Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Nạn nhân formosa là ai?

 Dạ tiệc ca nhạc gây quỹ cho nạn nhân Formosa được tổ chức tại Houston Mỹ vào ngày 27/5. Câu hỏi mà dư luận đặt ra ở đây là sau rất nhiều thời gian khắc phục hậu quả sự cố môi trường miền Trung từ năm 2016 đến nay, thử hỏi nạn nhân Formosa còn là những ai mà những con người trong ban tổ chức kia mượn danh để kêu gọi đóng góp tiền. Cư dân mạng còn đùa rằng nếu chẳng may kiện tụng có tiền thật thì lúc đó việc khó hơn đó là truy tìm nạn nhân của Formosa.

Thực ra chẳng phải tìm đâu xa mà chúng ta có thể thấy ngay được những nạn nhân tiêu biểu từ sự cố môi trường do Formosa gây ra.

Đó là cựu linh mục Đặng Hữu Nam, dưới sự cổ vũ, chống lưng, linh mục Đặng Hữu Nam hoạt động tích cực, nhiều lần cùng linh mục Nguyễn Đình Thục lôi kéo giáo dân tụ tập trái pháp luật, gây sức ép lên chính quyền, thậm chí có nhiều hành động quá khích. Những buổi như thế được coi như cuộc tập dượt tập hợp lực lượng sẵn sàng cho một cuộc cách mạng màu khi có thể. Nhưng khi tình hình ổn định trở lại, Giám mục Nguyễn Thái Hợp không còn chở che được cho Đặng Hữu Nam nữa thì cuộc đời, sự nghiệp linh mục Đặng Hữu Nam đi xuống không phanh. Giờ đây, Đặng Hữu Nam bị treo chén, lâm trọng bệnh, nằm bẹp một chỗ đợi ngày Chúa gọi thì đi.

Đáng lẽ ra, nếu không có Formosa, không có Nguyễn Thái Hợp thì Đặng Hữu Nam vẫn là một anh linh mục ở một vùng quê, tuy bé, giản dị nhưng nó yên bình. Chứ không phải là 1 linh mục bé tẹo nhưng vì sự chống phá hăng say mà như ngôi sao băng, tỏa sáng trong làng phản động rồi vụt tắt. Để giờ đây, giám mục Nguyễn Thái Hợp vẫn miệt mài vì nạn nhân Formosa nhưng không biết có hỏi thăm đến thằng em đệ tử đã sống chết vì Formosa vì mình chưa.

Đó cũng là một Bạch Hồng Quyền, người trần mắt thịt nhưng rất năng nổ, xông pha. Lợi dụng sự cố biển miền Trung năm ấy mà Quyền hô hào anh em tấn công trụ sở xã, bao vây trụ sở huyện. Để rồi giờ đây, sau nhiều nỗ lực, Quyền đang an vị ở Canada, hàng ngày lao động bục mặt ra với những dòng trạng thái kêu nhọc, mệt, không có tiền hoặc khoe mẽ mình là một người trồng cần sa giỏi nhưng rất nhớ quê hương. Thiết nghĩ đây mới là 2 nạn nhân Formosa tiêu biểu nhất, khi mà họ không nhiễm độc từ môi trường mà nhiễm độc trong suy nghĩ. Hậu quả mà 2 con người này gánh chịu là lâu dài, chắc không khắc phục được./.

Nguyễn Đình Thục kích động giáo dân phá hoại, kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội Nghi Lộc

 Chỉ vì hành vi liên tục kích động sự chống đối của một số giáo dân ngu muội, hồ đồ mà xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc có nguy cơ mất cơ hội đón dòng vốn 2 dự án đầu tư lên đến 600 triệu USD để phát triển kinh tế-xã hội, tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương. Cái mất lớn nhất cho nhân dân địa phương là một cơ hội việc làm để cải thiện, tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn ngay chính trên quê hương, nơi mình đang sinh sống, gắn bó. Phải chăng Nguyễn Đình Thục đang muốn người dân nơi đây mãi sống trong bần hàn, cơ cực mà không thể ngẩng đầu lên được để dễ bề chăn dắt con chiên?

Được biết khu công nghiệp WHA nằm tại vị trí qui hoạch của tỉnh có con đường dân sinh cũ mà đúng hơn là một lối mòn băng qua giữa cánh đồng với chiều dài 520m bằng đất lồi lõm, gồ ghề. Đoạn đường dân sinh này nối từ quốc lộ 7C vào các xóm Khánh Thiện, Bình Thuận và Rú Thần xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, cắt qua quy hoạch giai đoạn 1 khu công nghiệp WHA sẽ được nắn tuyến để phục vụ xây dựng hạ tầng Khu A - KCN Nam Cấm được tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 1245/QĐ.UBND-CN ngày 18/4/2011. Để nắn tuyến, làm con đường mới thay thế con đường cũ này, Công ty WHA Industrial Zone Nghệ An đã xây dựng tuyến đường dân sinh mới không đi qua đất xây dựng khu công nghiệp, được đổ bê tông, rộng, đẹp hơn. Đường mới có tổng chiều dài 740m, rộng 6,5m, có đèn điện chiếu sáng, dài hơn tuyến đường cũ 220m. Con đường mới đã hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 2019.

Khi chính quyền huyện Nghi Lộc thực hiện đóng tuyến đường cũ để thực hiện dự án thì một số giáo dân dưới sự cầm đầu kích động của Nguyễn Đình Thục đã ra sức gây rối để chống đối. Mặc dù chính quyền xã, huyện đã tổ chức tuyên truyền, vận động, giải thích rất nhiều lần nhưng các giáo dân này vẫn nghe lời xúi giục, kích động chống đối.

Cần biết rằng, đây không phải là con đường "huyết mạch", độc đạo như luận điệu của Nguyễn Đình Thục tuyên truyền lừa mị giáo dân.

Ấy vậy mà linh mục Nguyễn Đình Thục đã cấu kết với linh mục Nguyễn Ngọc Ngữ lôi kéo, kích động giáo dân chống đối, ngăn cản việc nắn đường và thi công dự án khu công nghiệp WHA này.

Đây hoàn toàn không phải là vì lợi ích của người dân như hai tên linh mục này lừa mị bằng giọng lưỡi của những tên phản động. Bởi dự án WHA này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho người dân Nghi Lộc nói chung và đặc biệt là người dân tại xã Nghi Thuận nói riêng.

Đây hoàn toàn là hành động mượn cớ để xách động giáo dân chống đối chính quyền, phục vụ cho âm mưu gây bất ổn xã hội, phá hoại sự phát triển kinh tê-xã hội địa phương nhằm thực hiện "diễn biến hòa bình", tiến tới gây bạo loạn lật đổ, chuyển đổi thể chế chính trị Việt Nam.

Cần kiên quyết vạch trần bản chất chống Nhà nước của Nguyễn Đình Thục để nhân dân, nhất là giáo dân nhận diện./.

Cảnh giác với âm mưu nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch

 Nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực thù địch thường xuyên dùng chiêu bài “đa nguyên chính trị” làm khâu đột phá. Họ ra sức rêu rao “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam”. Thực chất của luận điệu này là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không đối lập với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mà là yêu cầu tất yếu của việc xây dựng và đảm bảo một chế độ dân chủ thực sự của dân, do dân và vì dân. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện nguyện vọng và ý chí của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Luận điệu của những kẻ nhân danh “dân chủ, nhân quyền” để đòi đa nguyên chính trị ở Việt Nam hoàn toàn không có cơ sở khoa học, bộc lộ rõ âm mưu chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa thông qua việc phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cùng với việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch còn tìm mọi cách chống phá sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu để phê phán chế độ công hữu, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể; tuyên truyền về sự không dung hòa giữa kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội...

