Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

ĐỪNG CỐ LẬT SỬ VÀ TẨY TRẮNG CHO VUA GIA LONG VÌ TỘI LỚN HƠN CÔNG NHIỀU‼

Thứ nhất, ai đã đưa rước quân Xiêm vào nước ta? 

Thứ hai, ai đã mang gạo cho quân Thanh, gián tiếp hỗ trợ cho 29 vạn quân Thanh xâm lược nước ta? Trong khi quân Thanh là ngoại xâm từ xa đến, bên ngoài thì lấy cớ phò Lê, bên trong thì muốn thôn tính nước ta, là một người muốn đúng đầu quốc gia mà lại đi ủng hộ ngoại xâm công khai? Tức là đề cao thù hằn cá nhân lên trên hơn lợi ích dân tộc. Trong Đệ nhất kỷ - Quyển V - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế - Đại Nam thực lục có ghi rõ việc Nguyễn Ánh cử Phan Văn Trọng và Lâm Đề đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân. 

Thứ ba, ai đã xin cầu viện từ Pháp đem quân đánh Tây Sơn, xâm phạm trực tiếp bờ cõi Việt Nam? Ai đã “khởi xướng” ra Hiệp ước Versailles (1787) đồng ý cắt lãnh thổ nước ta (Đà Nẵng, một số tài liệu ghi Hội An và Côn Lôn) cho Pháp nếu Pháp đưa quân đội, vũ khí đến trợ giúp? Và rồi, chính cái hiệp ước này là cái cớ để Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam vào năm 1858. 

Thứ tư, trong cuốn “The smaller dragon; a political history of Vietnam” của nhà sử học, chính trị Joseph Buttinger tiết lộ rằng Nguyễn Ánh từng cầu viện cả Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh và kèm theo lời hứa hẹn sẽ “phân lô tặng nền” nếu giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn… Nhưng các lời cầu viện “không được hồi đáp” vì phần lớn các nước này đều đã phân chia xong thuộc địa ở Đông Nam Á và Nam Á và họ cũng ái ngại quân Tây Sơn. Vì bấy giờ, quân Tây Sơn là quá mạnh ở thời điểm đó ở mặt bằng chung khu vực.

Không một vị vua chúa phong kiến nào của Việt Nam có thành tích “nhờ vả” nhiều như vua Gia Long. Có một số người nhận định rằng tuy Nguyễn Ánh kí các hiệp ước cắt đất nhưng thực tế chưa mất miếng đất nào nên không thể định tội. Vậy thì nên xóa bỏ các tội âm mưu phản quốc đi nhỉ, vì mới chỉ là âm mưu thôi chứ đã gây ra hậu quả gì đâu, đúng không?

Thứ năm, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, các quan đại thần triều đình KHÔNG phải là người Việt chính gốc mà là những người Tây “mắt xanh mũi lớn” như Dayot, Chaigneau, Vannier… Chính những quan Tây dưới thời Gia Long này đã đặt nền móng cho việc Pháp xâm lược Việt Nam sau này và gây ra khủng hoảng tư tưởng, chính trị của triều đình nhà Nguyễn từ đó về sau. 

Hậu duệ của quan Vannier còn tham gia quân đội Pháp, đàn áp nhân dân Nam Kỳ trong Chiến dịch Nam Kỳ (1858 - 1862). Hãy thử nghĩ xem, nếu trong Quốc hội hiện nay có nhiều người không phải là người Việt là người Trung Quốc, người Pháp, người Nhật Bản, các bạn sẽ nghĩ như thế nào?

Thứ sáu, ai đã cắt Trấn Ninh cho Vạn Tượng? Ai đã đạp đổ thành tựu của các đời vua Lê? Ai đã xóa đi vùng đất có trong bản đồ Việt Nam hơn 300 năm? Trong khi vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu đi thu hồi và dẹp loạn ở Trấn Ninh, khôi phục chủ quyền nước ta tại đây. Thì chính sử Nguyễn ghi rằng: “Trấn Ninh vốn là bờ cõi cũ của ta, xưa đức Tiên đế đem cho Vạn Tượng”, tức là lãnh thổ Việt Nam bị mất đi không phải do chiến tranh, không phải do bị đe dọa, mà chỉ đơn giản “thích là cắt”, cắt để trả công vì đã đưa quân gây chiến với chính nhân dân, đồng bào của mình. Danh sách “phân lô tặng nền” còn bao gồm Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh…. Nguyên dải đất miền Trung vốn khá “mập mạp” mà bây giờ mỏng manh đi nhiều.

Thứ bảy, Nguyễn Ánh có công thống nhất và kết thúc các cuộc chiến? Đúng nhưng chưa đủ. Người có công đặt nền móng thống nhất là vua Quang Trung khi phá tan Trịnh - Nguyễn phân tranh, sau đó chính vua Quang Trung đánh bại ngoại xâm hai lần (Xiêm và Thanh), thu hồi Trấn Ninh làm loạn. Còn vua Gia Long chiến thắng Quang Toản, đánh bại nhà Tây Sơn và thành hình một nhà Nguyễn chính thống trong lịch sử nước ta. 

Nguyễn Ánh cũng không phải là người có công lớn nhất trong khai khẩn Nam Bộ. Việc này là công lao của các đời chúa Nguyễn. Nếu ai đó nói rằng, Nguyễn Ánh là hậu duệ của các chúa Nguyễn nên được thừa hưởng công lao của các chúa Nguyễn. Nhưng, nếu thừa hưởng công lao thì cũng phải chịu tội vì các chúa Nguyễn là đã chia tách đất nước, đưa nhân dân vào nghịch cảnh chiến tranh mấy trăm năm… Hay công thì nhận vội, còn tội thì lấp liếm? 

Vua Gia Long có tội nhưng cũng có công - điều này thì đồng ý, nhưng liệu những cái công đó có lớn đến mức chúng bỏ qua hoàn toàn cái tội không? Có thể bỏ qua những lần vua Gia Long cầu viện ngoại xâm xâm phạm bờ cõi nước ta hay không? Có thể bỏ qua những lần ông cắt đất cho nước ngoài hay không? Có thể bỏ qua những việc ông làm đã đặt nền móng cho một nhà Nguyễn thối nát, sẵn sàng dâng đất cho nước ngoài hay không?
Nguyễn Ái Quốc từng viết rằng:
"...rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi giày mả, thiệt là ng* si”./.
Yêu nước ST.

XỨ MỸ CỨ PHÁT HUY NHÉ! VIỆT NAM TÔI CHỊU THUA "MÓN" NÀY!

