Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội.

 - Công tác tư tưởng là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương gặp mặt các đại biểu điển hình tiên tiến toàn quốc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh giai đoạn 2009 - 2019 tại trụ sở Trung ương Đảng_Ảnh: qdnd.vn

Công tác tư tưởng phải đi trước một bước

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của công tác tư tưởng nên thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(1). Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(2). Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(3).

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm các chế độ quy định; coi đó là vấn đề tất yếu trong quá trình phấn đấu, rèn luyện của bộ đội.

Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng đạt kết quả khá toàn diện

Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam với các đại biểu tại Lễ Tuyên dương gương mặt trẻ tiêu biểu, gương mặt trẻ triển vọng toàn quân năm 2021_Ảnh: TTXVN

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.

Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ _Ảnh: qdnd.vn

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên”(4) và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.  

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.

------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8,  tr. 554 - 555
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 606, 590
(4) “4 không”: Không quát mắng, dọa nạt bộ đội; không áp đặt, rập khuôn, máy móc; không phân biệt đối xử giữa các chiến sĩ; không làm trái các quy định trong quản lý bộ đội; “3 có”: Có tinh thần trách nhiệm cao; có kỷ luật nghiêm; có tình, có lý trong quản lý, giáo dục bộ đội; “3 nên”: Nên gần gũi, quan tâm, động viên giúp đỡ bộ đội; nên tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến; nên cụ thể, tỉ mỉ trong hướng dẫn bộ đội.

Nắm vững khái niệm dân chủ để thực hiện tốt hơn chế độ dân chủ ở Việt Nam

 


Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ CT-XH mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng…) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí, hành động, bầu cử tự do và công bằng…) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại.

CẢNH GIÁC TRÁNH “SẬP BẪY” NHỮNG TRANG MẠNG GIẢ MẠO!

         Tình hình tội phạm lừa đảo nói chung, lừa đảo trên không gian mạng nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây bức xúc dư luận. Đặc biệt, trong thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch triệt để khai thác công nghệ thông tin, nhất là Internet, mạng xã hội để bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các vấn đề, sự kiện nhằm chống phá Việt Nam. 
Các thế lực thù địch chống phá ta trên mọi phương diện, ở mọi lĩnh vực nhưng tư tưởng, văn hóa là lĩnh vực chúng đặc biệt quan tâm. Nhiều chiêu thức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm được họ áp dụng. Một trong những chiêu thức ấy là chúng lập ra nhiều website, Fanpage Facebook, Youtube… giả danh cơ quan chức năng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và cán bộ có chức vụ cao ở một số bộ, ngành… hoặc núp dưới danh nghĩa: “Tuổi trẻ yêu nước”; “Bảo vệ nhân quyền”; “Vì biển đảo Việt Nam”; “Chống tham nhũng, tiêu cực”; “Sáng kiến pháp lý Việt Nam”; “Kết nối yêu thương”… để qua đó móc nối, tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những sự kiện, vấn đề nhạy cảm. 
Để tạo dựng lòng tin, trên những website, Fanpage Facebook, Youtube… ấy thỉnh thoảng cũng có những bài viết, những thông tin đúng, nhưng đa phần là xuyên tạc sự thật, kích động chia rẽ nội bộ, gieo rắc sự hoài nghi… Nhưng cái khéo ở những bài viết trên các website này là họ không nói trực diện, hướng dư luận theo kiểu “phải trái phân minh” một cách rõ ràng mà thường lập lờ để dư luận tự phán xét, bày tỏ thái độ, quan điểm. Lối chống phá của chúng cũng rất công phu và kiên trì. Có khi cùng một bài viết, hầu hết thông tin là chính xác, họ chỉ cài vào trong đó một vài thông tin thiên lệch dễ khiến người đọc tin là thật và như vậy đã được chúng xem là thành công. Chúng thực hiện “mưa dầm thấm lâu”, nói một lần chưa tin thì nói nhiều lần ắt phải tin; bài trước lái một chút, bài sau lái một chút… nếu người đọc không tỉnh táo dễ dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. 
Bằng chiêu thức trên ít nhiều các thế lực thù địch đã gây cho chúng ta những khó khăn, phức tạp nhất định trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đáng chú ý đã có một số người, trong đó phần lớn là thanh niên bị kẻ xấu câu móc, mua chuộc thông qua các trang mạng giả mạo dẫn đến lầm đường, lạc lối vi phạm pháp luật. Một số đối tượng bị khởi tố, phạt tù về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” gần đây đã cho thấy rõ điều này.
Vẫn biết rằng, sự thật và lòng tin của nhân dân ta không dễ bị tác động, lung lạc. Chúng ta không phủ nhận công tác điều tra, xử lý số đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bóc gỡ những trang website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội giả mạo, xấu, độc khác đã góp phần rất quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Nhưng để phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn như đã nêu trên nếu chúng ta chỉ tập trung vào việc điều tra, làm rõ, xử lý, bóc gỡ các trang website, Fanpage Facebook, Youtube… giả mạo và những người lợi dụng các trang mạng ấy để xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bằng các biện pháp hành chính hay kỹ thuật thì chưa đủ. 
Biện pháp căn cơ, lâu dài vẫn là phải thường xuyên đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, giáo dục giúp cho người dân nắm chắc các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; nâng cao cảnh giác cho người dân trước những âm mưu, thủ đoạn, chiêu thức tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Người dân cần được trang bị những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết khi tham gia mạng xã hội và tiếp cận với các thông tin từ mạng xã hội, đặc biệt là kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá trên mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động. Mỗi chúng ta cần thận trọng tìm hiểu các website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội khác khi truy cập; kiểm chứng kỹ khi tiếp cận với các thông tin đăng tải trên Internet và mạng xã hội… Nhận thức chính trị đúng đắn, thị hiếu lành mạnh, cẩn trọng kỹ lưỡng, tỉnh táo, sáng suốt trên không gian mạng, đó là cơ sở để người dân, nhất là thanh niên sàng lọc, tiếp nhận, xử lý thông tin một cách chuẩn xác để không mắc mưu, “sập bẫy” kẻ xấu; không bị lôi kéo, kích động tự biến mình thành “con rối” trong tay các thế lực thù địch, phản động./.
Môi trường ST.

