sớm và thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 17-12-1998, của Bộ Chính trị khóa VIII, cảnh báo và chỉ ra các yếu tố thách thức đối với an ninh quốc gia, trong đó có vấn đề ANPTT. Tiếp đó, vấn đề ANPTT tiếp tục được đề cập, nêu rõ trong nội dung các văn kiện Đại hội XI, XII của Đảng. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng năm 2021 đã tiếp tục khẳng định nhận thức, quan điểm nhất quán về nội dung, thách thức của ANPTT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đại hội nhấn mạnh: “Những vấn đề toàn cầu như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường... tiếp tục diễn biến phức tạp”(5), “Những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ”(6), từ đó, đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống”(7)...; bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng và an ninh xã hội. Kịp thời đấu tranh trấn áp có hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao. Chủ động phối hợp với các quốc gia bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; xử lý các vấn đề ANPTT, tạo vành đai bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh phù hợp với hội nhập quốc tế và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(8). 

Đại hội XIII của Đảng đặt ra nhiệm vụ phải ứng phó với các mối đe dọa ANPTT và một trong các giải pháp là hoàn thiện chính sách, pháp luật, bởi lẽ, ngoài các mối đe dọa ANPTT có thể khiến một quốc gia, thể chế, chế độ lung lay, bất ổn, sụp đổ, tiêu vong mà không cần bất kỳ một hoạt động chiến tranh quân sự nào; cùng với đó, nhiều nội dung của ANPTT còn ảnh hưởng đến tất cả các nước, trong khu vực hay trên toàn thế giới, như vấn đề an ninh môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm... không chỉ ảnh hưởng đến một quốc gia mà có thể lan tràn, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Đặc biệt, các mối đe dọa của ANPTT thậm chí được chuyển hóa dẫn đến các vấn đề an ninh truyền thống, an ninh quân sự bởi đặc tính “lan tỏa nhanh” và “xuyên quốc gia”(9)

Các mối đe dọa ANPTT tập trung vào hai nhóm chính sau: 

- Nhóm về các quá trình, hiện tượng tự nhiên và xã hội bất lợi đến xã hội, như hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh truyền nhiễm, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, khoáng sản, di cư bất hợp pháp...; tương ứng với từng lĩnh vực an ninh trọng yếu (an ninh môi trường, an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh dân số...). 

- Nhóm về các hành vi tiêu cực (phạm pháp) do cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện ảnh hưởng bất lợi đến xã hội, như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia (rửa tiền, cướp biển, buôn bán trái phép chất ma túy, buôn bán người, vũ khí), tội phạm công nghệ cao...; tương ứng còn gọi là tội phạm phi truyền thống. Đây cũng chính là cách tiếp cận của PLHS  về vấn đề ANPTT và là mối đe dọa hàng đầu đến con người, an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và xã hội không chỉ của một quốc gia mà là toàn thế giới.

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM LẠI NGAY TRƯỚC GIỜ GIẢI PHÓNG!

         Cứ mỗi tháng Tư về, tôi lại tìm đến những đồng đội đã cùng mình thần tốc tiến về giải phóng Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những người lính ngày ấy, số ít đang tại ngũ, số nhiều hơn đã trở về đời thường. Không ít đồng đội tôi đã nằm lại cửa ngõ Sài Gòn, nằm lại với đất phương Nam trước ngày toàn thắng. Tháng Tư này, tôi tìm đến nhà liệt sĩ Trần Văn Trắc ở xóm Lương Ninh, xã Xuân Đan, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, thắp nén nhang lên bàn thờ người đồng đội, trong khói hương trầm mặc, lòng tôi bỗng sống dậy cả một miền ký ức…

Khoảng giữa năm 1974, ngày ấy tôi đang là Tiểu đoàn trưởng bộ binh thuộc Trung đoàn 266, Sư đoàn 341. Tiểu đoàn tôi được bổ sung gần 30 tân binh quê Hà Tĩnh. Trong gần 30 chiến sĩ ấy, người gây được sự chú ý nhất của tôi là một anh lính đồng hương, mang cái tên ngồ ngộ: Trần Văn Trắc.

Là “dân” Hà Tĩnh, nên Trắc rất cần cù, chịu khó. Từ việc nấu ăn, quét nhà, đánh tranh, dựng lán… Trắc đều làm trơn tru. Nhưng nỗi đam mê nhất của Trắc là những cuốn sách giáo khoa. Đêm đêm, trong tiếng gào rú của đạn bom, của tiếng máy bay trên đầu, dưới căn hầm cá nhân, Trắc mải mê với những trang sách.

Những lần đến thăm đồng hương, Trắc thường ngước đôi mắt trong veo lên nhìn tôi: “Chúng ta sẽ tiến về Sài Gòn, phải không thủ trưởng? Sài Gòn giải phóng thì đồng bào ta trong đó được sống trong độc lập, tự do; đất nước được hòa bình. Em sẽ được thi vào đại học để thực hiện ước mơ của mình. Em sẽ trở thành kỹ sư xây dựng, thủ trưởng ạ!”.

Những năm tháng ấy, thời gian trôi đi dữ dội quá. Dữ dội đến độ người lính chúng tôi không còn cảm giác về thời gian nữa. Thời gian nhập nhòa màu lửa cháy, nhập nhòa màu máu đỏ. Chỉ có màu xanh áo lính chúng tôi và những ước mơ của người lính làm cho chúng tôi nhận ra ở đây còn có màu xanh. Một màu xanh khát khao và hy vọng…!

Tháng 4-1975, sư đoàn chúng tôi nhận lệnh tiến về giải phóng Xuân Lộc đập tan cái chốt chặn kiên cố nhất của địch ở cửa ngõ Sài Gòn. Lúc này, Trắc đã là hạ sĩ tiểu đội trưởng thuộc trung đội hỏa lực trực thuộc tiểu đoàn. Tiểu đoàn ém quân trong một rừng cao su, chặn đánh quân địch tiếp viện cho Xuân Lộc.