         Thấy BBC chê Việt Nam về xử lý "bạo lực học đường", khen Mỹ lên tận trời xanh tôi thấy hài quá về cái so sánh ấy nên tôi viết mấy dòng. Trước hết là xin chia buồn sâu sắc tới hàng vạn cháu học sinh ở nước Mỹ vì không có quyền được sống trước họng súng của 1.000 vụ xả súng tại Mỹ suốt 10 năm qua. 

Dù rất hài nhưng cũng phải công nhận là BBC (báo bồn cầu) và anh du học sinh Jame Thạnh Nguyễn gì đó họ tây tên ta nói rất đúng. Bạo lực học đường ở Mỹ "được xử lý tốt", đến nỗi học sinh đến lớp có thể mang súng, thích thì xả súng, đến nỗi nhà chức trách Mỹ phải thốt lên: 10 năm có đến 999 vụ xả súng.

Chưa đủ 1.000 vụ thì mới đây ngày 24/5 một vụ xả súng nữa đã làm tròn con số 1.000 vụ trong 10 năm khi thủ phạm đột nhập vào trường tiểu học Robb, dùng Ar15 bóp cò cuồng sát suốt 80 phút.. khiến 19 học sinh và 2 giáo viên thiệt mạng, đầy đau xót trước sự bủa vây bên ngoài của cảnh sát Mỹ đứng xem.
Công nhận là "cảnh sát" Mỹ xử lý bạo lực học đường quá tốt chẳng cần phải ra tay trực tiếp làm gì. Tiếc là nó ở bên Mỹ nên anh em mang danh "làng nước ơi..." tịt mõm, chứ nếu ở Việt Nam mà có xả súng như thế thì có lẽ các anh Mạc Văn Trang hay Nguyễn Xuân Diện la lên là "tại Cộng sản Việt Nam độc tài nên sinh ra xả súng" ngay chứ chẳng vòng vo. 

Xứ dân chủ nhân quyền Mỹ cứ phát huy, ở Việt Nam chúng tôi chịu thua các anh món này là một và món đu càng là hai./.
Yêu nước ST.

NGUYỄN ÁI QUỐC NÓI GÌ VỀ GÃ BÁN NƯỚC GIA LONG?

         Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16/10/1919, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…”

- Trong ”Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21/9/1923, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét”.

- Trong bài ”Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 01/02/1942, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập”. ”Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa”.

- Trong bài diễn ca ”Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên Truyền Bộ xuất bản, tháng 2/1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau:

”Gia Long lại dấy can qua
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài
Tư mình đã chẳng có tài
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây
Nay ta mất nước thế này
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.

Và Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau:

”Nay ta mất nước nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn
Năm Tự Đức thập thất niên
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây
Hăm lăm năm sau trận này
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan
Ngàn năm gấm vóc giang san
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng càng đắp càng dày
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”.

Trong bài diễn ca này, Nguyễn Ái Quốc đã điểm những cột mốc lịch sử quan trọng như sau: “Năm 1794, Gia Long thông với Tây. Năm 1847, Tây bắt đầu đánh nước ta. Năm 1862, vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây”.

- Trong ”Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại Thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3/1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: ”Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp”.

- Trong ”Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3/4/1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại-ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: ”Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc”.

- Trong quyển ”Thường thức chính trị” do Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc”.

- Trong ”Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá I, ngày 18/12/1959, Bác Hồ viết: ”Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo”.

Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ 11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 12/7/1940, Nguyễn Ái Quốc viết: ”Năm 1885 vua Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp”.

Chúng ta còn được biết thêm một sự kiện rất lý thú: Ngày 24/02/1920, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được thư của Hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân), gửi cho Chủ nhiệm báo L’Humanité về việc đòi độc lập cho Việt Nam. Trung tuần tháng 3/1920, Nguyễn Ái Quốc gặp hai đồng chí Mácxen Casanh, Giăng Lông Ghê và báo L’Humanité đã mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở để bàn về vấn đề này./.
Yêu nước ST.

ÂM MƯU PHỦ NHẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Theo PGS,TS Bùi Đình Phong, (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), nói tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin có sự đối lập là cách người ta phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận nền tảng tư tưởng cách mạng của chúng ta, muốn “lái” chúng ta đi theo con đường khác.

CHIA RẼ SÂU SẮC

Sau vụ xả súng đẫm máu ngày 24-5, tờ Nhật báo bằng tiếng Pháp phát hành toàn thế giới có bài “Nước Mỹ chém giết lẫn nhau, Đảng Cộng hòa quay mặt nhìn chỗ khác”. Tác giả bài viết cho rằng, việc Quốc hội và chính quyền Mỹ không có ý định sửa đổi quyền sở hữu súng trong Hiến pháp chẳng khác nào đồng lõa với những thảm kịch tiếp theo. Bài viết thống kê các vụ xả súng đẫm máu, chủ yếu trong trường học và cung cấp thông tin: Năm 2021, hơn 20 triệu khẩu súng được bán ra tại Mỹ. Đi kèm với con số đó là 20.000 người thiệt mạng vì súng, chưa kể những người tự tử. Và bài báo kết luận: Trong mỗi tấn bi kịch này, hung thủ đều không gặp bất cứ lực cản pháp lý nào để có thể tiếp cận súng một cách hợp pháp!

NỖI XẤU HỔ CỦA NƯỚC MĨ

Thế giới lại một phen rúng động trước vụ xả súng kinh hoàng xảy ra tại một trường tiểu học ở Uvalde, bang Texas, Mỹ ngày 24-5 vừa qua, cướp đi mạng sống của 18 học sinh và 3 thầy cô giáo. Kinh hoàng, bởi đây là vụ xả súng thứ 27 tại trường học ở Mỹ chỉ tính từ đầu năm 2022 đến thời điểm này. Tình trạng này đã khiến dân chúng Mỹ thêm một lần phẫn nộ.

CHỐNG THÓI LẠC QUAN TẾU

“Lạc quan tếu” là hiện tượng đặt niềm tin thái quá vào những điều không có cơ sở vững chắc; trong khi “chủ quan” là hiện tượng áp đặt ý chí cá nhân thiếu căn cứ vào việc đánh giá vấn đề, thực hiện hoạt động, nhiệm vụ nào đó. Đặc điểm nổi bật của hiện tượng lạc quan tếu và chủ quan trong cán bộ, đảng viên rất khó định tính, định lượng cụ thể và càng khó “chỉ mặt đặt tên”. Một trong những biểu hiện dễ nhìn thấy nhất của hiện tượng lạc quan tếu là ở việc xây dựng các dự án, đề án không có tính thực tiễn, thiếu hiệu quả khi đưa vào khai thác, sử dụng.

BỆNH KHÔNG NHẤT QUÁN

Gần đây đã xuất hiện hiện tượng một số đảng viên - cán bộ hưu trí nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với sau khi về nghỉ hưu. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được chỉ ra trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”.

CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRONG QUÂN ĐỘI NÂNG CAO CẢNH GIÁC PHÒNG, CHỐNG “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

         Trong giai đoạn hiện nay, âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch tuy chưa thể làm cho quân đội ta “biến chất”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị; chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, nhưng sự tồn tại của nó là hết sức nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đang có được một số điều kiện để tồn tại, đó là: tình hình chính trị, quân sự phức tạp trên thế giới; những tác động tiêu cực từ điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường đã và đang tác động ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị, tinh thần của quân đội ta, cũng như tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ.
     Thực trạng tình hình chính trị tư tưởng, nhận thức về “Phi chính trị hóa” quân đội của bộ đội ta bên cạnh những ưu điểm, những mặt tích cực, cần phải khắc phục có hiệu quả những hạn chế, yếu kém. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ ở mức độ khác nhau giảm sút niềm tin vào lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thiếu yên tâm gắn bó với quân đội, chưa nêu cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu thủ đoạn của địch, làm việc cầm chừng, thiếu chí tiến thủ.
     Để tiếp tục đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn “Phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, CB,CS trong Quân đội ta cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu:
- Thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.
- Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xây dựng và luyện tập thành thạo các phương án chiến đấu, không để bị bất ngờ trước mọi tình huống.
- Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý chặt chẽ nội bộ, ngăn chặn và đập tan các hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp, tình báo của địch.
- Phối hợp với địa phương và các đơn vị xây dựng địa bàn an toàn, vững mạnh, kịp thời ngăn chặn và giải quyết có hiệu quả những biến động (nếu xảy ra).
     Phòng, chống “phi chính trị hóa” quân đội của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hàng đầu, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của dân tộc ta. Kiên định sự lãnh đạo của Đảng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, thường xuyên cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, kịp thời xử lý có hiệu quả và đúng đắn các tình huống có thể xảy ra là trực tiếp góp phần đánh bại “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta./.




Yêu nước ST.

"TAN NÁT" LÀ TỪ ĐỂ NÓI VỀ VIỆC SAU KHI LIÊN XÔ SỤP ĐỔ!

     Bình yên, hoành tráng, đẹp đẽ và nhân ái là những từ thường xuyên nhất chúng tôi dùng để đánh giá về đất nước và con người Liên Xô (Trước đây).

Ngày nay, chúng ta chứng kiến, thụ hưởng cuộc sống đầy đủ và sử dụng một số tiện nghi hiện đại trên đất nước Việt Nam, khi ra nước ngoài sẽ không ngạc nhiên nhiều trước các tiện nghi cao cấp của họ. Còn chúng tôi, những sinh viên mới 18 tuổi, lần đầu tiên rời mái nhà tranh, vách đất đến với đất nước Liên Xô vĩ đại, đã choáng ngợp và mê đắm cảnh sắc con người và văn hóa nơi đây. Hơn 13 năm sống và học tập ở thành phố Kishinew (Thủ đô nước cộng hòa XHCN Molodova) tôi đã đi tham quan được nhiều nơi ở 15 nước cộng hòa trong liên bang Xô viết để chiêm nghiệm và cảm nhận sự vĩ đại của các công trình kiến trúc, tình yêu thương cao cả con người dành cho nhau và nền văn minh đẹp đẽ của nhân loại. 15 nước cộng hòa như 15 nhánh cây mọc ra từ một gốc rễ, nhánh to nhất là nước Nga, rồi đến Ukriane, Belarusia, sau đấy là 12 nhánh nhỏ hơn nhưng cùng phát triển xanh tươi, bao bọc chở che cho nhau, cùng tỏa bóng râm mát xuống lòng đất mẹ kính yêu.

Năm đầu tiên, 1985 chúng tôi ngỡ mình đã chạm đến thiên đường khi được đi học ở những giảng đường rộng lớn, ở trong ký túc xá sạch sẽ, dạo chơi trên những con đường láng bóng, rợp bóng cây và vô vàn loài hoa đẹp. Với 90 rup học bổng, chúng tôi đã có cuộc sống không phải lo lắng gì về cuộc sống vật chất với những bữa ăn đủ đầy bánh mỳ, bơ sữa. Nhờ thành tích học tập và nhân cách rất tốt của sinh viên Việt Nam các thế hệ trước để lại nên nhà trường cũng như nhân dân Moldova đã dành cho chúng tôi tình cảm qúy mến đặc biệt.

Hơn 70 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, người dân quen với sự lãnh đạo của chính quyền. Mọi thứ đều được sắp xếp sẵn, giá cả cũng không thay đổi. Tất cả vật dụng thiết yếu hàng ngày, như quạt điện, ấm đun nước, cốc, chén, xô chậu vv đều có giá in sẵn dưới đáy. Tôi nhớ mãi những chiếc cốc thủy tinh có giá 7 konek chúng tôi thường dùng để uống sữa và nâng ly chạm nhau leng kenh mỗi khi có cuộc vui. Những miếng xà phòng 72, nặng khoảng 3 lạng, đầy bọt mà giá chỉ 12 Konek, chúng tôi đã gom góp mua để gửi về Việt Nam. Chính quyền xây dựng đề án kinh tế 5 năm hoặc một năm một lần để bảo đảm sản xuất bao nhiêu thực phẩm, bao nhiêu đồ thiết yếu cho dân. Người nông dân sản xuất lúa mì, cơ sở chế biến làm ra bột mỳ, nhà máy làm bánh mỳ, cửa hàng bán bánh mỳ, người dân mua bánh mỳ về ăn. Quy trình đó hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả hơn 70 năm.

Sẽ là thiên đường nếu cuộc sống cứ vậy tiếp tục nhưng “Đời không như là mơ”.

Vào giữa những năm 1980, hàng hóa bắt đầu khan hiếm, thiếu thốn. Nhiều cuộc biểu tình nổ ra ở một số nước cộng hòa đòi ly khai. Có lần đi học về, chúng tôi thấy người xếp hàng rất đông, lo lắng tưởng có chuyện gì xảy ra. Đến nơi, thì ra dân xếp hàng mua bánh mỳ. Tôi vào cửa hàng, đến quầy mua 3 kg bột mỳ mang về nhà, tự nhồi bột, trộn với trứng, chiên lên ăn ngon lành. Cuộc sống yên ổn định sẵn suốt 70 năm, khiến cho phần lớn người dân rất ít sáng tạo. Người ta sẵn sàng đứng xếp hàng suốt 4 tiếng dưới mưa tuyết để mua được mấy ổ bánh mỳ về ăn mà không biết năng nổ như sinh viên Việt Nam, chẳng phải xếp hàng mua ngay bột mỳ về tự làm bánh để ăn.