CHỐNG THAM NHŨNG PHẢI QUYẾT LIỆT HƠN NỮA

 


“Người dân mong Đảng làm mạnh hơn nữa, chống tham nhũng phải quyết tâm, không bỏ dở giữa chừng. Kỳ này, Đảng quyết tâm làm đến cùng chứ không bỏ lửng”, Tổng Bí

PHÁT BIỂU CỦA THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG


 - Tôi khẳng định, không một ai ở đất nước này có suy nghĩ rời bỏ hoặc nhân nhượng về chủ quyền, đặc biệt là những nhà lãnh đạo. Nếu để mất Biển Đông thì quân đội Việt

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo; trọng tâm là nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức sơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, hiệu lực quản lý của chính quyền cơ sở; năng lực tập hợp quần chúng của các tổ chức chính trị-xã hội.

Các cơ quan quân sự địa phương các cấp phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh cho già làng, trưởng thôn, bản, chức sắc, chức việc tôn giáo, người có uy tín; xây dựng và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trong các tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tích cực xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên vững mạnh, làm chỗ dựa trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xử lý có hiệu quả những vấn đề phức tạp nảy sinh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở cho cấp ủy, chính quyền cơ sở.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác tuyển quân, cử tuyển, đào tạo, bồi dưỡng con em đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nguồn cho cán bộ địa phương. Tăng cường cán bộ của Bộ đội Biên phòng tham gia đảm nhiệm các chức danh cán bộ chủ chốt ở cơ sở vùng sâu, vùng xa.

Chỉ đạo các đoàn kinh tế - quốc phòng tăng cường đội ngũ trí thức tình nguyện đến các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nên nhiều cấp ủy, chi bộ đã được củng cố, lãnh đạo hiệu quả, bộ máy chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động có nền nếp, phát huy được chức năng, nhiệm vụ.

Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp vận động quần chúng, xây dựng và phát huy hiệu quả các mô hình bảo đảm an ninh trật tự vùng dân tộc, vùng biên giới, vùng tôn giáo, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đã có nhiều mô hình sáng tạo, cách làm hay, như phòng trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

 

NÂNG CAO TIẾN HÀNH CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

NÂNG CAO TIẾN HÀNH CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA QUÂN ĐỘI

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Mục tiêu, yêu cầu công tác tư tưởng hiện nay là phải quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về tình cảm, trách nhiệm đối với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tạo nên một phong trào cách mạng của toàn dân thực hiện mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh trên nền tảng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trong xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần bảo vệ Tổ quốc, công tác tư tưởng phải quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng đến mọi người dân, chuyển hóa quan điểm, đường lối đó thành niềm tin, bản lĩnh chính trị và năng lực sáng tạo của nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Công tác tư tưởng phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời, sáng tạo phù hợp với từng đối tượng, nhiệm vụ, tiến hành đồng bộ trên cả ba lĩnh vực: công tác tư tưởng-lý luận, công tác chính trị-tư tưởng, công tác tư tưởng-văn hóa. Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, xây dựng, nuôi dưỡng, tôn vinh cái mới, cái đẹp, những người tốt, việc tốt, phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, những nhận thức, quan điểm lệch lạc, sai lầm; kết hợp chặt chẽ đấu tranh tư tưởng, lý luận chống các luận điệu phản động, thù địch kích động diễn biến hòa bình, biểu tình, bạo loạn lật đổ với kịp thời đánh bại những hoạt động chính trị phản cách mạng, phản dân tộc.

Để thực hiện có hiệu quả những nội dung trên, công tác nắm tình hình tư tưởng phải kịp thời, chính xác, phân tích rõ đúng sai, đưa ra được nhận định và dự báo đúng về xu thế diễn biến tư tưởng. Đồng thời, huy động toàn dân, toàn quân trực tiếp tham gia vào công tác tư tưởng, tự giải quyết những vấn đề tư tưởng cho chính mình và cho những người xung quanh.

VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

 


"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".

Việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện thực tiễn đất nước hiện nay đang là vấn đề được Đảng ta hết sức quan tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi liền với bổ sung và phát triển dựa trên những vấn đề thực tiễn đặt ra. Sự nghiệp đổi mới đang đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới như kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế... cần được nghiên cứu, giải đáp về lý luận và thực tiễn. Đại hội X của Đảng xác định: tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Muốn vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nắm vững hệ thống các quan điểm tư tưởng của Người, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn, gắn chặt với tổng kết thực tiễn. Phải hiểu sâu sắc quá trình hình thành hệ thống quan điểm tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. Chỉ thông qua quá trình đó, chúng ta mới có thể phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đúng đắn và khoa học.

 

LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, trên thế giới, khu vực tình trạng ly khai, kết hợp với vấn đề sắc tộc và tôn giáo luôn là thách thức lớn đối với sự ổn định và toàn vẹn lãnh thổ của một số quốc gia. Mặc dù chính phủ các nước đã tiến hành nhiều biện pháp kể cả tiến hành đàm phán hòa bình hoặc sử dụng vũ lực, song chưa thể giải quyết triệt để, bởi các nguyên nhân: mâu thuẫn do lịch sử để lại; tình trạng chênh lệch giầu nghèo và bất mãn của nhân dân đối với chính quyền; sự can thiệp của bên ngoài với nhiều hình thức và lý do, mục đích khác nhau.

Đối với nước ta, kinh tế ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chậm phát triển, tỷ lệ đói nghòo còn cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, các dân tộc ngày càng tăng, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Một số hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển; hệ thống chính trị ở nhiều vùng dân tộc, miền núi còn yếu, cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào. Ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường; các thế lực thù địch lợi dụng khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của dân tộc thiểu số, tôn giáo và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để kích động, lôi kéo đồng bào tham gia bạo loạn ly khai, nhất là trên các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.

