Thứ Tư, 8 tháng 6, 2022

Đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay.

  - Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác tư tưởng chính trị, công tác lý luận của Đảng, đòi hỏi phải ngày càng toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.

Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh - âm mưu ngoan cố, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận đồ sộ, vô giá và trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực hiện bởi chủ nghĩa thực dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà.

Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy hiểm hơn, chúng còn ca tụng một cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và với Đảng Cộng sản Việt Nam…

Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc đó của các thế lực thù địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến to lớn từ cuộc đời và sự nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ; mưu đồ gây ra những bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong chiến lược chống cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các thế lực phản động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác, phủ nhận tư tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu “lật đổ” trên lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị.

Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay của các thế lực phản động quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ chức phản động lưu vong, lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện” để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong, nhất là qua các trang thông tin quốc tế có xu hướng cực hữu chính trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội, các đài phát thanh, kênh truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong, tổ chức phi chính phủ ở một số nước phương Tây.

Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước ngoài, cũng ráo riết thực hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng kỹ thuật, công nghệ chỉnh sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo những câu chuyện hoang đường, không có thật về Người. Thâm độc hơn, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật - giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn, bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách mạng, khoa học, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quyết tâm, nỗ lực bền bỉ của Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân trong bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh

Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta - có mối quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đảng thể hiện rõ và nhất quán quan điểm, nhận định, đánh giá về giá trị, cống hiến của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, qua đó, góp phần nâng cao nhận thức chính trị và củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo là, vững vàng kiên định và vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Lắng nghe lời Bác dạy _Tranh Tư liệu

Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, qua đó tạo cơ sở, khuôn khổ pháp lý để ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong các bộ luật, các luật có điều khoản quy định về xử lý hành vi truyền bá, xuyên tạc tư tưởng và đường lối của Đảng, trong đó có xuyên tạc lãnh tụ Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, như tại Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 10 Luật Xuất bản năm 2012; Điều 9 Luật Báo chí năm 2016; Điều 16 Luật An ninh mạng năm 2018…

Công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lực lượng nòng cốt tham gia đấu tranh là Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các cấp, nhất là ban chỉ đạo 35 của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Hội đồng Lý luận Trung ương... cùng hệ thống các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản với hàng trăm tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình và đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, tuyên truyền viên… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả.

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, các bộ, ngành, địa phương trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng ngày càng chặt chẽ với vai trò “lĩnh xướng” và sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, ban chỉ đạo 35 các cấp; sự hợp tác, phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc trao đổi, cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp đấu tranh.

Phương thức đấu tranh là vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng thù địch, phản động và có hình thức, biện pháp xử lý phù hợp tùy theo mức độ vi phạm; định hướng tuyên truyền, cung cấp đầy đủ thông tin chính thống, quản lý tốt nguồn thông tin, ngăn chặn kịp thời các thông tin, tài liệu sai trái; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy những kết quả từ sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng nước ta làm minh chứng sống động, thuyết phục để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, phản động...

Với các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài, chúng ta sử dụng, phối hợp các biện pháp, từ tuyên truyền, phản bác dựa vào luật pháp Việt Nam và quốc tế, đến sử dụng biện pháp ngoại giao để ngăn chặn từ xa, kịp thời. Đối với các tổ chức phản động lưu vong, các cơ quan chức năng của Việt Nam đề nghị phía chính quyền nước sở tại phối hợp điều tra, ngăn chặn. Ngoài ra, dựa theo các căn cứ pháp lý của Việt Nam, như Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT và Luật An ninh mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đã trao đổi, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài (như Google, Facebook) gỡ bỏ nhiều thông tin vi phạm. Đối với các đối tượng ở trong nước, tùy vào mức độ vi phạm, các cơ quan chức năng có biện pháp từ giáo dục, yêu cầu gỡ bỏ, xử phạt hành chính đến xử lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, Lực lượng 47 (Bộ Quốc phòng), các lực lượng thuộc Bộ Công an, như Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao... đã vô hiệu hóa được nhiều kế hoạch, “chiến dịch” của các tổ chức phản động lưu vong, các chương trình truyền hình, phát thanh tiếng Việt có nội dung bôi nhọ, xuyên tạc lãnh tụ và Đảng, Nhà nước; dựng “tường lửa” ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa, tư tưởng xấu, độc trên mạng. Sự ra đời và hoạt động hiệu quả của Ban Chỉ đạo 609 của Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chỉ đạo 213 Trung ương về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật (nay hợp nhất thành Ban Chỉ đạo 35 Trung ương); cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, lực lượng chuyên sâu, lực lượng tham gia đấu tranh ở từng cấp đã kiên trì, kiên quyết phản bác lại các luận điệu sai trái, xuyên tạc; định hướng tuyên truyền kịp thời, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Đồng thời, tăng cường hoạt động thông tin đối ngoại, mở thêm phiên bản tiếng nước ngoài của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản…, tích cực đưa những thông tin đầy đủ, chính thống về Việt Nam đến với bạn bè thế giới và các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh đến đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố vững chắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần xã hội. Xuất bản các bộ sách lớn như Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập), Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử (10 tập)… với hàng nghìn tư liệu, sự kiện, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, tiêu biểu như Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX. 02, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với 13 đề tài nhánh, cùng hàng trăm đề tài khoa học các cấp; bên cạnh đó, hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được xuất bản, đăng tải trên các phương tiện truyền thông, qua đó, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương của Người trong toàn xã hội, bổ sung những nguồn tư liệu quý, những luận cứ xác đáng, thuyết phục, tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những giá trị, tầm vóc vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng tham quan trưng bày chuyên đề “Hồ Chí Minh - những nét phác hoạ chân dung” và Triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh _Nguồn : toquoc.vn

