Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TẠO LẬP THẾ TRẬN, HIỆP ĐỒNG CHẶT CHẼ VÀ LINH HOẠT TÁC CHIẾN!

Nhờ chọn đúng khu vực mục tiêu, tạo thế trận vững chắc, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng và linh hoạt tác chiến, nên trận tiến công quân địch ở làng Phước Lộc và đồi Chóp Nón (huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi) diễn ra cuối tháng 5-1965 đã giành thắng lợi. Đây là trận đánh then chốt trong Chiến dịch Ba Gia năm 1965.

Phước Lộc nằm cách thị xã Quảng Ngãi khoảng 10km về phía tây, tây bắc, trên tỉnh lộ 5 từ Sơn Tịnh đi Sơn Hà. Phía bắc Phước Lộc có điểm cao 47, núi Mả Tổ và đồi Chóp Nón. Ta chọn làng Phước Lộc và đồi Chóp Nón làm khu vực mục tiêu quyết chiến chiến dịch, bởi đây là những khu vực rất nhạy cảm về quân sự và chính trị đối với địch.
Kế hoạch của ta là sử dụng lực lượng tập kích hai trung đội dân vệ ở Phước Lộc, buộc địch ở Gò Cao (còn gọi là Ba Gia) phải đến ứng cứu. Khi địch bị ta tiêu diệt, đồn Ba Gia không có lực lượng đóng giữ, thị xã Quảng Ngãi bị uy hiếp, chúng phải điều lực lượng cơ động đến giải tỏa, chiếm giữ một số vị trí, trong đó có làng Phước Lộc, đồi Chóp Nón và sa vào khu vực ta đã chọn sẵn để tiêu diệt chúng.
Để đánh trận then chốt này, ta sử dụng bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh tập kích hai trung đội dân vệ đóng ở làng Phước Lộc nhằm kéo quân chủ lực địch tới cứu viện để tiêu diệt chúng. Đúng như ý định của ta, rạng sáng 29-5, khi lực lượng dân vệ ở làng Phước Lộc bị tập kích, đại đội địch ở Núi Tròn được lệnh ứng cứu. Đại đội 20 (Tiểu đoàn 90, Trung đoàn 1, Quân khu 5) sử dụng lực lượng nổ súng diệt bọn đi đầu, sau đó áp sát, hình thành thế bao vây chia cắt, diệt và bắt phần lớn quân địch. Đồng thời, Trung đoàn 1 bố trí một bộ phận uy hiếp đồn Ba Gia và sử dụng hỏa lực khống chế, không để pháo binh địch chi viện cho lực lượng của chúng tại đây.
Bị đánh bất ngờ và thiệt hại nặng, địch thành lập Chiến đoàn 51, chia thành hai hướng: Hướng chủ yếu gồm Tiểu đoàn bộ binh 2 và Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 3 theo đường 5 đánh lên Phước Lộc, điểm cao Mả Tổ, Núi Khỉ rồi phát triển lên Ba Gia; hướng vu hồi gồm Tiểu đoàn biệt động 39 tiến qua cánh đồng Vĩnh Khánh đánh chiếm điểm cao Chóp Nón, hình thành mũi tiến công vào phía sau trận địa ta. Để buộc địch phải tổ chức một chiến đoàn hành quân ứng cứu giải tỏa và sẽ sa vào thế trận đã chuẩn bị sẵn, ta triển khai phương pháp tạo lập thế trận rất sáng tạo từ trước.
Nhằm phát huy hiệu quả tác chiến giữa các lực lượng tham gia trận đánh, Bộ tư lệnh Quân khu 5 giao cho Trung đoàn 1 trực tiếp chỉ huy các lực lượng, cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích phối hợp tác chiến theo một kế hoạch thống nhất, từ công tác chuẩn bị chiến trường, các mặt bảo đảm cho tác chiến, tạo lập thế trận và sử dụng, bố trí đội hình, hiệp đồng giữa các lực lượng trên từng hướng. Trong quá trình diễn ra trận đánh, Ban chỉ huy Trung đoàn 1 luôn bám sát tình hình, kịp thời điều chỉnh lực lượng và chuyển hóa thế trận một cách linh hoạt, hiệp đồng chặt chẽ các lực lượng đánh địch.
Thực hiện trận đánh then chốt ở làng Phước Lộc và đồi Chóp Nón, ta sử dụng chủ lực đánh trận quyết định: Chặn cánh vu hồi đi vào đồi Chóp Nón (Tiểu đoàn biệt động 39 của địch), tập trung lực lượng đánh bộ phận chủ yếu của địch (Tiểu đoàn bộ binh 2 và Tiểu đoàn thủy quân lục chiến 3); lập kế đưa dần địch vào quyết chiến điểm ở khu vực Phước Lộc, điểm cao 47, Mả Tổ. Quân ta đã linh hoạt đưa các đơn vị chuyển từ đánh phục kích sang vận động tiến công, bám sát, bao vây, chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận địch, không cho chúng co cụm. Đánh ban ngày chưa dứt điểm được, ta sử dụng một bộ phận kìm chân địch, tiến hành nhanh các mặt công tác chuẩn bị, rồi chuyển sang tập kích vào các cụm quân địch lúc ban đêm, khi chúng vừa tạm đứng chân, chưa kịp làm công sự trận địa.
Nhờ kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thực hiện tốt phương châm đánh gần, đánh cả ngày và đêm, tiến công kiên quyết và liên tục; đồng thời phối hợp tác chiến của ba thứ quân hiệu quả, ta đã tiêu diệt gọn cả 3 cụm quân còn lại của Chiến đoàn 51 (đêm 30, rạng ngày 31-5-1965), hoàn thành thắng lợi trận then chốt Chiến dịch Ba Gia. Trận đánh đã cho thấy khả năng chiến đấu và trình độ vận dụng chiến thuật của lực lượng vũ trang Quân khu 5 có bước tiến rõ rệt, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG ĐIỀU KHÔNG CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA!

1. Tổ chức Asian ban đầu được lập ra là để.....chống lại Việt Nam. Trong văn bản thành lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Văn bản được ký kết tại Bangkok 8 tháng 8 năm 1967 bởi năm thành viên sáng lập Indonesia, Singapore, Philippines, Malaysia và Thái Lan như một biểu hiện của sự đoàn kết chống lại chủ nghĩa cộng sản đang phát triển ở Việt Nam và sự nổi lên của chủ nghĩa cộng sản trong lòng các quốc gia này.