Đặc điển này đòi hỏi Quân đội phải nâng cao hiệu quả tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới cho nhân dân vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo; tích cực tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, nhất là trên các địa bàn chiến lược Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, khu vực biên giới; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu kích động ly khai dân tộc của các thế lực thù địch.

VỮNG TIN VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

 


Sau 35 năm đổi mới, công cuộc phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa về mặt lịch sử, điều đó một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của đường lối sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta vui mừng đón nhận những kết quả của quá trình đổi mới dất nước thời gian qua. Một số kết quả cụ thể:

 Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực.

Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016 - 2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăng trưởng 9 tháng vẫn đạt 2,12%, cả năm ước đạt 2 - 3%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới nhờ nội lực, tận dụng tốt các cơ hội và khả năng đa dạng hoá, thích ứng linh hoạt của nền kinh tế.

 Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015 (theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN); GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD.

 Năng suất lao động được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm, cao hơn giai đoạn 2011 - 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 - 35%).

 Mô hình tăng trưởng dần chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô, lao động giá rẻ, mở rộng tín dụng…, từng bước chuyển sang dựa vào ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong vấn đề tạo việc làm và cải thiện đời sống của người dân.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tập trung nguồn lực đầu tư; nhiều công trình, dự án quan trọng, quy mô lớn đã hoàn thành không chỉ tạo động lực cho phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho Nhà nước tập trung đầu tư, phát triển nhiều hơn cho các mục tiêu giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn…

Phát triển văn hoá, xã hội đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. 

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm từ gần 10% năm 2015 xuống dưới 3% năm 2020. Hệ thống y tế dự phòng và mạng lưới y tế cơ sở được củng cố; năng lực giám sát, dự báo, phát hiện và khống chế dịch bệnh được nâng lên. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 76,5% năm 2015 lên 90,7% năm 2020. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; quan tâm hơn giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam có những chuyển biến tích cực; nhiều giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc được phát huy. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, người cao tuổi, trẻ em, gia đình, bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được đẩy mạnh. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta liên tục được cải thiện, thuộc nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình cao của thế giới.

Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng…

Với những kết quả đã được như hiện nay, chúng ta luôn tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí, điều hành của nhà nước, với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, sự nỗ lực cố gắng của cả hệ thống chính trị và toàn dân, chúng ta sẽ sớm hoàn thành mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, ăn minh”.  

 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KẾT HỢP PHÒNG VÀ CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

 

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KẾT HỢP PHÒNG VÀ CHỐNG BẠO LOẠN LY KHAI

Mục đích phòng chống bạo loạn ly khai nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, để phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị đều có trách nhiệm tham gia phòng chống bạo loạn ly khai, trước hết là ở ngay địa phương, khu vực, ngành mình. Các lực lượng tham gia phòng chống bạo loạn ly khai phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành tập trung của Nhà nước.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: ngăn chặn kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: Chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Quan điểm chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa phòng và chống chỉ đạo phải giữ vững ổn định chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; tăng cường hiệu lực quản lý, điều hành thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội, sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, trong nội bộ nhân dân; giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không để các thế lực thù địch lợi dụng kích động chống phá; đồng thời, tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động gây bạo loạn ly khai của các thế lực thù địch.

 

MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

 


Bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, kịp thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, cách thức... mà các thế lực thù địch sử dụng chống phá cách mạng nước ta. Trên cơ sở đó, tìm tòi, đề xuất những phương thức, cách thức phù hợp, hiệu quả để đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự phối hợp của các tổ chức, cơ quan chức năng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu hiện nay. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt phải nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh, khắc phục khâu yếu, mặt yếu; không để xảy ra bất ngờ, lúng túng, bị động.

Hai là, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải chỉ có bộ phận thường trực mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, các ban ngành Trung ương, của cấp ủy, chính quyền địa phương và của toàn dân. Như vậy, mới tạo được sức mạnh tổng thể nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với những quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh đối với các quan điểm sai trái, thù địch; ngăn chặn mọi âm mưu và hành động móc nối, tập hợp lực lượng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ; quản lý và đấu tranh đối với các phần tử cơ hội, bất mãn kích động, chống đối, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, cần có các phương thức, hình thức đa dạng, hiệu quả trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, hành chính, chủ quan, duy ý chí, áp đặt mà là quá trình phân tích, đấu tranh có lý lẽ, có cơ sở lý luận và thực tiễn, khách quan thuyết phục. Nội dung và hình thức thông tin đấu tranh cần đa dạng, phù hợp với trình độ, tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của từng đối tượng cụ thể. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất được tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm loại bỏ, phủ định cái sai trái, khẳng định cái đúng, chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Bốn là, sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ và pháp lý để xử lý kịp thời, kiên quyết và có hiệu quả đối với các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin, dịch vụ truyền thông có nội dung xấu, độc hại, sai trái, xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu khống, xuyên tạc, bôi đen lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Kịp thời cung cấp những thông tin chính thống từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nhằm đi trước định hướng dư luận xã hội, giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cũng phải trở thành những chiến sỹ trên mặt trận đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, thù địch. Thực tế đã chứng minh, cho dù các thế lực thù địch có trăm phương, nghìn kế để chống phá mà chúng ta biết dựa vào dân, biết chủ động thông tin, biết định hướng dư luận xã hội một cách khách quan, kịp thời, minh bạch thì chúng cũng nhận lấy thất bại. Cung cấp thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ cho cán bộ, đảng viên và người dân chính là chúng ta đang xây dựng một hệ miễn dịch cho mỗi người dân, cho toàn xã hội có sức đề kháng với những thông tin bịa đặt, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Năm là, hệ thống thông tin đại chúng có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay. Vì vậy, cần coi trọng việc đảm bảo thông tin khách quan, chân thực, đảm bảo tính tư tưởng, tính chiến đấu của hệ thống thông tin đại chúng. Mỗi cơ quan báo chí, truyền thông và mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên vừa thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan ngôn luận vừa không ngừng nâng cao  trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Cần tăng cường đưa những thông tin tốt, tích cực, những tấm gương người tốt việc tốt, những điển hình tiên tiến, tiêu biểu cho giá trị, mục tiêu mà Đảng ta, Nhân dân ta lựa chọn. Phải có cơ chế để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân, đặc biệt đối với những thông tin liên quan đến vấn đề hoạch định và thực thi chính sách, nhất là về quy hoạch phát triển, về đất đai, về dân tộc, tôn giáo, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Thực hiện nghiêm túc quy hoạch báo chí đã được cấp có thẩm quyền của Đảng, Chính phủ quyết định.