Các cơ quan nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy lý luận chính trị, khoa học của Đảng và Nhà nước, như Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam… đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm ngày càng vững chắc đấu tranh phản bác, bẻ gãy từ gốc bằng lý luận các luận điệu sai trái, thù địch, phản động. Bên cạnh đó, công tác lý luận của Đảng tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ; trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, càng khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, tiếp tục soi sáng, dẫn dắt sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta đi đến thắng lợi.

Ban chỉ đạo 35 các địa phương đã kịp thời tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy các cấp; phối hợp hoạt động của các thành viên ban chỉ đạo 35, của các nhóm chuyên gia; xây dựng chương trình trọng tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch theo định hướng Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phù hợp với đặc điểm, tình hình từng địa phương. Ban chỉ đạo 35 các địa phương tập trung nắm chắc tình hình dư luận xã hội, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; báo cáo cơ quan thường trực để tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác định hướng thông tin, tuyên truyền; bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị nhằm chủ động đấu tranh ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trên địa bàn.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức thành viên tích cực tuyên truyền sâu rộng để các tầng lớp nhân dân nhận rõ bản chất âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đồng thuận xã hội, bảo đảm sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động; huy động sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch, phản động.

Mặc dù đạt nhiều kết quả quan trọng, nhưng công tác bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém. Một số cấp ủy đảng, người đứng đầu đơn vị vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác trên, nên lãnh đạo, chỉ đạo chưa sát sao, kịp thời, dẫn đến sự phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh chưa thực sự đồng bộ, gắn kết chặt chẽ và hiệu quả. Còn thiếu chương trình khoa học cấp nhà nước mang tầm quốc gia về vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Nhiều bài viết đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh còn thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao, thiếu thuyết phục người đọc... Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh trên không gian mạng vẫn rất gay go, phức tạp; do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, cùng sự suy thoái, “tự diễn biến” của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay... đã và đang làm hạn chế hiệu quả công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một số giải pháp cần tập trung thực hiện để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, đồng thời để khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng, nâng cao nhận thức của người đứng đầu cấp ủy ở các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã đề ra.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân, hình thành ý thức tự giác, thúc đẩy hành động tích cực trong việc bảo vệ, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ ba, nhận diện và phân loại từng đối tượng, trên cơ sở xem xét ở nhiều mặt như động cơ, vai trò, nội dung các luận điệu, mức độ tác động… để đưa ra biện pháp đấu tranh thích hợp và có hiệu quả; tránh tình trạng hoặc xử lý thiếu kiên quyết, không triệt để hoặc cực đoan, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá.

Thứ tư, tăng cường các giải pháp về kỹ thuật, nghiệp vụ để ngăn chặn, sàng lọc, làm loãng, quản lý thông tin nhằm chủ động ngăn chặn sự lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch và các trang mạng xấu, độc; xây dựng hệ bài viết có nội dung đấu tranh sắc bén và giàu tính chiến đấu, từng bước giành thế chủ động trên không gian mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, sắp xếp, kiện toàn bộ máy chỉ đạo, nhóm chuyên gia, lực lượng nòng cốt (từ Trung ương đến địa phương), đổi mới mô hình và phương thức hoạt động; đặc biệt, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp, các ban, ngành và phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng chí Nguyễn Phạm Duy Trang, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh gắn Huy hiệu cháu ngoan Bác Hồ tặng các đại biểu dự Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ toàn quốc tại Lễ báo công và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh _Ảnh: TTXVN

Thứ năm, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc, phản động phải đi liền với việc khẳng định và phát triển các giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh; với việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, chú trọng nghiên cứu, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những vấn đề lớn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng đanh thép, sống động và thuyết phục nhất để phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, đồng thời khẳng định giá trị, tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là “nội chiến”.

  - Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ và tay sai có phải là cuộc “nội chiến” giữa hai miền Nam - Bắc do xung đột về ý thức hệ như những luận điệu xuyên tạc lịch sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị? Thực tiễn lịch sử khẳng định, đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai nhằm giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước. Không ai có thể bác bỏ được!

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh sau 47 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước _Ảnh: Đỗ Trọng Danh

Một số quan điểm sai trái, thù địch về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Có thể điểm lại một số luận điệu xuyên tạc chủ yếu sau của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị:

- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiếu chiến, muốn gây chiến tranh thôn tính miền Nam, từ đó, đổ lỗi 21 năm chiến tranh với hàng triệu người của hai miền thiệt mạng là lỗi của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “tay sai” của Liên Xô, Trung Quốc. Kháng chiến chống Mỹ là thực hiện mưu đồ của Liên Xô, Trung Quốc “muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

- Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một “con bài” trong cuộc “mặc cả” giữa các nước lớn là Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ.

- Việt Nam chỉ là chiến trường thử nghiệm vũ khí của Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc.

- Nếu Việt Nam Cộng hòa được xem là con rối, là bù nhìn, là ngụy, do Hoa Kỳ giật dây thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chỉ là “con rối” trong tay Liên Xô, Trung Quốc...

- Chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến tương tàn giữa hai miền Nam - Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản; trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, người Mỹ không hề muốn cai trị người Việt Nam, người Mỹ can thiệp vào Việt Nam là vì “thế giới tự do”.

Với sự phát triển của công nghệ thông tin, những luận điệu trên đang tràn lan trên internet, được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị rêu rao lặp đi lặp lại, âm mưu lừa bịp, xuyên tạc để phục vụ mưu đồ đen tối của chúng.

Thực tế lịch sử khẳng định, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975 không phải là “nội chiến”, mà là cuộc chiến tranh yêu nước, nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ dân tộc Việt Nam.

Chiến tranh xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là xuất phát từ bản chất chế độ chính trị cường quyền

Với mưu đồ xâm lược, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết (tháng 7-1954), đế quốc Mỹ đã thực hiện phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất nước Việt Nam. R.S. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những kiến trúc sư hàng đầu của Mỹ về chiến tranh Việt Nam, đã nhắc đến quan điểm của Ai-xen-hao được thể hiện qua diễn văn của J.F. Ken-nơ-đi (công bố năm 1956), rằng “Việt Nam là hòn đá tảng của Thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó, không thể phớt lờ những nhu cầu của nó”(1). Trong bối cảnh lịch sử mới, Việt Nam có vị trí quan trọng đối với Mỹ: Nơi thử thách vai trò, sức mạnh to lớn của một đế quốc hàng đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là sự tiếp tục và cao nhất chính sách thực dân mới của Mỹ, thực hiện “Học thuyết Truman” (năm 1947) nhằm bảo đảm “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Một nhà nghiên cứu trong bài viết “Chiến tranh Việt Nam là gì?”, đăng trên báo The New York Times, ngày 26-3-2018, đưa ra nhận xét: “Cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam không phải là một cuộc xung đột cục bộ, cô lập, không liên quan đến an ninh quốc gia của Mỹ, mà là một cuộc chiến không thể tách rời với ưu tiên cao nhất của quốc gia - cuộc chiến chống Cộng sản trên toàn cầu trong chiến tranh lạnh”(2); “các nhà hoạch định chính sách cảnh báo rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa Cộng sản, các nước láng giềng chắc chắn sẽ lần lượt gục ngã, lần lượt như một hàng quân cờ domino”(3).

Từ năm 1950, Mỹ chính thức can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự Đông Dương (MAAG) của Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp, từ 52 tỷ phrăng lên tới 751 tỷ phrăng năm 1954, chiếm 73,9% chi phí chiến tranh(4). Tiếp đó, Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hành tổ chức quân đội, chính quyền mới, tiến hành bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam (đầu năm 1955), lập ra cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa”, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ.

Chính giới Mỹ đã đặt “vấn đề Việt Nam” vào trong luận thuyết của “chiến tranh lạnh”. Dùng biện pháp chiến tranh để thôn tính miền Nam Việt Nam, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới, mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Ngoài ra, Mỹ còn tính toán tới lợi ích kinh tế mà các tập đoàn tư bản công nghiệp, tài chính hùng mạnh của Mỹ thu được qua cuộc chiến này; đồng thời, tính toán tới sự răn đe đối với Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu và lợi ích của giới tư bản Mỹ, vì vậy, là các nhân tố quyết định hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.