Hôm đó, chừng 9 giờ sáng, hình như đánh hơi được điều gì bất ổn, địch cho máy bay rà soát trên đội hình quân ta và tung thám báo ra lùng sục. Bọn thám báo dàn hàng ngang, vừa đi, vừa bắn như vãi đạn, tiến về hướng trận địa quân ta. Nguy cơ trận địa bị lộ treo lơ lửng ngay trước mắt. Đúng lúc đó, Trắc ôm súng chạy đến bên tôi:

- Báo cáo thủ trưởng, cho tiểu đội em xuất kích!

- Xuất kích? – Tôi tròn mắt – Đồng chí có khùng không đấy? Nổ súng bây giờ trận địa sẽ lộ, còn đâu là phục kích, là bất ngờ nữa?!

- Báo cáo: Nếu không xuất kích, cả đại đội thám báo đang càn vào đội hình ta thế kia, sớm muộn gì trận địa cũng lộ. Theo em biết, trong tiểu đoàn đang có 5 đồng chí du kích địa phương làm nhiệm vụ dẫn đường. Bọn em sẽ đổi quần áo cho họ rồi tách ra khỏi đội hình, nổ súng đánh lạc hướng địch. Nếu có bề gì, chúng cũng chỉ nghi bọn em là du kích và sẽ chẳng còn nghi ngờ có chủ lực ta ở đây!

Tôi đã hiểu ý định của người tiểu đội trưởng, người đồng hương của mình. Một thoáng đắn đo trong đầu tôi. Như đọc được ý nghĩ đó, Trắc gằn giọng:

- Để bọn em xuất kích, khi đang còn kịp! Quyết định đi, thủ trưởng!

Tôi cắn môi, gật đầu. Hơn 15 phút sau, tiếng súng của tiểu đội 5 người do Trắc chỉ huy đã nổ vào sau lưng lũ thám báo. Các anh vừa bắn, vừa rút. Bọn địch hò nhau đuổi theo. Tiếng AK nổ từng điểm xạ ngắn, lúc nơi này, lúc nơi khác, xa dần đội hình phục kích của tiểu đoàn.

Gần một giờ sau, tiếng súng của tiểu đội Trắc chỉ còn nổ lẻ tẻ rồi im bặt. Ngồi trong công sự, bằng mắt thường, nhiều cán bộ, chiến sĩ cũng thấy lũ giặc đang kéo thi thể 5 anh em ra mặt đường. Chúng tôi thấy ruột mình như đang bị xát muối. Nhiều người cố ghìm tiếng nấc, răng nghiến kèn kẹt; có người đôi tròng mắt bật máu!

Qua bộ đàm, tôi nghe bọn thám báo báo về thượng cấp của chúng: “đã chạm súng với một trung đội du kích cộng quân. Tất cả cộng quân đã bị bắn hạ (!)”, rồi chúng hí hửng rút lui. Lũ máy bay L19 cũng không còn vo ve trên đầu nữa.

Một lúc sau, đoàn quân xa của địch tiếp viện cho Xuân Lộc chẳng nghi ngờ gì, tiến vào trận địa ta phục kích. Khi chiếc xe cuối cùng lọt vào tầm ngắm của DKZ, tôi đấm mạnh tay xuống đất, gầm lên:

- Vì Sài Gòn giải phóng! Trả thù cho tiểu đội đồng chí Trắc! B…ắn!

Trong cuộc đời trận mạc của mình, chưa bao giờ tôi thấy tiếng súng tiểu đoàn nổ dữ dội đến thế. Những luồng đạn DKZ, B40, B41 đầu tiên đã thiêu cháy gần hết đoàn xe. Tôi phát lệnh xung phong. Cả tiểu đoàn lao lên bằng sức mạnh căm thù và tình yêu đồng đội. Đoàn quân tiếp viện của địch bị tiêu diệt hoàn toàn. Lúc đó là trưa ngày 12-4-1975!

Đã 41 năm Sài Gòn được giải phóng!

Đất nước đang khởi sắc từng ngày trong công cuộc đổi mới của Đảng ta. Sống trong thanh bình, rất nhiều đêm, rất nhiều năm, hình ảnh của Trắc, của tiểu đội anh hùng ấy cứ hiện về cháy rát trong tim tôi. Và có thể hình bóng của người đồng đội ấy sẽ đi theo tôi suốt cuộc đời.

Trắc đã đi xa. Anh đã được đồng đội và bà con cô bác đưa về an nghỉ ở nghĩa trang Long Khánh ngay cửa ngõ Sài Gòn. Trong ký ức của tôi và bao đồng đội, mãi mãi, anh và những người lính như anh đã ngã xuống cho cuộc đời hôm nay, đã trở thành bất tử!

Và, cứ độ tháng tư về, trong tôi lại hiện về lấp lánh màu xanh quân phục của những đoàn quân ào ạt tiến về Sài Gòn; lại hiện về lấp lánh màu xanh quân phục sạm đen khói súng của Trắc đang ôm súng lao lên dưới một trời đạn lửa. Hình như đâu đó trên các giảng đường đại học, tôi vẫn thấy Trắc bằng xương, bằng thịt đang ngồi trước trang sách mở, miệng mỉm cười, ngước đôi mắt trong veo lên bục giảng.
Và, tôi bỗng nhận ra một điều thật ấm áp: Những người lính như anh vẫn còn sống mãi trong trái tim, trong nỗi nhớ, trong ký ức mỗi chúng tôi; đứng cao hơn số phận con người!






Yêu nước ST.