Thế giới phát triển nhanh chóng, thiên nhiên và xã hội cũng có những thay đổi mãnh liệt, nhu cầu thiết yếu của con người ngày càng tăng trong khi máy móc, xe cộ ngày càng cũ kỹ. Những cánh đồng bát ngát cũng không còn bội thu như trước. Người dân Xô Viết đang đối diện với nạn đói, điều đó từng xảy ra trong quá khứ, đã làm thiệt mạng hàng triệu dân lành nên vấn đề vực dậy nền kinh tế là điều vô cùng quan trọng.

Mikhail Sergayevich Gorbachyov được bầu làm tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô vào ngày 11 tháng 3 năm 1985. Để thay đổi tình hình kinh tế trì trệ của đất nước, ông đã đưa ra nhiều sáng kiến, cải cách hệ thống chính trị và xã hội. Hàng ngày chúng tôi xem ti vi nghe ông nói rất nhiều về dân chủ, tự do hóa chính trị (Glasnost/Perestroika) rộng rãi hơn nữa và nới lỏng quyền tự chủ cho các nước cộng hòa thành viên Liên bang Xô Viết. Gorbachoyv đưa các hình thức phát triển xã hội giống Mỹ và Phương Tây để áp dụng vào chính quyền Xô Viết.

Tại Đại hội Đại biểu Nhân dân bất thường lần thứ III giữa tháng 3-1990, Gorbachyov và hội đồng Xô Viết tối cao đã thông qua nghị quyết mang tên Thiết lập chức vị tổng thống và sửa đổi bổ sung Hiến pháp Liên Xô. 7 điều trong Hiến pháp Liên Xô bị sửa đổi, trong đó nghiêm trọng nhất là Điều 6.

Từ "Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và là hạt nhân của chế độ chính trị, nhà nước và xã hội Liên Xô" bị sửa thành "Đảng Cộng sản Liên Xô, các chính đảng khác và công đoàn, đoàn thanh niên, đoàn thể xã hội và phong trào quần chúng khác, thông qua đại biểu của mình bầu vào Xô viết đại biểu nhân dân và các hình thức khác tham gia vạch ra chính sách của nhà nước Xô viết, công việc quản lý nhà nước và xã hội".

Đảng cộng sản đã không còn là Đảng duy nhất lãnh đạo đất nước nữa. Rất nhiều Đảng viên Đảng cộng sản đã xin thôi đảng viên Đảng Cộng sản , quay ra thành lập các Đảng mới và ra sức tuyên truyền cho lý tưởng của Đảng mình.

Xã hội trở nên hỗn loạn vô cùng. “Tự do ngôn luận’ đã tạo điều kiện cho nhiều người nói lên chính kiến của mình. Ai cũng cho rằng mình đang nói thật nhưng tiếc thay những sự thật đó ngược lại với nhau. Nhân dân ngơ ngác kiếm tìm chân lý trong hoang mang.

Phong trào dân tộc nổi lên mạnh mẽ ở khắp nơi. Đầu tiên là 3 nước Pribaltic, sau đến Gruzia và rồi lan đến Moldova.

Cộng hòa Moldova nằm trong lục địa châu Âu. Giáp Rumania ở Phía tây và Ukraine ở 3 phía còn lại.

Đất nước Moldova nhỏ bé, gia nhập Liên Xô năm 1940 nhưng hình thái tổ chức phát triển cũng giống 14 nước cộng hòa khác. Lãnh thổ nhỏ bé, dân số ít, địa hình chủ yếu là đồng bằng nên sự phân bố dân số hết sức hợp lý. Thành phố Kishinew cũng có những tòa nhà hoành tráng, những con đường láng mịn, những công viên rộng lớn và những vườn hoa xinh đẹp. Những cánh đồng nho màu mỡ đã giúp Moldova có được sản phẩm rượu konhắc và buket nổi tiếng.

Khi Modova gia nhập Liên Xô, chính quyền Xô Viết đã đề cao sự phát triển dân trí ở nước này nên đã đầu tư xây dựng trường đại học Tổng Hợp Kishinew trở thành một trong những trường đại học danh giá nhất của Liên Xô. Rất nhiều giảng viên từ Nga, Ukraine, Belarusia đã đến đây để đặt những viên gạch tri thức đầu tiên. Chúng tôi sử dụng tiếng Nga trong học tập và cuộc sống. Mùa hè, tôi theo bạn về thôn quê chơi. Ở đó người dân cũng sử dụng tiếng Nga như là ngôn ngữ duy nhất. Chúng tôi đã được thụ hưởng một nền văn minh tiến tiến, những kiến thức quý giá và giá trị của lòng nhân ái vô biên từ thầy cô giáo và nhân dân Moldova.

Trong quá khứ, Moldova từng bị thống trị bởi đế chế La mã, sau đó là Đế Chế Nga, rồi đến Rumania. Từng bị quăng quật giữa các cường quốc Châu Âu. Sau chiến tranh thế giới năm 1940, Moldova mới trở thành thành viên của Liên Xô, có các quyền lợi và nghĩa vụ như 14 nước còn lại.

Chúng tôi được học lịch sử Xô Viết và hiểu rằng thiên nhiên rất ưu đãi cho 3 nước Nga, Ukraine và Belarus. Ở đó có vô vàn khoáng sản, có những vùng đất đai màu mỡ, hàng ngàn con sông nước ngọt và cả những công trình kiến trúc vô giá từ ngàn xưa để lại. 12 nước còn lại có vẻ nghèo hơn về tài nguyên, đất đai không màu mỡ và có những nơi địa hình nhiều núi đồi, không thuận tiện giao thông. Trong nhận thức của tôi lúc đó, Moldova nhờ Nga mà phát triển được như vậy.

Lý tưởng xây dựng nhà nước XHCN là vô cùng tốt đẹp và người dân cũng đã được sống những năm tháng tươi đẹp đó nhưng vào giữa những năm 80 thì mọi chuyện đã thay đổi khủng khiếp. Nhân dân nhiều nước, kể cả Moldova cho rằng sự thiếu thốn trong đất nước họ là do họ không được tự chủ, là do Nga kìm kẹp. Một người bạn Moldova đã hỏi tôi: "Họ tuyên truyền là công bằng cho tất cả, mà mày xem, nhân dân 15 nước phải nói tiếng Nga còn người Nga thì không nói tiếng 15 nước còn lại. Rõ ràng, ngay từ đầu bọn Nga đã muốn làm ông chủ rồi. Chúng tao phải đấu tranh để giải phóng đất nước mình khỏi ách đô hộ của Nga”. Tôi biết trả lời thế nào với bạn, 13 năm tôi sống trên đất Moldova, được hưởng bao nhiêu nghĩa tình, lẽ nào giờ đi phê phán bạn?