Chúng ta đều biết, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Kinh tế tư nhân được tạo điều kiện thuận lợi, phát triển bình đẳng cùng với các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể ngày càng có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo và trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Các thành phần kinh tế trên không đối lập, không cản trở mà còn tạo điều kiện thuận lợi và là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan tâm tới sự lớn mạnh của thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể chính là sự quan tâm phát triển cơ sở kinh tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vì lợi ích của toàn thể nhân dân. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác và tỉnh táo trước những luận điệu của các thế lực thù địch nhằm làm suy yếu thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể hòng thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta./.

“Xây" lập trường, "chống" xuyên tạc

 Trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta không chỉ phải đối phó với “thù trong”, mà còn phải hành động quyết liệt chống “giặc ngoài”.

“Giặc ngoài” ở đây chính là những thế lực phản động, thù địch luôn rêu rao luận điệu xuyên tạc, suy diễn, bóp méo, bôi xấu các đường lối, quyết sách của Đảng ta, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gần đây.

Trong thời đại công nghệ thông tin, mạng xã hội bùng nổ mạnh mẽ, các thế lực phản động cả trong và ngoài nước liên tục tìm mọi cơ hội, lợi dụng mọi vụ việc dù lớn dù bé để bài xích, kích động tâm lý bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin vào Đảng.

Các trang web, tài khoản Facebook, blog… giả mạo cơ quan, cá nhân có uy tín; các trang thông tin đậm đặc nội dung chống phá mọc lên như nấm, kiểu như “Dân luận”, “Việt Nam thời báo”, “Dân làm báo”… Các trang này thường cài cắm cả thông tin thật lẫn giả nhằm tung hỏa mù, gây nhầm lẫn cho độc giả, từ đó hướng người đọc vào những luận điệu lệch lạc, chống phá Đảng.

Bài bản hơn, các thế lực còn thành lập các kênh truyền hình, đài phát thanh trên mạng để tuyên truyền nội dung chống phá công tác xây dựng Đảng. Những cái tên quen thuộc có thể kể tới như “Việt Tân”, “Radio Chân trời mới”… Thậm chí, các thế lực còn vung tiền mua quảng cáo, tài trợ nhằm núp bóng để dẫn dắt truyền thông theo ý đồ của mình.

Nhận diện được những động thái, thủ đoạn chống phá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng như trên, Đảng ta cũng đẩy mạnh công tác chống các luận điệu xuyên tạc này, coi đây là nhiệm vụ không kém phần quan trọng so với trọng tâm là chỉnh đốn Đảng.

Cụ thể, Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 58-KH/BTCTW thông tin, tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị năm 2022. Trong số 5 nội dung tuyên truyền trọng điểm, có một nội dung tập trung vào vấn đề tích cực đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Trong kế hoạch nói trên, báo chí cách mạng đóng một vai trò quan trọng, là vũ khí sắc bén để bảo vệ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chỉ cần tìm kiếm nhanh trên Google với các từ khóa như “chống xuyên tạc”, “phản bác luận điệu sai trái”… là có thể tiếp cận hàng trăm, hàng nghìn bài viết sắc sảo trong cuộc “bút chiến” với các thế lực thù địch. Trong vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hai nội dung mà thế lực phản động và báo chí cách mạng “bút chiến” nhiều nhất trong thời gian gần đây là chiến dịch “đốt lò” tham nhũng và Quy định số 37-QĐ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Những điều đảng viên không được làm”. Nhờ có những bài viết đầy sức nặng mà báo chí cách mạng đã kịp thời đập tan những luận điệu phá rối, bịa đặt.

Mặc dù lực lượng báo chí luôn hành động nhanh nhẹn, sắc bén trong bảo vệ công tác xây dựng Đảng, nhưng đó mới chỉ là giải quyết phần ngọn, là đi sau để phản bác, “chống” lại các luận điệu xuyên tạc. Điều gốc rễ và phải thực hiện song song chính là “xây”: xây lập trường, xây tư tưởng, xây bản lĩnh, xây niềm tin cho cả quần chúng và Đảng viên. Vì lập trường, tư tưởng, bản lĩnh, niềm tin chính là thứ vũ khí mạnh nhất, thứ vaccine hiệu quả nhất để bảo vệ bản thân và Đảng trước các luận điệu xuyên tạc, thù địch.

Thấm nhuần điều đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII mới đây đã thông qua Nghị quyết về “Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới”. Nghị quyết ra đời trong bối cảnh mà như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra trong bài phát biểu khai mạc: “…năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức cơ sở đảng còn yếu, thậm chí mất sức chiến đấu… Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, thậm chí một số nơi còn xem nhẹ”.

Có thể nói, Nghị quyết này của Đảng ta sẽ trang bị cho các Đảng viên cả tấm khiên bảo vệ, cả cây kiếm sắc bén để có thể tự tin trong môi trường có nhiều cạm bẫy mà thế lực thù địch giăng ra, đặc biệt là trên không gian mạng. Với những vũ khí đó, Đảng viên có thể dễ dàng nhận diện các quan điểm sai trái, trở nên tỉnh táo, thận trọng mỗi khi bình luận, đánh giá vấn đề trên mạng xã hội, không để mình rơi vào những cái bẫy ngôn từ của thế lực chống phá.

Vẫn biết giọng điệu xuyên tạc chỉ là “ném đá ao bèo”, nhưng trong quá trình xây dựng Đảng, nếu không “xây” lập trường sao cho vững, thì những hòn đá dù nhỏ cũng có thể khiến những Đảng viên sẵn tâm lý bất mãn bị dao động./.

Không thể phủ nhận thành tựu phát triển của việt nam sau 47 năm giải phóng đất nước

 Mới đây, trên trang Doithoaionline.com, Từ Thức đã đăng tải bài viết “Tại sao 47 năm sau vẫn chưa có thay đổi ở Việt Nam?”. Với lời lẽ khiêu khích, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng và thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước ta kể từ sau giải phóng 30/4/ 1975 đến nay, Từ Thức đã nêu ra câu hỏi hết sức “giả ngố” là “Tại sao thế giới đã biến đổi không ngừng, với một vận tốc chóng mặt, nhưng Việt Nam thì vẫn dậm chân tại chỗ…?”. Chưa dừng lại ở đó, Từ Thức còn trắng trợn vẽ ra hàng loạt lý do vô căn cứ và cho rằng, đáng lẽ chế độ xã hội ở Việt Nam đã phải sụp đổ từ lâu? Vậy, thực tế ở Việt Nam có thay đổi và phát triển hay không? Chúng ta cần chứng minh cho Từ Thức và những kẻ cùng hội, cùng thuyền như Y biết rằng:

Sau 47 năm thống nhất, vượt lên muôn vàn khó khăn, thách thức, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện. Kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị, xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu phát triển của đất nước từ sau giải phóng đến nay đã được báo chí và dư luận quốc tế liên tục đánh giá và ghi nhận. Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đã nhận định, Việt Nam là một điển hình thành công về phát triển, đạt được những tiến bộ chưa từng có về kinh tế, xã hội trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ, kể từ sau khi kết thúc chiến tranh.