2. Tình hình các quốc gia này ngày càng khiếp sợ hơn khi quân tình nguyện Việt Nam khi đánh đuổi Khơ Me đỏ có tình cờ lái nhầm tank qua gần Bangkok khiến quân đội Thái Lan khiếp sợ phải bỏ chạy về thủ đô định tử thủ, tuy nhiên sau khi xem lại bản đồ thì chúng ta có cáo lỗi với nước bạn vì đi lạc đường. 

3. Chúng ta biết rõ bản chất của khối Asean nhưng vẫn gia nhập vì không muốn bị cô lập. Ngày nay Việt Nam lại trở thành một thành viên chủ chốt quan trọng của khối và đặt nền móng cho những nguyên tắc cơ bản của ASEAN là hợp tác, thân thiện và không can thiệp vào tình hình nội bộ của nhau.

4. Singapores đã làm giàu bằng máu của nhân dân Việt Nam khi là nơi trung chuyển, cung ứng nhiên liệu, hậu cần cho quân đội Mỹ xâm lược Việt Nam.

5. Khi Khơme đỏ tàn sát nhân dân ta thì Liên hợp quốc làm ngơ. Nhưng khi chúng ta phản công tự vệ chính đáng một cuộc bỏ phiếu cấm vận nước ta đã được tổ chức. Tổng cộng có 124 phiếu thuận, 17 phiếu chống, Việt Nam tiếp tục lâm vào tình cảnh bị cấm vận, thiếu thốn. Riêng khu vực Đông Nam Á chỉ có Lào là bỏ phiếu chống, các quốc gia còn lại gồm Sing, Thái, Mã Lai, Philippines, Indonesia...đều bỏ phiếu thuận để cấm vận Việt Nam. Không những vậy, Thái Lan còn giúp đỡ và là căn cứ cho tàn quân Khơme đỏ để đánh Việt Nam. 

P/s: Theo các bạn có đội quân xâm lược nào mà được dân của quốc gia xâm lược yêu mến và gọi là quân đội nhà Phật không?



Ảnh: Những hình ảnh quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia. Xem ảnh các bạn có thể hiểu!
Yêu nước ST.

ÐỪNG CHỦ QUAN TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19

Thống kê trên Hệ thống quốc gia quản lý ca bệnh Covid-19 trong bảy ngày qua, trung bình mỗi ngày có 1.044 ca nhiễm mới. Trong tổng số khoảng 1,2 triệu người mắc Covid-19 đang điều trị thì chỉ còn 51 trường hợp nặng đang phải thở oxy qua mặt nạ, thở oxy dòng cao HFNC, thở máy không xâm lấn, thở máy xâm lấn, trong đó có hai ca phải can thiệp ECMO. Cả tuần qua cũng chỉ có một, hai ca tử vong liên quan Covid-19...

CHỦ TỊCH NƯỚC THĂM, TẶNG QUÀ ĐẠI DIỆN NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HẢI DƯƠNG

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Người cao tuổi Việt Nam (6/6/1941-6/6/2022), sáng 5/6, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã tới thăm, tặng quà người cao tuổi làm kinh tế giỏi tại Hợp tác xã Tân Minh Đức, xã Phạm Trấn, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; thăm, tặng quà đại diện người cao tuổi tại tỉnh Hải Dương. Cùng đi có đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam Nguyễn Thanh Bình, lãnh đạo tỉnh Hải Dương.

NGƯỜI ĐI TÌM HÌNH CỦA NƯỚC

Hôm nay, cả nước kỉ niệm 111 năm ngày Nguyễn Ái Quốc lên tàu tại Bến Nhà Rồng đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Người đã đi qua gần 30 nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và Người đã rút ra kết luận là chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và Nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa.

THỦ TƯỚNG DỰ DIỄN ĐÀN KINH TẾ VIỆT NAM LẦN THỨ 4

Chiều 5/6, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Phiên toàn thể-tọa đàm cấp cao Diễn đàn Kinh tế Việt Nam lần thứ 4 với chủ đề “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập kinh tế sâu rộng trong tình hình mới”. Diễn đàn do Ban Kinh tế Trung ương, Chính phủ và Thành phố Hồ Chí Minh đồng tổ chức.

ĐÔI BÀN TAY VÀ CUỘC HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC VĨ ĐẠI!

         Bằng đôi bàn tay và khối óc kiệt xuất, 111 năm trước Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều châu lục trên thế giới để tìm đường cứu quốc. Để rồi sau 30 năm “bôn ba hải ngoại”, Người đem về Việt Nam chân lý “độc lập tự do”. “Để có độc lập tự do, nhất thiết phải giải phóng dân tộc. Muốn giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”.
"Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để chế độ người bóc lột người”. Lý luận tiên phong ấy mãi toả sáng trong hành trình bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam trong thời chiến cũng như thời bình lặng im tiếng súng ngày nay.
Cuộc hành trình cứu nước vĩ đại
Cho đến bây giờ sau đúng 111 năm, nhân loại tiến bộ trên thế giới ở thế kỷ 20 và nửa đầu thế kỷ 21 chưa nước nào ghi nhận một lãnh tụ có cuộc hành trình cứu nước vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kể cả những nước hiện nay thường xuyên có chiến tranh sắc tộc màu da hay những cuộc chiến “nội quốc” liên miên. Hoặc cả những nước hiện tại đang phải đối mặt với dịch Covid-19 hành hoành khắp 5 châu. Nhân loại thế giới tổng kết rằng, cuộc hành trình cứu nước vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thế kỷ XX không chỉ là là cuộc hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc cho nước An Nam thủa ấy; mà còn là cuộc hành trình đi tìm ánh sáng bình minh cho nhân loại. Nó được đánh giá như “luồng ánh sáng văn minh” khơi dậy nỗ lực đấu tranh của “những người cùng khổ” và công nhân thế giới vùng dậy đè bẹp chế độ “người bóc lột người” của Lãnh chúa phương Tây với tư tưởng tư sản mại bản và chủ nghĩa tử bản.
Lịch sử đã sang trang, đất nước đã lùi xa tiếng súng 47 năm, nước Việt Nam không còn cách áp bức nô dịch, đời sống nhân dân hoàn toàn tự do, ấm no hạnh phúc. Có được điều ấy là nhờ công lao to lớn và tấm lòng yêu nước thương nòi vô hạn của Bác Hồ- người đã đưa ánh sáng và chân lý giải phóng dân tộc trên cơ sở học thuyết Mác Lê nin vào Việt Nam.
Sau 92 năm Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, chúng ta vẫn có quyền tự hào khẳng định, nếu không có Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, thì không có Đảng cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930, không có Cách mạng Tháng Tám thành công và cũng không có một nước Việt Nam hòa bình phồn thịnh như ngày hôm nay. Dù chiến tranh hay thời bình, dù lịch sử có thăng trầm bao nhiêu, nhưng dấu ấn và công lao tìm đường cứu nước của Bác Hồ vẫn nguyên giá trị. Đó là giá trị bất biến được tạc vào lịch sử dân tộc, được thế giới vinh danh, nhân loại đời đời ghi nhớ.
Cách đây 111 năm về trước, ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà Rồng của thành phố Sài Gòn Gia Định ngày ấy, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ. Nguyễn Tất Thành chuyển biến nhận thức, từ tư tưởng của cậu thanh niên yêu nước, thành nhà hoạt động chính trị. Người khẳng định:
Thứ nhất: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng cũng chỉ là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người.
Thứ hai: Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến, nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận: “Chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này”.
Từ đây, Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “Ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do. Sống hoà mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.
Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin… Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận thức ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường dành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc. Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở đại học Phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản.
Ánh sáng Mác- lê soi đường cách mạng Việt Nam
Nhận thức của người về cách mạng của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người - từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sỹ Cộng sản. Đồng thời sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.
Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng. Việc Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản. Và sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.
Kỷ niệm 111 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, mỗi người dân Việt Nam lại có dịp trân trọng công lao to lớn của Người, mỗi cán bộ đảng viên lại có dịp “soi” lại mình từ công việc của Người đã làm, từ phẩm chất cách mạng cao đẹp của Người, để học tập và làm theo. Giá trị nhân văn của sự kiện Bác đi tìm đường cứu nước 111 năm về trước, không chỉ đem lại ánh sáng cách mạng, hòa bình cho dân tộc, cơm áo cho đồng bào, mà đem lại quyền tự do bình đẳng cho nhân dân- sự tự do bình đẳng quyền làm người, quyền đấu tranh chính nghĩa để giải phóng dân tộc, quyền được sống trong hòa bình phồn thịnh./.
Yêu nước ST.