Chính quyền Xô viết đưa quân đội đến đàn áp phong trào ly khai ở 3 nước Pribaltic nhưng đã thất bại. Người dân khắp nơi bỏ công xưởng, nhà máy, kéo xuống đường biểu tình đòi ly khai.

Các nước Pribaltic, Moldova, Gruzia lần lượt tuyên bố độc lập dù chính quyền Xô Viết chưa công nhận.

Một số người Cộng sản kỳ cựu nhìn thấy sự an nguy của những chính sách mới do Gorbachyov ban hành đã có ý định chống đối.

Vào ngày 19 tháng 8 năm 1991, Khi Tổng thống Liên Xô Gorbachyov đi nghỉ mát ở Krym, một cuộc đảo chính đã nổ ra. Gorbachyov đã bị quản thúc tại gia và bị cắt đứt mọi kênh thông tin liên lạc. Các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính đã ban hành một nghị định khẩn cấp đình chỉ hoạt động chính trị và cấm hầu hết các tờ báo. Xe tăng, binh lính cầm súng ầm ầm chạy về Matxcova nhưng Tổng thống Nga Yeltsin lên án cuộc đảo chính và giành được nhiều sự ủng hộ của dân chúng. Ngày 20/8, hàng vạn người tụ tập để bảo vệ tòa nhà trắng (trụ sở Quốc hội Nga) và văn phòng của tổng thống Yeltsin, May sao quân đội cũng đứng về phía Eltsin nên cuộc đảo chính đã bất thành và người dân không bị đổ máu. Gorbachyov được tự do đi lại và vẫn giữ cương vị Tổng thống của liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết.

Để tôn trọng ý kiến của nhân dân, ngày 17/3/1991, chính quyền Xô Viết đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý. Kết quả là có đến 76,3% số cử tri đề nghị giữ vững Liên Bang Xô Viết.

Trước đây, người dân chỉ được biết kết quả của các cuộc họp đại biểu quốc hội là các quyết định, các nghị quyết mà người dân phải thi hành. Từ ngày Gorbachyov phát triển phong trào dân chủ, tự do ngôn luận thì mọi ý kiến được chiếu trực tiếp trên ti vi.

Chúng tôi cũng như hơn 70 phần trăm dân số Liên Xô mong ước mọi chuyện ổn định trở lại. Liên Xô là một cường quốc từng chiến thắng 14 nước ngoại quốc, từng chiến thắng Phát xít Đức , cứu nhân loại khỏi diệt vong. Liên Xô đã giúp Việt Nam rất nhiều trong công cuộc chống ngoại xâm và tái thiết đất nước. Đặc biệt, nhờ chính phủ Liên Xô mà chúng tôi được đi du học miễn phí, được tiếp thu thêm rất nhiều kiến thức và cảm nhận bao cái hay, cái mới cũng như nền văn minh của nhân loại.

Bắt đầu từ cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1991 Leonid Makarovych Kravchuk - tổng thống Ukraine liên tục đưa ra ý kiến đề nghị tách Ukraine ra khỏi liên bang Xô viết. Cuộc tranh luận dữ dội giữa Eltsin và Kravchuk không đi đến kết quả tốt đẹp. Leonid kiên quyết đòi tách Ukraine ra khỏi liên bang Xô Viết trở thành một quốc gia độc lập. Entsil đã hỏi Kravchuk rất thẳng thắn: “ Ukraine tách ra, ai sẽ trả món nợ mà Liên Xô đang nợ Phương Tây, ai sẽ giúp đỡ 11 nước cộng hòa còn lại? ( Lúc đó 3 nước Pribaltic đã tách ra). “Chúng ta sẽ bàn bạc chuyện đó sau, ý kiến duy nhất của tôi lúc này là Ukraine phải trở thành quốc gia độc lập”. Không thể lay chuyển được ý chí sắt đá của Kravchuk, Eltsin trả lời: “Ukraine ra thì Nga cũng ra”. Chúng tôi xem tivi và rụng rời chân tay, sao lại có thể như thế được? Nhiều người mong ước Leonid thay đổi ý kiến, thậm chí có người mong ông ta đột quỵ để người khác lên làm Tổng Thống Ukraine , may ra có thể thay đổi được tình thế. Thế nhưng điều đó đã không xảy ra.

Chủ tịch Quốc hội Belarus Stanislav Shushkevich nghe ngóng tình hình và ngay lập tức gọi điện cho Elsin và Leonid đề nghị gặp nhau ở Minsk.

Ngày 8/12/1991, Tổng thống Nga Boris Nikolayevich Yeltsin, Tổng thống Ukraina Leonid Makarovich Kravchuk và Chủ tịch Quốc hội Belarus Stanislav Shushkevich tại Minsk, đã ký Hiệp ước Belovezh về việc giải thể Liên Xô và tuyên bố thành lập Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS). Một hiệp ước vi hiến vì Liên Xô lúc đó đang là một nhà nước do Gorbachop làm tổng Thống. Điều cay đắng là 3 người đó gọi điện thông báo cho Tổng thống Mỹ biết trước lúc báo cho Gorbachop biết. Mặc dù hơn 76% người dân Xô Viết muốn giữ lại Liên Bang nhưng tổng thống của 3 nước đã phớt lờ nguyện vọng đó.

Liên Xô, một khối thống nhất mạnh mẽ, vững chắc, bất khả chiến bại sau 74 năm tồn tại đã bị giải thể chỉ bằng một hiệp ước do 3 người ký.

Gorbachyov trở thành Tổng thống mà đất nước đã không còn tồn tại.

Vào ngày 12 tháng 12 năm 1991, Hội đồng Tối cao của Liên bang Nga chính thức phê chuẩn Hiệp ước Belovezha và từ bỏ Hiệp ước về việc thành lập Liên Xô năm 1922.

Chiều 25/12, vào lúc 19h, Gorbacyov lên sóng truyền hình, tuyên bố từ nhiệm chức vụ Tổng thống Liên Xô. 38 phút sau đó, 19h38, lá cờ Liên Xô trên nóc tòa nhà ở điện Kremline hạ xuống, lá cờ ba màu-quốc kỳ mới của nước Nga được kéo ngay lên. Liên Xô đã chấm dứt tồn tại.

Sau này, có rất nhiều ý kiến chỉ trích Gorbachyov, cho rằng ông ta đã phản bội lại lý tưởng Cộng Sản. Chính ông ta đã thay đổi hiến pháp, không duy trì vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản. Thậm chí nhiều người cho rằng chính Gorbachop là tay sai của Mỹ. Bản thân tôi, chứng kiến những diễn biến ở Liên Xô từ năm 1985 đến 1991 cho rằng, Gorbachyov đã cố gắng thay đổi mọi thứ nhằm cứu vãn nền kinh tế đang suy sụp và sự trì trệ về mọi mặt trong xã hội Liên Xô lúc bây giờ nên đã đưa phong trào cải tổ, dân chủ vào áp dụng nhưng rồi mọi thứ vượt qúa tầm kiểm soát của ông nên mới ra nông nỗi tan rã Liên Xô.

