Thứ Tư, 8 tháng 6, 2022

Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu trong quá trình xây dựng, phát triển tổ chức đảng và phong trào cách mạng ở Trung Kỳ.

 - Đồng chí Phan Đăng Lưu thuộc thế hệ chiến sĩ cộng sản đầu tiên được giao trọng trách Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ, sau là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ cách mạng Việt Nam phải đối mặt với sự chống phá quyết liệt của chính quyền thực dân và phong kiến phản động, đồng chí Phan Đăng Lưu đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng, khôi phục tổ chức đảng và quần chúng, tham gia lãnh đạo cuộc vận động dân chủ, góp phần đưa phong trào cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển cao hơn.

Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu trong những năm đầu gây dựng cơ sở cách mạng ở Trung Kỳ

Đồng chí Phan Đăng Lưu sinh ngày 5-5-1902 tại thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nông dân khá giả, có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Năm 1923, sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông thực hành với tấm bằng xuất sắc, đồng chí Phan Đăng Lưu được bổ nhiệm làm nhân viên tập sự tại Sở Canh nông Bắc Kỳ. Ngày 10-10-1924, đồng chí đến nhận việc tại Trại nuôi tằm Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ). Một năm sau, đồng chí chuyển công tác về Sở Canh nông Nghệ An và được bổ nhiệm làm viên chức tập sự ở Sở Canh nông Bắc Kỳ (1) (vì vậy, đồng chí còn được gọi là ông Phán Tằm). Cuối năm 1925, đồng chí Phan Đăng Lưu chuyển công tác về thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An), theo Quyết định số 1418 của Khâm sứ Trung Kỳ(2). Tại đây, đồng chí đã gặp gỡ và trao đổi thường xuyên với những người trí thức yêu nước, như: Trần Mộng Bạch, Ngô Đức Diễn, Hà Huy Tập, Trần Phú, Trần Văn Tăng (lúc này đã chuyển về dạy học ở Trường tiểu học Vinh), rồi tham gia Hội Phục Việt - một tổ chức cách mạng do các trí thức yêu nước thành lập ngày 14-7-1925 (3).

Nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối Phan Đăng Lưu (ảnh trái) và Báo Dân Tiến do đồng chí Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo_Ảnh: Tư liệu

Đầu năm 1927, mật thám Pháp nghi ngờ đồng chí Phan Đăng Lưu liên quan đến các hoạt động chính trị chống Pháp, tuy chưa có bằng chứng cụ thể, nhưng Khâm sứ Trung Kỳ vẫn ra quyết định chuyển đồng chí Phan Đăng Lưu vào trại sản xuất trứng tằm ở Phú Phong (tỉnh Bình Định). Ngày 7-4-1927, Khâm sứ Trung Kỳ tiếp tục điều đồng chí Phan Đăng Lưu vào làm việc tại trại nghiên cứu cây trồng Canh Kina (4) ở Lang Hanh, Đồng Nai Thượng (nay là tỉnh Lâm Đồng), nhằm cắt đứt mối liên hệ của đồng chí với những hoạt động chính trị chống Pháp. Ngày 30-6-1927, Khâm sứ Trung Kỳ sa thải Phan Đăng Lưu. Lúc này, đồng chí Phan Đăng Lưu đã tìm đến tổ chức để nhận nhiệm vụ, bắt đầu cuộc đời hoạt động trong phong trào cách mạng ở Trung Kỳ.

Trở về Nghệ Tĩnh - nơi đang có phong trào cách mạng của Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - Phan Đăng Lưu cùng thầy giáo Trần Văn Tăng trực tiếp xây dựng cơ sở cách mạng ở quê nhà (5). Đồng chí được Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí cử vào Huế hoạt động và đã nỗ lực cùng đồng chí Nguyễn Sỹ Sách - Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Trung Kỳ - vừa xây dựng tổ chức, vừa củng cố để thống nhất hai tổ chức cách mạng đang phát triển và có xu thế tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng, không có lợi cho cách mạng.

Trong những năm 1927 - 1928, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã phát triển đều khắp ở các Kỳ bộ Bắc, Trung, Nam và Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí ở Huế đã được thành lập. Ngày 14-7-1928, tại Huế, Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí tiến hành đại hội và quyết định đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng. Đây là Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Tân Việt Cách mạng Đảng. Đồng chí Đào Duy Anh được cử làm Bí thư Đảng và đồng chí Phan Đăng Lưu được bầu làm Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn của Tổng bộ (6).

Giữa tháng 3-1928, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Sỹ Sách ở trong nước sang báo cáo, Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) đã viết thư gửi Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí (Tân Việt Cách mạng Đảng) để đồng chí Nguyễn Sỹ Sách mang về triển khai nhiệm vụ hợp nhất trong nước: “Đảng ở Quảng Châu gửi về nước đồng chí Phong (tức Nguyễn Sỹ Sách) cũng vẫn với mệnh lệnh làm trong sạch hai đảng” (7). Nội dung bức thư viết: “THÂN GỬI: CÁC ĐỒNG CHÍ Ở TRONG NƯỚC… Hội chúng tôi lập lên ở hải ngoại là cốt để gây một cuộc cách mệnh ở đất nước Việt Nam. Vậy bất cứ đảng cách mệnh Việt Nam nào, không phân biệt màu sắc chính trị, chúng tôi đều vui lòng hợp nhất… Ngày nay, không nên để tình trạng phân biệt, chúng tôi đề nghị các đồng chí là đem toàn hội của các đồng chí sáp nhập vào hội chúng tôi hiện có ở khắp mọi nơi trong ba kỳ, làm được như thế là chúng ta hợp nhất. Ngoài một số ý kiến lớn nói trên, còn các chi tiết khác đồng chí Nguyễn Sỹ Sách sẽ bàn thêm” (8). Sau đó, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách bị thực dân Pháp bắt và giam ở nhà tù Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị).