TÊN GIẶC SỬ KIỆN AI? MÀY ĐÒI NHÀ NƯỚC XHCN VIỆT NAM VINH DANH TÊN NGUYỄN ÁNH CỐNG RẮN CẮN GÀ NHÀ DÂN CHƯA ĐẬP SẤP MẶT CÒN ĐÒI KIỆN HẢ?

Ních Facebook lưu Huy Linh viết:
Kiện cái ma ngã cha nó ấy Nó kiện đi kiện cho thằng c.hó giặc bán nước hại dân - rước voi về dày mả tổ - cõng rắn cắn gà nhà Ba lần bán nước - bán cho vua xiêm la (bị NGUYỄN HUỆ đánh cho tan xác), Bán cho quân thanh (năm mươi vạn hộc lương thực bị trời cho đắm thuyền)- bán cho thực dân pháp 98 năm bị VIỆT NAM DCCH đánh cho chạy mất dép - Mỹ 21 năm bị VIỆT NAM DCCH Đánh cho không còn mãnh giáp phải xin cầu hoà trong 5 năm 1968-1073- đánh cho tàu phải lui 12 năm)- nghe đâu còn cắt đất cho vua Ai lao nữa. Vậy tộc NGUYỄN PHÚC của các người đẹp mặt quá nhỉ - các cụ ta có câu: “ĐẸP THÌ KHOE RA, XẤU XA THÌ CHE ĐẬY LẠI“ sao không im đi lại BƯƠI CỨT RA MÀ NGỬI hả.

Ních Facebook Thúy Thuy Đinh viết:
Có thể lại phải cân nhắc khi xem xét những thằng làm lịch sử có liên quan đến thằng Nguyễn Ánh bán đất nước để bảo vệ họ hàng nhà nó và và những thằng ngụy sử, lật sử. Sự trả thù tàn bạo đê hèn của thằng vua bán nước Nguyễn Ánh đối với Vua Quang Trung, khi ông đã mất. cần thiết phải có bộ luật để bảo vệ Lịch sử Việt Nam các thời kỳ, không để cho bọn ngụy sử, lật sử tác oai, tác quái được, làm sai lệch lịch sử Việt Nam chống phá chế độ gây hoài nghi trong nhân dân Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam./.




Yêu nước ST.

PHẢN BÁC VỀ CÁI GỌI LÀ NHỮNG ĐẠI CÔNG CỦA GIA LONG - NGUYỄN ÁNH!

         Vừa qua, hội đồng Nguyễn Phước tộc Việt Nam đã tổ chức tọa đàm công lao và những đóng góp quan trọng về mặt lịch sử của hoàng đế Gia Long, tham dự có nhiều "nhà sử học" ở ao làng Thừa Thiên Huế. Phát biểu tại buổi toạ đàm, đương kim Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Ông Phan Thanh Hải cho biết "Với 18 năm ở ngôi hoàng đế, vua Gia Long đã có những đóng góp to lớn cho lịch sử phát triển của đất nước và dân tộc, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh trong khu vực lúc bấy giờ. Theo ông Hải, với những công trạng trên, vua Gia Long xứng đáng được tôn vinh ở địa phương và tầm quốc gia nhưng trước hết là ngay trên vùng đất Thừa Thiên Huế - nơi triều Nguyễn đã để lại những kho tàng di sản vô cùng lớn mà ngày nay chúng ta đang kế thừa. Họ ca ngợi Gia Long với những ngôn từ hoa mỹ và cho rằng "trước đây do nhận thức chưa đầy đủ và thiếu tư liệu nên Gia Long mang tiếng xấu là cõng rắn cắn gà nhà"... Từ đó đã chỉ ra những đại công lao của Nguyễn Ánh bao gồm:

1. Họ cho rằng: Vua Gia Long là thống nhất đất nước sau 245 năm (1557-1802) bị phân ly chia cắt (kể từ các cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn).

Xin thưa, Trịnh - Nguyễn phân tranh mấy trăm năm, đến năm 1777 thì Quân Trịnh diệt Quân Nguyễn. Sau này chính Nhà Tây Sơn đã đập tan tập đoàn Trịnh, Nguyễn, đánh bại 5 vạn quân Xiêm do chính Gia Long cầu viện ( Gia Long cầu viện bằng cách quỳ mọp dưới chân Vua Xiêm để được giúp đỡ). Chính Vua Quang Trung đánh tan 29 vạn Quân Thanh ở Ngọc Hồi - Đống Đa. Thời vua Quang Trung còn sống, lãnh thổ Việt Nam cơ bản đã thống nhất, Nguyễn Ánh chỉ trốn ở một góc nhỏ Thổ Chu. Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn để lập quốc là vì Quang Toản và Tây Sơn suy yếu sau khi vua Quang Trung qua đời và kế thừa việc thống nhất đất nước từ thời Quang Trung. 

