Thứ Hai, 11 tháng 7, 2022

Quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo

 


 Ngay sau khi ra đời, Phật giáo đã phát triển khá mạnh mẽ ở Ấn Độ và được truyền bá sang các quốc gia châu Á. Sau thế kỷ IX, Phật giáo ở Ấn Độ bắt đầu suy vi, đến thế kỷ XIII, Phật giáo bị diệt vong ngay trên quê hương của mình. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phật giáo được phục hồi và phát triển ở Ấn Độ. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, Phật giáo phát triển khá mạnh mẽ ở các nước phương Tây như Đức, Pháp, Anh, Mỹ, v.v... Từ giữa thế kỷ XX đến nay, Phật giáo phát triển rộng khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với khoảng 500 triệu tín đồ, cùng với gần 1 tỷ người chịu ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau.

 Đặc điểm của quá trình truyền bá Phật giáo:

Một là, Phật giáo truyền bá bằng con đường “hòa bình”, kết hợp giữa hình thức truyền đạo trực tiếp qua các giáo đoàn với hình thức nhân dân một cách đa dạng, rộng rãi. Đến nay, hầu như không thấy việc Phật giáo truyền đạo gắn với chiến tranh hoặc bằng chiến tranh.

Hai là, với thái độ khoan dung nên quá trình truyền bá Phật giáo không gây ra xung đột về tôn giáo, văn hóa tư tưởng. Không những thế, Phật giáo còn chấp nhận chung sống với các tín ngưỡng, tôn giáo nơi nó truyền đến. Đặc biệt, với chủ trương “tùy duyên phương tiện”, “khế cơ, khế lý” của chúng sinh mà hành hóa, nên trong nhiều trường hợp, Phật giáo còn tiếp thu, dung nạp các phong tục tập quán tín ngưỡng, tôn giáo bản địa hình thành nên nhiều pháp môn tu hành mang tính chất địa phương.

Ba là, Trong quá trình phát triển, Phật giáo có vị trí quan trọng trong việc xây dựng bảo vệ độc lập dân tộc, góp phần hình thành văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia ở châu Á.

Các thế lực thù địch luôn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt động chống đối, kích phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị ở Việt Nam.

 


Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước. Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta. Đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo là một bộ phận nằm trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

BIẾN THỂ PHỤ BA.4, BA.5 CỦA COVID-19 RẤT NGUY HIỂM!

     Biến thể phụ BA.4, BA.5 xuất hiện trong cộng đồng, Bộ Y tế hỏa tốc đề nghị đẩy nhanh tiêm vaccine mũi 3, mũi 4.
     Tại Việt Nam, đã ghi nhận sự xuất hiện của cả hai biến thể phụ BA.4 và BA.5 trong cộng đồng, dự báo ca COVID-19 có thể gia tăng, tuy nhiên nhiều người dân sau khi tiêm vaccine COVID-19 mũi cơ bản hoặc đã từng mắc COVID-19 bắt đầu chủ quan, lơ là trong áp dụng các biện pháp phòng bệnh./.
Yêu nước ST.

Mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


Trước yêu cầu đổi mới, chỉ có mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa thực sự mới có đồng thuận xã hội và đoàn kết thực sự, bền vững. Cần thực hiện dân chủ và đoàn kết từ trong Đảng ra toàn xã hội. Muốn đoàn kết được toàn dân tộc, trước hết Đảng ta phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, trong từng tổ chức của Đảng, phấn đấu để từng đảng viên, từng tổ chức đảng thực sự là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Thực hiện thật tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; kết hợp thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng với nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức Mặt trận nhằm làm phong phú thêm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền chăm lo phát huy và bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân theo pháp luật, tăng cường đồng thuận xã hội. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người trong một mặt trận chung. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động nhân dân, gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị, xã hội và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức. Quan tâm lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cả về cơ chế, chế độ, chính sách, điều kiện, phương tiện làm việc để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy vai trò của mình đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, đó là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, sớm cụ thể hóa, thể chế hóa các quy định để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 11 THÁNG 7 NĂM 1951!