Trước tình hình đó, những người có tư tưởng cấp tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng thấy được sự cần thiết phải thống nhất cả về đường lối chính trị, phương pháp hoạt động và tổ chức lực lượng cách mạng tiếp tục đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tân Việt là tích cực kiên trì, chủ động tìm gặp Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để bàn bạc. Ban Thường vụ Trung ương Đảng Tân Việt đã chấp thuận và cử đồng chí Phan Đăng Lưu sang Trung Quốc (9). Giữa tháng 9-1929, đồng chí Phan Đăng Lưu bí mật sang Trung Quốc, nhưng bị mật thám theo dõi do có kẻ phản bội, nên đã bị bắt đưa về giam ở nhà lao Vinh, sau đó bị thực dân Pháp kết án 3 năm tù khổ sai.

Mặc dù đồng chí Phan Đăng Lưu bị bắt, nhưng thành quả hoạt động cách mạng của đồng chí với trọng trách là Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn của Tân Việt Cách mạng Đảng đã góp phần quan trọng đối với sự ra đời của Bản Tuyên đạt thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 9-1929) - đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng chính trị hướng theo con đường cách mạng vô sản của Tân Việt Cách mạng Đảng - để đến cuối tháng 12-1929, hoàn tất quá trình thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Đây là một trong ba tổ chức cộng sản - tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thời gian ở trong tù, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn tiếp tục tổ chức đấu tranh, chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, vì vậy, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và tham gia ban lãnh đạo nhà tù (10). Lợi dụng công việc được cai ngục giao ghi chép sổ sách tại văn phòng Tòa sứ Buôn Ma Thuột, đồng chí Phan Đăng Lưu đã cùng các đồng chí trí thức yêu nước khác bí mật xuất bản tờ báo viết tay bằng hai thứ tiếng Kinh và Ê-đê, lấy tên là “Doãn Đê tuần báo”, sau đó được đổi tên là “Bôn-sê-vích”. Từ năm 1932 - 1934, đồng chí Phan Đăng Lưu còn cho ra đời tờ báo “Xích sắt”.

Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu với trọng trách Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ  

Từ năm 1936, trước những chuyển biến mới của tình hình Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát-xít, chống chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình; “lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi chính để bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ đơn sơ” (11). Đảng cũng chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp. Đặc biệt, đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3-1938, Đảng chỉ rõ: “Lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại” (12). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào vận động dân chủ diễn ra trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú.

Đồng chí Phan Đăng Lưu được ra tù trong bối cảnh thực dân Pháp buộc phải thả một số tù chính trị. Được ra tù, nhưng đồng chí Phan Đăng Lưu không được về quê, mà bị quản thúc ở Huế. Đồng chí lại tiếp tục hoạt động cách mạng và là một người tham gia tích cực vào cuộc vận động Đông Dương Đại hội (13) ở Huế. Giữa tháng 8-1936, đồng chí Phan Đăng Lưu bắt liên lạc được với Trung ương Đảng và được chỉ định vào Ban Chấp hành lâm thời Xứ ủy Trung Kỳ, được Đảng phân công phụ trách phong trào đấu tranh công khai, bán công khai ở Huế và Trung Kỳ, nơi trung tâm đầu não của thực dân Pháp và lực lượng phong kiến Nam triều. Với nhãn quan chính trị sáng suốt, đồng chí Phan Đăng Lưu đã cùng các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều, Bùi San,… thể hiện rõ vai trò là linh hồn của cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở Huế và Trung Kỳ, góp phần đưa phong trào trở thành một cao trào cách mạng sôi nổi, rộng khắp của quần chúng.

Theo sáng kiến của Xứ ủy Trung Kỳ, đồng chí Phan Đăng Lưu và đồng chí Tôn Quang Phiệt cùng nhiều đồng chí trí thức yêu nước nhận thấy cần xuất bản một tờ báo để vận động cho các ứng cử viên của phong trào bình dân. Ngày 19-6-1937, tờ báo “Sông Hương tục bản” ra đời dưới sự phụ trách của đồng chí Ngô Đức Mậu. Các tờ báo do Xứ ủy Trung Kỳ chủ trương xuất bản còn phải kể đến các tờ “Dân muốn” (số 1 ra ngày 20-12-1938, số cuối ngày 25-1-1939), “Dân tiến” cơ quan liên hiệp tất cả các lực lượng cấp tiến (số 1 ra ngày 27-10-1938, số cuối ra ngày 12-12-1938, tổng cộng là 5 số). Cả hai tờ báo này đều do đồng chí Phan Đăng Lưu chỉ đạo (14). Đồng chí Phan Đăng Lưu đã trực tiếp viết các bài xã luận, bình luận chính trị, tiểu phẩm, thông qua báo chí công khai vạch mặt những tên tay sai hại nước, hại dân, dùng mọi mánh khóe để được trúng cử. Nhiều bài viết có sức thuyết phục, như các bài: “Lời khuyên các cử tri”, “Phơi gan trải ruột cho quốc dân biết”, “Câu chuyện hàng tuần”... Nhờ công tác tuyên truyền thông qua báo chí, đồng chí Phan Đăng Lưu đã hướng cử tri bầu những người tốt vào Viện Dân biểu Trung Kỳ. Những ứng cử viên do báo “Sông Hương tục bản” giới thiệu đều trúng cử.