Sau này Leonid Makarovych Kravchuk nói rằng: «Nếu biết Liên Xô tan rã gây nên sự hỗn loạn kinh khủng như thế thì thà bị chặt tay còn hơn ký vào hiệp ước Belovezha » Vâng! Khi ông nhận ra được hậu quả của nó thì mọi chuyện đã đi quá xa rồi.

Chúng tôi tiếc muối Liên Xô vô cùng và hoang mang cực độ. Một gia đình có 15 anh em yêu thương đùm bọc nhau, đoàn kết một lòng chống lại kẻ thù chung và giang tay cứu giúp bao bạn bè khác đã tan vỡ. Một cỗ máy hoàn hảo đã bị tháo rời ra từng mảnh. Công xưởng , nhà máy thiếu nguyên liệu, công nhân thất nghiệp, mùa màng thất thu. “Trộm cắp là con đẻ của đói nghèo”. Một xã hội bình yên, nhân ái, đẹp như trong chuyện cổ tích đã biến mất. Thay vào đó là mâu thuẫn và sự kỳ thị lẫn nhau giữa các quốc gia.

Phía Đông Ukraine phần lớn là lãnh thổ của Nga trước đây, khi thành lập Liên Xô, chủ trương lấy công nông làm nòng cốt xây dựng chính quyền, Lê Nin đã chuyển sang cho Ukraine vì ở đó nền công nghiệp rất phát triển. Năm 1954, Nikita Khrushchev Bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô, vốn là người Ukraine đã ra quyết định đặc biệt, Krym được chuyển từ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga cho Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine. Quyết định này cũng không phù hợp với pháp luật của Liên Xô. Tuy nhiên, không ai có ý kiến phản đối vì lúc đó Liên Xô là một nước thống nhất, việc di chuyển lãnh thổ giữa các nước thành viên là chuyện bình thường. Người dân Xô Viết sống chan hòa yêu thương, tất cả đều có một mục đích chính là xây dựng Tổ quốc giàu đẹp.

Nga sẽ là nước kế thừa tất cả những thành tựu của Liên Xô và chịu trách nhiệm trả tất cả các khoản nợ mà Liên Xô đang mang.

Tuy nhiên những phần đất trước đây của Nga được chuyển cho Ukraine thì không ai nói đến. Tất cả hiểu một điều mặc nhiên là từ năm 1945 trở về sau lãnh thổ của các dân tộc được Liên hợp quốc công nhận thì giữ nguyên. Những người Nga hàng trăm năm nay sống ở miền Đông Ukraine và hàng triệu người Nga ưu tú khi bắt đầu thành lập liên bang Xô viết đã đi khắp 15 nước cộng hòa để ươm mầm trí thức, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp anh em các nước khác xây dựng đất nước đã trở thành những người ngoại quốc trên chính mảnh đất mà 3 thế hệ gia đình họ đã nối tiếp nhau ra đời và phát triển.

Chúng tôi cũng là những người ngoại quốc trên đất nước Moldova, nơi chúng tôi coi như quê hương thứ 2 của mình.

Tất cả đều hỗn loạn đến khủng khiếp. Hàng trăm ngàn sinh viên, công nhân người Việt đang ở trên đất nước Liên Xô trở thành những đứa trẻ bơ vơ. Sinh viên thì không còn học bổng (Chỉ có một số nước còn duy trì học bổng cho sinh viên Việt Nam), công nhân thì mất việc làm. Không chỉ thiếu thốn về vật chất, chúng tôi đối diện với bao hiểm nguy vì bị trấn lột, cướp giật do tội phạm lộng hành khắp nơi.

Thời gian vẫn trôi đi, ai cũng phải sống. Nhân dân các nước cộng hòa bắt đầu tự đứng dậy để xây dựng đất nước mình. Chúng tôi tìm mọi cách để tồn tại và tiếp tục việc học.

Vật vã thêm 7 năm sau khi Liên Xô tan rã, chúng tôi về nước khi tôi biết rằng không thể cố thêm để kiếm đủ tiền cho việc bảo vệ luận án tiến sỹ đã viết xong của mình.

Thật may mắn cho những ai được sống và học tập ở Liên Xô từ năm 1987 về trước. Lúc đó Liên Xô đúng là thiên đường. Khi Liên Xô tan rã rồi, rất nhiều giá trị tốt đẹp bị che lấp, sự bình yên tuyệt đối đã không còn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ngoi lên lấn át cả lòng cao thượng muôn đời nay người dân Xô Viết dựng xây.

TAN NÁT là từ mà tôi dùng cho sự sụp đổ của liên bang Xô viết.

Tôi về Việt Nam, gửi lại cả thời thanh xuân đẹp nhất trên đất nước Xô Viết và nỗi xót xa tiếc muối về những điều kỳ diệu đã vĩnh viễn không còn.

Làm thế nào để nhân dân 15 nước cộng hòa yêu thương nhau như trước? Làm thế nào để khối liên bang Xô viết gắn kết lại vững mạnh như xưa để không kẻ thù nào, không bọn phát xít nào có thể tàn phá được họ?

Có lẽ phần lớn những người đã từng sống và học tập trên đất nước Liên Xô đều có chung suy nghĩ như tôi./.
Yêu nước ST.

SỰ THẬT ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ HÀNH TRÌNH CỦA CUỐN NHẬT KÝ ĐẶNG THÙY TRÂM!

         Vào năm 2005, cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm sau hơn 30 năm lưu lạc trên đất Mỹ, đã trở về Việt Nam và được in thành sách. Ngay lập tức, cuốn sách đã tạo nên một “cơn sốt” trong bạn đọc khi đã in với số lượng hàng trăm ngàn bản.
Nhiều người nghĩ rằng Fredric Whitehurst là người giữ cuốn nhật ký thời gian sau đó, nhưng không phải. Có chi tiết mà còn rất ít người biết: Năm 1970, sau khi Fredric Whitehurst nhặt được cuốn sổ tay của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, ông đã trao nó cho Carl Greifzu, một lính Mỹ gốc Đức, có vợ là người Việt giữ hộ.
Sau 20 năm, nhờ đọc bản dịch tiếng Anh tóm tắt nội dung cuốn nhật ký của vợ mình, nhận được giá trị của di vật đặc biệt ấy, năm 1996, Carl Greifzu quyết định trao lại nó cho Fredric Whitehurst. Nhờ đó, cuốn nhật ký đã có được hành trình để trở về Việt Nam…
Dù có rất nhiều cựu binh Mỹ đã tới Việt Nam thăm lại chiến trường xưa và đến Hà Nội thăm gia đình Anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, nhưng Carl Greifzu – người đã giữ cuốn sổ tay nhật ký của chị Trâm hơn 20 năm, vẫn chưa có dịp trở lại Việt Nam, kể từ sau năm 1975. Cho đến ngày 23-3-2016, ông mới đến thăm Việt Nam trong khoảng 10 ngày, không chỉ là với tư cách một cựu chiến binh Mỹ thăm lại chiến trường xưa, mà còn là tư cách của một người con về thăm đất quê vợ: vợ của Carl Greifzu quê ở Bắc Ninh./.
Yêu nước ST.