         “Bất kỳ việc to việc nhỏ, phải chịu khó giải thích cho mọi người dân hiểu rõ thì dân sẽ vui lòng làm, mà việc gì cũng thành công!
     Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Công trái”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1859, ngày 11 tháng 7 năm 1951. Đây là giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đảng và Nhà nước ta phát hành công trái để phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đi đến thành công. Mặc dù cuộc phát hành công trái nhìn chung đã đạt được mục đích, yêu cầu đề ra; nhưng có địa phương, đơn vị chưa đạt chỉ tiêu; đặc biệt, so với việc Liên Xô phát hành công trái thì ta còn hạn chế. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích và chỉ ra lý do những địa phương, đơn vị chưa đạt chỉ tiêu là do cán bộ những nơi đó tuyên truyền, giải thích chưa rõ, thậm chí quan liêu, mệnh lệnh.
     Hồ Chí Minh khẳng định, trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bất kỳ từ “việc to” đến “việc nhỏ”, nếu biết cách và kiên trì tuyên truyền, giải thích, động viên quần chúng nhân dân để họ hiểu rõ thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và việc gì cũng sẽ đem lại thành công. Lời dạy đó không chỉ dành cho một người, một việc mà còn dành cho mọi cán bộ, đảng viên trong tất cả mọi việc. Qua đây, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh những tác động tiêu cực của bệnh quan liêu, mệnh lệnh đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên
     Lời dạy trên đây của Hồ Chí Minh là sự khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng; đồng thời, cũng nói lên tầm quan trọng đặc biệt của công tác tuyên truyền quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giác ngộ, đoàn kết, tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng khó khăn, phức tạp hơn, trong khi đó các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, kích động, chia rẽ nhân dân với Đảng. Thực tế đó càng đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền.
     Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và giáo dục chính trị theo đúng 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp; tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; làm chủ vũ khí, trang bị; thành thục về kỹ thuật, chiến thuật; luôn phận biệt rõ đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đồng thời, phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu trong quản lý, chỉ huy đơn vị./.
Yêu nước ST.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc

 


Đẩy mạnh việc cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng thành những chính sách, pháp luật, quy định cụ thể về đại đoàn kết toàn dân tộc và về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất là những chính sách, pháp luật, quy định liên quan đến từng giai cấp, tầng lớp, đặc biệt là đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài… Nhà nước có quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm về hoạt động kinh tế, tài chính đối với mỗi tổ chức của mặt trận.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể; thực hiện tốt vai trò Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Thái tử Tất Đạt Đa người sáng lập ra Phật giáo

 


 Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cổ Đàm Tất Đạt Đa[1], con vua Tịnh Phạm thuộc bộ tộc Thích Ca, trị vì một vương quốc nhỏ là Ca-tỳ-la-vệ. Ngay từ nhỏ Tất Đạt Đa đã sống trong môi trường nhung lụa và được mọi người tránh cho những nỗi ưu lo phiền não. Tuổi trẻ của Tất Đạt Đa không bao giờ rời khỏi hoàng cung, không hề thấy và cũng không hề biết những gì là đen tối, cực nhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanh mình, thậm chí cũng không ngờ rằng trong cuộc đời lại có cảnh bệnh tật, già yếu và chết chóc theo quy luật của tự nhiên. Năm 29 tuổi (25 tuổi theo quan điểm Phật giáo Bắc tông), rời bỏ gia đình, cung điện, từ chối giàu sang và quyền lực, mà ông gọi đó là “ngục vàng” để trở thành một người ẩn tu khổ hạnh tại Khổ hạnh lâm. Trong 6 năm đầu mới xuất gia, ông tu khổ hạnh với các tu sĩ Bà La Môn giáo ở Tuyết Sơn Sau đó, Tất Đạt Đa từ bỏ tu khổ hạnh đi vào tư duy trí tuệ. Tin vào con đường trung đạo, tin vào năng lực bản thân, sau 49 ngày thiền định dưới gốc cây Bồ-đề, chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, cuối cùng Tất Đạt Đa tuyên bố đã chứng được đạo, đến được với chân lý, đã hiểu được bản chất của tồn tại (của thế giới và con người), nguồn gốc của khổ đau phiền não và con đường cứu vớt khỏi sự khổ đau và phiền não đó. Từ đó, Tất Đạt Đa có tôn hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni)- bậc thánh của dòng họ Thích Ca và được gọi là Bút Đa, phiên âm qua chữ Hán là Phật Đà, quen gọi là Phật (hay Bụt) tức người đã giác ngộ, đã hiểu được chân lý. Sau khi giác ngộ, Phật Thích Ca thực hiện chương trình giáo hóa chúng sinh, sách Phật gọi là Chuyển pháp luân. Trong quá trình giáo hóa, ông đã chọn được 1.250 đệ tử tiêu biểu, trong đó có 10 vị ưu tú nhất, sách Phật gọi là Thập đại Thánh chúng. Phật Thích Ca hoạt động giáo hóa chúng sinh liên tục cho đến năm 80 tuổi thì viên tịch (sách Phật còn gọi là nhập Niết Bàn). Những lý thuyết Phật Thích Ca truyền bá thu hút được đông đảo người tin theo và sau đó phát triển trở thành một tôn giáo mới: Phật giáo.