Cuộc đấu tranh vào Viện Dân biểu ở Trung Kỳ do đồng chí Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo cũng giành thắng lợi (tất cả 18 ứng cử viên do Đảng đưa ra tranh cử đều trúng cử ngay từ vòng đầu và đều nắm các chức vụ chủ chốt trong Viện). Đánh giá về thắng lợi này, Văn kiện Đảng toàn tập đã nêu rõ: “18 candidats ở Trung Kỳ xu hướng về Mặt trận bình dân được đắc cử là những sự thắng lợi rất vẻ vang của Đảng ta” (15). Đánh giá về công lao, đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu, Bùi San - người đồng chí, người trong cuộc cùng ngồi tù, cùng hoạt động tại Huế - đã viết: “Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, anh Lưu ở trong Xứ ủy Trung Kỳ và được giao lãnh đạo các công tác công khai như báo chí hợp pháp của Đảng, lực lượng Mặt trận dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ. Anh đã trực tiếp lãnh đạo vào Viện dân biểu này. Cuộc đấu tranh khá gay go…” (16). Đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ ở Trung Kỳ đã được ghi vào sử sách: “Đây là thời kỳ đồng bào, đồng chí ở các tỉnh Trung Kỳ biết đến Phan Đăng Lưu nhiều nhất, nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của anh, dũng cảm tiến bước trong các cuộc đấu tranh chống phản động thuộc địa và tay sai do anh dẫn đầu và tin tưởng vào thắng lợi” (17). Những hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu đã góp phần thổi bùng lên phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương giai đoạn 1936 - 1939 do Đảng lãnh đạo. Trong cao trào cách mạng sôi động đó, năm 1938, đồng chí Phan Đăng Lưu được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Cuộc vận động dân chủ giai đoạn 1936 - 1939 ở Trung Kỳ đã góp phần cùng phong trào cả nước buộc đế quốc Pháp phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Quần chúng được giác ngộ về chính trị, trở thành lực lượng chính trị mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam. Đội quân chính trị quần chúng gồm hàng triệu người được tập hợp, giác ngộ và rèn luyện. Uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng. Tổ chức Đảng được củng cố và phát triển. Đến tháng 4-1938, Đảng có 1.597 đảng viên hoạt động bí mật và hơn 200 đảng viên hoạt động công khai. Số hội viên trong các tổ chức quần chúng công nhân, nông dân, phụ nữ, học sinh, cứu tế là 35.009 người (18). Qua cuộc vận động dân chủ, trận địa và lực lượng cách mạng được mở rộng ở cả nông thôn và thành thị, thực sự là một bước chuẩn bị quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sau này.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương trò chuyện, thăm hỏi đại diện gia đình, dòng họ đồng chí Phan Đăng Lưu bên lề Hội thảo khoa học: “Đồng chí Phan Đăng Lưu với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An” do Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức_Nguồn: baonghean.vn

Người trực tiếp góp phần hoạch định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng Việt Nam

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp phát-xít hóa bộ máy chiến tranh. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp trong ba ngày 6, 7 và 8-11-1939, nhằm giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Hội nghị được tổ chức tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu “tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”. Vì vậy, Hội nghị quyết định chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp chuyển sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp “bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”. Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất ý chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý luận cách mạng; phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ; phải khuếch trương và củng cố cơ sở đảng ở các thành thị, các trung tâm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền; thực hiện tự phê bình và đấu tranh trên hai mặt trận chống tả khuynh và hữu khuynh, đặc biệt chú trọng sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước phát triển quan trọng về lý luận và đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng, thể hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có đồng chí Phan Đăng Lưu. Từ sau Hội nghị, phong trào cách mạng ở Trung kỳ nói riêng và cả nước nói chung đã có những chuyển biến mới, làm tiền đề thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.       

Theo chủ trương của Đảng, đồng chí Phan Đăng Lưu rút vào hoạt động bí mật và được Trung ương phân công phụ trách phong trào các tỉnh Nam Kỳ. Cùng Xứ ủy Nam Kỳ, đồng chí có nhiều cống hiến quan trọng đưa phong trào cách mạng Nam Kỳ phát triển lên một bước mới.

Trước tình hình cách mạng gặp khó khăn, hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, giữa tháng 10-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu bí mật rời Nam Kỳ ra họp và thống nhất với Xứ ủy Trung Kỳ cùng Bắc Kỳ tổ chức Hội nghị tái thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị diễn ra từ ngày 6 đến 9-11-1940 tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Nghị quyết Hội nghị tiếp tục thực hiện đường lối do Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đề ra, nhằm tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân khi thời cơ xuất hiện; đồng thời, chủ trương hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Đồng chí Phan Đăng Lưu - Ủy viên Trung ương Đảng, được giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ. Tuy nhiên, đêm ngày 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu về Sài Gòn mang theo chỉ thị của Trung ương Đảng, đúng vào lúc thực dân Pháp đang phá tan cuộc khởi nghĩa sắp bùng nổ, vây bắt những chiến sĩ cách mạng và đồng chí Phan Đăng Lưu cũng bị bắt (19). Theo lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1930 - 1975): “Đồng chí Phan Đăng Lưu trên đường về còn có nhiệm vụ phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 cho các cấp bộ Đảng Trung Kỳ, do đó đến ngày 22-11-1940 mới về tới Sài Gòn, chưa gặp được đồng chí Tạ Uyên, trong khi đó Xứ ủy đã gửi lệnh khởi nghĩa đi khắp các tỉnh rồi” (20).

Như vậy, trong bối cảnh thực dân Pháp đang truy lùng bắt bớ gắt gao những đảng viên cộng sản, đồng chí Phan Đăng Lưu không chỉ can đảm vượt vòng vây của địch, bí mật đi ra Bắc để tham dự Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940, mà trên đường vào Nam, vẫn còn tiếp tục truyền đạt Nghị quyết Trung ương Đảng cho các cấp Đảng bộ Trung Kỳ. Những chủ trương của Đảng đã đi vào phong trào cách mạng của quần chúng. Khi khói lửa của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa tan, ngày 13-1-1941, một cuộc binh biến nổ ra ở đồn Chợ Rạng (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) dưới sự chỉ huy của Đội Cung. Có thể thấy, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương” (21). Đây cũng là sự chuẩn bị quan trọng cho Đảng bộ Trung Kỳ để sau đó tiếp nhận chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941), hoàn chỉnh đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, đưa đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Đồng chí Phan Đăng Lưu - người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam, đã “lấy cái chết của mình để bảo vệ sống còn của dân tộc, của giai cấp và của Đảng Cộng sản Đông Dương”(22). Sớm đi theo con đường cách mạng, đồng chí Phan Đăng Lưu đã hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Dù trong những lúc phong trào cách mạng đầy cam go, thách thức, song đồng chí vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, chí khí chiến đấu. Ở trong tù, đồng chí Phan Đăng Lưu kiên quyết đấu tranh và lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng, yêu nước chống chế độ lao tù dã man, tàn khốc của kẻ thù bằng nhiều hình thức. Khi ra tù, đồng chí tiếp tục tham gia ngay vào hoạt động cách mạng, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đánh giá về công lao và đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu và nhiều nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay” (23). Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của đồng chí Phan Đăng Lưu là một tấm gương sáng ngời về lòng kiên trung, bất khuất; về niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào thắng lợi của cách mạng; về sự hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Việt Nam./.