Sự nguy hại của "bới lông tìm vết"!

Ông bà ta có câu thành ngữ “bới lông tìm vết” hàm nghĩa chỉ những người có tính soi mói, cố tìm điểm yếu của người khác để phê phán, công kích bằng thái độ và dụng ý xấu. Nếu nghiêm túc tìm hiểu, thẳng thắn chỉ ra công khai những khuyết điểm nhằm góp ý giúp người khác sửa chữa, tiến bộ thì cần được hoan nghênh, nhưng "bới lông tìm vết" thì lại khác.

Chữa bệnh hứa hão

 Hứa suông, hứa hão, hứa hươu, hứa vượn... là những từ đồng nghĩa để chỉ những người hứa điều biết là không thực tế và sẽ không làm. Đây là căn bệnh có từ ngàn xưa và ngày càng gây nguy hiểm trong xã hội. Bài viết này sẽ đề cập đến những diễn biến phức tạp của căn bệnh này trong giai đoạn hiện nay, đề xuất các phương thức phòng và điều trị.

Mối nguy hại từ việc xem nhẹ một căn bệnh nặng

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

Sự cần thiết giữ gìn văn hóa "Bộ đội cụ Hồ"

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là sự kết tinh những giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức của thời đại, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, do lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ bồi đắp, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, phản ánh trung thực bản chất và truyền thống: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Giữ gìn văn hóa Bộ đội Cụ Hồ vừa là yêu cầu khách quan, vừa là mong mỏi, tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Lịch sử gần 80 năm truyền thống vẻ vang của quân đội, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không ngừng được gìn giữ và phát huy. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ không phải là điều gì quá xa vời, trừu tượng mà luôn gắn liền và được biểu hiện thông qua hoạt động cụ thể của mỗi quân nhân.

Nếu trong thời chiến, văn hóa Bộ đội Cụ Hồ thể hiện rõ nhất là tinh thần và hành động sẵn sàng hy sinh xương máu, quên mình cho mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân thì trong thời bình, được biểu hiện ở sức mạnh, niềm tin và là chỗ dựa vững vàng nhất cho nhân dân, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, cũng tiềm ẩn không ít khó khăn, thách thức, nhất là tác động mạnh mẽ từ mặt trái nền kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch, làm xuất hiện một số biểu hiện tiêu cực, như: Giảm sút niềm tin, xa rời mục tiêu, lý tưởng; dao động, hoài nghi, thờ ơ chính trị; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác, thiếu gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, bè phái, vi phạm pháp luật Nhà nước...

Xuất phát từ thực trạng trên, gìn giữ văn hóa Bộ đội Cụ Hồ vừa là yêu cầu khách quan, vừa là mong mỏi, tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay.

Học Bác phong cách nêu gương

Nội dung nêu gương và gương mẫu trong lời nói-việc làm cũng là một trong 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời, mẫu mực về sự nêu gương. Tấm gương đạo đức của Người đã đạt tới sự nhất quán, chặt chẽ giữa lời nói và việc làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức, giữa việc công và đời tư; hướng mọi người đến với những giá trị chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Khi mở đầu bài viết: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Bác khẳng định: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây vừa là lời nhắc nhở, vừa là sự chỉ bảo ân cần của Người đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự nêu gương trong công việc, trong đạo đức, lối sống, tác phong hằng ngày.

Nêu gương không chỉ hô hào khẩu hiệu, không chỉ nói suông mà phải luôn thực hiện “nói đi đôi với làm”. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác là sự thống nhất trọn vẹn giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và việc làm. Khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo và Người nêu gương “tôi xin thực hành trước” rất nghiêm túc... Những hành động, việc làm của Bác thật bình dị ấm áp, nhưng lại có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, có sức thuyết phục cao về nêu gương cho các thế hệ cán bộ, đảng viên học tập, noi theo.

Để học tập phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt hiệu quả thiết thực, mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn quân cần gương mẫu nêu gương trước tập thể, “nói đi đôi với làm” theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, theo đúng chuẩn mực đạo đức người quân nhân cách mạng, xây dựng uy tín trong tập thể quân nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải lấy hiệu quả công việc làm thước đo năng lực, phẩm chất, trình độ. Thường xuyên sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ, nói ít làm nhiều và đạt hiệu quả cao trong công việc, đó chính là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng cao cả của mỗi người đảng viên chân chính. Để cán bộ, đảng viên thực hành nêu gương, nhất là cán bộ chủ trì ở các cơ quan, đơn vị, mỗi đồng chí phải thể hiện bằng việc hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao; phải gương mẫu trong lời nói, hành động; giữ nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Phải thương yêu đồng chí, kính trọng nhân dân, sống có nghĩa tình; tuyệt đối không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sa vào chủ nghĩa cá nhân... (Trích báo QĐND)

Ngày 3 tháng 6 năm 1975

Ngày 3 đến 6-6-1975, Quốc hội khoá V nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà họp kỳ họp đầu tiên. Quốc hội đã nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, đồng chí Phạm Vǎn Đồng làm Thủ tướng Chính phủ, và các ủy ban của Quốc hội.