 

KHÔNG GỌI NGỤY THÌ GỌI LÀ GÌ?

     Về bản chất của quân đội ngụy và ngụy quyền tay sai thì Bác Hồ đã nhiều lần đề cập trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bằng những câu như: “Chúng dựng lên ngụy quân, ngụy quyền dùng làm công cụ phản quốc hại dân.”, “Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước.” v.v.
Lưu ý rằng Bác Hồ không nói những người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là những kẻ phản nước, hại dân, mà Bác nhận định họ đã bị Pháp, Mỹ sử dụng làm công cụ phản nước hại dân. Như vậy, những người tốt nhưng yếu, kém, không có thực lực, bị thời thế đẩy đưa thì vẫn có thể bị giặc lợi dụng làm công cụ hại dân, phản nước. Như vậy việc những cá nhân lính ngụy, sĩ quan ngụy tốt hay xấu, bản thân có yêu nước hay không, là việc không liên quan.
Bác Hồ nổi tiếng về khả năng có thể nói rất lâu mà không nói vấp hay nói hớ 1 chữ, nhận thức sự việc tuyệt đối chính xác, và câu “làm công cụ hại dân phản nước” của Bác cho thấy cách dùng từ của Người rất tỉ mỉ và cực kỳ chính xác.
Bác Hồ nhận định về ngụy quyền – ngụy quân như thế cũng không phải là Bác ghét bỏ, thù hận gì họ, trái lại Bác Hồ vẫn xem họ là đồng bào bình thường, chỉ vì tình thế bắt buộc, bị bắt lính, gia cảnh cơ hàn, cuộc sống khó khăn, hoặc bị giặc tẩy não, nhồi sọ v.v. thì mới đi lính cho giặc.

Theo Từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội Việt Nam. Hà Nội. 1994) thì “Ngụy” là giả tạo. “Ngụy biện” là cố ý dùng những ý lẽ bề ngoài có vẻ đúng nhưng thực ra là sai để rút ra những kết luận sai lệch. “Ngụy tạo” là bày đặt ra cái giả nhằm lừa dối. Ngụy tạo chứng cứ là một ví dụ.
Trong quá khứ, Bác đã viết rất nhiều lá thơ, chuyển vào Nam và giao cho các tổ chức binh vận, ngụy vận, tìm cách đưa những lá thơ này đến tay đồng bào lính ngụy trong vùng tạm chiếm: “Thư gửi các ngụy binh” (thập niên 50), “Vận động ngụy binh” (thập niên 50), “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc” (thập niên 50), “Ngụy binh giác ngộ” (thập niên 60) v.v. Đảng cũng nhiều lần ra Nghị quyết và có nhiều văn kiện yêu cầu đẩy mạnh công tác “ngụy vận”. Xem công tác ngụy vận là một phần của công tác dân vận, chứ không xem là địch, công tác ngụy vận là một phần của công tác binh vận, nhưng lại có khác biệt với công tác địch vận (nhắm vào người Pháp và người Mỹ).