---------------------------

(1), (2), (10) Chương trình sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng và cách mạng Việt Nam: Phan Đăng Lưu - Tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 50, 347, 370
(3) Sau đổi tên thành Hội Hưng Nam; đến năm 1926, đổi tên thành Việt Nam Cách mạng Đảng; tháng 7-1927, đổi tên thành Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí.
(4) Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiểu sử và tác phẩm, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 21.
(5) Trương Quế Phương: “Đồng chí Phan Đăng Lưu - Nhà cách mạng tiền bối, nhà báo tiên phong của Đảng”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1 (134), 2002, tr. 45.
(6) Tỉnh ủy Nghệ An: Nghệ An - Những tấm gương cộng sản, Nxb. Nghệ An, 1998, tr. 98 - 99.
(7), (8) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 1, tr. 438, 85 - 86
(9) Nguyễn Thành: Phan Đăng Lưu tiểu sử và tác phẩm, Sđd, tr. 26.
(11), (12) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 6, tr. 144, 350, 360
(13) Tôn Quang Phiệt: “Về đồng chí Phan Đăng Lưu, một trí thức cách mạng kiên cường (hồi ký)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 147, 1972, tr.17.
(14) Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, t. 2, tr. 490 - 491.
(15) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 271.
(16) Bùi San: “Vài nét về anh Phan Đăng Lưu (hồi ký)”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (181) 1978, tr. 52.
(17)  Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa Thiên - Huế: Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. I (1930 - 1954), tr. 119.
(18) Xem: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 374 - 375.
(19) Trần Huy Liệu: Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Nxb. Sử học, 1961, q. 2, t. II, tr. 61 - 62.
(20) Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1930 - 1975), Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 222.
(21) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 109.
(22) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2001, t. 12, tr. 8 - 9.
(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 25.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” - Giá trị vận dụng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

 - Đạo đức và văn minh là sự thống nhất, hòa quyện, phản ánh trình độ phát triển cao, bản chất tốt đẹp của một đảng chân chính cách mạng, để thực hiện sứ mệnh cao cả là “ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc; đồng thời, đặt ra trách nhiệm lớn lao cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”

Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trước hết thể hiện ở bản chất và mục đích của Đảng, “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(1). Một đảng đạo đức, văn minh không phải là một tổ chức để làm quan phát tài, mà phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích của người cách mạng là để làm đầy tớ cho nhân dân, một người đầy tớ xứng đáng, trong sạch, trung thành chứ không phải là mục đích thăng quan phát tài”(2). Nói cách khác, đạo đức cách mạng cao nhất của Đảng và mỗi đảng viên là chí công vô tư. Đảng viên phải thật thà, trung thành, hăng hái; trọng lợi ích của cách mạng hơn tính mệnh của mình; phải hy sinh lợi ích của mình cho Đảng, cho Tổ quốc và dân tộc. Bất kỳ lúc nào, bất kỳ việc gì, người cán bộ, đảng viên đều phải tính đến lợi ích chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết, trước hết.

Bác Hồ với công nhân xe lửa Gia Lâm (Tranh của họa sĩ Phạm Lung)_Ảnh: Tư liệu

Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” thể hiện ở bản lĩnh, dũng khí, sự trung thựcthẳng thắn, “không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”(3). Đảng phải giữ chủ nghĩa cho vững, thành thực trong chính trị với nội dung căn cốt là “đoàn kết và thanh khiết từ to đến nhỏ”.

Bản lĩnh, dũng khí của Đảng không chỉ là gan dạ trước kẻ thù, trong xà lim, án chém, mà còn là dám tự phê bình và phê bình, cả trong nội bộ Đảng và trước nhân dân. Đảng phải biết tự chỉ trích, thành thực trong nhận khuyết điểm, sai lầm để sửa đổi, tự tiến bộ. Đảng không tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tiến bộ được. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng nhân dân, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ, chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng nhân dân phê bình. Người nhấn mạnh, một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng; một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó, là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.

Cùng với thái độ chân thành, không che giấu khuyết điểm và thừa nhận khuyết điểm, Đảng còn phải luôn luôn xem xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã được thi hành như thế nào, đi vào cuộc sống đến đâu. Đây là một khía cạnh quan trọng thuộc về tư cách của đảng chân chính cách mạng. Đảng là đạo đức, văn minh chỉ khi các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đi vào cuộc sống, được tổ chức triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Không che giấu khuyết điểm, dám tự chỉ trích và luôn luôn xem xét lại công tác của Đảng là một cách tự hoàn thiện mình. Đó là một khía cạnh thể hiện văn hóa của Đảng, giá trị của Đảng.