Đế quốc Mỹ (và cả thực dân Pháp trước đó) tìm cách lôi kéo đồng minh, đẩy mạnh xây dựng quân đội và chính quyền tay sai, vừa mua chuộc, lôi kéo (rêu rao Mỹ chỉ là đồng minh), vừa uy hiếp và khi cần thì cũng không ngần ngại tổ chức đảo chính, thủ tiêu những chính trị gia không vâng lời, nhằm giữ quyền lãnh đạo của mình... Mặt khác, Mỹ coi trọng việc xây dựng cơ sở xã hội, dựa vào các thế lực thù địch, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo, vừa tạo chỗ đứng, tạo thế hợp pháp ở bên trong để che giấu bộ mặt thực dân, vừa tích cực tổ chức huấn luyện đội quân viễn chinh, lập các căn cứ, khối liên minh quân sự ở bên ngoài... Khi tất cả các thủ đoạn không đạt được mục tiêu đề ra, hoặc kém hiệu quả, Mỹ đẩy tới hành động quân sự, dùng biện pháp chiến tranh là chủ yếu. Tháng 2-1962, Mỹ thành lập Bộ tư lệnh viện trợ Hoa Kỳ ở Việt Nam, đến tháng 7-1965, đổi thành Bộ tư lệnh lục quân Hoa Kỳ tại Việt Nam, trực tiếp chỉ huy đội quân viễn chinh Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đồng minh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc chiến 676 tỷ USD(5); cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy động 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân(6); trên 72 nghìn quân(7) các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam(8). Với những vũ khí mới nhất, với khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học, chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học(9). Cùng với việc đưa quân vào miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc Việt Nam.

Đế quốc Mỹ áp đặt phương thức thống trị thực dân kiểu mới, giấu mặt, cai trị trá hình, nuôi dưỡng và dựng lên chính quyền bù nhìn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu. Từ năm 1955 đến năm 1961, đế quốc Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 7 tỷ USD(10). Những năm 1955 - 1956, Mỹ chi 414 triệu USD xây dựng các lực lượng thường trực quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm 170.000 người và lực lượng cảnh sát với 75.000 người. 80% ngân sách quân sự của chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ(11). Trong giai đoạn 1962 - 1974, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa 21.336 triệu USD (bao gồm cả viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự)(12).

Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế, vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm là một sản phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và “việc Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành trướng Xô-viết”(13). Ngay những quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn cũng nhận thức được thân phận làm tay sai cho Mỹ của mình, và nhận ra cuộc chiến này là cuộc chiến của người Mỹ chống lại nhân dân Việt Nam: “Ông Mỹ luôn luôn đứng ra làm sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê”(14). Giới chóp bu của chế độ Sài Gòn chỉ được tự do trong giới hạn mà Mỹ cho phép. Cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” là chính quyền do người Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng và điều khiển để phục vụ cho chiến tranh xâm lược. Ngay cả sau năm 1973, khi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì mục tiêu phục vụ cho quyền lợi của người Mỹ của chính quyền và quân đội Sài Gòn ở miền Nam vẫn không hề thay đổi. Tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu - lực lượng tưởng chừng được Mỹ ủng hộ nhất quán nhất, cuối cùng cũng cay đắng thừa nhận trong phát biểu từ chức Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 21-4-1975, rằng: Mỹ là một đồng minh “thất hứa, thiếu công bằng, thiếu chính nghĩa, vô nhân đạo đối với một đồng minh đang chịu đau khổ, trốn tránh trách nhiệm của một đại cường quốc”(15). Một nghiên cứu nước ngoài chỉ rõ“Nếu không có sự can thiệp của Mỹ, thật khó có thể tưởng tượng rằng miền Nam Việt Nam đã ra đời hoặc nếu có thì sẽ tồn tại được bao lâu”(16).

Từ tất cả những điều đã trình bày trên đây, có thể thấy rõ rằng, đế quốc Mỹ đã chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, chống lại tất cả những ai ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh và mong muốn độc lập, hòa bình, thống nhất của Việt Nam. Rõ ràng, đế quốc Mỹ đã chà đạp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, và vì thế, trở thành đối tượng đấu tranh trước hết trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường, nồng nhiệt chào đón Quân giải phóng tiến vào giải phóng Thành phố, ngày 30-4-1975 _Ảnh: TTXVN

Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam

Cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đồng thời đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Trong bối cảnh của cuộc “chiến tranh lạnh”, cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là một bộ phận của cuộc đối đầu quyết liệt giữa phe tư bản chủ nghĩa và phe xã hội chủ nghĩa.

Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên(17), nhưng đều bị từ chối.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình, bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại(18). Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200 người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người(19).