[1]        . Năm 1950, tổ chức Thân hữu Phật tử Thế giới đã thống nhất lấy năm 564 trước Công nguyên là năm Phật Thích Ca đản sinh.

 

Tôn giáo ở Việt nam luôn được trú trọng, đổi mới

 


 Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức sắc chức việc và đồng bào có đạo yên tâm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo.

Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ.

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an  ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về đại đoàn kết toàn dân tộc

 


Để đề ra được nội dung và phương thức lãnh đạo phù hợp đối với Mặt trận hiện nay, Đảng cần nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc và phương thức lãnh đạo của Đảng; nắm được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của mỗi tổ chức trong Mặt trận; nắm được thực tiễn và quan hệ giữa Đảng với Mặt trận. Đảng tuyệt đối không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng, khoán trắng, khắc phục tình trạng can thiệp một cách chủ quan, tùy tiện, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận.

Vấn đề cốt lõi trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận là định hướng về chính trị, tổ chức, cán bộ và hoạt động của Mặt trận. Trước hết, Đảng định hướng về chính trị, tư tưởng cho Mặt trận. Đó là định hướng về mục tiêu, phương hướng phát triển lâu dài và trước mắt của Mặt trận; về xây dựng Điều lệ; về phương hướng hoạt động trong từng thời kỳ. Đảng định hướng chính trị, tư tưởng cho Mặt trận bằng các phương thức chủ yếu: thông qua việc xây dựng chỉ thị, nghị quyết của Đảng về Mặt trận. Chỉ thị, nghị quyết phải thể hiện được: trách nhiệm của Đảng và cơ quan nhà nước đối với Mặt trận, nhiệm vụ phải thi hành của cán bộ, đảng viên; trách nhiệm của bản thân Mặt trận trong việc xây dựng tổ chức, xây dựng phong trào hành động cách mạng của nhân dân. Thứ hai, Đảng định hướng về tổ chức và cán bộ. Nguyên tắc chung của Đảng là, thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Mặt trận, đồng thời phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo và trách nhiệm của tổ chức trong việc xây dựng, đổi mới tổ chức và cán bộ cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới.  Thứ ba, Đảng lãnh đạo bằng việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Mặt trận thông qua Đảng đoàn, Mặt trận và thông qua các tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan của Mặt trận; qua đó trao đổi, bàn bạc với Mặt trận cùng nhau giải quyết. Để thực hiện tốt nội dung trên đây, Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng về các mặt; coi trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.

Nâng cao nhận thức cho toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

 


Phải coi đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong lúc này là vấn đề sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Làm cho mọi người dân đất Việt nhận thức rõ tư tưởng của Bác Hồ kính yêu: Đất nước Việt Nam, giang sơn Việt Nam cùng mọi thành quả của nền văn hóa Việt Nam không phải là của riêng ai, của một giai cấp hay đảng phái nào, mà là tài sản chung của mọi người Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, mọi người Việt Nam đều có trách nhiệm và có quyền được đóng góp vào việc tô điểm cho giang sơn đó, làm giàu thêm và đẹp thêm cho nền văn hóa đó. Làm cho mọi tầng lớp nhân dân thấy được thời cơ cũng như thách thức của cách mạng hiện nay; thấy được nhiệm vụ cách mạng càng khó khăn phức tạp bao nhiêu càng đòi hỏi phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc. Từng bước hoàn thiện hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới. Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế tri thức. Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước càng đi vào chiều sâu, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó, đã và đang đặt ra yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, trong đó có nội dung lãnh đạo công tác xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Giữ vững tính định hướng chính trị trong xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo đó, phải quán triệt sâu sắc mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.