Quá trình Đổi mới được thực hiện từ năm 1986, cùng với xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam từ một quốc gia nghèo trên thế giới đã trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình. Từ năm 2002 đến năm 2021, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người tăng 3,6 lần, đạt gần 3.700 đô la Mỹ. Tỷ lệ đói nghèo giảm mạnh xuống còn 5%, với trên 10 triệu người được thoát nghèo. Tăng trưởng trong thập kỷ qua ở Việt Nam nhìn chung có tính chất bao trùm. Sự thoát nghèo diễn ra đồng đều ở hầu hết các nhóm và nhiều gia đình thoát nghèo chỉ trong vòng một thế hệ. Sức khỏe nhân dân được cải thiện cùng với mức sống ngày càng nâng cao. Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 tuổi lên 75,4 tuổi trong giai đoạn 1990 - 2019, cao nhất trong khu vực đối với các quốc gia có mức thu nhập tương tự.

Nhờ có những nền tảng vững chắc, nền kinh tế đã chứng tỏ được khả năng phục hồi qua các cuộc khủng hoảng. WB nhận định, Việt Nam là quốc gia năng động đang trong quá trình chuyển đổi. Các chỉ số cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng, với nhiều chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội.

Với những thành công trong công cuộc đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế phát triển mạnh, quốc phòng, an ninh được giữ vững, củng cố và tăng cường. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Việt Nam tích cực, chủ động hội nhập sâu rộng vào mọi mặt đời sống xã hội quốc tế, là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, nhất là có uy tín, vị thế cao trong hoạt động của Liên hợp quốc, là quốc gia được nhân dân trên thế giới yêu mến khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Những minh chứng trên về thành tựu phát triển của Việt Nam sau 47 năm là câu trả lời cho Từ Thức và đồng bọn của Y về sự đổi mới, phát triển ở Việt Nam. Chúng ta cần cảnh giác và đấu tranh phản bác lại những luận điệu thù địch, cố tình xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ chế độ xã hội, phủ nhận thành quả đổi mới, phát triển ở nước ta hiện nay nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta./.

Nguyễn Lân Thắng - kẻ lạc loài, khuyết tật tâm hồn, nhân cách

 Chẳng có một dòng họ, gia đình nào muốn con cái mình hư hỏng cả. Các cụ xưa thường dạy "con khôn không lo con khó, con dại thì có cũng như không". Câu thành ngữ này đặt vào hoàn cảnh gia đình cụ Nguyễn Lân có lẽ rất đúng. Bởi vì, hiếm có gia đình nào có đến 8 người con đều là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ như gia đình cố giáo sư – nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân nhưng chỉ có Nguyễn Lân Thắng là đứa cháu nội lạc loài, khuyết tật tâm hồn, nhân cách, có chuỗi hành động phá hoại đất nước, cổ súy, kêu gọi chống Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một “con rận” cắn nát danh giá của gia đình có truyền thống cách mạng bao đời nay như vậy.

Nếu ai đã từng theo dõi FB của Nguyễn Lân Thắng hẳn sẽ thấy một kẻ chuyên chọc ngoáy đủ thứ, từ thượng vàng cho tới hạ cám và hiếm thấy một chuyện gì mà gã không thể tham gia bằng đôi ba lời sàm ngôn, láo toét.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Đến cả kẻ thù, những nhân vật đối đầu trong các cuộc xâm lược Việt Nam còn phải nghiêng mình tôn kính Bác. Ngay cả ông nội Thắng là cụ Nguyễn Lân thành danh cũng nhờ sự chăm lo của Bác. Thế mà, Nguyễn Lân Thắng có lần lại đặt hình ảnh Bác Hồ trong một chiếc đĩa, chụp ảnh đăng lên Fb của mình kèm theo một câu bình luận có tính vô ơn của một kẻ vô học: “Ngày xưa ông ấy rửa bát bẩn trên tàu thì Việt Nam đâu đến nỗi…”. Đúng là hồ đồ phi nhân tính, táng tận lương tâm của một kẻ đồi bại, tận cùng của sự khốn nạn!

Không chỉ dừng lại ở đó, tháng 7/2020, Thắng tự nhục xúc phạm chính dân tộc mình rằng: “người An Nam, không có ý niệm về Tổ Quốc”. Ý này Thắng trích dẫn trong cuốn “Tâm lý người An Nam” của tác giả Paul Giran- một cuốn sách đánh giá sai lầm về tinh thần dân tộc Việt Nam của người Pháp để phủ nhận tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam... Thắng còn lấy cả dòng họ Nguyễn Lân danh giá của mình ra làm bình phong tự nhục, thật đau lòng. Người Việt Nam ai cũng có Tổ tiên, dòng họ để tự hào rằng mình là "con Lạc, cháu Hồng", nhưng khi nhắc tới Thắng không thể tưởng tượng được Thắng là giống loài gì nữa.

Có lẽ ở xã hội Việt Nam này chẳng có ai giống Nguyễn Lân Thắng cả thể hình, thân xác lẫn trí não cả. Vết ô uế trượt dài của Nguyễn Lân Thắng suốt cả không gian và thời gian hít thở khí trời trên mảnh đất của người Cộng sản, cùng một bầy "dân chủ chống cộng" trong và ngoài nước và đám khủng bố Việt tân, NGO, Voice bất chấp đạo lý, truyền thống dân tộc, nhiều năm ròng chống phá điên cuồng cuộc sống bình yên của nhân dân.

Cả dòng họ Nguyễn Lân danh giá, được nhân dân quý trọng bấy nhiêu thì người ta căm ghét, tức giận Thắng bấy nhiêu và cũng chẳng biết vì sao một đại gia đình danh gia vọng tộc như thế mà lại sinh ra đứa con khuyết tật lạc lối nhân cách, ủng não, u mê với những hành vi phá hoại đất nước, "cắn" nát danh giá của gia đình có truyền thống cách mạng bao đời nay như thế?./.

Việt tân đã thất bại ngay trên chính đất Mỹ

 Lợi dụng chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, những ngày qua tổ chức khủng bố Việt Tân công khai kêu gọi lũ lưu vong hải ngoại tổ chức biểu tình nhân dịp Thủ tướng Phạm Minh Chính đến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Hoa Kỳ - ASEAN tại Nhà Trắng (White House), Washington D.C. Luận điệu mà Việt Tân đưa ra là kêu gọi “cùng nhau lên tiếng đòi nhà cầm quyền CSVN phải trả tự do cho các Tù Nhân Lương Tâm và tôn trọng các quyền cơ bản của mọi người dân Việt Nam”. Thậm chí Việt Tân còn đăng tải về hình ảnh của Bùi Duyên, một thành viên của Việt tân đã cùng với cộng đồng người Burma, Campuchia, Lào, Việt Nam và cộng đồng người Cao Nguyên để “kêu gọi tự do, nhân quyền, dân chủ” tại các quốc gia ASEAN trong dịp lãnh đạo các nước này đang có mặt tại Hoa Thịnh Đốn tham dự Hội nghị Thượng Đỉnh US-ASEAN.