Một số giải pháp chủ động ứng phó Với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống

 Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp, ngành, lực lượng và toàn xã hội về những biểu hiện mới và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Đây là vấn đề rất khó nhận biết ngay từ đầu, chỉ đến khi xảy ra chúng ta mới thấy hết hậu họa của nó. Vì thế, cần nâng cao nhận thức về an ninh phi truyền thống; trong đó cần thấy rõ những biểu hiện, nguy cơ và tác hại của nó cho mọi người dân, cả xã hội, nhất là hệ thống chính trị; từ đó, định hướng thái độ, hành vi và hành động ứng phó phù hợp. Thực tiễn cho thấy, đôi khi sự thay đổi thói quen, điều chỉnh hành vi của cá nhân, cộng đồng,… có thể giúp ngăn ngừa nguy cơ đến từ an ninh phi truyền thống, như: môi trường, nguồn nước, lương thực,… mạng xã hội. Vì thế, việc nâng cao nhận thức cho toàn dân về vấn đề này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục cả về bề rộng và chiều sâu theo đúng phương châm mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; đó là: coi giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để phát triển bền vững đất nước, phát triển để giữ vững an ninh, an ninh để phát triển, an ninh trong phát triển. Bên cạnh đó, cần làm rõ nhận thức về nội hàm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng như những biểu hiện mới, trọng tâm của an ninh phi truyền thống hiện nay. Trên cơ sở đó huy động sự chủ động, tích cực tham gia của mỗi người dân và cả cộng đồng vào phòng ngừa và ứng phó.

Hai là, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ, nhất là nguy cơ gây đột biến từ an ninh phi truyền thống. Chúng ta biết, trong rất nhiều nguy cơ an ninh phi truyền thống thì các nguy cơ gây đột biến là nguy hiểm nhất, nhanh nhất và gây hậu quả lớn nhất đối với đời sống con người. Và về cơ bản, loại nguy cơ này đến từ mọi mặt của đời sống, xã hội, trọng tâm là an ninh con người. Chính vì thế, việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ này đòi hỏi trước tiên phải  không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Để làm được điều đó, trong từng giai đoạn, cần hết sức coi trọng gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi, chính sách, kế hoạch và chương trình phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trong đó, chú trọng và giải quyết khéo léo, tinh tế, linh hoạt, hiệu quả vấn đề dân tộc, tôn giáo,… hạn chế khả năng chuyển hóa các xung đột xã hội thành xung đột chính trị. Đồng thời, chủ động phân loại vấn đề an ninh phi truyền thống để thiết kế những mô hình, kịch bản ứng phó phù hợp, hiệu quả nhất. Cùng với đó, nâng cao năng lực dự báo để kịp thời nhận diện và nắm bắt những nguy cơ này từ sớm, từ xa, chủ động dự kiến một số tác động của nó để xây dựng các phương án sẵn sàng ứng phó kịp thời, hiệu quả.

Ba làđẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hànhđộng chống phá của các thế lực thù địchHiện nay, các thế lực thù địch chuyển từ chống phá chủ yếu bằng biện pháp vũ trang sang phi vũ trang, nhằm gây mất ổn định bên trong, tạo cớ để sẵn sàng can thiệp vũ trang khi cần thiết. Do đó, một số vấn đề an ninh phi truyền thống, đặc biệt là vấn đề dân tộc, tôn giáo thường bị lợi dụng để đòi ly khai, gây bạo loạn chính trị, nếu ta xử lý thiếu linh hoạt, khôn khéo sẽ châm ngòi cho xung đột vũ trang, can thiệp quân sự từ bên ngoài. Vì vậy, cần quán triệt và thực hiện đầy đủ tư tưởng đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, tôn giáo đi đôi với đấu tranh với các biểu hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện đòi ly khai ngay từ khi mới nhen nhóm. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng tôn giáo của người dân đi đôi với đấu tranh phản bác các luận điệu lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế phát hiện, ngăn ngừa và ứng phó với những mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Từ thực tiễn cho thấy, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có nhiều nguyên nhân: từ tự nhiên, do phát triển kinh tế - xã hội nóng, điều hành của chính phủ, v.v. Vì vậy, để ứng phó với vấn đề này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả cộng đồng, các tổ chức, quốc gia, khu vực và thế giới. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về vấn đề an ninh phi truyền thống, đó là chủ động, tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế ứng phó hiệu quả với những thách thức an ninh phi truyền thống. Nội dung hợp tác rất phong phú, trong đó trực tiếp nhất là chia sẻ thông tin trung thực, kịp thời về các mối đe dọa an ninh phi truyền thống thông qua thiết lập cơ chế hợp tác cụ thể và hữu hiệu; thành tựu khoa học - công nghệ, đào tạo nhân lực và huy động mọi nguồn lực cho phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; các quỹ phòng, chống an ninh phi truyền thống giữa các nước, khu vực, quốc tế, tạo cơ sở, nền tảng cho sự hợp tác, xử lý nhanh và hiệu quả.

Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống tuy ít thách thức đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhưng uy hiếp và hủy hoại trực tiếp đến các yếu tố tạo nền tảng sinh tồn và phát triển của con người, cộng đồng, xã hội, quốc phòng, an ninh, quốc gia - dân tộc và toàn nhân loại. Vì vậy, nhận thức đầy đủ về những biểu hiện và tác động của an ninh phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, cần sớm tìm kiếm những giải pháp được gợi mở, chỉ dẫn từ Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, góp phần tăng cường tính chủ động và hiệu quả trong ứng phó bảo đảm an ninh con người, an ninh quốc gia.

VIỆT NAM CÓ TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN INTERNET CAO BẬC NHẤT TRÊN THẾ GIỚI NHƯNG VẪN BỊ BỘ NGOẠI GIAO MỸ XẾP HẠNG LÀ NHỮNG QUỐC GIA... KHÔNG CÓ TỰ DO INTERNET!

         Tổng thống Mỹ Joe Biden mới đây đã đăng tải trên trang cá nhân của mình về tình trạng thiếu Internet có một bộ phận người dân Mỹ ở thành phố Iowa - một thành phố bậc trung ở Mỹ "Tôi đã ở Iowa ngày hôm nay, nơi 16% hộ gia đình không có thuê bao Internet. Ở một số nơi, không có cơ sở hạ tầng Internet tốc độ cao nào". Trớ trêu thay, Mỹ là nơi khởi nguồn và đi đầu thế giới về Internet.