Đảng là đạo đức, là văn minh, tức là phải hiểu dân, học dân, hỏi dânthuận lòng dân, “theo đúng đường lối nhân dân”; “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”; “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một đảng văn minh là khi lời nói và việc làm của đảng phải làm cho nhân dân tin, nhân dân phục, nhân dân yêu; ngược lại, mất lòng tin của nhân dân là mất tất cả, bởi “Ý DÂN LÀ TRỜI. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành. Làm trái ý nguyện của dân thì ắt bại”(4). Người nhấn mạnh, việc gì đúng với nguyện vọng của nhân dân thì đều được quần chúng nhân dân ủng hộ và hăng hái đấu tranh; và như vậy, mới thật sự là một phong trào quần chúng. Đảng phải nhận thức sâu sắc được rằng, tư tưởng và hành động của Đảng là vì nhân dân và Đảng mạnh là do sự ủng hộ của nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng không phải là một đặc quyền theo kiểu “đảng trị”, mà là thực hiện sứ mệnh phục vụ nhân dân. Đảng “không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(5).

Một trong những biểu hiện có giá trị nhất của một đảng đạo đức, văn minh là thực hành dân chủ theo đúng nghĩa “chế độ ta là chế độ dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ”. Dân chủ là làm cho người dân có năng lực làm chủ, biết thụ hưởng và dùng quyền làm chủ, dám nói, dám làm, dám phê bình Đảng. Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng giúp Đảng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”(6).

Thuận lòng dân là không làm việc theo lối quan liêu, “quan” chủ; đồng thời, tuyệt đối không “theo đuôi quần chúng”, mà phải “làm theo cách quần chúng”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(7). Tuyệt đối không làm việc theo cách đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo. Bởi vì, “làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”(8). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng không phải làm quan, sai khiến quần chúng mà phải làm đầy tớ cho quần chúng và phải làm cho ra trò, nếu không quần chúng sẽ đá đít. Muốn như thế phải gần quần chúng, học quần chúng, lãnh đạo quần chúng, cái gì lợi cho quần chúng thì làm, hại cho quần chúng thì tránh. Xa quần chúng là hỏng, cần phải nhớ nhiệm vụ của Đảng là làm đầy tớ cho quần chúng”(9).

Đạo đức và văn minh của Đảng thể hiện ở tư duy khoa học, cách mạngđổi mới, sáng tạo, tầm nhìn về tương lai, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới. Theo V.I. Lê-nin, người cộng sản phải có dũng khí nhìn vào sự thật, phải có gan vứt bỏ những nhận thức của ngày hôm qua không phù hợp với tình hình diễn biến của ngày hôm nay, phải biết “thay đổi sách lược, chọn một con đường khác để đi tới đích của chúng ta, nếu con đường cũ, trong một thời gian nhất định nào đó, xem ra không thích hợp nữa, không đi theo được nữa”(10). Đó chính là phương châm hành động “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trong suốt sự nghiệp cách mạng của mình. Về nguyên tắc, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bất di bất dịch, nhưng sách lược phải được thực hiện một cách mềm dẻo. “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác... Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(11). Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ngày càng tiến bộ; vì vậy, Đảng phải có đủ gan góc, đủ tinh thần phụ trách để quyết định phương hướng chính trị mới, thay đổi cách thức công tác và đấu tranh, dám bỏ những khẩu hiệu và những nghị quyết đã cũ, không hợp thời, đưa những nghị quyết và khẩu hiệu mới thay vào. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”(12).

Kết hợp đức trị với pháp trị” là một nét đẹp tiêu biểu về đạo đức, văn minh của một đảng chân chính cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”(13). Người chỉ rõ, pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, dù cho có đang nắm giữ cương vị nào. Tính nghiêm minh của pháp luật kết hợp với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật của Đảng từ trên xuống dưới để nhất trí về tư tưởng và hành động là một biểu hiện và phương thức hành động của một đảng đạo đức, văn minh.

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, để Đảng “là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” có quá trình hình thành và phát triển gần một thế kỷ, vẫn vẹn nguyên giá trị, soi sáng công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng và các đại biểu tham quan triển lãm ảnh và sách: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương, Tạp chí Cộng sản và Báo Nhân dân phối hợp tổ chức_Ảnh: TTXVN

Xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Cương lĩnh của Đảng khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh một trong 5 quan điểm chỉ đạo, đó là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”(14). Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần tập trung vào một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận chính trị. Xao nhãng, lười biếng, ngại học tập là một khuyết điểm rất lớn, “khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã răn dạy. Phải chữa cái bệnh chủ quan mà nguyên nhân là kém lý luận, khinh lý luận hoặc lý luận suông; đồng thời, phải bỏ tư tưởng học để lấy bằng cấp. Lý luận phải thống nhất với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trên nền tảng của một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, cái cốt tủy về đạo đức và văn minh của Đảng là phải kiên định đường lối đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thể hiện khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, bước tới đài vinh quang, cùng nhịp bước và sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

Thứ hai, Đảng phải luôn luôn quán triệt quan điểm “theo đúng đường lối nhân dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ dạy. Đảng phải quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tài sản lớn nhất, có giá trị nhất của Đảng là lòng dân. Xác định sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy vai trò làm chủ, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân là thước đo quan trọng nhất của một đảng đạo đức, văn minh. Đảng ta nhiều lần khẳng định, chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử; toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, sự tồn vong của chế độ và của Đảng. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII nhấn mạnh: “Từ trước đến nay, bất cứ việc gì đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, của toàn Đảng, được nhân dân và toàn Đảng đồng lòng góp sức thì nhất định thắng lợi”(15).

Thứ ba, để Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” thì mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người đạo đức, văn minh. Với trọng trách là những người ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, mỗi cán bộ, đảng viên phải tu thân, chính tâm, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, nâng cao năng lực trí tuệ, bản lĩnh, trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng phong cách gần gũi quần chúng, dân chủ, nêu gương trong công việc; phải hằng ngày, suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị; trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân.