2. Thứ ba là mở rộng lãnh thổ, Việt Nam đến lúc đó là lớn nhất từ khi lập quốc và có công ổn định đất nước.

Nói thế có nghĩa là các người chẳng hiểu gì về lịch sử. Lãnh thổ Việt Nam thời Nguyễn Ánh không hề mở rộng thêm. Công lao khai phá miền Nam là của các Chúa Nguyễn chứ không phải Nguyễn Ánh. Gia vì lợi ích gia tộc nên cầu Pháp, Xiêm để đánh Tây Sơn, làm cho giang sơn đổ nát chứ ổn định gì. Triều Nguyễn là triều đại mà khởi nghĩa nông dân nhiều nhất, hàng trăm cuộc khởi nghĩa chống vua quan nhà Nguyễn nổ ra 

3. Vị hoàng đế khai sáng nhà Nguyễn này đã có ý thức mạnh dạn xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo, đặc biệt là các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Đây là luận điệu xuyên tạc, vơ công. Hoàng Sa và Trường Sa xác lập từ thời vua Lê Thánh Tông và sau này các chúa Nguyễn tiếp tục sự nghiệp. Nguyễn Ánh chỉ là kẻ kế thừa sau khi thắng Tây Sơn. Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi rõ. Gia tộc Nguyễn Ánh chớ nhận vơ.

4. Là người khởi đầu thiết kế di sản Đại nội Huế

Ồ, xây dựng tổ ấm cho cả vương triều mà gọi là công? Thành, đại nội xây bằng xương máu của người Việt như cách Tần Thủy Hoàng xây cung A Phòng, như Trần Dụ Tông xây dựng chốn ăn chơi trắc táng. Đó là thành quả của dân tộc chứ không phải là do Nguyễn Ánh.

CÁC TRỌNG TỘI CỦA NGUYỄN ÁNH:

1. Cắt Trấn Ninh cho Lào:

Cái này được ghi nhận trong Đại Nam thực lục phần cương thổ về Trấn Ninh như sau:

“Tính ra trong vòng hơn 300 năm Trấn Ninh vẫn theo chức cống, đất rộng dân đông, đứng đầu các Man, TRình Quang là đô ấp. Cuối đời Vĩnh Hựu tôn thất nhà Lê là Duy Mật chiếm cứ hơn 30 năm, đến năm Cảnh Hưng thứ 31 mới dẹp được, rồi cho thị tộc Cầm nối đời làm xà chánh xà phó …. Bản triều đầu đời Gia Long, Thiệu Ấn nước Vạn Tượng có công đánh giặc (Tây Sơn), do đó đem đất này cho Vạn Tượng”.

2. Quỳ mọp xin Vua Xiêm để kéo quân Xiêm tàn hại dân tộc.

Năm 1784, Ánh sang Xiêm và quỳ mọp dưới chân vua Xiêm cầu viện để đánh Tây Sơn. Cuối cùng, dân Xiêm tàn sát mất vạn người, cướp của giết dân. Ánh là kẻ cỏng rắn cắn gà nhà có sai. Ai bảo là nhận thức chưa đầy đủ, chưa có tư liệu. Giám đốc sở Văn hóa - Thể thao và du lịch Thừa Thiên Huế bảo thế khác nào xách mé, bảo Chủ tịch Hồ Chí Minh là "chưa nhận thức đầy đủ"?

3. Góp lương thảo cho giặc Thành:

Đại Nam thực lục ghi nhận: “Nguyễn Ánh Sai Cai cơ Nguyễn Đình Đắc đi dò tình hình Bắc Hà. Mùa hạ năm Kỷ dậu [1789], vua nghe tin người Thanh đem quân Lưỡng Quảng vì nhà Lê mà đánh giặc Tây Sơn, bèn sai sứ thần là bọn Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang Thanh và đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân. Gặp bão đắm cả ở biển lâu không nghe tin tức. Đến đây nghe tin quân Thanh bị giặc đánh bại, đã không đánh lại mà còn phong cho [giặc]. Vì vậy mới sai Đình Đắc đi dò tin tức vua Lê, nhân tiện chiêu dụ những hào kiệt Bắc Hà.”

Đây cũng là thời điểm mà chính sử nhà Nguyễn than thở về việc dân chúng Gia Định đói khổ do bị quân Tây Sơn cướp phá, nhưng chính ở thời điểm dân đói khổ như thế, Nguyễn Ánh vẫn không hề tiếc rẻ 50 vạn cân gạo để nhân cơ hội tạo mối quan hệ tốt đẹp với thiên triều thứ hai là nhà Thanh. Đấy quả là tài năng ngoại giao không hề nhỏ chút nào nhỉ ?!

4. Hiệp ước Versailles.

Hiệp ước này gồm 10 khoản, nội dung chính là về việc Hoàng đế Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh 200 pháo binh và 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi) và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng; ngược lại Nguyễn Ánh chấp thuận nhường cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam mỗi năm sẽ đóng trả cho Pháp một chiếc tàu giống với loại tàu Pháp viện trợ đồng thời cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông.

Hiệp ước này được ký khi Nguyễn Ánh giao hoàng tử Cảnh làm con tin cho Đa Bá Lộc đại diện đem qua Pháp trong tình thế tuyệt vọng khi phải đi tẩu quốc, và quân thiên triều Xiêm La cũng đã bị đánh bại, hiệp ước này sau đó không được Pháp thực thi do dính Cách Mạng Pháp năm 1789, sau này Pháp dùng để làm cớ nổ súng vào nước ta. (Nguồn: Chủ yếu trong Đại Nam thực lục, biên khảo của Nguyễn Duy Chính.)

Đương nhiên nhiêu đây chỉ là những điều nổi bật nhất về Nguyễn Ánh mà mình nghĩ là rất dễ tìm thấy trong các tài liệu lịch sử, thậm chí ngay trên mạng. Còn rất nhiều tội danh khác, nhưng mình nghĩ nhiêu đây là đã quá dài rồi, nếu có thắc mắc, hoặc bổ sung, tranh luận, mình rất sẵn sàng trao đổi dưới bình luận.

Tóm lại, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đội vinh danh, đặt tên đường kẻ bán nước, làm tôi tớ cho ngoại bang như Ánh là không thể chấp nhận được./.


Yêu nước ST.

NHÀ SỬ HỌC NGUYỄN PHƯỚC TỘC MUỐN NHÀ NƯỚC TỔ CHỨC QUỐC LỄ MỪNG VUA GIA LONG LÊN NGÔI, TOÀN DÂN ĐƯỢC NGHỈ HỌC NGHỈ LÀM, SÁNH NGANG VỚI LỄ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG!