Đối diện với tình hình trong nước, quốc tế vô cùng khó khăn, phức tạp, những năm 1954 - 1959, Đảng Lao động Việt Nam vẫn kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định hòa bình, thống nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết, phải tranh thủ mọi thời cơ để thống nhất một cách hòa bình. Đấu tranh vũ trang chỉ buộc phải thực hiện khi không còn con đường nào khác. Quyết tâm thực hiện thống nhất đất nước được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960): “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được “thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà””(20).

Trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bất đồng, xuất hiện chủ nghĩa xét lại, tâm lý sợ Mỹ, ngại đối đầu với Mỹ, biểu hiện ở xu hướng hòa hoãn, chung sống hòa bình, thủ tiêu đấu tranh vũ trang..., Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân trên cả hai miền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sự nghiệp chính nghĩa bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là động lực cơ bản có sức cuốn hút mạnh mẽ và tập hợp lực lượng rộng lớn - toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo thành khối đoàn kết thống nhất trong cuộc đấu tranh chung.

Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập(21). Đây là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng miền Nam, là thể hiện ý chí của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng thống nhất của toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam. Chính phủ có nhiệm vụ đoàn kết nhân dân miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền tay sai, đưa miền Nam Việt Nam phát triển theo con đường độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, phồn vinh, tiến tới thống nhất đất nước. Chính phủ cách mạng lâm thời là một đối trọng với chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri, làm thất bại âm mưu xưng danh “đại diện hợp pháp duy nhất” cho miền Nam của Mỹ và chính quyền tay sai. Dưới ngọn cờ chính nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30 nước trên thế giới chính thức công nhận(22), với tư cách là đại diện chân chính, hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam.

Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế. Quan điểm nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ cao nhất của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng không lôi kéo các nước xã hội chủ nghĩa vào trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Từ khoảng giữa năm 1972, viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam đều bị cắt giảm mạnh. Việt Nam nhận thức được sự chuyển dịch trong quan hệ tam giác giữa ba cường quốc là Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc. Trong khi khai thác mặt tích cực của các nước ủng hộ công cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn đề cao cảnh giác, hạn chế tối đa mặt tiêu cực trong mối quan hệ đó. Vì thế, khi hai nước lớn giảm dần sự viện trợ, Việt Nam vẫn kiên quyết giữ vững mục tiêu của mình.

Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ hơn sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, vạch trần tội ác xâm lược của kẻ thù được che giấu dưới mọi hình thức, để thức tỉnh lương tri nhân loại tiến bộ. Phong trào nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược, hình thành từ cuối năm 1964, đã nhanh chóng mở rộng, phát triển mạnh mẽ từ khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam và tiến hành dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là lực lượng chính trị hùng hậu, đã tác động sâu sắc đến chính sách và thái độ hiếu chiến của nhiều chính phủ trên thế giới đối với vấn đề chiến tranh Việt Nam. Chưa bao giờ trên thế giới xuất hiện một phong trào ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc lại có quy mô rộng lớn như phong trào quốc tế ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.

Việc Mỹ áp đặt chế độ thống trị thuộc địa kiểu mới ở miền Nam Việt Nam, gây chiến tranh tàn phá đất nước Việt Nam, là cuộc chiến tranh xâm lược đối với một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nguồn gốc chiến tranh là mưu đồ chính trị và trực tiếp là từ hành động xâm lược Việt Nam của chính giới Mỹ, chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc Việt Nam.

Bắc - Nam sum họp (Ảnh chụp năm 1975 tại huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, các bà mẹ miền Bắc và miền Nam gặp nhau nhân dịp thống nhất đất nước)_Ảnh: TTXVN


Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng tạo, của sách lược ứng xử khôn khéo, kiên quyết và hiệu quả của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Lịch sử cuộc chiến tranh đã lùi xa, việc nhận thức đúng bản chất của nó cho phép mỗi người dân Việt Nam, dù trước đây đứng ở phía bên nào của cuộc chiến, cũng có quyền tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Những ai cho rằng trong cuộc trường chinh giải phóng, thống nhất, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ ở Việt Nam có yếu tố “nội chiến” thì thực chất, đó chỉ là sự cố tình đánh tráo khái niệm, ngoảnh mặt làm ngơ trước sự thật lịch sử, sẽ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, xuyên tạc một trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc./.