Trong khi đó, cách nửa vòng Trái Đất, một đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh hơn 30 năm, đã chứng kiến những chỉ số "thần kỳ". Theo Sách trắng công nghệ thông tin năm 2021, tính đến hết năm 2021, Việt Nam có 70,9 triệu thuê bao băng rộng di động (chiếm 57,23% tổng số thuê bao di động), tăng hơn 4% so với năm 2020; có 18,79 triệu thuê bao Internet băng rộng cố định, tăng 14,59%... Và người dân được sử dụng Internet tốc độ cao với giá rất rẻ: 137.000 đồng (tương đương với 6 USD)/1 tháng.

Tuy nhiên, năm nào Việt Nam cũng bị Bộ Ngoại giao Mỹ xếp hạng vào danh sách những quốc gia…không có tự do Internet NHẤT trên thế giới./.

Yêu nước ST.

Nhận diện và ứng phó kịp thời, hiệu quả với thách thức an ninh phi truyền thống

Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, bên cạnh việc xác định các mối đe dọa từ an ninh truyền thống, Đảng ta còn chỉ rõ các thách thức an ninh phi truyền thống đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, nhận diện và đề ra các giải pháp ứng phó linh hoạt, hiệu quả đối với thách thức này là vấn đề cấp thiết hiện nay. 

Tư duy và nhận thức của Đảng về an ninh phi truyền thống

An ninh phi truyền thống là khái niệm không mới nhưng do tính chất phức tạp cùng hậu quả nặng nề mà nó gây ra đối với đời sống con người đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia, tổ chức và cộng đồng quốc tế. Trên thực tiễn, các thách thức an ninh phi truyền thống đã, đang hiện hữu, nếu không được kiểm soát, xử lý hiệu quả thì nó ngày càng tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, sự phát triển, tồn tại của quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam các thách thức an ninh phi truyền thống hiện hữu ngày càng rõ nét hơn và tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, an ninh. Cũng từ thực tiễn đó, việc nhận thức và nhận diện vấn đề này của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ngày càng được thể hiện đầy đủ và sâu sắc hơn.

Trước Đại hội IX, Đảng ta tuy chưa chính thức sử dụng khái niệm an ninh phi truyền thống trong văn kiện, nhưng đã chỉ ra dấu hiệu của nó. Đến Đại hội IX, Đại hội X, Đảng ta tiếp tục bổ sung và phát triển nhận thức về an ninh phi truyền thống một cách rõ ràng hơn, đó là: “Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức phối hợp giải quyết; khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng di cư;… môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu…”1. Tuy nhiên, phải đến Đại hội XI, Đảng ta mới chính thức sử dụng khái niệm an ninh phi truyền thống trong văn kiện của mình. Tiếp đó, tại Đại hội XII, lần đầu tiên, Đảng ta đặt an ninh phi truyền thống bên cạnh an ninh truyền thống và chỉ ra một số vấn đề toàn cầu, như: “…an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp”2. Đồng thời, lưu ý đến vấn đề “an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới” với hàm ý khả năng chuyển hóa một số vấn đề an ninh phi truyền thống thành an ninh truyền thống.

Đặc biệt, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã thể hiện tư duy, nhận thức vừa mới, vừa sâu sắc và toàn diện về an ninh phi truyền thống đối với quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, nhấn mạnh “an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương”, phù hợp với bối cảnh hiện nay và coi việc giữ vững an ninh quốc gia vừa là mục tiêu, giải pháp để phát triển bền vững đất nước, vừa thể hiện tư tưởng chỉ đạo phát triển để giữ vững an ninh, an ninh để phát triển, an ninh trong phát triển. Đây là những vấn đề hết sức quan trọng, nhằm thống nhất nhận thức, tạo cơ sở, tiền đề để các cấp, ngành, lực lượng, địa phương triển khai các giải pháp thực hiện trong thực tiễn.

Nhận diện rõ các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Từ quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về an ninh phi truyền thống có thể khái quát thành mấy vấn đề chủ yếu sau: (1). Về biến đổi khí hậu, được biểu hiện rõ nhất là số cơn bão mạnh có chiều hướng gia tăng, quỹ đạo của bão dị thường; hạn hán có xu hướng mở rộng, xảy ra nhiều đợt nắng nóng, rét đậm, rét hại kéo dài kỷ lục. Việt Nam được đánh giá là một trong 05 quốc gia trọng điểm chịu tác động của biến đổi khí hậu; trong đó, đồng bằng Sông Cửu Long là một trong 04 khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất về hạn hán và mặn xâm nhập; (2)An ninh năng lượng là vấn đề đáng báo động. Theo đó, trung bình mỗi năm, nhu cầu sử dụng năng lượng ở Việt Nam tăng gấp 02 lần, trong khi đó khả năng đáp ứng chỉ đạt khoảng 60%. Vì thế, việc nhập khẩu năng lượng là điều khó tránh, dẫn đến phụ thuộc vào một số quốc gia; (3). Về an ninh lương thực, tuy là một trong các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhưng tính chất và trình độ phát triển chưa tương xứng, khiến chúng ta luôn phải đối mặt với nguy cơ mất an ninh lương thực; (4). Đối với an ninh nguồn nước, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia thiếu nước, với nguồn nước ngầm sụt giảm mạnh, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, bức tử nhiều dòng sông do tác động của công nghiệp hóa và xả thải bừa bãi của nhiều nhà máy, xí nghiệp; (5). An ninh mạng đã, đang là vấn đề nổi cộm hiện nay khi tội phạm công nghệ cao gia tăng, diễn biến phức tạp, sử dụng không gian mạng tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tấn công phá hoại, gây đình trệ hạ tầng công nghệ thông tin, cũng như hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, v.v. Ngoài ra, còn một số biểu hiện khác, như: tội phạm xuyên quốc gia, mua, bán người, ma túy,… phức tạp nhất là tội phạm ma túy tại các địa bàn biên giới.