         Nhà sử học Nguyễn Phước Vĩnh Khánh, cháu nội 7 đời vua Gia Long, cho biết ông mong muốn nhà nước Việt Nam tổ chức ngày lễ quốc gia mừng vua Gia Long lên ngôi, lập ra nhà Nguyễn. Ngày lễ mang tên Hưng Quốc Khánh Niệm diễn ra ngày 1/6 Dương lịch hàng năm.
Theo đó, nhân dân cả nước sẽ được nghỉ học nghỉ làm để nhớ về công ơn của Thế tổ Gia Long. Vì thế, quy mô của ngày lễ quốc gia này tương đương với Giỗ tổ Hùng Vương.
Ngoài ra, ông Vĩnh Khánh cũng đề nghị đặt tên Gia Long cho một con đường lớn tại Huế để tôn vinh ngài, như dòng họ Nguyễn Phước đã nhiều lần bày tỏ. Năm 1919, vua Khải Định lấy ngày Hưng Quốc Khánh Niệm là ngày Quốc khánh của Việt Nam, vì thế theo ông thì việc tái lập quốc lễ này là hợp tình, hợp lý, hợp lịch sử và vô cùng xứng đáng./.
Môi trường ST.

CÁCH MẠNG VIỆT NAM LÀ CUỘC CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN VÀ VÌ NHÂN DÂN DO ĐẢNG CỘNG SẢN LÃNH ĐẠO ĐỨNG ĐẦU LÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

     Trong nhiều cuộc cách mạng mình thấy cách mạng Việt Nam là đối sử rất tử tế với hoàng tộc. Cách mạng Pháp thì vua Lu-i bị treo cổ. Cách mạng Nga thì cả nhà Sa Hoàng bị giết sạch. Cách mạng Khựa thì cả hoàng tộc lẫn 8 kỳ Mãn Thanh phải cúp đuôi làm người, thay tên đổi họ. Cả thành Tây An người Mãn bị giết sạch.
Triều đại của nhà các vị không được lòng dân tộc là sự thật rõ ràng. Đừng cố bao biện làm cái gì. Các bạn càng gào thét thì tổ tiên các bạn bị lôi lên. Càng nhiều tội lỗi sáng tỏ, càng chuốc thêm bất mãn của nhân dân. Vốn mình chỉ biết ông ấy cõng rắn cắn gà nhà thì giờ biết thêm ông ấy ném con giết vợ, phá hủy kinh thành Thăng Long. 
Các bạn hậu duệ hoàng tộc ạ. Hãy để tổ tiên các vị được yên lành. Yên lặng mà sống đi, cống hiến nhiều hơn cho đất nước non sông chuộc lại lỗi lầm tổ tiên. Quan trọng nhất là biết ơn Đảng và Nhà nước đã đối xử nhân đạo với các vị./.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2022

 TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN GIẢI QUYẾT NẠN HOA KIỀU 

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.

Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, Với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình, vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.

Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba.

Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn. Việt Nam là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước Đông Nam Á khác: người gốc Hoa đã gần như bị đồng hóa bởi người Việt Nam, họ cũng không còn gắn kết thành một cộng đồng tự trị như trước. Mặc dù đám đông người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù gia đình thương gia gốc Hoa (trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa có sức ảnh hưởng rất mạnh: vào cuối thế kỷ 20, người gốc Hoa sở hữu hơn 80% thị trường chứng khoán Thái Lan, 62% ở Malaysia, 50% ở Philippines, trên 70% tổng số tài sản công ty tại Indonesia, và các nước sở tại đều không thể đồng hóa được họ Ở Thái Lan thì người gốc Hoa thậm chí còn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ.

NGÀY 05/6/1911: BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC!

     Cách đây 111 năm, ngày 5/6/1911, từ Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Mảnh đất Sài Gòn vinh dự là nơi tiễn Người ra đi năm ấy, đã cùng cả nước đi theo con đường của Người, làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, với vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.

Nguyễn Ái Quốc
với hành trình tìm đường cứu nước,
giải phóng dân tộc
Ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn đi Marseille (Pháp) với ý chí mãnh liệt và hoài bão sẽ tìm được con đường cứu nước, giải phóng nhân dân khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc.

Với tên mới Văn Ba, làm phụ bếp trên tàu, Nguyễn Tất Thành ra đi trong tư cách một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng. Trong suốt hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc ấy, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đi qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng trăm thành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm sống, với quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Với những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm trong 10 năm ròng, từ năm 1911 đến năm 1920, Nguyễn Tất Thành đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Bàn chân của người thanh niên yêu nước này đã in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ.

Đặc biệt ở 3 nước là Mỹ, Anh và Pháp, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân khảo sát khá lâu. Anh hòa mình vào cuộc sống của những người lao động, làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động, như: Phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, làm vườn, vẽ thuê...

Trên cơ sở đó Nguyễn Tất Thành rút ra một kết luận có tính chất nền tảng đầu tiên: Ở đâu đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Cũng từ đó đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất Thành có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do. Từ những nhận biết căn bản đó càng thôi thúc người thanh niên yêu nước quyết tâm tìm con đường giải phóng mà anh đã từng nung nấu, ấp ủ từ ngày rời Tổ quốc.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Nguyễn Tất Thành. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, chàng thanh niên thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tuy bản yêu sách không được chấp nhận nhưng đã được lan truyền rộng rãi, gây tiếng vang lớn trong dư luận nước Pháp, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa; đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức của chính mình.

Tháng 7-1920, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin đăng trên Báo L’Humanite (Báo Nhân đạo) của Đảng Xã hội Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc.

“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ. Đây là cái cần thiết với chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Sau này, Người đã viết như thế về thời điểm lịch sử đầy ý nghĩa này.

Ngày 30-12-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đồng thời cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết định đi theo con đường của Lênin vĩ đại. Người kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam như: Truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng, xây dựng các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ Báo Thanh Niên ra ngày 21-6-1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản đã nhất trí thành lập một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là kết quả khẳng định tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ và sự cống hiến của Nguyễn Ái Quốc trong việc vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc thành lập một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam…

Ngày 28-1-1941 (tức mồng 2 Tết Tân Tỵ), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua cột mốc 108 trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, tại làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng, một trang sử mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, từng bước đưa dân tộc Việt Nam đi tới những mùa Xuân thắng lợi.