Vậy nhưng chiêu trò chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của “Việt Tân” đã thất bại ngay trên chính đất Mỹ - đất nước mà họ vẫn ảo tưởng về một thiên đường của dân chủ, nhân quyền. Sự thất bại này cũng đã được dự báo từ trước và nó giống như những lần trước trong các chuyến thăm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đến thăm, làm việc với các Hoa Kỳ cũng như các nước phương Tây. Nhìn nhận về sự thất bại này có thể thấy rõ trên 2 điểm sau:

Thứ nhất, nhìn vào hình ảnh được chính tổ chức này cùng một số phần tử sống lưu vong, số chống cộng cực đoan đã chia sẻ trên mạng xã hội thì số người tham gia tuần hành, biểu tình, cầm cờ vàng ba sọc với những băng rôn, biểu ngữ chỉ đếm trên đầu ngón tay và hầu hết trong số đó chủ yếu là những người nhiều tuổi, số chống cộng cực đoan lưu vong ở xứ người. Có lẽ cũng chuẩn bị đến ngày bị diệt vong và đi vào dĩ vàng nên số tham gia tuần hành, biểu tình theo lời kêu gọi của “Việt Tân” chiếm tỷ lệ quá nhỏ bé so với hơn 2,2 triệu Việt Kiều đang sinh sống tại Hoa Kỳ hiện nay.

Thứ hai, đó là những kết quả đạt được, những thành công trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ những ngày qua đã dập tắt những luận điệu xuyên tạc về vấn đề dân chủ, nhân quyền cũng như đòi trả tự do cho những kẻ mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”. Hãy nhìn vào cách Tổng thống Hoa Kỳ tiếp đón Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, nhìn vào cách Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu trong Hội nghị hay các cuộc đàm phán, gặp gỡ với lãnh đạo các quốc gia, các tập đoàn, doanh nghiệp và đặc biệt là với cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ để thấy rõ được vị thế, vai trò quan trọng của Việt Nam ngày càng được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế và khu vực. Đó có lẽ sự thất bại đau đớn, nhục nhã nhất của những kẻ chống cộng, những tổ chức lưu vong như “Việt Tân”./.

GÓP PHẦN ĐƯA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG ĐI VÀO CUỘC SỐNG

 hể chế hóa một phương châm, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

19:48' 9/4/2021
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Tác phẩm “Nghe lời Bác dạy” của họa sĩ Vương Trình.


Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” (1). 

Đồng thời, trong tầm nhìn định hướng phát triển của đất nước mà Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng của và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên” (2).
 
Như vậy, Đảng ta yêu cầu phải “kiên trì thực hiện” phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đến nay bổ sung  tiêu chí “dân dám sát”, “dân thụ hưởng”. Phương châm này là thể hiện tư tưởng dân chủ trong thể chế nhà nước “của dân, do dân, vì dân” và được phân chia bằng “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đã 35 năm kể từ khi Đảng ta đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, trong đó đề ra khẩu hiệu “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp đó là 25 năm (kể từ năm 1996) từ khi “khẩu hiệu” được gọi là “phương châm” và 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với 3 nghị định của Chính phủ 1 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Việc cụ thể hóa phương châm của Đảng bằng Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ đã tăng cường, mở rộng quyền làm chủ của người dân, nhất là ở cấp cơ sở thông qua các quy định, quy chế, hương ước cộng đồng… góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức đảng cấp chính quyền, hệ thống chính trị ở cơ sở, nổi bật và hiệu quả nhất là việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Người dân ở địa bàn này “được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát, được thụ hưởng” những chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp đầu tư cộng đồng, xây dựng nông thôn mới và những thành quả do mình đầu tư, bỏ công sức. Tuy nhiên, cho đến nay, do nhiều nguyên nhân, ở nhiều nơi, trong đó có cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dân chủ vẫn còn hình thức, quần chúng, người dân chưa được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát và chưa được thụ hưởng những chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, chưa được thụ hưởng những thành quả lao động, đóng góp về đất đai, tài nguyên thiên nhiên nơi địa bàn họ sinh sống, thậm chí họ còn hứng chịu những hậu quả do quá trình phát triển sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên đất, nước, tiếng ồn… gây ra. Một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế các quyền dân chủ của người dân, gây nên nỗi bức xúc xã hội, mâu thuẫn ở khu dân cư là do nhiều nội dung trong phương châm của Đảng chưa được cụ thể hóa, thể chế hóa, các quy chế, quy định, nghị định, quyết định của các cấp có thẩm quyền thực hiện chưa nghiêm; cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu… chưa gương mẫu thực hiện các quy định, quyết định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Do vậy, với những đường lối, nghị quyết, quan điểm chỉ đạo, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đề ra, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thể chế, cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Theo đó, tập trung một số giải giáp chính sau đây:
 
Thứ nhất, đặt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như vị trí, vai trò của người dân trong tổng thể các quan điểm, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch, giải pháp… mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm 35 năm thực hiện, cụ thể hóa 4 tiêu chí (biết, bàn, làm, kiểm tra) nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các tiêu chí, nhất là 2 tiêu chí (giám sát, thụ hưởng) trong tình hình nền dân chủ ngày càng mở rộng, phát triển, nhất là hình thức dân chủ trực tiếp của người dân.  
 
Thứ hai, các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, học tập, quán triệt lại các tiêu chí trong phương châm của Đảng để vận dụng vào cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương mình cho phù hợp. Không phải chỉ nghiên cứu nội hàm của tiêu chí mới được bổ sung - dân giám sát, dân thụ hưởng - mà cả nội hàm của tất cả 6 tiêu chí trong phương châm của Đảng. Bởi nội hàm các tiêu chí đó ngày càng mở rộng, phát triển, phong phú và phức tạp hơn trước đổi mới, biến chuyển của xã hội, đất nước. Chẳng hạn, tiêu chí “dân biết” hiện nay khác rất xa “dân biết” cách đây 20 hay 35 năm. Cũng như vậy, tiêu chí “dân kiểm tra, dân giám sát” có sự bổ trợ, liên quan với nhau và “dân thụ hưởng” có những nội hàm mới vì từ trước đến nay nói chung và về cơ bản dân ta đã được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới mà họ tham gia đóng góp.
 
Thứ ba, đối với cơ quan lập pháp là Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói riêng, Quốc hội khóa XV nói chung, trong quá trình nghiên cứu, học tập, xây dựng chương trình hành động cần có nội dung xây dựng Luật, pháp lệnh liên quan đến việc vận dụng, cụ thể hóa phương châm của Đảng về “Dân” mà Đại hội XIII vừa đề ra.
 
Thứ tư, đối với Chính phủ, qua 23 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở, bên cạnh những thành tích, chuyển biến tích cực, các nghị định này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Chẳng hạn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở loại hình cơ quan ở nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, kém hiệu quả. Quy chế thực hiện dân chủ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều bất cập bởi hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, liên doanh, liên kết. Các đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập ngày càng phát triển và hoạt động rất rộng rãi, phức tạp cũng cần xây dựng, bổ sung Quy chế dân chủ, pháp lệnh hoặc luật về dân chủ cơ sở... Do đó, dù Quốc hội có nâng cấp từ Pháp lệnh thành Luật về thực hiện dân chủ ở xã hay xây dựng bộ luật về dân chủ nói chung, thì Chính phủ cùng cần xem xét, bổ sung, sửa đổi các nghị định về xây dựng và thực hiện các loại hình cơ sở còn lại.
 