ĐỂ MÃI LÀ HÌNH TƯỢNG ĐẸP, BIỂU TRƯNG VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC

 

Để tiếp tục gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới, một mặt, chúng ta phải tích cực nhận diện, đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, chống phá; mặt khác, phải thường xuyên giáo dục tinh thần tự giác học tập và tổ chức rèn luyện để mỗi cán bộ, chiến sĩ đề cao trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mãi trở thành hình tượng đẹp-biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Thực hiện mục tiêu, yêu cầu đó, trong nhiều năm qua, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ thị toàn quân tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, phấn đấu giữ vững danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ với 5 chuẩn mực: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; bốn là, đẩy mạnh thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; năm là, tích cực chăm lo xây dựng đoàn kết nội bộ tốt, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ, gìn giữ, phát triển các giá trị Bộ đội Cụ Hồ được chỉ rõ hơn, sâu sắc hơn trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi là Nghị quyết 847). Theo đó, Quân ủy Trung ương xác định 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà mỗi cán bộ, chiến sĩ phải phấn đấu xây dựng, hướng tới; đồng thời "điểm mặt" 10 biểu hiện chủ nghĩa cá nhân để mỗi tổ chức, cá nhân nhận diện, đấu tranh, đẩy lùi.

Những chủ trương trên thể hiện tinh thần hết sức nghiêm túc, trách nhiệm trong quán triệt, cụ thể hóa Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII và Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội; là cơ sở chính trị, động lực tinh thần, phương châm hành động để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện, cống hiến xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động và nghiên cứu, sớm đưa Nghị quyết 847 vào cuộc sống là giải pháp tốt nhất để danh xưng Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống của Quân đội ta được lưu danh mãi với thời gian, thấm sâu vào suy nghĩ, hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân. Đây cũng là phương cách hữu hiệu nhằm tạo đề kháng, sức miễn dịch cho bộ đội trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch.  

Để cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, trước hết, các cấp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong toàn quân về giá trị, ý nghĩa của Nghị quyết 847 đối với việc lưu giữ và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ-giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng, phòng truyền thống, nhân chứng lịch sử; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, xây dựng môi trường văn hóa quân sự tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tinh thần lạc quan cách mạng, đạo đức, lối sống trong sáng, lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn, gắn bó mật thiết với nhân dân. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và cán bộ, đảng viên, quần chúng trong phấn đấu, rèn luyện, cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc theo phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời chủ động phát hiện, khắc phục kịp thời mọi biểu hiện tư tưởng lệch lạc, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc, làm việc cầm chừng, vô cảm trước khó khăn, hoạn nạn của nhân dân, “dĩ hòa vi quý”, thấy đúng không bảo vệ, sai không đấu tranh, phê bình, vi phạm kỷ luật quân đội, làm ảnh hưởng đến quan hệ đoàn kết quân-dân...

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, bảo đảm cho tinh thần của Nghị quyết 847 đi đúng quỹ đạo đề ra; xác định rõ chỉ tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp cụ thể với từng cấp, từng đối tượng và loại hình đơn vị; duy trì thường xuyên, liên tục, có kiểm tra, rút kinh nghiệm, đánh giá kết quả, tránh việc "trên nóng, dưới lạnh", “phát mà không động”, “đánh trống bỏ dùi”, làm cho sức sống và giá trị của nghị quyết bị suy giảm, bị "uốn cong" trong quá trình triển khai thực hiện. Đồng thời, phải gắn kết chặt chẽ giữa thực hiện Nghị quyết 847 với Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động cách mạng; tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Hướng dẫn số 202/HD-CT, ngày 3-2-2015 của Tổng cục Chính trị về “Thực hiện nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới”, bảo đảm nghiêm túc, thiết thực, chặt chẽ, gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của mỗi cá nhân. Các tổ chức quần chúng đẩy mạnh hoạt động xung kích, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của cán bộ, hội viên, đoàn viên, bảo đảm cho nội dung xứng danh Bộ đội Cụ Hồ đi vào cuộc sống, hoạt động của các tổ chức, lực lượng, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao. Qua đó, tạo sức mạnh tổng hợp, không khí thi đua sôi nổi làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, vai trò, vị thế của Quân đội ta ngày càng tỏa sáng, có sức cảm hóa mãnh liệt trong toàn quân và toàn xã hội.

Tăng cường đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, là giải pháp quan trọng để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được phát huy trong điều kiện mới. Cần cụ thể hóa Nghị quyết 847 bằng các phong trào, mô hình cụ thể ở cơ sở, sát với đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực. Bởi lẽ, thực tiễn phong trào cách mạng càng phong phú, sinh động, thiết thực thì phẩm chất quân nhân cách mạng-Bộ đội Cụ Hồ càng được rèn giũa và thể hiện sâu sắc. Thông qua hoạt động thực tiễn, đề cao tinh thần tích cực, chủ động, tìm tòi, đổi mới, nâng cao hiệu quả công việc; cống hiến tài năng, sức sáng tạo, khả năng làm chủ vũ khí, trang bị, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao đối với từng cán bộ, chiến sĩ...

Quá trình tổ chức các hoạt động thực tiễn cho bộ đội phải phát huy vai trò nêu gương, mẫu mực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ trì các cấp trong phấn đấu, rèn luyện xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Sự mẫu mực, mô phạm, nói đi đôi với làm của cán bộ các cấp là mệnh lệnh không lời, có sức thuyết phục cao đối với bộ đội. Nêu gương và làm gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho đảng viên, quần chúng noi theo. Bởi vậy, cán bộ, đảng viên luôn phấn đấu để hoàn thiện mình, từ nhận thức đến hành động, từ lời nói đến việc làm phải thật sự chuẩn mực, có sức cảm hóa, thu hút cấp dưới và chiến sĩ làm theo. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, càng phải nêu gương cho cấp dưới, với tinh thần: “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi với quần chúng, công tâm trong xử lý các công việc, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” trong hoạt động; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Quá trình thực hiện phải đề cao tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình, “tự soi, tự sửa”; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động thông tin tích cực, kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Giải quyết tốt các mối quan hệ, tình đoàn kết giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, sự đồng thuận trong các cơ quan, đơn vị, tất cả hướng tới mục tiêu chung là xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu". 