Trong lịch sử thật ra chẳng có ai thật sự muốn bán nước, không có ai nghĩ rằng mình bán nước. Xưa nay chưa hề có một hợp đồng nào kiểu tôi giao cả quốc gia cho anh, anh trả cho tôi bao nhiêu tiền. “Bán nước” chỉ là một cách lên án của dân gian và sự phán xét nghiêm khắc của lịch sử và hậu thế, nhằm giáo dục con em không để lâm vào tình cảnh tương tự. Đó là thuộc văn hóa suy nghĩ, tư duy, tâm tư tình cảm của dân tộc, và đó cũng là nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam. Chứ hoàn toàn không có hận thù gì ở đây, người Việt Nam đa số có lòng khoan dung và vị tha.
Người ta kết tội những nhân vật đứng đầu như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Lê Chiêu Thống, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu vào tội danh bán nước là để ghi nhận một tấm gương xấu cho hậu thế rút kinh nghiệm, mang tính chất răn đe cho con cháu đời sau. Chứ người ta không kết tội những quân nhân, tướng lĩnh, sĩ quan cấp dưới. Lịch sử kết tội Lê Chiêu Thống chứ không kết tội Lê Quýnh, Hoàng Phùng Tứ, Trần Quang Châu… Lịch sử kết tội Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu chứ không kết tội Ngô Quang Trưởng, Hoàng Xuân Lãm, Cao Văn Viên, Trần Văn Đôn…
Như vậy cách nhìn đúng đắn là: Ngụy quyền và ngụy quân đúng là do giặc dựng lên để mị dân, hợp thức hóa cuộc xâm lược, và phục vụ cho cuộc xâm lược. Còn riêng những cá nhân trong bộ máy đó, nếu không còn liên quan gì nữa, không còn gây ra gì nữa, và chiến tranh đã qua lâu, xã hội ổn định, không khí thanh bình, thì nên xem họ là những người bình thường.
Lịch sử đã sang trang mới, và thực tế cũng cho thấy những người lính ngụy, sĩ quan ngụy, tướng tá ngụy như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Đỗ Mậu, và nhiều người khác trong lúc này vẫn đáng tôn trọng hơn những người từng là “Bộ đội cụ Hồ” mà đã thoái hóa, biến chất, đón gió trở cờ, trở thành kẻ phản bội, phản quốc như Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Anh Kim theo ngoại bang chống phá đất nước hay những kẻ tha hóa biến chất, trở thành sâu bọ tham nhũng, lũng đoạn, cắn nát đất nước và chế độ.
Tóm lại: Lịch sử thì phải nhận thức đúng. Những cá nhân trong quá khứ thì thông cảm, bỏ qua và tôn trọng như một người bình thường! Đây là cách tiếp cận hợp tình hợp lý. Chúng ta tôn trọng cá nhân các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, nhưng trong lịch sử chúng ta vẫn phải ghi nhận là hai ông từng làm tướng cho Pháp, Mỹ, trong thời Pháp thuộc hai ông có Pháp tịch, là công dân Pháp và đi lính cho Pháp, đeo huân chương Pháp, được Pháp phong chức, được Pháp rồi Mỹ trả lương. Bỏ qua, gác lại quá khứ, tha thứ … không có nghĩa là quên lãng, từ bỏ. Khép lại quá khứ không có nghĩa là đóng lại, khóa lại quá khứ. Lịch sử và các tiểu sử, trong đó có những giai đoạn lầm lạc của một số nhân vật nên được ghi nhận chính xác. Xem như đó là một bài học lịch sử để răn dạy con cháu đời sau.
Lịch sử luôn được người Việt hàng nghìn năm nay sử dụng như một phương tiện để đề cao, ca ngợi những tấm gương tiết liệt, làm tấm gương sáng cho hậu thế, và răn đe những gương xấu phản dân hại nước, rước giặc vào nhà.
Đó là một cách thức truyền lửa của dân ta nghìn năm nay từ thời mở nước và trong suốt những thời kỳ giữ nước, đời này noi theo gương tốt của đời nọ, thế hệ trước truyền lại ngọn đuốc cho thế hệ sau. Đánh giặc là đúng, chống ngoại xâm là đúng, theo giặc là sai, bán nước là sai. Với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Bất cứ ai “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn cắn gà nhà” đều bị lịch sử chê trách, lên án.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những cuộc đụng độ xảy ra giữa quân Việt Nam và quân ngụy là vì lính ngụy bị giặc Mỹ đẩy ra đánh thay họ, chết thay họ, tránh thương vong cho quân đội của họ. Việt Nam chỉ đánh giặc xâm lược Mỹ, không coi ngụy là một nước, không công nhận cái gọi là “nước Việt Nam Cộng hòa” và chưa bao giờ tuyên bố chiến tranh với ngụy. Việt Nam chỉ tiến hành chiến tranh với Mỹ. Đây là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước chứ không phải là “chống ngụy cứu nước”.
Việt Nam muốn kết thúc chiến tranh thì phải đánh thắng Mỹ, muốn giải quyết chiến tranh thì phải nói chuyện với Mỹ, với người chủ. Trong suốt cuộc chiến này, VN không chú trọng đánh ngụy và chỉ chú trọng đánh Mỹ với cả 3 mũi giáp công: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Vì ta biết rõ dù có diệt được ngụy mà Mỹ vẫn còn đó thì họ chỉ việc dựng lên một ngụy quyền khác và bắt thanh niên miền Nam đi lính bằng các đợt cưỡng bách quân dịch quy mô. Không đánh bại được Mỹ thì không diệt được ngụy, chém đầu này sẽ mọc đầu khác. Không thắng được ông chủ thì ông chủ chỉ việc tuyển dụng và đưa lên những tay sai mới. Cho nên muốn chấm dứt chiến tranh thì phải đánh thẳng vào cái gốc, cái rễ, cái nguồn gốc chiến tranh, cái nguồn gây ra chiến tranh, cái nguồn đang tiến hành xâm lược, cái cỗ máy chiến tranh đang điều hành cuộc chiến. Đánh cho “Mỹ cút” rồi mới đến “ngụy nhào” như câu thơ chúc Tết mà Bác Hồ tặng miền Nam đã nói. Bác đã tài tình lồng vào 2 giai đoạn chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” vào câu thơ của mình ngay trong lúc Mỹ đang mạnh, chưa cút, và ngụy chưa nhào.