Thứ năm, khi Đảng ta là đảng cầm quyền, thể chế của dân, do dân, vì dân ngày càng khẳng định và mở rộng, người dân sống và làm việc theo pháp luật… thì mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng phải được thể chế hóa thông qua chính sách, pháp luật của Nhà nước, công tác dân vận của các cấp chính quyền, của các cơ quan nhà nước, sự gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức là cực kỳ quan trọng. Công tác dân vận của chính quyền các cấp chính quyền trước hết là các chế độ, chính sách phải vì lợi ích, nguyện vọng của người dân; người dân hài lòng về hiệu quả công việc, thái độ, chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền, nhất là người đứng đầu thực hiện tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân... Tất cả những nội dung trên phải được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể và có các giải pháp khoa học, công tâm, khách quan để “đo” sự hài lòng của người dân.
 
Thứ sáu, đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa phương châm của Đảng thành hiện thực cuộc sống.
 
“Đảng ta thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ”, trong khi đó “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (3), "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" (4), do đó suy đến cùng, các cấp ủy, tổ chức đảng là người chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất trong việc cụ thể hóa, đưa phương châm của Đảng vào cuộc sống.
 
Quyết  định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa được như mong muốn, người dân ở nhiều nơi chưa được trực tiếp tham gia giám sát, phản biện, góp ý xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chính quyền, phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực cán bộ, đảng viên, gia đình, họ hàng, người thân cả ở nơi công tác và nơi cư trú. Rất cần thể chế hóa bằng Luật, pháp lệnh của Nhà nước bảo đảm dân chủ thực chất, hiệu quả hơn.   

Một số quy chế, quy định, quyết định, chỉ thị... của của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Trung ương Đảng liên quan mối quan hệ giữa Đảng - Dân ban hành đã lâu hoặc cũng chưa được thể chế hóa chặt chẽ, nghiêm ngặt, dựa vào sự tự giác của tập thể, cá nhân nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao, cần được rà soát, rút kinh nghiệm, thể chế hóa, bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thực chất, hiệu quả: Quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định về người đứng đầu cấp ủy tiếp và đối thoại với dân; Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân; Quy định đảng viên sinh hoạt hai chiều...
 
Riêng một vấn đề rất then chốt của các tổ chức, cấp ủy đảng và cũng là vấn đề được quần chúng nhân dân quan tâm theo dõi là vấn đề nhân sự của các cấp ủy, các cấp chính quyền, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị… vẫn là “điểm nghẽn”. Nhiều ý kiến nói “người dân biết rất rõ về cán bộ”, nhưng cũng có xu hướng cho rằng, sự đánh giá về cán bộ, đảng viên của người dân không phải lúc nào cũng chính xác. Có một nguyên nhân chính là do người dân chưa “được biết”. Nhưng nếu công khai, minh bạch công tác nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng cho người “được biết”, “được bàn” “được kiểm tra”, “được giám sát”...sẽ là một kênh rất quan trọng trong công tác cán bộ nói chung và nhân sự của các cấp ủy nói riêng.           
 ---------------------------
(1). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.27-28.
(2). Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.192.
(3). Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2002, tập 5, tr.269, tr.273.

GỮI GÌN SỰ ĐOÀN KÊT TRONG ĐẢNG

  niệm 150 năm Ngày sinh V.I.Lê-nin ( 22-4-1870 - 22-4-2020) :

Giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng theo V.I.Lê-nin
8:9' 22/4/2020
V.I.Lê-nin diễn thuyết tại Quảng trường Đỏ ở Mát-xcơ-va trước các đơn vị tham gia khóa huấn luyện quân sự toàn dân, ngày 25-5-1919. Ảnh: TL.
V.I.Lê-nin đặc biệt quan tâm đến đoàn kết thống nhất trong Đảng, Người đấu tranh không mệt mỏi vì sự thống nhất trong đội ngũ đảng viên, tự mình khởi thảo nhiều nghị quyết và những lời kêu gọi về vấn đề này.


V.I.Lê-nin chỉ rõ: "Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, Đảng phải có sự thống nhất ý chí hết sức chặt chẽ, tuyệt đối; đoàn kết là nguồn gốc, sức mạnh chủ yếu, vô tận và vô địch của Đảng"(1).

Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải trên tinh thần thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Theo V.I.Lê-nin, trong chế độ xã hội do người lao động làm chủ thì tập trung dân chủ là phương thức để thực hiện quyền lực làm chủ của nhân dân, là nguồn gốc sức mạnh của quần chúng trong hoạt động cách mạng. Tầm quan trọng của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, cách mạng sẽ "không thể phát triển được nếu không trải qua một thời kỳ mà mọi người cùng nhau thảo luận rộng rãi về tất cả mọi vấn đề". 

Tranh luận, thảo luận, theo V.I.Lê-nin là cần thiết để phát huy dân chủ trong Đảng. Những bất đồng, thậm chí cả bất đồng trong nội bộ BCH Trung ương đều cần thiết phải được đưa ra trước toàn Đảng để tranh luận, có như vậy mới vạch ra được một cách cụ thể thực chất và phạm vi của những bất đồng, mới chấm dứt được những lời đồn đại, xuyên tạc hay thổi phồng những sự bất đồng. Song yêu cầu của việc tranh luận, thảo luận được đặt ra là "sau những cuộc tranh luận và bàn cãi, chúng ta phải mạnh hơn khi mới bắt đầu tranh luận…". Và "Một khi quyết định đã được thông qua, thì toàn Đảng phải ủng hộ nó… toàn thể đảng viên, vì nghĩa vụ đảng viên của mình, và để duy trì sự thống nhất trong chính ngay hàng ngũ của Đảng, đều phải chấp hành những quyết định của cơ quan lãnh đạo Trung ương của mình, tức là BCH Trung ương Đảng"(2).

Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải trên tinh thần triệt để tuân theo kỷ luật đảng. Vấn đề kỷ luật đảng, sàng lọc đội ngũ đảng viên là vấn đề được V.I.Lê-nin quan tâm và thường dùng từ "thanh đảng". V.I.Lê-nin đã chỉ rõ: "Những người Bôn-sê-vích sẽ không giữ vững được chính quyền, tôi không nói tới hai năm rưỡi, mà ngay cả đến hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật sắt thực sự"(3). 

Từ yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới, khi Đảng đã nắm chính quyền, mặt trận quân sự đã nhường chỗ cho mặt trận kinh tế, V.I.Lê-nin đã đặt ra yêu cầu phải tiến hành thanh Đảng, Người viết: "Ngày nay những thành quả của cách mạng không thể nào giống với những thành quả trước kia nữa. Tất nhiên, những thành quả đó sẽ phải thay đổi tính chất, vì mặt trận quân sự đã nhường chỗ cho mặt trận kinh tế, vì chúng ta đang chuyển sang chính sách kinh tế mới, vì những điều kiện đòi hỏi chúng ta, trước nhất, phải nâng cao năng suất lao động, phải tăng cường kỷ luật lao động"(4).