Tháng 5-1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương VIII (khóa I) của Đảng ở Khuổi Nậm, Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng - khẳng định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam. Sự chuyển hướng cách mạng này là nhằm đáp ứng hoàn cảnh, phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế và trong nước để từ đó tổ chức vận động, tập hợp lực lượng toàn dân tộc; thành lập Mặt trận Việt Minh; tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa, tạo nên các cao trào cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi lại được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Tháng 8-1945, với tư duy chính trị nhạy cảm và sắc bén, dự báo chính xác, phân tích kịp thời và thấu đáo tình hình trong nước và quốc tế, nhận rõ thời cơ cách mạng đã chín muồi, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vùng lên phá tan xiềng xích nô lệ hơn 80 năm của chế độ thực dân, xóa bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc - Thời đại Hồ Chí Minh.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã tiếp tục mở đường cho cách mạng Việt Nam đi từng thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" ngày 7-5-1954 trước thực dân Pháp. Từ Sài Gòn, Người ra đi tìm đường cứu nước và 64 năm sau, cũng tại mảnh đất này đã chứng kiến thắng lợi lịch sử của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bằng Đại thắng Mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, như sinh thời Người hằng mong.

Có thể thấy, hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là hành trình sáng tạo, vĩ đại, đã mở đường, dẫn lối cho sự nghiệp giải phóng nhân dân, giải phóng đất nước và giải phóng dân tộc Việt Nam. Hành trình của Người cũng là bài học về tinh thần trách nhiệm, tinh thần học tập, lao động, sáng tạo, là bài học về tình yêu quê hương đất nước đối với thanh niên Việt Nam nói riêng và với mỗi người dân Việt Nam nói chung. Tinh thần của hành trình đó sẽ tiếp tục được lan tỏa trên chặng đường phát triển của đất nước, để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Ảnh trái: Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII (5-1941) quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh.
Ảnh giữa: Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII, tháng 5-1941.
Ảnh phải: Mười chính sách lớn của Việt Nam độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh), năm 1941.

Ngày 28-1-1941 (tức mồng 2 Tết Tân Tỵ), Người trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tranh: TRỊNH PHÒNG.

Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 1930. Ảnh vẽ của họa sĩ Phan Kế An.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 5 ở Moskva và lần tiếp xúc với nhân dân Moskva (Nga) trên đồi Chim Sẻ, trong thời gian tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản (17-6 đến 8-7-1924).

Nguyễn Ái Quốc giảng bài tại lớp huấn luyện cán bộ cách mạng tại Quảng Châu (Trung Quốc) - Ảnh chụp lại tranh.

Toàn cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành Tours, Nguyễn Ái Quốc tham dự với tư cách là đại biểu Đông Dương, tháng 12-1920.

Từ ngày 25 đến ngày 30-12-1920, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương.

Bản yêu sách Tám điểm của nhân dân Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc và nhóm người Việt Nam yêu nước gửi Nghị viện Pháp và các đoàn đại biểu dự Hội nghị Vécxây (6-1919).

Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp ở khách sạn Carlton tại nước Anh, năm 1913.

Bàn chân của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ.

Trang sổ lương của các thủy thủ tàu Amiral Latouche Tréville năm 1911, thủy thủ mang tên Văn Ba là Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Ảnh chụp lại.

Ảnh: Ngày 5-6-1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral Latouche Tréville, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.
Ảnh: Bến Nhà Rồng hôm nay.
Yêu nước ST.

NHÂM MẮT LÀM LIỀU

Đúng là bọn 3 que xỏ lá, lượm lặt tin cũ để xuyên tạc, gần đến thời điểm học sinh cả nước chuẩn bị thi vào lớp 10 thì việc chống phá, xuyên tạc của bọn này cũng chẳng lấy gì làm lạ.


Nhưng chống phá cũng phải có não một chút, chứ nhắm mắt làm liều thì còn ai tin nữa. Chuyện 1 PGĐ sở Giáo dục & Đào tạo làm đơn xin không phụ trách khâu in đề thi lớp 10 đã xảy ra năm 2021, tôi cho rằng là đáng hoan nghênh. Bởi vì ông PGĐ này  nhận thức được tầm quan trọng của việc tuyển sinh vào lớp 10, lỡ có chuyện gì sơ suất thì hậu quả thế nào? Không chừng là miếng mồi béo bở để bọn Vịt Tân xuyên tạc, chống phá. Ông PGĐ thấy làm không nổi thì từ chối, để người khác có trình độ, kinh nghiệm làm là điều đáng hoan nghênh. 


Sợ nhất là năng lực hạn chế mà nhắm mắt làm liều. Cũng giống như Việt Tân ôm cột xuyên tạc thì biết khi nào phục cuốc.

Giữ vững nguyên tắc đối ngoại quốc phòng Việt Nam trong tình hình mới

 

Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam  phải đảm bảo góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân; thực hiện chính sách hợp tác quốc phòng song phương, đa phương trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, vì hòa bình, phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Giữ vững nguyên tắc đối ngoại quốc phòng Việt Nam

 

Đối ngoại Quốc phòng Việt Nam  luôn bám sát chủ trương cùng cố, tăng cường quốc phòng, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam làm nòng cốt; được triển khai chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, theo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc.

Giữ vững nguyên tắc đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới

 

Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam  phải bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thường xuyên trực tiếp là Quân ủy Trung ương; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, quản lý thống nhất của Chính phủ và điều hành của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

NỰC CƯỜI CÂU CHUYỆN “VIỆT TÂN” LẬP QUỸ GIÚP DÂN!

         Gây quỹ để cho bọn chúng ăn nhậu, còn lại bỏ túi rồi chuồn mà sao lại có kẻ u mê không nhận ra được điều đó nhỉ? Ông Nguyễn Cao Kỳ đã nói rõ điều này rồi, với danh nghĩa với cái gọi là "phục quốc" nó lừa gạt, tiền đầy túi rồi chuồn.
Nghe câu chuyện tổ chức kh.ủ.n.g b.ố “Việt Tân” tổ chức dạ tiệc để lập quỹ giúp dân thì khác nào việc trao bảng trinh tiết cho bà Phó Đoan. Từ lúc tôi biết dùng facebook đến giờ, tôi chả thấy bao giờ tổ chức kh.ủ.n.g b.ố “Việt Tân” làm được bất kỳ việc gì (kể cả việc nhỏ con con) giúp ích của đất nước và nhân dân Việt Nam cả. Nếu “Việt Tân” mà là tổ chức hữu ích, thiện chí với Việt Nam thì đã không là tổ chức kh.ủ.n.g b.ố rồi.

Tôi thấy ở Việt Nam các cơ quan, ban ngành khi tổ chức buổi gây quỹ từ thiện thường tổ chức các buổi giao lưu, cuộc họp, tổ chức văn nghệ… chứ chả thấy ai tổ chức liên hoan, đánh chén để gây quỹ cả. Đúng là cách làm của “Việt Tân” là đời, ngược với người dân Việt Nam.