Đấu tranh làm thất bại mưu đồ bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, tiếp tục phát huy những giá trị cao quý, thiêng liêng của quân nhân cách mạng trong thời kỳ mới là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Nếu mỗi cá nhân biết tự tu rèn, đắp bồi nhân cách cho chính mình một cách tích cực sẽ góp phần giữ vững và tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, góp phần xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Vai trò của Quân đội trong tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội

 Quân đội nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ chính trị là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng thời, tham gia bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật. Trước yêu cầu mới, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ của mình để tham gia một cách phù hợp, đúng pháp luật.                                                    Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã xây dựng trưởng thành lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, cùng với toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện Nghị định 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ, QĐND đã chủ động phối hợp với Công an nhân dân (CAND) thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cả nước, nhất là ở địa bàn trọng điểm về quốc phòng – an ninh (QP-AN) trong nội địa và vùng biên giới, biển, đảo; góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 Cùng với việc tích cực, chủ động phối hợp với lực lượng Công an tham gia có hiệu quả vào bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, các đơn vị Quân đội còn phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng liên quan tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh công tác dân vận, tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Mái ấm tình thương”, đảm bảo an sinh xã hội, phòng, chống lụt bão, cháy nổ, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn… Chỉ tính riêng 5 năm gần đây, các đơn vị Quân đội đã tổ chức cứu vớt được hàng chục nghìn người dân, hàng trăm nghìn tấn hàng hóa, cứu hộ hàng nghìn tầu thuyền khỏi bão, lũ, tai nạn. Trên tuyến biên giới, Bộ đội Biên phòng phối hợp với Công an và các lực lượng liên quan làm tốt công tác quản lý biên giới, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, buôn bán hàng quốc cấm, truyền đạo trái phép, tuyên truyền chống phá Nhà nước, chế độ XHCN; xâm phạm an ninh, chủ quyền biên giới; xây dựng biên giới nước ta với các nước láng giềng hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển. 

Những kết quả đạt được đã góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị cho sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; đảm bảo cho Quân đội luôn xứng đáng là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, vũ khí sắc bén chống “thù trong, giặc ngoài”, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc sử dụng một số đơn vị Quân đội, nhất là đối với cơ quan quân sự (CQQS) địa phương tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội cũng còn một số thiếu sót, bất cập. Đó là, khi giải quyết những vấn đề nhạy cảm trong nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, một số địa phương đã chỉ đạo CQQS thuộc quyền điều động sử dụng bộ đội địa phương không đúng chức năng, nhiệm vụ, trái với bản chất, truyền thống của Quân đội, sai với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước… Những khuyết điểm này thể hiện nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội chưa đầy đủ. Điều nguy hiểm là ở chỗ, việc làm đó bị các thế lực thù địch lợi dụng, thổi phồng, kích động, làm cho tình hình phức tạp. Ở những mức độ khác nhau, việc làm đó làm ảnh hưởng đến mối quan hệ quân – dân và việc nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) của Quân đội; do vậy, cần sớm khắc phục.  

Hiện nay và trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt là trên Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, ổn định đối với khu vực và đất nước. Trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá toàn diện trên các mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, QP-AN, đối ngoại… Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, như: khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, các thảm họa thiên tai, môi trường… có chiều hướng gia tăng. Theo đó, nhiệm vụ QP-AN, bảo vệ Tổ quốc có những yêu cầu mới cao hơn. Để tiếp tục phát huy tốt vai trò của Quân đội trong điều kiện mới, chúng ta cần tập trung làm tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, nhất là về vị trí, vai trò của Quân đội đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Theo đó, các cấp, các ngành cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Đó là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”1. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân làm nòng cốt. Trong đó, QĐND làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; CAND là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ riêng do pháp luật quy định; không lực lượng nào làm thay mà chỉ phối hợp, hỗ trợ, chi viện cho nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Như vậy, trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, Quân đội có vai trò phối hợp, hỗ trợ cho lực lượng Công an; còn chức năng chính của Quân đội vẫn là quốc phòng, là sẵn sàng chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, nội hàm quốc phòng và an ninh ngày nay đã có sự phát triển mới, rộng hơn, gồm nhiều nội dung đan xen và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy, việc phối hợp giữa Quân đội với Công an trong thực hiện nhiệm vụ QP-AN nói chung, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nói riêng cần được quản lý chặt chẽ trên cơ sở thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, nhất là các chỉ thị, nghị quyết, nghị định, hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; hết sức tránh tình trạng tùy tiện, làm thay, dẫn đến thực hiện không đúng chức năng, chồng chéo…