Với chủ trương đúng đắn về vấn đề sàng lọc đội ngũ đảng viên và kỷ luật đảng, chú trọng việc tăng cường chất lượng đội ngũ đảng viên, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng, V.I.Lê-nin đã cho chúng ta những bài học vô cùng sâu sắc về công tác xây dựng Đảng. Yêu cầu của V.I.Lê-nin đối với cán bộ, đảng viên của nước Nga Xô-viết cũng là yêu cầu cần thiết đối với tất cả chúng ta, những đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ ngày thành lập, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Ðảng ta luôn luôn thấm nhuần tư tưởng của V.I.Lê-nin về đoàn kết, thống nhất trong Ðảng. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tinh thần đoàn kết, thống nhất, hơn lúc nào hết luôn được Ðảng ta đặt lên hàng đầu. Hiện nay chúng ta đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, để xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết, tập thể cấp ủy, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải thật sự đoàn kết, thống nhất, thật sự là trung tâm quy tụ đoàn kết. Theo V.I.Lê-nin, trước và trong đại hội, có những ý kiến khác nhau, tranh luận, thảo luận là rất cần thiết nhưng "bất luận thế nào, thì qua đại hội này, chúng ta cũng phải làm cho sự đoàn kết nhất trí trong Đảng vững mạnh hơn, chặt chẽ hơn, chân thành hơn!"(5). V.I.Lê-nin viết: "…Nếu chúng ta chỉ đoàn kết nhất trí một cách hình thức… thì chưa đủ mà phải thực sự cộng tác làm sao cho đoàn kết hơn, gắn bó hơn trước kia để loại trừ hẳn những dấu vết dù nhỏ nhất của đầu óc bè phái - dù cho trước đây óc bè phái này đã biểu hiện ở đâu hoặc dưới hình thức nào cũng vậy - nhất quyết không để một dấu vết của óc bè phái tồn tại. Chỉ trong những điều kiện đó chúng ta mới hoàn thành được những nhiệm vụ vĩ đại đang đặt ra trước mắt chúng ta"(6).

Cuộc đời hoạt động và đạo đức cách mạng của V.I.Lê-nin là tấm gương sáng ngời. Tên tuổi của V.I.Lê-nin đã trở thành tượng trưng cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tượng trưng cho lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân, của quần chúng lao động bị áp bức trên toàn thế giới. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lê-nin là người đã thực hiện và phát triển Chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất"(7).

Nhân kỷ niệm 150 năm Ngày sinh V.I.Lê-nin, chúng ta cần ôn lại những lời căn dặn của V.I.Lê-nin và phải kiên quyết thực hiện lời dạy đó, để xây dựng Đảng ta trở thành Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh, đủ bản lĩnh lãnh đạo nhân dân tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chung sức, đồng lòng để giành thắng lợi mới, giữ trọn niềm tin của nhân dân - cội nguồn sức mạnh của Đảng. Trước thềm đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, mặc dù các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội có nhiều âm mưu phá hoại, xuyên tạc, nói xấu Đảng ta, nhưng nếu toàn Đảng đoàn kết, nhất trí như những lời căn dặn của V.I.Lê-nin thì không có thế lực nào có thể phá hoại được. 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng

17:24' 10/5/2022
Ngay sau khi ra đời và phát triển cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là tiêu điểm của cuộc đấu tranh tư tưởng - chính trị quyết liệt. Tâm điểm của cuộc đấu tranh đó trước hết là sứ mệnh lịch của giai cấp công nhân (GCCN) và bản chất GCCN của Đảng Cộng sản. 


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tặng quà cho cán bộ, công nhân viên mỏ than Vàng Danh (Quảng Ninh), ngày 6-4-2022.

1. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta - tâm điểm xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tung ra rất nhiều luận điệu, trong đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:

Một là, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của nông dân và trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm dấu ấn của tiểu tư sản. Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Hai là, với cách diễn đạt về bản chất GCCN của Đảng như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất GCCN của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.

Ba là, trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất, không còn mang bản chất GCCN.

Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực này trước đây chỉ về mặt lý thuyết, nên tác hại của nó chỉ diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng. Sau khi GCCN đã giành được chính quyền, sự xuyên tạc, chống phá này đã được tiến hành một cách toàn diện và tác hại của nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Vậy, sự thật có đúng như các quan điểm trên không?

Trước hết, phải khẳng định rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”(1).  

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đa số những người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo và Đảng biến chất giai cấp. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(2). Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, chứ không hề hạ thấp hay từ bỏ bản chất GCCN của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”… như quan điểm của một số người. Bởi vì, về lý luận, đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(3). Trong bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”(4). Việc khẳng định bản chất GCCN của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.

Về thực tiễn, không có bất kỳ một đảng chính trị nào ra đời, tồn tại và phát triển đều không mang bản chất của một giai cấp nhất định. Chính bản chất giai cấp của đảng quy định đảng đó đại diện cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội. Còn GCCN có sứ mệnh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, đại biểu cho lợi ích của giai cấp và đại đa số nhân dân lao động. Khác với sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Điều kiện, đặc điểm ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính đặc thù - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều đó đã khẳng định, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của GCCN, đồng thời đại biểu cho lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Với cách diễn đạt như trên vừa thể hiện bản chất GCCN của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa nói lên nét đặc thù của Đảng theo sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân - với tên gọi trìu mến Đảng ta

Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; chủ động hội nhập quốc tế; cùng với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn đạt bản chất GCCN của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất GCCN của Đảng như vậy, đòi hỏi Đảng chẳng những phải trung thành với GCCN, nâng cao lập trường, tư tưởng của GCCN, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.

Thứ ba, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân…trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính… Đây là thực tế đau lòng, đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản chất GCCN của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, quan liêu, xa rời quần chúng.

Nhìn lại giai đoạn 1989-1991 ở một số nước XHCN cho thấy rằng, GCCN khi đã giành được chính quyền, nhưng do không quan tâm xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, bảo đảm tính tiên phong của GCCN nên đã làm cho đội ngũ phân hóa phức tạp; một bộ phận đảng viên mơ hồ về lập trường GCCN; dễ dàng ngã theo phái cơ hội chủ nghĩa. Một số khác gần như là một đẳng cấp có đặc quyền, đặc lợi, xa rời quần chúng và bị quần chúng xa lánh. Vì vậy, nhiều đảng đã mất tín nhiệm với GCCN, với nhân dân, và trước sự tấn công của kẻ thù, một số đảng đi đến chia rẽ và tan rã.

Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì tự họ đã tự đánh mất bản chất GCCN của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất GCCN, và theo quy luật họ sẽ bị đào thải nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta ban hành liên tiếp các Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những vấn đề cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm trong những năm qua đã được các cơ quan của Đảng và Nhà nước tiến hành nghiêm túc, bài bản, hiệu quả, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao.

Không che dấu khuyết điểm, nhưng cũng phải khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức lớn ở trong nước, những biến động bất lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của GCCN, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên trì đổi mới, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực có bước trưởng thành đáng kể, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần thành quả xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Một số giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình mới

Để đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng, trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của GCCN Việt Nam trong tiến trình lịch sử, nhất là trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. GCCN Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp ngân sách chủ yếu cho nhà nước, làm chủ khoa học- công nghệ. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc bản chất GCCN của Đảng ta. Đây là nền tảng quyết định bản chất cách mạng và khoa học, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, quyết định đến vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng ta. Giữ vững và tăng cường bản chất GCCN của Đảng là yếu tố nội sinh để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên “miễn dịch”, tự phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

Hơn lúc nào hết mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn, chiêu trò gian xảo của các thế lực thù địch xuyên tạc sứ mệnh lịch sử của GCCN, bản chất GCCN của Đảng để làm lung lay niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phủ nhận bản chất GCCN thực chất là phủ nhận Đảng từ bản chất, theo đó cũng đồng nghĩa phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây là mưu toan, kịch bản nham hiểm của các thế lực thù địch cần nhận diện và chủ động đấu tranh phản bác kịp thời, có hiệu quả.