Tổ chức đánh chén bù khú vẫn vẫn lòe bịp tiền của những người ở hải ngoại để phục vụ mục đích cá nhân, mưu đồ chống phá đất nước, phá rối an ninh trật tự, bình yên của tổ quốc thì kể ra “Việt Tân” cũng biết làm kinh tế đấy. Khôn như “Việt Tân” quê tớ đầy!

Thực tế thấy rằng “Việt Tân” không hề sử dụng tiền để hỗ trợ những người dân gặp hoàn cảnh khó khăn ở trong nước như những gì tổ chức k.h.ủ.ng b.ố này vẫn thường rêu rao. Cái gọi là “giúp đỡ người dân” thực chất là việc “Việt Tân” sử dụng tiền để đào tạo, tuyển lựa những “chân rết”; hậu thuẫn cho những kẻ chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống chính quyền; lừa bịp, kêu gọi người dân tham gia biểu tình phá rối an ninh, trật tự mà thôi. Những gương mặt mà “Việt Tân” “tài trợ” chính là những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam như Nguyễn Văn Hóa, Châu Văn Khảm, Lê Đình Lượng,...

Cựu Phó Tổng thống ngụy Sài Gòn, Nguyễn Cao Kỳ từng nói về cái gọi là quyên góp của “Việt Tân” rằng: “Ở cái xứ hải ngoại này nó buồn cười lắm... kinh nghiệm hơn 30 năm cho thấy: Nếu mà tất cả tiền tụ lại cho một anh thì anh ấy ôm tiền đi... TRỐN LUÔN”.

Bản chất của “Việt Tân” như thế nào thì chắc chẳng cần phải bàn nữa làm gì cả. Tôi chỉ nhắc bà con ở Hải Ngoại cảnh giác với chiêu trò bịp bợm của “Việt Tân” cũng như người dân ở trong nước tránh bị những trò mèo này lừa bịp mà liên quan đến tổ chức thì thiệt thân mà thôi./.
Yêu nước ST.

KHÔNG ĐƯỢC LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO ĐỂ VI PHẠM PHÁP LUẬT

 

Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm, tôn trọng trên thực tế. Từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện để người dân thực hành các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh, đúng pháp luật, đồng thời kiên quyết ngăn chặn các hành vi núp bóng tôn giáo để chia rẽ vùng miền, gây mất đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.


Điều 24, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: "1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Tính đến tháng 11/2021, tại Việt Nam có 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận với 43 tổ chức tôn giáo; cả nước ghi nhận trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm xấp xỉ 28% dân số), cùng hàng chục nghìn cơ sở tín ngưỡng, thờ tự. Đây là minh chứng cho thấy quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam được bảo đảm và thực thi có hiệu quả trên thực tế. Và cũng để bảo đảm hiệu quả thực thi, các hành vi vi phạm pháp luật núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể, tại Điều 6, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 quy định các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm, trong đó có các hành vi: "Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau" và "lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi".


Trước đó, sớm nhận diện tính phức tạp của vấn đề, năm 2003 tại Nghị quyết số 25-NQ/TW ban hành ngày 12/3, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo đánh giá: "Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn chung, các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước. Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước". Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ rõ: "Tuy nhiên, tình hình hoạt động tôn giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định". Do đó, Nghị quyết yêu cầu: "Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật".


Tiếp tục nhất quán đường lối, chủ trương đối với công tác tôn giáo, tại Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, trong hệ thống các nhiệm vụ trung tâm và giải pháp chủ yếu thứ năm, Đảng ta nhấn mạnh: "Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước" (1). Đồng thời trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phần xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh của con người Việt Nam nêu rõ: "Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo", đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc" (2).


Như nhiều quốc gia trên thế giới, các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam luôn được bảo đảm, tôn trọng và phải tuân thủ pháp luật, hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích. Trước những diễn biến phức tạp của các hiện tượng tôn giáo mới, các hiện tượng núp bóng tôn giáo gây mất trật tự xã hội, thời gian qua các cơ quan chức năng có liên quan và chính quyền các cấp đã tăng cường phối hợp ban tôn giáo địa phương, tích cực rà quét, phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật trong thực hành tín ngưỡng, tôn giáo; ngăn chặn sự lây lan của các tà đạo, cảnh báo người dân tỉnh táo, cảnh giác trong việc lựa chọn các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh, hợp pháp để tham gia. Nhiều vụ án liên quan tà đạo đã được xét xử công khai để người dân giám sát, đề cao cảnh giác. Như ngày 28/5/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã mở phiên tòa lưu động tại trụ sở UBND xã H’Ra, H.Mang Yang xét xử công khai tám bị cáo phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc theo Điều 87 Bộ luật Hình sự, liên quan tà đạo Hà Mòn. Hay như tháng 3/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử vụ án "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" xảy ra trên địa bàn huyện Mường Nhé. Đáng chú ý trong số 14 bị cáo, có sự xuất hiện của bốn đối tượng cốt cán cầm đầu tà đạo "Giê Sùa", đã được cơ quan chức năng cảnh báo tới cộng đồng từ trước đó.


Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những biện pháp kiên quyết để hạn chế sự lây lan của tà đạo gây bất ổn cho xã hội. Như để ngăn chặn sự hoành hành trái phép của "Hội thánh Đức Chúa trời", tại Hàn Quốc vào năm 2012, Hội đồng quốc gia các Giáo hội chính thức lên tiếng phê phán cho rằng, đây là "phong trào phạm thượng", đồng thời ban hành quyết định cấm mọi hoạt động của tà đạo này. Việc tẩy chay, phản đối "Hội thánh Đức Chúa trời" tiếp tục lan rộng ở nhiều quốc gia mà phong trào này đặt chân tới. Tiêu biểu như Tòa thánh Roma đã ban hành nhiều văn thư lên án các sai lạc trong giải thích Kinh Thánh của "Hội thánh Đức Chúa trời" và coi đây là một "lạc giáo".


Bất chấp thực tế đó, các thế lực phản động, thiếu thiện chí luôn tìm mọi lý do hòng xuyên tạc quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam; vu cáo Nhà nước Việt Nam "đàn áp tôn giáo", "vi phạm quyền con người trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo"; đưa ra yêu cầu phi lý là phải đặt tôn giáo đứng độc lập, ngoài sự quản lý của Nhà nước và pháp luật. Đồng thời, mượn cớ bảo vệ tự do tôn giáo, một số tổ chức, hội nhóm thường xuyên lập ra cái gọi là "phúc trình", "thư ngỏ", "nghị quyết" để lên án tình hình nhân quyền tại Việt Nam, bảo vệ các đối tượng vi phạm pháp luật, gây sức ép về ngoại giao, đòi can thiệp và các công việc nội bộ của nước ta. Nhận diện rõ vấn đề này, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam một mặt thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc; bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân theo quy định của pháp luật; một mặt đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi chống phá, xuyên tạc tự do tôn giáo cũng như các hoạt động núp bóng tôn giáo để thực hiện những âm mưu đen tối.