Quốc hội cũng đã thông qua bản Tuyên bố nhân dịp giải phóng hoàn toàn miền Nam, biểu dương thành tích vĩ đại của quân và dân cả nước, kêu gọi đồng bào ta nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, vươn lên mạnh mẽ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Sức sống trường tồn của lý luận mác-xít

Lịch sử hơn 100 năm từ khi đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ đến nay đã hoàn toàn đủ cơ sở cả về lý luận và thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn, tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn và sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, dân tộc ta khi đó không thiếu những anh hùng, không thiếu những cuộc khởi nghĩa, phong trào cách mạng với mong muốn giải phóng dân tộc. Nhưng tựu trung, tất cả đều thất bại vì không có đường lối đúng, không có lý luận dẫn đường. Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh tiếp cận, thấy được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu, có được hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa vào cách mạng Việt Nam, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo dân tộc thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Nhưng đó là một hành trình tiếp thu lý luận, đưa lý luận vào thực tiễn không hề đơn giản, không hề có sẵn. Người chiến sĩ cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc đã phải nếm mật nằm gai, tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những đọa đầy đau khổ nhất của kiếp cần lao, tiếp cận được với ánh sáng chân trời từ Chủ nghĩa Mác-Lênin mới đưa lại sự thành công đó. Chính Mác, Ăngghen, Lênin, những chiến sĩ cộng sản của phong trào công nhân quốc tế đã phải lăn lộn, chịu biết bao khổ cực trong phong trào công nhân, trong thảm cảnh bị đàn áp, bóc lột đến tận xương, tận tủy mới đúc rút được hệ tư tưởng lý luận có ý nghĩa vạch thời đại ấy. Nó hoàn toàn không là lý thuyết sách vở, kinh viện mà thấm đẫm hiện thực. Và luận giải như Các Mác, lý luận ấy đã biến thành lực lượng vật chất chứ không chỉ là lý luận đơn thuần. Mác đã rút ra rằng: "Lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bởi lực lượng vật chất, nhưng một khi lý luận đã được thấm sâu vào quần chúng thì nó sẽ trở thành lực lượng vật chất vô địch".

Chỉ những người không hiểu biết thấu đáo mới tìm cách đổ lỗi, cho rằng hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là do Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm, là không phù hợp, rồi vin vào đó để cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Thực tế không phải như vậy. Chính điều này đã chứng minh, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản, đảng viên ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã coi thường lý luận Mác-Lênin, tiếp thu giáo điều, nửa vời, xa rời những nguyên tắc căn bản của lý luận Mác-Lênin, nhất là những nguyên tắc lịch sử-cụ thể, nguyên tắc thực tiễn và sự thiếu thích ứng với những thay đổi thường xuyên của đời sống chính trị-xã hội đã dẫn đến sự sụp đổ đau đớn đó. Những lãnh đạo, đảng viên làm băng hoại một chế độ tốt đẹp ấy sẽ luôn bị lịch sử điểm tên. Một mô hình nhà nước cụ thể không toàn vẹn do áp dụng không đúng lý luận mác-xít về nhà nước, về xây dựng chế độ, về đảng cầm quyền chứ không phải là sự sai lầm của một học thuyết khoa học, không phải sai lầm của lý luận mác-xít. Cũng chính sự kiện đó đã là lời cảnh tỉnh xương máu cho tất cả chúng ta. Những CB, ĐV hôm nay trong sự nghiệp bảo vệ thành trì XHCN nếu coi thường, xa rời bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nếu vận dụng nó một cách máy móc, nếu không chịu tìm tòi, nghiên cứu, đúc rút, tổng kết và phát triển hệ lý luận ấy cho phù hợp với sự vận động không ngừng của thực tiễn thì rất dễ dẫn đến phải trả giá bằng sự thất bại. Cho đến hôm nay, các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Những CB, ĐV chân chính, những người dân đã được hưởng thành quả, điều tốt đẹp của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vẫn luôn tiếc nuối, hoài niệm về một xã hội tốt đẹp, thực sự vì con người. Họ đã cảm nhận rõ hơn ai hết những giá trị nhân văn về quyền con người, về sự đáp ứng các nhu cầu chính đáng cả vật chất, tinh thần mà chế độ XHCN mang lại. Sức sống của lý luận mác-xít vẫn đang chứng minh tính cách mạng và khoa học, tính thời đại và tương lai ở các nước XHCN đang theo hệ lý luận, tư tưởng ấy. Đó là các nước như: Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... PGS, TS Trần Đình Huỳnh cho rằng, phải luôn luôn bảo vệ “đầu não” và “trái tim” của Đảng theo tư tưởng của Các Mác. “Đầu não” ở đây được hiểu chính là lý luận, là ánh sáng chỉ đường của Đảng; còn bảo vệ “trái tim” của Đảng chính là giữ cho mỗi đảng viên, mỗi người làm cách mạng luôn giữ được sự nhiệt tình, tâm huyết, giữ được động cơ vì cách mạng, nhân dân. (trích báo QĐND)

Sự cần thiết của việc thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh

Thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ) cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC) là cần thiết, quan trọng

Năm 2006, BCĐ Trung ương về PCTN được thành lập và được xác định là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Năm 2007, các BCĐ PCTN cấp tỉnh được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12, ngày 27/9/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động của BCĐ Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012), đã quyết định tổ chức lại BCĐ về PCTN, chuyển đổi mô hình BCĐ trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu sang mô hình BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu. Hội nghị cũng quyết định không tổ chức BCĐ tỉnh, thành phố về PCTN.

Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với BCĐ Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của BCĐ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong công tác đấu tranh PCTN.

Mô hình BCĐ Trung ương trực tiếp do Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác PCTN. Điều đó thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII, XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện, xử lý tăng lên rất nhiều. Thực tiễn hoạt động của BCĐ Trung ương là bài học kinh nghiệm quý giá để công tác PCTN,TC ở các cấp, ngành, địa phương học hỏi, làm theo.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác trong chỉ đạo PCTN được cọ xát qua thực tiễn. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đi vào nền nếp, bài bản, khoa học. Các thành viên, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Sau khi BCĐ Trung ương về PCTN hoạt động thể hiện được tính hiệu quả, ưu việt thì có đủ lộ trình, thời gian và sự chuẩn bị nguồn lực phù hợp để thành lập BCĐ cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, trở thành “cánh tay nối dài” của BCĐ Trung ương, phục vụ đắc lực cho hoạt động PCTN, tiêu cực ở địa phương.

Tham nhũng hiện vẫn diễn biến rất phức tạp, được xem là một trong các nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Mặc dù kết quả PCTN,TC thời gian qua đạt được là rất quan trọng song công tác PCTN,TC ở nhiều ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả; vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong đấu tranh PCTN,TC.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN,TC tại địa phương đã bộc lộ bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, do đó nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC. Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN,TC chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng PCTN,TC ở địa phương chưa được tập trung, thống nhất.

Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là chủ trương quan trọng, cần thiết, thể hiện rõ tinh thần triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!”. Đây là những cơ sở để phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch xung quanh vấn đề này. (trích báo CAND)

Ứng xử với “rác” thông tin

 


Chính sự suy thoái, suy đồi về đạo đức khiến luận điệu của những đối tượng phản động lưu vong chỉ là một thứ “rác” thông tin trên không gian mạng. Nó làm vấy bẩn môi trường truyền thông văn hóa, tiến bộ. Nói như vậy là bởi, hầu hết những đối tượng phản động lưu vong đều có lai lịch chẳng hay ho gì.