Mỗi cán bộ, đảng viên luôn trau dồi, rèn luyện, bồi dưỡng phong cách gần gũi quần chúng, gắn bó với nhân dân_Ảnh: Tư liệu

Bản lĩnh của cán bộ, đảng viên trước mọi tình huống phức tạp, khó khăn là phải biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp; chống cái sai, cái xấu, cái ác, cái giả dối; “phò chính trừ tà”. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bảo đảm không để lọt vào cấp ủy những cán bộ nhát gan, dễ bảo, “đập đi, hò đứng”, “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi, theo gió bẻ buồm, không có khí khái”, không dám chịu trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi. Bản lĩnh của mỗi cán bộ, đảng viên là dám tự phê bình và phê bình đồng chí mình, tự chỉ trích, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân, sẵn sàng từ chức khi nhân dân không còn tín nhiệm. Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”(16).

Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” phải nhận thức sâu sắc về các nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao trong việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Quán triệt và triển khai Nghị quyết Đại hội XIII về xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải “đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội”(17). Đó chính là sự kiên định, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn hiện nay./.

---------------------

(1) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 4
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8, tr. 2
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 290
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 63
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 50
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 83 – 84
(7), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 337 - 338, 333
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 367
(10) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t. 44, tr. 189
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 391
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 28
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 323 - 324
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 111
(15), (16) Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 61, 60

(17) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 184

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội.

 - Công tác tư tưởng là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương gặp mặt các đại biểu điển hình tiên tiến toàn quốc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh giai đoạn 2009 - 2019 tại trụ sở Trung ương Đảng_Ảnh: qdnd.vn

Công tác tư tưởng phải đi trước một bước

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của công tác tư tưởng nên thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(1). Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(2). Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(3).

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm các chế độ quy định; coi đó là vấn đề tất yếu trong quá trình phấn đấu, rèn luyện của bộ đội.

Lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng đạt kết quả khá toàn diện

Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Lương Cường, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam với các đại biểu tại Lễ Tuyên dương gương mặt trẻ tiêu biểu, gương mặt trẻ triển vọng toàn quân năm 2021_Ảnh: TTXVN

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.

Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ _Ảnh: qdnd.vn

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên”(4) và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.  

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.

------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 8,  tr. 554 - 555
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 606, 590
(4) “4 không”: Không quát mắng, dọa nạt bộ đội; không áp đặt, rập khuôn, máy móc; không phân biệt đối xử giữa các chiến sĩ; không làm trái các quy định trong quản lý bộ đội; “3 có”: Có tinh thần trách nhiệm cao; có kỷ luật nghiêm; có tình, có lý trong quản lý, giáo dục bộ đội; “3 nên”: Nên gần gũi, quan tâm, động viên giúp đỡ bộ đội; nên tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến; nên cụ thể, tỉ mỉ trong hướng dẫn bộ đội.