Thứ hai, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về GCCN, bản chất GCCN của Đảng.

Cần đi sâu nghiên cứu tổng kết bổ sung phát triển lý luận về GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay như xác định nội hàm, thành phần tham gia vào GCCN Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng. Do đó, số lượng công nhân tham gia vào các doanh nghiệp này ngày càng nhiều. Hơn nữa, quan điểm của Đảng ta xác định rõ trong hợp tác đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trước sự vận động của thực tiễn, định nghĩa về GCCN Việt Nam trong Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) đã có những điểm không còn phù hợp, do đó cần bổ sung nội hàm để phù hợp với giai đoạn mới. Đồng thời, bổ sung làm sâu sắc nội dung bản chất GCCN của Đảng ta như mối quan hệ giữa số lượng GCCN với nền tảng tư tưởng của Đảng; giữa thành phần xuất thân của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ trí thức với lập trường quan điểm, tư tưởng của GCCN. Có như vậy mới góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nêu cao trách nhiệm trong việc phát huy bản chất GCCN của Đảng; mặt khác, có luận cứ xác đáng để các chủ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, cũng như không tạo kẻ hở để các thế lực thù địch vin cớ lợi dụng xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng ta.

Khi tổng kết nghiên cứu về GCCN Việt Nam, cần tham khảo chỉ dẫn của Ăng-ghen dự báo vô sản hóa trí thức, một bộ phận trí thức sẽ bổ sung vào lực lượng GCCN. Trong thư “Gửi đại học quốc tế các sinh viên XHCN”, lần đầu tiên Ph.Ăng-ghen đã khẳng định khái niệm “giai cấp vô sản trí thức” là bộ phận hợp thành của GCCN hiện đại và chỉ rõ chính GCCN ấy là lực lượng duy nhất hoàn thành sự nghiệp giải phóng GCCN, xây dựng thành công CNXH trong tương lai. Do yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn cũng như xu hướng một bộ phận đội ngũ trí thức của nước ta được bổ sung cho GCCN trong những năm đến là xu thế tất yếu.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng.

Cơ chế phối hợp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam là các quy định, quy chế của Đảng, Nhà nước nhằm xác định mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức lực lượng và những chế tài cụ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta nói chung, bản chất GCCN của Đảng nói riêng. Tập trung lãnh đạo hệ thống chính trị, các cơ quan, lực lượng tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, Ban Tuyên giáo Trung ương là lực lượng nòng cốt, cơ quan chủ trì phối hợp. Căn cứ vào tính chất, nội dung, phương thức thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch phản động cũng như thế mạnh của từng cơ quan, ngành mà Ban Tuyên giáo Trung ương chủ động tham mưu phân công phối hợp để đấu tranh phản bác sát hợp với từng đối tượng. Chẳng hạn, lâu nay Đài Truyền hình Việt Nam có chương trình “Đối diện” tham gia đấu tranh phản bác tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngoài những công trình khoa học, đã tổ chức thành công Cuộc thi viết chính luận khoa học bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới (lần thứ nhất). Mấu chốt của vấn đề là phải xác lập được cơ chế phối hợp đấu tranh phản bác tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tích cực tham gia, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tình hình mới.

Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu nội tại của Đảng ta hiện nay. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, vận mệnh của chế độ XHCN. Đại hội XIII nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng,…; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(5). Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải coi trọng trên cả năm mặt nhưng trong đó tập trung chỉnh đốn về tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Bởi cán bộ, đảng viên là "tế bào" cấu thành tổ chức đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong bối cảnh mới hiện nay khi các thế lực thù địch đang gia tăng chống phá Đảng, Nhà nước ta đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, gương mẫu nói đi đôi với làm, thanh liêm về nhân cách, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; xác định rõ trách nhiệm bổn phận của mình đối với sự phát triển của Đảng, của dân tộc.

Ngoài việc coi trọng tu dưỡng rèn luyện “tự soi” “tự sửa” của mỗi đảng viên, các tổ chức đảng cần tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình... Cần thấy rằng, ý nghĩa to lớn của xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho Đảng luôn ở tầm cao của văn hóa, của “đạo đức, văn minh” thì Đảng càng cầm quyền có hiệu quả, càng trường tồn vai trò lãnh đạo đối với dân tộc. Mặt khác, là điều kiện để tăng “sức đề kháng” của Đảng trước những hiện tượng phản văn hóa, xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch phản động.

Thứ năm, tập trung xây dựng GCCN Việt Nam có phẩm chất năng lực, trí tuệ, có khát vọng cống hiến.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là chủ thể của công cuộc đổi mới, tiên phong đi đầu trong xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hơn 92 năm từ khi Đảng ra đời cho đến nay, vai trò lịch sử của GCCN Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng và khẳng định là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mang bản chất GCCN, chứ không thể mang bản chất của giai cấp nào khác. Do đó, đầu tư để xây dựng GCCN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, đúng hướng, xứng tầm với vị thế của giai cấp tiên phong. Xuất từ vai trò to lớn của GCCN Việt Nam, Đại hội XIII xác định mục tiêu “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(6). Bởi vậy, đặt ra cho Đảng, Nhà nước phải tăng cường trí thức hóa GCCN; coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho GCCN nhận rõ vai trò, sứ mệnh to lớn của mình. Tập trung chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nhà ở, thu nhập và các vấn đề an sinh xã hội cho GCCN để họ ổn định cuộc sống “an cư lạc nghiệp” tái sản xuất sức lao động, chuyên tâm với vai trò, sứ mệnh lịch sử cao cả của mình.
----------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.8. tr.257.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.88.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7, tr.41.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.10, tr.477.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.2, tr.168.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr.166.

 

NHẬN DIỆN NƯỚC LỚN TRONG CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY

Nước lớn (cường quốc) là khái niệm dùng để chỉ những quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực phát triển vượt trội so với nhiều nước khác. Đó là nước có tiềm lực, sức mạnh và ảnh hưởng vượt trội về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa, có khả năng tạo ảnh hưởng, chi phối và định hình chính sách và hành vi của các quốc gia khác trên thế giới cũng như chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ quốc tế, của các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Hiện nay, không có một nhận thức thống nhất hay một định nghĩa chung về nước lớn. Việc phân định nước lớn - nước nhỏ phụ thuộc vào góc nhìn từ mỗi quốc gia dựa trên sự so sánh tương quan sức mạnh, vị thế và sự ảnh hưởng của quốc gia đó với các quốc gia khác. Theo đó, một quốc gia có thể là nhỏ trong mối quan hệ này nhưng lại được xem là lớn trong mối quan hệ với những nước khác và ngược lại[1]. Thí dụ như: Canađa, Braxin và Ốtxtrâylia là nước lớn trên thế giới về mặt diện tích lãnh thổ và nguồn lực tài nguyên; Ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan là cường quốc dân số của thế giới. Tuy nhiên, sức mạnh tổng hợp của các quốc gia này chưa đạt tới vị thế của một cường quốc thế giới. Trên thực tế, trong việc phân định và đánh giá một nước là lớn hay nhỏ, yếu tố sức mạnh tổng hợp mà nổi bật là sức mạnh quân sự, kinh tế và khoa học - công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Hà Lan là một quốc gia nhỏ ở châu Âu, nhưng thế kỷ XV-XVI với sức mạnh vượt trội của mình. Vương quốc Anh với diện tích 243.610 kmnhưng trong thế kỷ XIX được mệnh danh là “Đất nước mặt trời không bao giờ lặn”. Hiện nay, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản mặc dù về diện tích và dân số họ chỉ là những quốc gia trung bình của thế giới, nhưng với sức mạnh tổng hợp của mình đặc biệt là về kinh tế, khoa học - công nghệ, quân sự cũng như vị thế quốc tế, họ được xem là những nước lớn của thế giới. Cũng xét theo tiêu chí này, một số nước dù là nhỏ như: Quatar, Singapore, Aixơlen, Đan Mạch, Na Uy, Cộng hoà Ailen (Ireland), Thuỵ Sỹ, Lúcxămbua nhỏ về mặt diện tích và quy mô dân số như nhưng lại sở hữu sức mạnh kinh tế và thu nhập cao bình quân trên đầu người hàng năm làm cho các quốc gia khác phải ngưỡng mộ và học hỏi.