Việt Nam cũng chưa bao giờ đàm phán, nói chuyện với ngụy, vì biết có nói chuyện với ngụy thì cũng vô ích, không giải quyết được gì. VN muốn gì thì tìm Mỹ mà nói, mà đối thoại, mặc cả, giao dịch, trao đổi v.v. Mục tiêu của cuộc kháng chiến là: Quét sách tên giặc xâm lược cuối cùng và tất cả các ngụy quyền của giặc xâm lược ra khỏi miền Nam của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà quân đội Mỹ đang chiếm đóng bất hợp pháp (Miền Nam của Việt Nam DCCH quy định rõ ràng trong hiến pháp 1946, 12 khu hành chính và quân sự tháng 11 năm 1946, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Hiệp định Genève về Đông Dương, Hiến pháp 1959).
Nhìn chung thì cả trong nước và nước ngoài đều không để ý nhiều đến vai trò của ngụy quyền trong cuộc chiến Việt – Mỹ. Người ta đề cập nhiều đến vai trò của Hà Nội và Washington nhiều hơn. Lý do rất đơn giản là vì đây là cuộc đụng độ lịch sử giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, một bên có sức mạnh con người, một bên có sức mạnh khoa học công nghệ. Họ mới là hai nhân vật chính cần đề cập tới. Ngụy Sài Gòn có vai trò mờ nhạt và lãng nhách, không đáng phải đề cập và vì thế người ta thấy không cần nhắc nhiều đến.
Nhìn lại thì thấy quả thật là vai trò của chế độ Sài Gòn, quân đội Sài Gòn rất mờ nhạt trên các phương tiện truyền thông quốc tế. Các tài liệu đa chiều trên thế giới rất ít nói về ngụy Sài Gòn. Họ chú trọng đến vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (họ gọi là “Việt Cộng”), và phía bên kia là Hoa Kỳ. Không có nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà báo nào tốn nhiều giấy mực, thời gian, công sức để viết về những chư hầu của Mỹ.
Trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Giặc ngoại xâm nào vào bờ cõi nước Việt thì cũng tạo ra một đội quân người bản xứ để cho quân ngoại xâm đỡ tốn xương máu, đỡ hao binh tổn tướng. Trong chiến tranh chống Việt Nam cũng vậy, lính Pháp, lính Mỹ đáng lẽ còn hao tổn hơn nhiều nếu không nhờ lực lượng ngụy quân đỡ đạn cho lính Pháp, lính Mỹ, giúp quân đội Pháp – Mỹ giảm thương vong.
Vì sao cuộc chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn các cuộc chiến chống xâm lược khác trong Việt sử?
Về kháng chiến chống Pháp, ngoài ông Nguyễn Gia Kiểng (chủ tịch của tổ chức “Tập hợp Dân chủ Đa nguyên”, tai tiếng với cuốn sách “Tổ quốc Ăn năn” chê bai Bác Hồ, vua Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi và nhiều anh hùng dân tộc khác của VN) gọi kháng chiến chống Pháp là cuộc “nội chiến” (giữa Việt Minh và “Quốc gia”) ra thì hầu hết đều thống nhất rằng đây là cuộc chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Ngay cả những kẻ chống Cộng cực đoan cũng không thể phủ nhận nổi điều này, ngay cả sách giáo khoa ở miền Nam dưới thời Mỹ cũng phải ghi đây là cuộc chiến giữa “nhân dân Việt Nam” và thực dân Pháp (lờ đi vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ chủ tịch). Sở dĩ kháng chiến chống Pháp khó xuyên tạc là vì thực dân Pháp đã đô hộ, bóc lột, nô dịch dân ta trong suốt gần 1 thế kỷ Pháp thuộc, và khái niệm “trăm năm nô lệ giặc Tây” đã in ấn sâu đậm, khắc cốt ghi tâm trong lòng dân chúng.
Còn kháng chiến chống Mỹ dễ xuyên tạc hơn, do nó là cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, trong thời đại mới, thông qua ngụy quyền mà nó dựng lên để kiểm soát miền Nam Việt Nam, khống chế khu vực và chiếm đoạt tài nguyên, trên danh nghĩa “tham chiến giúp đỡ đồng minh”. Chứ trên danh nghĩa họ không trực tiếp trắng trợn gọi miền Nam VN là thuộc địa như thực dân Pháp trong thời Pháp thuộc, và cũng không chính thức sát nhập miền Nam VN vào lãnh thổ chính quốc như phong kiến Trung Hoa trong thời Bắc thuộc.
Đây là một hình thức xâm lược “văn minh” và ma giáo. Dân ta lại chưa kinh qua cuộc xâm lược kiểu này trong lịch sử, và trước đó Mỹ cũng chưa xâm lược, chiếm đóng, đô hộ nước ta với hình thức như thực dân Pháp đã làm trong thời Pháp thuộc. Cái gì mà mới mẻ, chưa có kinh nghiệm cho nó thì thường dễ gây nhiễu nhân tâm hơn.
Đó cũng là lý do vì sao mà trong thời Pháp thuộc suốt gần 100 năm, Việt Nam lại có nhiều Việt gian cam tâm làm tay sai đắc lực cho Pháp đến như vậy, nhiều hơn gấp trăm lần so với các cuộc chiến chống xâm lược phương Bắc. Đó là vì hình thức xâm lược của thực dân Pháp khác với hình thức xâm lược, đô hộ kiểu cũ của phong kiến Trung Hoa. Pháp không chính thức sát nhập Đại Nam vào lãnh thổ Pháp, mà sử dụng Đại Nam làm một thuộc địa (colony), làm một nơi để khai thác, vơ vét, bóc lột, trên danh nghĩa “bảo hộ” triều đình An Nam, An Nam vẫn có vua, nhà Nguyễn vẫn còn đó. Trước thời Pháp thuộc thì dân ta lại chưa kinh qua cách thức xâm lược và đô hộ như thế này, nên cũng có nhiều người mơ hồ về việc Pháp xâm lược Đại Nam, họ coi mình là đang phục vụ triều đình, chỉ huy lính Nam triều, chứ không nghĩ mình đang phục vụ cho Pháp, họ cho rằng Pháp đã đem ánh sáng văn minh phương Tây vào Đại Nam, giúp khai hóa dân tộc Việt, giúp Đại Nam có tự do tôn giáo, tự do truyền đạo, bảo hộ và giúp đỡ triều đình và đất nước ta, giúp người Việt chống Trung Hoa (quân Thanh, quân Cờ Đen, quân Cờ Vàng, quân Cờ Trắng v.v.), họ tự lừa dối bản thân, họ cố nghĩ như vậy, nhiều khi cũng chỉ để cho lương tâm không bị cắn rứt, tự an ủi bản thân, tương tự như nhiều người trong thời Mỹ sau này.