--------------------

(1) R.S. Mc Namara: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 44
(2), (3) Christian G. Appy: “What Was the Vietnam War About?”, The New York Times, ngày 26-3-2018, https://www.nytimes.com/2018/03/26/opinion/what-was-the-vietnam-war-about.html
(4) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 447
(5) Theo số liệu của Viện Quốc tế nghiên cứu chiến tranh (IISS) Luân Đôn, chi phí cho chiến tranh lên tới 720 tỷ USD. Xem: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 496
(6), (7) Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài họcSđd,  tr. 508
(8) Hàn Quốc, Phi-líp-pin, Ô-xtrây-li-a, Thái Lan, Niu Di-lân
(9) 61% trong số đó là chất da cam, chứa 366 kg đi-ô-xin xuống gần 26.000 thôn, bản, với diện tích hơn 3,06 triệu héc-ta; trong đó 86% diện tích bị phun rải hơn hai lần, 11% diện tích bị phun rải hơn 10 lần. Xem: Nỗi đau da cam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 21
(10) Robert S.Mc Na-ma-ra: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt NamSđd, tr. 44
(11) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập I - Nguyên nhân chiến tranh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 117
(12) Gấp 10 lần số lượng viện trợ cho Đài Loan (Trung Quốc) (2.109 triệu USD) và gần 3 lần mức viện trợ cho Hàn Quốc (7.277 triệu USD). Theo Douglas C. Dacy: Foreign aid, war and economic development South Vietnam 1955 - 1975, Cambridge University Press, 1986, tr. 245
(13) Edward Miller: Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 17
(14) Lý Nhân: Nguyễn Cao Kỳ trở về đất mẹ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 252
(15) Lời phát biểu từ chức của Nguyễn Văn Thiệu ngày 21-4-1975. Xem https://www.youtube.com/watch?v=_OTSQ4F0GHM
(16) Christian G. Appy: “What Was the Vietnam War About?”, Tlđd
(17) Tại các thời điểm: tháng 6 và tháng 7-1957, tháng 3 và tháng 12-1958, tháng 7-1959 và tháng 7-1960.
(18) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, tập 2 - Chuyển chiến lược, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 178
(19) Goerges Chaffard: Indochine: Dix ans d’indépendance, Paris: Calmann-Lévy, 1964, tr. 168 - 169; và Seven Years of the Ngo Dinh Diem Administration, 1954 - 1961, SaiGon: Information Printing Ofice, 1961, tr. 182 - 185. Dẫn theo  Edward Miller: Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt NamSđd, tr. 505 (Edward Miller là Giáo sư lịch sử tại Đại học Dartmouth, bang New Hampshire, Mỹ)
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 674
(21) Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 2, tr. 428
(22) “Báo cáo của Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam về hoạt động đối ngoại của Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong năm 1972”, Báo Nhân Dân, ngày 24-1-1973. Đến cuối năm 1975, hơn 50 nước trên thế giới công nhận và lập quan hệ ngoại  giao với Chính phủ cách mạng lâm thời.

Mối quan hệ giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở bên trong với đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài.

 - Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nỗ lực đó sẽ đem lại hiệu quả cao hơn và bền vững hơn nếu gắn kết chặt chẽ, thường xuyên với việc đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài; qua đó, góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1- Liên tiếp 3 nhiệm kỳ đại hội vừa qua, Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà trong đó, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn luôn là nhiệm vụ cấp bách nhất. Ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, thể hiện quyết tâm của Đảng trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng liên quan tới sự tồn vong của chế độ, tới thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Kim Bình, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang _Ảnh: Tư liệu

Tại Đại hội XIII của Đảng, bên cạnh việc ghi nhận, làm rõ những ưu điểm nổi bật về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta cũng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(1); đặc biệt là “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân. Thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự”(2).

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, khuyết điểm nói trên cũng được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “1- Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc.

2- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên.

3- Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”(3).

Như vậy, một trong bốn nguy cơ của Đảng cầm quyền được cảnh báo từ Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng đến nay vẫn hiện hữu và thậm chí còn gay gắt hơn, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống lại tình trạng suy thoái này vẫn là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta. Điểm mới nổi bật trong quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII của Đảng là gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong điều kiện Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền.

Trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên. Theo đó, yêu cầu xử lý mối quan hệ giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở bên trong và đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài là một nhiệm vụ cần được nhận thức đầy đủ và tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Suy thoái về tư tưởng chính trị là sự suy giảm đến mức báo động về niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng.

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống là sự suy giảm đến mức báo động về đạo đức, lối sống theo chiều hướng tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và ngày càng xa lạ với truyền thống đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

“Tự diễn biến” là khi mỗi đảng viên không nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của mình, nhất là những người được giao trọng trách trong các cơ quan của hệ thống chính trị; thiếu hiểu biết hoặc cố tình làm sai những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vì động cơ vụ lợi.

“Tự chuyển hóa” là kết quả tất yếu, là hệ lụy của cả một quá trình “tự diễn biến”, là sự thay đổi về bản chất cách mạng của cán bộ, đảng viên do thiếu rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng; là quá trình tích tụ từ những khuyết điểm nhỏ thành khuyết điểm lớn hơn, thậm chí đến mức vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong là hậu quả của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, vi phạm các quy định của Đảng ở các mức độ khác nhau, thậm chí có hành vi chống lại Đảng, Nhà nước... và là thách thức đối với sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để.