Hai là, nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo, quản lý, chỉ huy LLVT trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đây là nguyên tắc và là nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tác này. Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 152/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý nhà nước trong xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ (KVPT), nêu rõ: “Trong các tình huống khẩn cấp về quốc phòng và chiến tranh, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo thống nhất của Ủy ban nhân dân (UBND), Chỉ huy trưởng CQQS địa phương chỉ huy thống nhất LLVT thuộc quyền trong KVPT, phối hợp với các lực lượng trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ SSCĐ và chiến đấu”. Chỉ huy trưởng CQQS tỉnh (thành phố) chỉ huy LLVT thuộc quyền tác chiến bảo vệ KVPT phải căn cứ vào kế hoạch, phương án tác chiến, mệnh lệnh chiến đấu của Tư lệnh Quân khu. Trong các tình huống liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm, biểu tình, khủng bố, bạo loạn chính trị và gây mất trật tự, an toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền địa phương, chỉ huy trưởng cơ quan công an chủ trì tham mưu và chỉ huy lực lượng Công an phối hợp với lực lượng quân sự và các lực lượng khác xử lý theo chức năng, nhiệm vụ do luật pháp quy định. Quan hệ chỉ huy, hiệp đồng giữa các LLVT trong KVPT khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền và sự chỉ huy thống nhất của chỉ huy CQQS, Công an theo quy định của pháp luật về mối quan hệ phối hợp giữa QĐND và CAND. Đây là cơ sở pháp lý để cấp ủy, chính quyền, CQQS, Công an các địa phương chấp hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Để làm rõ thẩm quyền lãnh đạo, quản lý, chỉ huy đối với LLVT nhân dân, Luật Quốc phòng (ban hành năm 2005) quy định: “LLVT nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ… Khi chưa có lệnh của cấp có thẩm quyền, người chỉ huy đơn vị LLVT nhân dân không được tự ý điều động, sử dụng người, trang bị, vũ khí của đơn vị mình để tiến hành các hoạt động vũ trang không có trong kế hoạch huấn luyện, diễn tập SSCĐ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt” (Điều 13). Về thẩm quyền điều động dân quân tự vệ (DQTV) ở các địa phương, Luật DQTV quy định, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự (CHQS) cấp tỉnh điều động DQTV trong địa bàn cấp tỉnh sau khi được sự nhất trí của Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Tư lệnh Quân khu; Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp huyện điều động DQTV trong địa bàn cấp huyện sau khi được sự nhất trí của Chủ tịch UBND cấp huyện và Chỉ huy trưởng Bộ CHQS cấp tỉnh; Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp xã và Chỉ huy trưởng Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở điều động DQTV thuộc quyền làm nhiệm vụ trong phạm vi cấp xã, cơ quan, tổ chức sau khi được sự nhất trí của Chủ tịch UBND cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức và Chỉ huy trưởng Ban CHQS cấp huyện… (Điều 44). Cấp ủy, chính quyền, CQQS, Công an, Thủ trưởng các bộ, ngành cần quán triệt và tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững những vấn đề có tính nguyên tắc đó, để việc tổ chức triển khai được thống nhất, đúng quy định của pháp luật.

Ba là, nâng cao khả năng phối hợp giữa Quân đội với Công an và các lực lượng khác trong tham gia bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Muốn vậy, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị trong toàn quân cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho bộ đội; làm rõ việc tham gia bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội là một nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” của Quân đội; từ đó giúp bộ đội xác định quyết tâm, rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, chú trọng công tác xây dựng kế hoạch, dự kiến các phương án sử dụng lực lượng, phương tiện, đảm bảo hậu cần, kỹ thuật, quân y,… trong các tình huống phòng thủ dân sự; tổ chức tốt công tác huấn luyện, diễn tập nâng cao trình độ phối hợp, hiệp đồng của các lực lượng trong tham gia thực hiện nhiệm vụ. Nội dung huấn luyện cần tập trung quán triệt và triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến nhiệm vụ, như: Luật Quốc phòng, Luật DQTV, Nghị định của Chính phủ về phòng thủ dân sự, Pháp lệnh Đê điều, Pháp lệnh Phòng cháy, chữa cháy, Pháp lệnh Phòng chống bão lũ, Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp, Chiến lược phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020...; Nghị định 77/2010/NĐ-CP và các quyết định, chỉ thị của Chính phủ giao nhiệm vụ cho Quân đội cùng các chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng về nhiệm vụ này. Trong huấn luyện, chú trọng huấn luyện, diễn tập các tình huống trong KVPT để nâng cao trình độ chỉ huy, tham mưu, xử trí các tình huống của đội ngũ sĩ quan; kỹ năng cho cá nhân và hiệp đồng phân đội, nhất là khả năng phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng Quân đội, Công an và các lực lượng khác xử trí các tình huống trong KVPT.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng là các cấp, các ngành cần thường xuyên tổ chức sơ, tổng kết đúc rút các bài học kinh nghiệm, kịp thời phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, bất cập để công tác phối hợp giữa Quân đội với các lực lượng trong tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ngày càng chất lượng, hiệu quả hơn.

TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG CÁC VUA HÙNG - ĐIỂM TỰA TÂM LINH VỮNG CHẮC, CỐ KẾT TINH THẦN DÂN TỘC

 

Có thể nói, tín ngưỡng thờ cúng các Vua Hùng đã trở thành bản sắc văn hóa sâu sắc, đạo lý truyền thống bền vững nối tiếp qua nhiều thế hệ người Việt ta; là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn của các thế hệ con cháu với công đức của tổ tiên trong dựng nước và giữ nước. Đồng thời, đây là hoạt động tâm linh, cầu mong Quốc Tổ phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đất nước yên vui, thanh bình, thịnh vượng và mang ý nghĩa sâu xa về sự gắn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau của cộng đồng dân tộc Việt, những người có chung một cội, cùng chung một nguồn.

Trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Theo Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thoạt nhìn, các nội dung này có vẻ rất lớn, là trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, của cả hệ thống chính trị… nhưng trên thực tế, tất cả đều liên quan đến trách nhiệm cá nhân của các đảng viên.

Đối với mỗi đảng viên, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nói, viết và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng. Đây là một yêu cầu rất quan trọng và mỗi đảng viên phải thể hiện trách nhiệm cao trong công tác, hoạt động, sinh hoạt, sử dụng mạng xã hội… Chẳng hạn, Điều lệ Đảng ghi: “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”, tất cả các đảng viên không thể hoài nghi mục đích đó; bản thân nếu chưa rõ thì cần nghiên cứu lại các tài liệu, nhất là giáo trình các lớp trung cấp, cao cấp lý luận chính trị, hỏi các chuyên gia… Sẽ không thể chấp nhận nếu có hiện tượng đảng viên nghi ngờ định hướng đó, rồi đi tán phát các thông tin, ý kiến cho rằng “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không có thật”, rằng “chủ nghĩa xã hội đã không thể thành hiện thực ngay ở quê hương Cách mạng tháng Mười thì không thể thành công ở nơi khác”…

Hay ở nội dung “bảo vệ công cuộc đổi mới”, mỗi đảng viên cần có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và thành tựu của công cuộc đổi mới trong hơn 35 năm qua. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhận định, những thành tựu đạt được 5 năm qua (2016 – 2020) là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới. Yếu tố “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” của 35 năm đổi mới là một đánh giá đúng cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn. Những người đã trải qua giai đoạn này đều thấy rõ, sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của đất nước, chất lượng sống của người dân… đã được nâng cao rõ rệt và đặt nền móng quan trọng để nước ta trở thành nước công nghiệp, phát triển trong thời gian tới.