Trong lịch sử các nước, phía xâm lược luôn có những chiêu bài chính trị để hợp thức hóa hành động xâm lược, xâm phạm chủ quyền. Chiêu thức dựng lên một “đối tượng để giúp đỡ” là chiêu đã được dùng đi dùng lại từ ngàn xưa. Như nhà Minh “phù Trần diệt Hồ”. Như Mông Cổ “giúp” Trần Ích Tắc làm vua. Quân đội Mãn Thanh “giúp” Lê Chiêu Thống khôi phục cơ nghiệp tổ tông và chống “giặc Tây Sơn” v.v. Nó luôn lặp lại với những hình thức khác nhau, nhưng bản chất thì vẫn vậy, “bình mới rượu cũ”.
Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thời kỳ giặc xâm lược đều có những hình thức xâm lược khác nhau, và ngày càng tinh vi hơn. Mục tiêu xâm lược cũng có những khác biệt nhất định. Phong kiến Trung Hoa xâm lược Đại Việt, chiếm đất đai, sát nhập lãnh thổ Đại Việt vào Trung Hoa, biến đất Việt thành đất Trung Hoa, biến Đại Việt thành một quận huyện của họ. Và trong thời gian đô hộ thì không tồn tại triều đình người Việt.
Pháp bắt đầu xâm lược Đại Nam năm 1858, ép nhà Nguyễn ký hiệp ước dâng lên Nam Kỳ Lục tỉnh rồi lần lượt “bảo hộ” Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Họ chiếm hữu và trục lợi ở Việt Nam và Đông Dương như một thuộc địa, nhưng trên danh nghĩa thì vẫn có vương quốc An Nam “độc lập”. Vẫn có triều đình Huế với các “hoàng đế” có ngai nhưng không quyền. Họ trực tiếp quản lý VN bằng Toàn quyền Đông Dương, và dưới trướng có rất nhiều cộng sự người Việt mà dân gian gọi là “chó săn” của Pháp. Họ thiết lập một hệ thống ngụy quyền quy mô, rộng lớn, bao gồm những lực lượng ngụy quân (lính Nam triều, lính khố xanh, khố đỏ, khố vàng) được huấn luyện chu đáo và chuyên nghiệp.
Cho thấy rằng Pháp cũng xâm lược, nhưng hình thức xâm lược, hình thức chiếm đóng, hình thức trục lợi là khác với phong kiến Trung Hoa. Pháp không chủ trương sát nhập Đông Dương vào “nước mẹ Đại Pháp”, mà chỉ muốn xơ múi, khai thác, bóc lột, vơ vét những lợi ích tài nguyên màu mỡ, những nguồn nhân lực, nô lệ, lao công phong phú ở đây. Tóm lại là hút cạn kiệt thuộc địa để làm giàu cho mẫu quốc.
Pháp không cần Việt Nam thành một phần của nước Pháp. Không coi Đông Dương là nước Pháp, mà họ coi Đông Dương và Việt Nam là một vùng thuộc địa (colony) để họ khai thác, họ coi họ là “nước mẹ” của thuộc địa này. Ngụy triều của người Việt được phép tồn tại và làm vật trang trí. Ngụy quân người Việt được xây dựng, trang bị, huấn luyện, và trả lương. Đây gọi là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, khi mà tên giặc không cần sát nhập lãnh thổ, cướp đất đai trên danh nghĩa, thay vào đó, họ mị dân bằng những tuyên bố “bảo hộ” sự “độc lập” của vương quốc An Nam trên danh nghĩa. Họ cho người Pháp vào trực tiếp quản lý, trực tiếp nắm lấy. Và các cộng sự người Việt chỉ là loại thừa hành cấp thấp. Người Pháp chỉ việc tha hồ bóc lột và nô dịch nhân dân bản xứ.
Hoa Kỳ viện trợ và giúp đỡ Pháp tái chiếm Việt Nam thất bại, sau đó trực tiếp nhảy vào rồi từng bước hất cẳng Pháp, thu nhận và nuôi dưỡng ngụy quyền và ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại. Thay tên đổi họ lại cho ngụy quân, ngụy quyền, tổ chức lại, xây dựng lại, vá lại, thay đổi tay sai, chỉ giữ “quốc kỳ” và “quốc ca”.
Cách thức xâm lược của giặc ngoại xâm theo tiến trình lịch sử, theo sự tiến hóa của văn minh nhân loại, cũng thay đổi và “nâng cấp” theo thời gian, càng lúc càng mị dân và được ngụy trang tinh vi hơn.
Mỹ xâm lược Việt Nam là xâm lược kiểu thực dân mới. Theo đó, ông chủ đứng ngoài thu lợi, quan sát, kiểm soát. Còn phần quản lý thuộc trách nhiệm của ngụy quyền bản địa, chứ giặc xâm lược không trực tiếp bắt tay vào làm như thực dân cũ. Tương tự như người đạo diễn đứng ngoài điều khiển, chỉ đạo, các diễn viên cứ thế mà diễn tuồng, đóng kịch. Đến khi diễn viên bất tài vô dụng quá mức, không đảm đương nổi vai diễn, vai trò, thì có khi đạo diễn phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và 58 vạn quân Mỹ, trong giai đoạn 1964-1973, đã tiến vào tham chiến trực tiếp như bọn thực dân cũ, như xâm lăng thời phong kiến.
Do đó nếu chỉ nhìn các cuộc chiến tranh trong lịch sử hiện đại và ngày nay bằng cặp mắt phong kiến lạc hậu, chỉ biết đến các hình thức xâm lược của phong kiến từ xa xưa mấy ngàn năm trước, cứ phải có cùng một hình thức thủ đoạn chính trị, quân sự đó thì mới là xâm lược, thì thật là thiếu sót, lạc hậu, kém cập nhật.
“Thắng làm vua, thua làm giặc”?
Một luận điệu lệch lạc, phi thực tế thường xuất hiện sau ngày Việt Nam chiến thắng: “Được làm vua, thua làm giặc”, “lý lẽ và chân lý thuộc về kẻ chiến thắng”. Hai câu này đã có từ lâu và cũng đúng phần nào, tuy nhiên, những kẻ phản động đã lấy 2 câu này của người xưa rồi gán ghép bừa bãi và dùng những câu này để bóp méo bản chất của kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam.