XÂY DỰNG CHÍNH QUY, DUY TRÌ KỶ LUẬT, SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN NẮM VỮNG Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là quan điểm cơ bản, nhất quán của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang, có ý nghĩa quyết định đối với sự trưởng thành, phát triển của Quân đội ta. Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại là bốn nội dung quan trọng trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ mới. Tuy mỗi nội dung có vị trí, vai trò khác nhau, song có mối quan hệ chặt chẽ, tác động, ảnh hưởng, ràng buộc và chi phối lẫn nhau trong quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta. Nếu thiếu một trong những nội dung trên hoặc một mặt nào đó kém chất lượng thì không thể xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong các nội dung ấy, xây dựng quân đội chính quy, duy trì kỷ luật là những nhân tố có ý nghĩa rất quan trọng đối với xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Xem nhẹ công tác xây dựng quân đội chính quy, duy trì kỷ luật, tất yếu sẽ dẫn đến những hệ lụy tiêu cực khó tránh khỏi. Yêu cầu cao nhất của xây dựng quân đội chính quy là tạo được sự đồng bộ, thống nhất, nền nếp. Tuy nhiên, sự đồng bộ, thống nhất và nền nếp chỉ có thể đạt được nếu tính cách mạng và sự tinh nhuệ của Quân đội ta đã được xây dựng và ngày càng phát triển. Trên cái nền gốc vững chắc ấy, ý thức tự giác trong xây dựng nền nếp chính quy, duy trì kỷ luật tự giác, nghiêm minh được củng cố và phát triển bền vững. Nếu ý thức xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ được nâng cao, sự giác ngộ tốt thì chính nó là điều kiện thuận lợi để thực hiện “tinh binh, tinh cán”, tinh nhuệ về chính trị; phòng tránh và loại trừ được hiện tượng “trên nóng, dưới lạnh”, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Quân đội chính quy là quân đội được xây dựng theo những tiêu chuẩn, tiêu chí thống nhất, được pháp luật Nhà nước, điều lệnh quân đội quy định chặt chẽ về tổ chức, biên chế, trang bị; hệ thống chỉ huy; chế độ huấn luyện, giáo dục; các chế độ công tác và sinh hoạt trên cơ sở xây dựng vững chắc tính tổ chức, tính kỷ luật, tính tập trung và tính khoa học. Xây dựng quân đội chính quy là quá trình thống nhất về xây dựng cơ cấu tổ chức, biên chế trang bị; nền nếp, chế độ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác quản lý bộ đội, công tác bảo đảm các sinh hoạt là cơ sở để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, làm cho hai nội dung này hòa quyện vào nhau, ngày càng phát huy tác dụng, hiệu quả. Mục đích xây dựng Quân đội ta chính quy là tạo sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, bảo đảm cho Quân đội ta có tổ chức chặt chẽ, thống nhất về mọi mặt: từ trang phục, lễ tiết, tác phong đến việc chấp hành nghiêm minh về kỷ luật, khoa học trong hiệp đồng tác chiến, huấn luyện, học tập và công tác... Vì lẽ đó, trong xây dựng chính quy, duy trì kỷ luật bắt buộc phải tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều mặt, giải quyết nhiều mối quan hệ; trong đó, ban hành thống nhất hệ thống văn bản, các luật, điều lệnh, điều lệ, quy chế, quy định và thực hiện cải cách hành chính quân sự có ý nghĩa quan trọng. Theo đó, biên chế, tổ chức của quân đội phải được xây dựng “tinh, gọn, mạnh”; phải loại bỏ những tổ chức, những bộ phận không rõ chức năng, nhiệm vụ hoặc hoạt động kém hiệu quả. Đồng thời, thành lập mới một số tổ chức theo yêu cầu, nhiệm vụ với những quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, số lượng thành viên, cơ chế vận hành, tầm ảnh hưởng. Điều đó có nghĩa là phải vì công việc, vì nhiệm vụ mà đặt tổ chức, đặt người; không vì người mà đặt tổ chức, gây áp lực về giải quyết sự chồng chéo, trùng lặp. Để thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ trên cần quán triệt và thực hiện tốt ba khâu đột phá trong xây dựng chính quy, duy trì kỷ luật và bảo đảm tính hài hòa, hợp lý, hợp hiến giữa các mặt: (1) Điều chỉnh về tổ chức, biên chế và lực lượng; (2) Nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ; (3) Chấp hành kỷ luật và cải cách hành chính. Trong đó, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, bảo đảm cơ cấu cân đối giữa các lực lượng, quân binh chủng, ưu tiên quân số cho các đơn vị chủ lực làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị trên tuyến biên giới, biển, đảo; giảm quân số ở một số cơ quan trung gian và các đơn vị làm nhiệm vụ bảo đảm, phục vụ; phù hợp với điều kiện thời bình; giảm tỷ lệ kỷ luật thông thường và hạn chế thấp nhất các vụ việc vi phạm kỷ luật nghiêm trọng. Muốn vậy, cần nắm vững và thực hiện tốt các điểm sau: Một là, rà soát kỹ công tác quản lý bộ đội, tình hình thực hiện các chế độ trong ngày, trong tuần gắn với công tác quản lý vũ khí, trang bị, phương tiện quân sự; đánh giá kết quả thực hiện mang mặc thống nhất về trang phục, lễ tiết, tác phong quân nhân; thực hiện nghiêm chức trách, nhiệm vụ và chế độ quy định; có biện pháp kịp thời chấn chỉnh sự lệch chuẩn, các sai phạm; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Hai là, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, góp phần bảo đảm chỉ huy thông suốt; giải quyết mọi công việc thống nhất, nhanh, gọn, hiệu quả. Xây dựng nền hành chính dân chủ trong từng đơn vị và toàn quân, bảo đảm: trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiệu quả. Thông qua việc rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan, đơn vị kịp thời phát hiện sự bất cập, những mâu thuẫn, điểm trùng lặp, chồng chéo để kịp thời sửa đổi, bổ sung; loại bỏ những văn bản quy phạm không còn phù hợp. Đề xuất phương án giảm bớt các hội nghị, cuộc họp không cần thiết; tăng hội nghị trực tuyến và các phương án tối ưu. Ba là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác quản lý kỷ luật quân đội về bảo quản, sử dụng vũ khí, trang bị và chấp hành các chế độ, thời gian, nhất là sử dụng thời gian trong hai ngày nghỉ cuối tuần, những ngày nghỉ lễ, tết; chế độ sinh hoạt trong ngày, tuần; coi trọng công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, công tác quản lý kỷ luật ở các đơn vị cơ sở hoạt động độc lập, phân tán, đơn vị huấn luyện chiến sĩ mới. Xử lý nghiêm các vụ vi phạm kỷ luật và làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ; thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 khóa XIII của Đảng về những điều đảng viên không được làm. Bốn là, có chủ trương, biện pháp quyết liệt hơn nữa để không ngừng đổi mới công tác xây dựng nền nếp chính quy, duy trì nghiêm kỷ luật trong huấn luyện, đào tạo, công tác và sẵn sàng chiến dấu trong toàn quân, nhất là ở các học viện, trường sĩ quan quân đội; các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Quân tâm hơn nữa việc đổi mới quy trình, chương trình, nội dung, hình thức, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, diễn tập, dã ngoại cho phù hợp với từng đối tượng, khắc phục tình trạng lúng túng, bị động đối với sĩ quan trẻ sau khi tốt nghiệp và chiến sĩ mới sau khóa huấn luyện tân binh về đơn vị công tác. Năm là, đề cao việc nêu gương, nhất là sự mẫu mực về nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, đảm bảo sự chuẩn mực trong giao tiếp, lễ tiết, tác phong, chú trọng bảo đảm tính chính quy trên mọi mặt công tác, từ mệnh lệnh chỉ huy, ban hành văn bản, chỉ thị, hướng dẫn đến việc duy trì nền nếp chế độ báo cáo, xây dựng quy trình, nền nếp làm việc khoa học, tính kế hoạch trong tổ chức hội thi, hội thao điều lệnh đội ngũ, bắn súng, thể thao quân sự. Sáu là, tăng cường giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, quy định của đơn vị cho cán bộ, chiến sĩ; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật trong quân đội, nâng cao trình độ nhận thức về luật pháp, văn hóa pháp lý cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng; nâng cao hiệu lực của cơ quan bảo vệ pháp luật nhà nước trong Quân đội. Thực hiện tốt phương châm: “Sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật”, “toàn quân hành động theo Điều lệnh”; làm cho nó thực sự trở thành phong cách, đạo đức, nếp sống tốt đẹp của mỗi cán bộ, chiến sĩ “Bộ đội Cụ Hồ”./