Hoặc ở nội dung “giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”, nhận thức và hành động của mỗi đảng viên đều có ý nghĩa thiết thực, cụ thể. Trên thực tế, đôi lúc đã có hiện tượng đảng viên thiên tả hoặc thiên hữu khi bày tỏ quan điểm về vấn đề hòa bình của đất nước. Bởi có đảng viên cho rằng Đảng cần có phương án, giải pháp “thân thiết” với một số nước lớn để “cân bằng”, “làm đối trọng” với một số nước lớn khác, nhằm tránh sự “nhòm ngó” của một số thế lực xấu (!). Trái lại, cũng có đảng viên cho rằng phải cứng rắn với tất cả các quốc gia nào lăm le gây phương hại đến sự độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta; rằng sẵn sàng chiến đấu và chấp nhận hy sinh để trả đũa bất cứ hành vi nào vi phạm chủ quyền của nước ta... Cả hai quan điểm đó đều không phù hợp; nếu đảng viên nào bày tỏ ý kiến tán đồng, làm lan truyền quan điểm đó… thì đang vi phạm định hướng, chủ trương của Đảng, tức là đang phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đặc biệt, vấn đề “bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc” về hình thức có thể dễ làm mọi người đồng thuận, nhưng có khi, một số người lại chưa hiểu đúng thế nào là lợi ích, từ đó có những suy nghĩ, ý kiến chưa phù hợp.    Từ đó có thể thấy rằng, mỗi đảng viên cần phải nghiên cứu sâu về nền tảng tư tưởng của Đảng để có thể bảo vệ một cách phù hợp, đúng đắn. Điều này liên quan trực tiếp đến việc học tập lý luận chính trị, nghiên cứu nghị quyết của Đảng, nắm bắt thông tin thời sự chính thống, lắng nghe có chọn lọc các thông tin, tích cực ghi nhận các ý kiến phản bác quan điểm sai trái, xấu độc… Từ nhận thức đúng đắn, đảng viên cần có những hành động phù hợp, như không làm lan truyền các thông tin sai trái, không “để mặc” những thông tin không đúng tác động đến nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm với việc chia sẻ những thông tin tích cực và không đăng tải ý kiến chủ quan, không phù hợp chủ trương, đường lối…

Tất cả những điều đó sẽ góp phần cùng cả hệ thống chính trị của Đảng hướng tới mục tiêu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại…

Như vậy, suy cho cùng, những việc hệ trọng của Đảng chính là việc của tất cả đảng viên và bắt đầu từ các đảng viên!

 TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC


Ngày 6-4-2022, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Theo đó, căn cứ báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (viết tắt là Kết luận 10), Bộ Chính trị kết luận như sau:

1. Năm năm qua, các cấp ủy, tổ chức Đảng đã nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận 10, tạo bước tiến rõ nét, đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về phòng, chống tham nhũng, lãng phí được nâng lên; từng bước hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng; công tác phát hiện, xử lý tham nhũng được chỉ đạo quyết liệt; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Những thành quả quan trọng đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Tuy nhiên, một số nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Kết luận 10 thực hiện vẫn còn chậm, hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí chưa được quan tâm đúng mức. Cơ chế, chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập, chưa ngăn chặn hiệu quả tham nhũng, lãng phí. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn nhiều hạn chế, lãng phí trong cơ quan nhà nước và trong xã hội còn rất nghiêm trọng. Tình trạng cán bộ nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp chưa được ngăn chặn kịp thời. Vẫn còn xảy ra những vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, có tổ chức, rất tinh vi, phức tạp gây bức xúc trong dư luận.

2. Để tiếp tục đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp theo Kết luận 10; gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực; tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

2.1. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên quyết, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân. Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chấp hành, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện tốt quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trọng liêm sỉ, danh dự; phê phán, lên án, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

2.2. Khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý; thực hiện chế độ thanh toán không dùng tiền mặt. Khẩn trương rà soát, khắc phục những sơ hở, bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đấu thầu, đấu giá, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, tài chính, chứng khoán,…; sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Thanh tra, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Tiếp công dân và các dự án luật khác liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

2.3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực. Tập trung kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nơi có nhiều tố cáo, khiếu nại, dư luận xã hội quan tâm, bức xúc. Thực hiện nghiêm cơ chế phối hợp phát hiện, xử lý sai phạm ngay trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; thu hồi triệt để tài sản do tham nhũng mà có. Tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

2.4. Tăng cường quản lý, chống thất thoát, lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, vốn, tài sản nhà nước ở các doanh nghiệp; đầu tư công, dịch vụ công... Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các định mức, đơn giá xây dựng và các lĩnh vực khác phù hợp với thực tiễn; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, cải cách hành chính, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công, tiết kiệm ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong việc cổ phần hóa, thoái vốn, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước; xử lý dứt điểm những tồn tại, yếu kém tại các dự án chậm tiến độ, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.

2.5. Phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Hoàn thiện cơ chế giám sát của cơ quan, đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và nhân dân đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng; cụ thể hóa và thực thi Công ước quốc tế về chống tham nhũng theo đúng lộ trình, phù hợp với điều kiện và pháp luật của Việt Nam.

2.6. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí phù hợp với hoạt động đặc thù của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong chính các cơ quan này. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có dũng khí bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận này.