“Tác động chuyển hóa” từ bên ngoài là hoạt động của các lực lượng ngoài Đảng (trong nước và nước ngoài) nhằm thúc đẩy nhanh hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị. Tác động từ bên ngoài hướng tới mục tiêu là gieo rắc những luận điệu xuyên tạc sự thật với dụng ý xấu của những phần tử bất mãn với chế độ, của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, mưu toan phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Tác động chuyển hóa từ bên ngoài chủ yếu thông qua các phương tiện truyền thông, cả truyền thống và hiện đại, với những luận điệu xuyên tạc sự thật, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng cả trong nước và trên trường quốc tế, nhằm kích động, cổ xúy, lôi kéo những cán bộ, đảng viên đang mơ hồ, dao động về lập trường tư tưởng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” bằng cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và nhân dân, với phương châm “không đánh mà thắng” nhằm lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong có mối quan hệ mật thiết với “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài

 Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ chặt chẽ với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã khẳng định: “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(4). “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn diễn ra nhanh hơn khi đời sống gặp nhiều khó khăn, phân cực giàu - nghèo quá lớn; tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tràn lan... dẫn đến nảy sinh những vấn đề và tâm lý bức xúc trong xã hội. Đối tượng bị rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cán bộ, đảng viên, bất kể ở cương vị nào. Chức vụ của người cán bộ, đảng viên càng cao thì hậu quả tiêu cực của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do người đó gây ra càng lớn.

“Tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với nhau: “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, qua từng hoạt động, còn “tự chuyển hóa” là kết quả, là hậu quả và hệ lụy của “tự diễn biến” của mỗi cán bộ, đảng viên. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong còn là nguyên nhân của mất đoàn kết nội bộ, là cái cớ để các thế lực thù địch khoét sâu thêm những khuyết điểm, thúc đẩy và làm gia tăng thêm mâu thuẫn nội bộ; có thể dẫn tới sự tiếp tay hoặc cấu kết của một số cá nhân với các thế lực xấu, thù địch, dẫn tới sự phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đó là hậu quả của quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị từ bên trong đội ngũ đảng viên - lực lượng tiên phong của phong trào cách mạng. Do vậy, nếu quá trình này không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, thì có thể dẫn đến sự suy thoái của Đảng và kết thúc sinh mệnh chính trị của Đảng, sự tồn tại của chế độ XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Hậu quả lớn nhất của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là sự chuyển hóa chính trị. Chuyển hóa chính trị có thể xuất hiện từ hai hướng: 1- Từ hoạt động của các thế lực thù địch nhằm tác động dẫn tới chuyển hóa chính trị; 2- Sự “tự chuyển hóa” chính trị của nội bộ. Tuy nhiên, hai hướng này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau: Yếu tố bên ngoài thúc đẩy, tạo điều kiện cho yếu tố bên trong; yếu tố bên trong tạo sự chú ý và điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài. Trong đó, “tự chuyển hóa” bên trong sẽ quyết định sự thay đổi về chính trị nên hết sức nguy hiểm. Do vậy, phương châm, nguyên tắc bảo đảm an ninh nội bộ, bảo vệ chính trị nội bộ và phòng, chống chuyển hóa chính trị là phải chủ động phòng ngừa các nguy cơ, giữ vững sự đoàn kết chính trị bên trong. Đây là yếu tố mang tính căn bản, quyết định. Tác động chuyển hóa từ bên ngoài của những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ và của những thế lực thù địch sẽ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu kết hợp với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong; có thể làm sụp đổ chế độ chính trị nếu không có biện pháp hóa giải kịp thời, hiệu quả. Vì thế, việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống một cách có hiệu quả sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của những tác động từ bên ngoài. Điều này đúng như V.I. Lê-nin đã cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn đề là ở chữ “nếu” này. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(5).

Như vậy, việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở bên trong là cách tốt nhất để hạn chế những tác động từ bên ngoài, và làm vô hiệu hóa “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, tăng cường đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh chính là cách tốt nhất, bền vững nhất để phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những kết quả thiết thực về đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trong những năm qua là minh chứng rõ nét, thể hiện quyết tâm củng cố, nâng cao niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, góp phần vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

2- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một quá trình đi từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ tiêu cực đến bất mãn, phản động, nên nỗ lực, quyết tâm của tổ chức đảng, của mỗi đảng viên để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái đó. Điều này thể hiện trước hết ở nhận thức, trách nhiệm và hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình. Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, nhất là nêu cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”. V.I. Lê-nin khẳng định: “Đối với đảng đang đấu tranh của giai cấp tiền phong thì phạm sai lầm là không đáng sợ. Điều đáng sợ là: cứ giữ mãi sai lầm, cứ xấu hổ hão không chịu nhận sai lầm và sửa chữa sai lầm”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(7).