Tuy nhiên, dựa vào tổng hợp các tiêu chí nhận diện như đã nêu trên và theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì năm nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc và cũng là năm quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, bao gồm: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp được xem là các nước lớn hay cường quốc. Trong đó, Mỹ là siêu cường toàn cầu duy nhất sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc và Nga được xếp ở cấp độ thứ hai sau Mỹ. Hai cường quốc này được xem là hội tụ đầy đủ những tiêu chí và khả năng để có thể vươn lên thành những siêu cường thế giới, đối trọng và sánh ngang với Mỹ. Nước Mỹ trong nhiệm kỳ của Tổng thống D.Trump thực hiện phương châm “Nước Mỹ trên hết”, Mỹ là nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới, có cơ cấu kinh tế hỗn hợp, các tập đoàn và công ty tư nhân giữ vai trò quan trọng trong khi chính phủ có xu hướng hạn chế tác động vào nền kinh tế. Theo đó, các chính sách được triển khai theo hướng thực dụng, coi trọng cơ chế hợp tác song phương hơn đa phương. Theo các dự báo[2], mặc dù có những suy giảm do đại dịch Covid-19 cùng những mâu thuẫn giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa về những vấn đề lớn trong đối nội và đối ngoại, nhưng đến năm 2030 vẫn ít có khả năng xuất hiện một cường quốc có thể thay thế vai trò của Mỹ. Đối với Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa thành công đã đưa Trung Quốc lên vị trí cường quốc hàng đầu thế giới. Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2017, xác định đã từ bỏ phương châm “giấu mình chờ thời” sang hướng “chủ động hơn, cứng rắn hơn”, quyết đoán theo đuổi lợi ích cốt lõi, kể cả ở Biển Đông. Cùng với việc ổn định tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã nỗ lực phát huy các nhân tố nội sinh, phát triển ngành nghề mới, đặc là nhóm ngành dịch vụ; đẩy nhanh quá trình chuyển biến từ “Trung chế tạo” sang “Trung Quốc sáng tạo”, thúc đẩy đô thị hoá kiểu mới, đẩy mạnh thí điểm các khu mậu dịch do ở Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu..., phối hợp chiến lược phát triển vùng miền. Họ đặt mục tiêu xây dựng một trật tự thế giới mới, trong đó sẽ thay Mỹ lãnh đạo khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2025 và lãnh đạo thế giới vào năm 2050. Hiện nay, Trung Quốc đang chủ động với vai trò nước lớn ở những sân chơi quốc tế vốn có, đồng thời nỗ lực lập ra các “sân chơi” mới mà Trung Quốc là trụ cột, như Ngân hàng Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)…

Đối với Liên bang Nga là nước kế thừa gần như trọn vẹn tiềm lực của Liên Xô trước đây, trong đó có chiếc ghế Ủy viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nước Nga đứng đầu thế giới về diện tích lãnh thổ với 17 triệu km2, dân số trên 146 triệu người, chưa kể 25 triệu công dân Nga đang sống ở một số nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây. Nga có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, một đội ngũ đông đảo các nhà bác học, khoa học và công nhân lành nghề, một cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối hoàn chỉnh và hiện đại. Mục tiêu chiến lược của Nga là phát triển đất nước thành cường quốc, được thế giới công nhận như một đối tác bình đẳng trong quan hệ với các nước, trước hết là Mỹ. Đặc biệt, tháng 7-2021, Tổng thống Nga V. Pu-tin đã ký sắc lệnh hành pháp mang tên " Về chiến lược an ninh quốc gia của Liên bang Nga" thay thế " Chiến lược an ninh quốc gia của Liên bang Nga" được ban hành vào ngày 31-12-2015; tăng cường tận dụng hợp tác quốc phòng - an ninh để nâng cao tiềm lực quốc gia và mở rộng ảnh hưởng ở bên ngoài. Chú trọng đầu tư nghiên cứu và ứng dụng các loại vũ khí mới - đây là thế mạnh vượt trội của Nga. Ngoài ra, Vương quốc Anh, Pháp, Đức và Nhật Bản cũng được nhìn nhận như là những cường quốc bởi sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng quốc tế của họ.

Trong thập niên gần đây các nước lớn có nhiều điều chỉnh quan trọng theo hướng đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ. Lợi ích quốc gia - dân tộc là yếu tố cơ bản nhất quyết định thái độ và quan hệ giữa các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0. Do đó, trong chiến lược của mình, các nước nói chung, các nước lớn nói riêng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu. Trong mối quan hệ lợi ích, các nước lớn thường bỏ qua hoặc xem nhẹ lợi ích của các nước nhỏ. Khi mâu thuẫn, xung đột, tranh chấp xảy ra thì các nước lớn thường gây sức ép, buộc nước nhỏ phải thuận theo mình, bất chấp luật pháp quốc tế cũng như lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước nhỏ. Ở góc độ quyền lực, cạnh tranh giữa các nước lớn vẫn rất gay gắt khốc liệt nhưng không dẫn đến chiến tranh quy mô lớn chiến tranh thế giới. Khi độ gay gắt của mâu thuẫn giữa các nước lớn đến "đỉnh điểm”, thì họ chuyển sang thỏa hiệp với nhau để bảo vệ lợi ích của quốc gia, phe nhóm, tập đoàn, hoặc đẩy mâu thuẫn xung đột sang nước thứ ba hay khu vực khác, biến những nơi này thành địa bàn giao chiến, “thể hiện" về sức mạnh của vũ khí, công nghệ mới…(xung đột quân sự giữa Nga và Ucraine đang diễn ra từ ngày 24/02/ 2022 đến nay là một ví dụ). Một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay là các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố có vai trò quan trọng đến sự phát triển thế giới.


[1] Buzan, Barry, People, States, and Fear: An Agenda for International Security Studies in the Post-Cold War Era. New York: Harvester Wheatsheaf, 1991.
[2] Minh Trung: Trung Quốc đuổi kịp Mỹ trong cuộc đua ngân sách cho khoa học kỹ thuật, https://vnreview.vn/tin-tuc-khoa-hoc-cong-nghe/view content/content/1745759/trung-quoc-duoi-kip-my-trong-cuoc-dua-ngan-sạch-cho-khoa-hoc-ky-thuat.