ĐẤU TRANH CHỐNG VĂN HÓA PHẨM XẤU ĐỘC ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN TRONG ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI HIỆN NAY Đấu tranh chống DBHB là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, phức tạp, quyết liệt và lâu dài. Sự thắng lợi hay thất bại trong cuộc đấu tranh chống lại sự phá hoại của kẻ địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay hoàn toàn do chúng ta quyết định. Trong cuộc đấu tranh này, đòi hỏi quân đội phải chủ động, tích cực, với nhiều biện pháp, nhiều lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa “chống” với “xây”, “xây” với “chống”, lấy “xây” làm chính dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị, trước hết là chính ủy, chính trị viên, đội ngũ cán bộ, đảng viên, với sự tham gia của các tổ chức quần chúng và mọi chiến sĩ trong toàn quân. Đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội phải hướng vào vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá về tư tưởng - chính trị trong quân đội; giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội; giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội; giữ vững truyền thống, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; củng cố, tăng cường đoàn kết nội bộ, giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với công an; phòng ngừa và đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ quân đội. Để thực hiện đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay đạt hiệu quả cần chú trọng tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động mà trước hết là phải đẩy mạnh giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng sẽ tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Để nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị của mọi quân nhân, đòi hỏi phải thường xuyên làm tốt công tác giáo dục với những vấn đề cơ bản là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở để cán bộ, chiến sĩ quán triệt đường lối của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin và nâng cao khả năng đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng thù địch. Quá trình giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đặc biệt coi trọng làm rõ bản chất cách mạng, khoa học, chỉ rõ những giá trị, phương hướng vận dụng học thuyết, tư tưởng ấy trong đời sống và hoạt động của quân đội; mặt khác phải kịp thời giải đáp có sức thuyết phục những băn khoăn, thắc mắc có liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của đời sống xã hội, quân đội mà cán bộ, chiến sĩ quan tâm. Cần tiếp tục giáo dục nâng cao lòng yêu nước, truyền thống dân tộc, truyền thống của Đảng, của quân đội, của đơn vị. Đây chính là nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần nuôi dưỡng tình cảm, lòng tin, ý chí, thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tăng cường giáo dục đạo đức lối sống cách mạng, ý thức kỷ luật tự giác nghiêm minh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy lùi mọi biểu hiện của đạo đức lối sống thực dụng, hưởng lạc, đề cao chủ nghĩa cá nhân, xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của quân đội. Thường xuyên giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hoá phẩm xấu độc, phản động. Tích cực bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ nâng cao năng lực đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng thông qua trang bị những kiến thức về lý luận, văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; đề phòng và khắc phục quan điểm vũ khí luận của tư tưởng quân sự tư sản, đề cao quá mức sức mạnh vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, dẫn đến mất lòng tin vào khả năng và sức mạnh chiến đấu của quân đội hiện nay. Thường xuyên giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng để cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận rõ những nội dung, điều kiện, hình thức mới của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh ý thức hệ giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản. Đặc biệt phải làm rõ xu hướng hợp tác quốc tế hiện nay giữa các nước với nhau trong cùng tồn tại hoà bình, không có nghĩa là xoá bỏ đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vì mục tiêu bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cùng với công tác giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự vững chắc của trận địa chính trị - tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong các đơn vị quân đội. Cùng với đó, phải tăng cường xây dựng đơn vị vững mạnh thông qua tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-9-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, trong đó có yêu cầu hàng đầu là vững mạnh về chính trị - tư tưởng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và “Xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh” ở các đơn vị quân đội. Chú trọng tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động kịp thời có biện pháp ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở các đơn vị quân đội. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải nhằm bảo đảm sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức của tổ chức đảng và các đơn vị quân đội. Do đó, phải thường xuyên giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quân đội cho mọi quân nhân. Tiếp tục đổi mới chính sách xã hội đối với quân đội và hậu phương quân đội tạo động lực thúc đẩy đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Trong tình hình hiện nay phải tiếp tục đổi mới chính sách xã hội hướng vào góp phần cân đối thu nhập, giải quyết việc làm, phân phối lại lợi ích, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, tạo ra sự công bằng hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ, khuyến khích người có tài năng cống hiến. Cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới chính sách xã hội phù hợp với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cũng như gia đình hậu phương của họ, trực tiếp nhất là những vấn đề tiền lương, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội; về đất đai, nhà ở và những nhu cầu về chính trị, văn hoá tinh thần cho quân nhân. Qua đó tạo động lực cho mỗi quân nhân yên tâm, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tăng thêm lòng tin vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần làm thất bại chiến lược DBHB, ngăn ngừa và đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Chủ động, kiên quyết đấu tranh và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng để đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội. Chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng của toàn Đảng, toàn dân. Do vậy, quân đội phải chủ động, kiên quyết đấu tranh và thực hiện phối hợp với các lực lượng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp chống sự phá hoại của các thế lực thù địch về chính trị - tư tưởng đối với quân đội, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Quá trình này, phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: tích cực, chủ động tiến công, khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động hoặc chỉ hô hào chung chung, mà trên thực tế không đấu tranh. Trong đó, phải tạo được nhận thức đúng đắn, thống nhất trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và toàn quân, nhận diện đầy đủ âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm và tác hại của các hoạt động chống phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội; tăng cường đoàn kết thống nhất nội bộ; phát huy sức mạnh tổng hợp của công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính sách và sử dụng tổng hợp các hình thức, phương tiện để đấu tranh chống sự phá hoại của các thế lực thù địch. Cần tổ chức lực lượng đấu tranh có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ; bồi dưỡng lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh cả về phẩm chất chính trị, trình độ năng lực và dũng khí đấu tranh; nâng cao tính đảng, tính chiến đấu, tính khoa học. Phát huy hơn nữa vai trò của các lực lượng ở các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội, đặc biệt là đội ngũ các nhà khoa học xã hội và nhân văn, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội. Thực hiện phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tuyên truyền, văn hoá, báo chí của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nhằm phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu tuyên truyền, lừa bịp mị dân về chính trị - tư tưởng của các thế lực thù địch. Đồng thời phối hợp chặt chẽ các hoạt động quân sự, quốc phòng với an ninh và đối ngoại; tăng cường phối hợp với tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong cuộc đấu tranh chống DBHB nói chung và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội nói riêng