Liên quan các hiện tượng tôn giáo mới, để ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của các tà đạo ngày càng tinh vi, xảo quyệt trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi cần có sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ hơn nữa trong toàn hệ thống chính trị cũng như ban tôn giáo tại các tỉnh, thành phố. Về phía các lực lượng chức năng cần phải kiên trì, bám chắc địa bàn, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Mặt khác, công tác vận động, tuyên truyền, giải thích để người dân không tin và nghe theo các tà đạo cần đẩy mạnh hơn nữa, đặc biệt là tuyên truyền trên không gian mạng, "trận địa mới" mà hiện nay các tà đạo đang âm mưu triệt để khai thác. Bên cạnh đó, cần không ngừng khơi dậy ý thức trách nhiệm, tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo trong công cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo gây bất ổn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.


Cùng sự vào cuộc của lực lượng chức năng cũng rất cần sự hỗ trợ, chung tay tham gia của cả cộng đồng. Bởi hơn ai hết, những người dân cùng chung sống, sinh hoạt hằng ngày trên một địa bàn sẽ phát hiện sớm nhất sự nảy sinh của các hiện tượng tôn giáo mới. Do đó, cộng đồng cần tăng cường sự gắn kết, chia sẻ, nhận diện kịp thời những biểu hiện bất thường trong từng thôn xóm, làng bản, khu dân cư, cũng như những vấn đề khó khăn, khúc mắc ở mỗi cá nhân để cùng nhau tìm cách hỗ trợ, tháo gỡ, theo đúng đạo lý nhân văn của người Việt, đó là "trong cơn tối lửa tắt đèn có nhau". Sự quan tâm sát sao, ân tình trong cộng đồng dân cư sẽ góp phần quan trọng giúp mỗi cá nhân không bị lôi kéo, sa ngã vào các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng trái phép. Trường hợp phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh trong sinh hoạt tôn giáo, người dân cần kịp thời thông báo cho chính quyền sở tại hoặc cơ quan chức năng để thực hiện việc giám sát và xử lý nếu có sai phạm. Đó cũng là cách hiệu quả để mỗi người tự bảo vệ bản thân và gia đình trước sự lôi kéo, tấn công của tà đạo, không bị dẫn dắt vào các hành vi vi phạm pháp luật.


Được tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo là quyền chính đáng của mỗi công dân. Tuy nhiên, việc thực thi quyền đó phải trong khuôn khổ luật pháp và đạo đức xã hội. Quan trọng hơn cả, đó là mỗi cá nhân phải hình thành thái độ sống tích cực và niềm tin lành mạnh để lựa chọn tôn giáo đúng đắn cho riêng mình, sống "tốt đời đẹp đạo", tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của xã hội bằng những việc làm có ý nghĩa. ST

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI "DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) được thành lập đến nay, vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm bảo đảm. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Ấy thế mà, nhiều năm qua, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc, gây sức ép đối với Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền; họ phê phán, chỉ trích, thậm chí vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.


Các phần tử cơ hội chính trị, chống đối rêu rao rằng, ở Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền vì thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam sẽ là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Chúng thường rêu rao “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”; “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thực sự”. Vấn đề dân chủ, nhân quyền cũng được các thế lực chống đối gắn kèm với vấn đề dân tộc, tôn giáo; với luận điệu gán ghép cho Việt Nam “vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.


Để thực hiện cái gọi là dân chủ, nhân quyền, một số thế lực ở phương Tây thực hiện chiêu bài về tự do, dân chủ, hợp tác, ngoại giao thân thiện; thúc đẩy hình thành hội, nhóm bất hợp pháp dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”; vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt, xử lý ở trong nước. Trên bình diện quốc tế, chúng vừa vận động, vừa dùng sức mạnh để ép Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc thông qua các nghị quyết về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, nhằm cổ súy, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn và từ đó có cớ can thiệp vào Việt Nam... Đích đến cuối cùng của vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mà vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ, nhân quyền suy đến cùng là mục đích phá hoại Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Chúng ta khẳng định dứt khoát không thể chấp nhận cái dân chủ, nhân quyền mà các thế lực thù địch muốn áp đặt cho chúng ta. Bởi vì, dân chủ, nhân quyền luôn gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các chế độ xã hội. Dân chủ mà con người có được là quá trình phát triển thông qua đấu tranh xã hội để giải phóng con người.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, phong kiến, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành người tự do; đất nước và dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện rõ rệt; an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và bảo đảm. Chúng ta có môi trường chính trị - xã hội ổn định, cuộc sống thật sự hòa bình, ấm no, tự do, nhân dân thật sự là chủ nhân của đất nước; quyền con người được Hiến pháp, pháp luật thừa nhận. Việt Nam đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc”; “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”; “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội”; “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị”; “Công ước về quyền trẻ em”; “Công ước về quyền của người khuyết tật”… Điều này phản ánh rõ tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã lựa chọn.


Hoàn toàn sai lầm khi cho rằng, phải có đa đảng mới có dân chủ. Dân chủ và sự phát triển không đồng nghĩa, cũng không tỷ lệ thuận với đa nguyên, đa đảng, mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội; một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ. Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cho thấy, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, quyền con người vẫn không được bảo đảm. Những người tự cho mình cái quyền đi phán xét, ban phát dân chủ, nhân quyền cho nước khác, nhưng ở ngay trên quê hương họ, tình trạng phân biệt giàu nghèo, dân tộc, màu da diễn ra mạnh mẽ, nạn khủng bố, xả súng giết người vô cớ vẫn còn nhiều... Trong khi đó, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và vị thế của đất nước trên thế giới ngày càng được nâng cao. Mọi hoạt động coi trọng “dân chủ, nhân quyền” theo các giá trị của các nước tư bản phương Tây để áp đặt vào Việt Nam thực chất là vì lợi ích của các nước phương Tây chứ không phải vì sự tiến bộ và phát triển của Việt Nam.


Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo nhận rõ những thông tin bịa đặt cho rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền và phê phán những quan điểm sai trái đó là việc làm hết sức cần thiết, có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta, tạo sự đồng thuận xã hội vượt qua mọi khó khăn, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước./.

ST