Thực tế mà nói, hai câu trên không tuyệt đối đúng: Triệu Đà chiến thắng và có tuyên truyền thế nào thì An Dương Vương cũng không phải là giặc. Phong kiến Trung Hoa chiến thắng và có tuyên truyền đến thế nào thì Trưng Vương, Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế cũng không là giặc. Lý Phật Tử đã chiến thắng nhưng Triệu Việt Vương cũng vẫn không phải là giặc.
Nhà Minh chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào thì Hồ Quý Ly, Trần Giản Định, Trần Trùng Quang cũng không phải là giặc. Nhà Nguyễn chiến thắng và có tuyên truyền đến mức nào suốt hơn 100 năm thì người dân vẫn xem nhà Tây Sơn là anh hùng, không phải là giặc. Thực dân Pháp và bọn phản động trong thời Pháp thuộc dù có tuyên truyền đến thế nào thì các nghĩa quân cũng không phải là “giặc phiến loạn”.
Giặc Pháp, giặc Mỹ và tay sai trong suốt hơn 30 năm chiến tranh, thắng bao nhiêu lần, nhưng dù có tuyên truyền đến mức độ nào thì cũng không biến được cuộc kháng chiến chống Mỹ thành cuộc “nội chiến”, “ý thức hệ”, “cuộc chiến quốc tế”, “cuộc chiến ủy nhiệm”. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về kẻ chiến thắng, mà thuộc về nhân dân, thuộc về chính nghĩa dân tộc.
Chân lý chỉ thuộc về kẻ chiến thắng với điều kiện kẻ chiến thắng đó chính là nhân dân, là dân tộc, và lực lượng quân sự, chính trị mà dân tộc đó, nhân dân đó ủng hộ. Thực tế lịch sử khách quan thì không thể phủ nhận được.
Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, 11 sứ quân, nhà Hồ, nhà Hậu Trần, nhà Mạc, chúa Nguyễn, chúa Trịnh v.v. đều đã thua nhưng dân tộc Việt Nam không coi họ là giặc, là ngụy.
Còn các triều đình Huế thời Pháp thuộc, ngụy quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu v.v. thì dân ta đã gọi họ là ngụy, là giặc ngay trong lúc chưa chiến thắng, ngay trong lúc giặc chưa thua. Trước 1975, khi Mỹ – Việt chưa biết ai thắng ai thua thì dân miền Nam đã gọi ngụy quyền là “ngụy” rồi.
Quan niệm “thắng làm vua, thua làm giặc” cũng không phải lúc nào, thời nào cũng đúng với thực tế, đúng với lịch sử. Quan điểm này chỉ đúng trong những cuộc chiến nội bộ trong thời phong kiến. Trong lịch sử nước ta, giặc Đông Hán, giặc Minh, giặc Pháp từng chiến thắng nhưng họ vẫn mãi là giặc. Họ vẫn là giặc khi bắt đầu cuộc chiến, trong cuộc chiến và sau cuộc chiến, dù thời điểm nào thì vẫn đều là giặc.
Giặc là giặc, ngụy là ngụy, chính là chính, tà là tà, chính nghĩa là chính nghĩa, phi nghĩa là phi nghĩa, tự vệ là tự vệ, xâm lược là xâm lược, nội chiến là nội chiến, chống ngoại xâm là chống ngoại xâm. Những điều này không phụ thuộc vào sự duy ý chí của con người, cảm tính, cảm nghĩ của cá nhân, niềm tin cá nhân của con người, mà nó phụ thuộc vào thực tế lịch sử khách quan và bản chất của các đối tượng tranh đấu trong cuộc chiến đó. Bạn có nghĩ, tin, tuyên truyền cá đi trên bờ thì con cá vẫn lội dưới nước.
Dĩ nhiên trong trường hợp khoa học lịch sử, thì gọi thế nào ít nhiều có phụ thuộc phần nào đó vào góc độ lợi ích của quốc gia dân tộc liên quan, trong trường hợp của Đại Việt – Việt Nam nghìn năm nay thì đều có những tiêu chí rất rõ ràng, khó nhầm lẫn, để đánh giá, nhận định ai là giặc, ai là ngụy. Không thể chỉ vin vào kết quả thắng – thua hay thực lực yếu – mạnh rồi đánh đồng tất cả, đánh tráo khái niệm, cào bằng giá trị, vàng thau lẫn lộn, thiện ác bất phân.
Như tại miền Nam Việt Nam trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra thì những cụ già từ thôn quê đến thành phố đã gọi Mỹ-ngụy là giặc, họ gọi thế ngay dưới mạng lưới truyền thông, sách báo, hệ thống tuyên truyền, và bộ máy trấn áp khổng lồ và tinh vi của giặc Mỹ và tay sai. Họ thấy khắp miền Nam đều dày đặc người Mỹ, lính Mỹ, “Tây ba lô” da trắng, mắt xanh mũi lõ. Những kẻ mà họ gọi là “chó săn” kia thì khúm núm trước quan thầy Hoa Kỳ, ai được chụp hình chung với người Mỹ là mặt mày tươi rói, kênh kiệu, vênh váo, sáng rỡ hẳn lên, rồi dựa thế của Mỹ lên mặt với đồng bào, cướp bóc, vơ vét, xách nhiễu, quấy rối, gây khó dễ. Thì họ coi Mỹ-ngụy là giặc là chuyện tất nhiên.
Bà con mình thấy bọn Việt gian chỉ đường và thông ngôn, thông dịch cho quân Mỹ đi càn quét khắp miền quê Nam Bộ, đi càn hết làng này sang thôn khác thì không gọi là giặc thì gọi là gì? Liên quan gì đến kết quả ai thắng, ai bại?
Thực dân Pháp đã từng chiến thắng hàng trăm cuộc chiến trong thời Pháp thuộc, từng tiêu diệt hàng trăm lực lượng nghĩa quân, lê máy chém trên khắp đất Việt chặt đầu hàng chục ngàn thủ lĩnh, lãnh tụ, tướng lĩnh của nghĩa quân. Nhưng thực dân Pháp mãi mãi là giặc, các ngụy triều ở Huế thời Pháp thuộc mãi mãi là ngụy, lính khố xanh, khố đỏ là ngụy, bọn tay sai đắc lực của Pháp như Trần Tiễn Thành, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân v.v. luôn luôn là ngụy, chắc chắn là ngụy. Dù bên nào thắng, bên nào thua thì lịch sử vẫn không thay đổi.
Vậy không gọi là ngụy thì gọi là gì?

Yêu nước ST.