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có nguyên nhân từ thái độ và trách nhiệm chưa cao trong học tập lý luận của một bộ phận đảng viên; hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục đạo đức có lúc, có nơi còn thấp, khiến cho kết quả nhiều khi không đạt yêu cầu đề ra. Vì thế, các cấp ủy, người đứng đầu phải thực sự chú trọng đến giáo dục nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ đảng viên một cách thường xuyên, có hiệu quả, thực chất và thiết thực. Toàn Đảng phải quán triệt, thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo trong quá trình đổi mới là: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”(8).

Để bảo đảm tính thuyết phục trong công tác tư tưởng, cần chú trọng hơn nữa đến công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; nghiên cứu học tập có chọn lọc những kinh nghiệm trên thế giới, vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; từ đó, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bảo đảm tính khoa học, tính thuyết phục trong công tác tư tưởng sẽ tạo điều kiện vững chắc cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh có hiệu quả chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong phản ánh dư luận xã hội, tâm trạng của các tầng lớp nhân dân, để các cơ quan, các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh.

Chỉ khi cán bộ, đảng viên tự mình nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của việc nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, thì khi đó mới xác định được trách nhiệm thực hiện chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị, cũng như nâng cao tính tự giác, chủ động trong tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Cấp ủy các cấp cần tiếp tục chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh phải bằng những hành động cụ thể, thiết thực, thông qua sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Tác động từ bên ngoài sẽ được kiểm soát khi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp giữ vững niềm tin, luôn đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Để “miễn dịch” được với những tác động xấu từ bên ngoài, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm các quy định nêu gương của Đảng, quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Cán bộ giữ cương vị càng cao thì càng phải tiên phong, gương mẫu. Nâng cao hiệu quả thực hiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, các chuẩn mực, giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và những chuẩn mực đạo đức của con người trong thời đại mới. Mỗi đảng viên cần tự giác rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, có ý thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân. Kiên quyết chống các biểu hiện bè phái, cục bộ địa phương, “lợi ích nhóm”. 

Đảng trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn nỗ lực vì lợi ích của nhân dân (Trong ảnh: Cán bộ, chiến sĩ, trí thức trẻ tình nguyện Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 356 hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc lúa cho đồng bào) _Ảnh: qdnd.vn

Cấp ủy các cấp cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về vai trò của cán bộ và vị trí của công tác cán bộ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững”(9). Theo đó, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có khát vọng cống hiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng; thực sự mẫu mực, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; “thực sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”, được nhân dân tín nhiệm. Tiếp tục thực hiện tốt các quy định về công tác cán bộ, nhất là Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” một cách thực chất và hiệu quả; không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ được ngăn chặn từ sớm nếu kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh. Có thể ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu kết hợp một cách chặt chẽ giữa giáo dục với rèn luyện và giữa giáo dục, rèn luyện với xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. Việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên chỉ đạt hiệu quả cao khi kết hợp với việc giữ gìn kỷ luật của Đảng, xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm. Vì vậy, cần chú trọng công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, trong việc chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; và xử lý nghiêm nếu có sai phạm, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”. Đồng thời, quan tâm giải quyết dứt điểm những vụ việc phức tạp, gây bức xúc kéo dài trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy vai trò giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, kịp thời phát hiện từ nội bộ những vi phạm từ khi mới phát sinh để chấn chỉnh ngay; không để những khuyết điểm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm lớn, đến mức phải thi hành kỷ luật đảng, thậm chí phải xử lý hình sự.

Đảng trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn nỗ lực vì lợi ích của nhân dân, của đất nước thì sẽ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại. Muốn vậy, Đảng phải thực sự phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đấu tranh có hiệu quả trong phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là sự gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bên trong và đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” từ bên ngoài. Đây là quá trình được tiến hành đồng thời, hỗ trợ lẫn nhau theo phương châm “xây” là cơ bản, phải kiên trì; “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. “Xây” tốt là nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị. “Chống” có hiệu quả là nâng cao khả năng ứng phó, ngăn chặn các thông tin sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng; kịp thời định hướng dư luận, vô hiệu hóa hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Các cơ quan thông tin đại chúng phải kịp thời cung cấp những thông tin chính thống, có trách nhiệm, nhằm đi trước một bước trong định hướng dư luận xã hội, để giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ./.

-----------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 168
(2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr 178 - 179, 224 - 225
(4) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 23
(5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 42, tr. 311
(6) V.I. Lê-nin: Toàn tậpSđd, t. 34, tr. 349
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 301
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II,  tr. 231
(9) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr. 54