Hoàn cảnh xã hội và sự ra đời của Phật giáo

 


 Các nhà sử học chia lịch sử Ấn Độ cổ đại thành 2 thời kỳ: Thời kỳ văn hóa Ha-ra-pa, còn gọi là nền Văn minh Sông Ấn; Thời kỳ văn hóa Vê-đa, còn gọi là nền Văn minh Sông Hằng, với sự hình thành đạo Bà-la-môn và đạo Phật. Trong thời kỳ Vê-đa cùng với quá trình phân hóa giai cấp và hình thành nhà nước, ở Ấn Độ xuất hiện đạo Bà-la-môn và hình thành chế độ phân chia đẳng cấp (còn gọi là chế độ Vác-na), phân chia cư dân trong xã hội Ấn Độ thành bốn giai tầng với thành phần xuất thân khác nhau:

(1) Bà-la-môn (Brahmanas) gồm giới tăng lữ của đạo Bà-la- môn, gồm những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp;

(2) Sát-đế-lị (Vaisyas) gồm vua quan cai trị và tầng lớp võ sĩ;

(3) Vệ-xá (Vaisyas) gồm dân tự do, gồm những người làm nông nghiệp, buôn bán, thợ thủ công;

(4) Thủ-đà-la (Sundras) gồm những chiến binh bại trận trong các cuộc chiến tranh, những người ở tầng lớp trên bị phá sản,... tóm lại là không có tư liệu sản xuất, đứng ngoài tổ chức công xã.

Sự phân chia đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, không chỉ về quyền lợi, địa vị chính trị, kinh tế, xã hội, mà cả trong quan hệ giao tiếp, ...Đẳng cấp Thủ-đà-la chiếm đại đa số nhưng ở vị trí tận cùng của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên. Chế độ phân chia đẳng cấp một cách nghiệt ngã như nói trên được luật pháp của nhà nước - Luật Ma-nu và tôn giáo - đạo Bà-la-môn, bảo vệ. Tình hình trên đây làm cho tầng lớp đa số trong xã hội - những người Thủ-đà-la càng oán ghét chế độ bóc lột, oán ghét chế độ phân chia đẳng cấp. Phản ánh tâm trạng của những người nô lệ lúc đó, ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, trào lưu xã hội thuộc các xu hướng khác nhau. Các trào lưu đó đều gặp nhau ở chỗ, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn. Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lưu đó.

Như vậy, Phật giáo ra đời trong xã hội Ấn Độ thời cổ đại bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị, xã hội sâu xa, là trào lưu xã hội chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn.

Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm nét cảm tính, tâm lý.

 


Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình. Vì sao tôn giáo Việt Nam có tính ôn hòa, hòa quyện: Thứ nhất, do dân tộc Việt Nam đoàn kết.Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Thứ hai, Tôn giáo vào Việt nam ít nhiều được Việt Nam hóa.

Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt Nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

QUAN ĐIỂM PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


Đại hội XIII của Đảng nêu lên quan điểm chung là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”

Quan điểm về đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm trên khẳng định sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, là

Thứ hai, đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp

Xác định chủ thể xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là toàn thể dân tộc, bao gồm mỗi người dân, mỗi cộng đồng, cả hệ thống chính trị. Đây không phải là nhiệm vụ của riêng bất cứ giai cấp nào, càng không phải là việc riêng của Đảng, Nhà nước.

Thứ  ba, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

 Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây chính là mẫu số chung để kết dính “mọi con dân nước Việt”. Mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là ước vọng ngàn đời của mọi người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Yêu nước, đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành lẽ sống của cả dân tộc, của mọi người mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng. Đây cũng là hoài bão, là ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. Đây cũng là điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chủ tịch được ghi trong Di chúc trước lúc Người đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[2].

 



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG 2002, tập 4, tr 161

[2] Sđd: Tập 12, tr 512

Phát huy hơn nũa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay

 


Trong thời gian qua Đảng, Nhà nước ta luôn chủ động thực hiện tốt đại đoàn kết, đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật như: Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Đã ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền hạn làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.

Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thời gian tới, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Tư tưởng chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới

 


Tư tưởng chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới là:

Một là, khơi dậy và phát huy cao nhất sức mạnh dân tộc, đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và con người lên hàng đầu; coi đó là cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội nhằm chiến thắng đói nghèo và lạc hậu.

Hai là, xuất phát từ lợi ích dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước.

Trong quá trình đổi mới, Đảng ta khẳng định, chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay.

Đại hội IX nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”[1]. Tiếp tục hoàn thiện đường lối được xác định trong các Đại hội trước, Đại hội X đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc thành một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội với quan điểm: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XI của Đảng đã diễn ra với chủ đề: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Đại hội XI của Đảng thể hiện rõ các quan điểm:

Một là, nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, xoá bỏ mọi thiên kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ; tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc.

Hai là, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, xác lập quyền làm chủ của người lao động trong lĩnh vực kinh tế, khuyến khích làm giầu chính đáng theo pháp luật, đồng thời thực hiện các chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “xoá đói giảm nghèo”.

Ba là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế theo phương châm Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

 Đại hội XII của Đảng xác định: “ Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .

Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”

Có thể khẳng định rằng, những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân ta giành được trong gần một thế kỷ qua là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr 23

Chú trọng thực hiện tốt công tác tôn giáo hiện nay

 


Tôn giáo là vấn đề phức tạp và nhạy cảm không chỉ nước ta mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa tôn giáo. Lịch sử cho thấy, khi nào vấn để tôn giáo được giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các tôn giáo trên thế giới. Vì vậy: bức tranh tôn giáo Việt Nam là bức tranh nhiều màu sắc, trong đó có sự hoà quyện rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Ở nước ta hiện nay, vấn đề tôn giáo đã và đang có sự vận động, phức tạp. Xu hướng phục hồi của tôn giáo và mở rộng ảnh hưởng của các tôn giáo đang diễn ra. Sự phát triển, ảnh hưởng của các tôn giáo đến đời sống xã hội ngày càng lớn do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để thực hiện các mưu đồ chính trị của chúng. Nhận thức rõ vấn đề tôn giáo trong giải quyết các vấn đề của cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định vấn đề tôn giáo là một vấn đề có tính chiến lược, từ đó đã đưa ra đường lối, quan điểm, chính sách nhất quán về tôn giáo, gắn chính sách tôn giáo với các mặt khác của đời sống xã hội, nhất là gắn với quốc phòng, an ninh. Do vậy, để thực hiện tốt công tác tôn giáo trong tình hình mới, việc nắm vững những kiến thức cơ bản về một số tôn giáo ở nước ta có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng của mỗi địa phương, đơn vị hiện nay.

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo


Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo. Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội; vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ. Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo.

Về tín ngưỡng: Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu.

Về tôn giáo: Hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo lớn (Phật giáo, công giáo, Hồi giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Cao Đài), trong đó có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.

Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt nam vừa có sinh ra páht triển tại chỗ, vừa có du nhập từ nước ngoài; vừa có sơ khai, vừa có hiện đại, vừa có nhất tôn, vừa có đa tôn.

  

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam

 


Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bức tranh đại đoàn kết dân tộc rất sinh động. Toàn thể dân tộc Việt Nam đã kết thành một khối vững chắc không gì có thể phá vỡ nổi, trong đó, Đảng, lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhau. Đảng tin vào dân, dân tin vào Đảng; quân với dân một ý chí, cả nước đồng lòng, toàn dân ra trận, tất cả vì mục tiêu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Để phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - tháng 9 năm 1955; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - tháng 12 năm 1960), lấy liên minh công nông làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền với những mục tiêu, thành phần, phương thức hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách mạng của mỗi miền là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ trương đó thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận dân tộc thống nhất trên cả hai miền đã thực sự tập hợp, động viên được mọi lực lượng, mọi cá nhân có ý thức dân tộc, có tinh thần yêu nước, chống Mỹ, tham gia vào cuộc chiến đấu cho mục tiêu chung là đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó có cội nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua mấy ngàn năm lịch sử. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã động viên đến mức cao nhất lực lượng nhân dân cả nước, kết hợp tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kháng chiến chống Pháp ở Việt Nam

 


Trong kháng chiến chống Pháp, để đánh thắng những đội quân xâm lược lớn của chủ nghĩa đế quốc, Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của toàn dân, phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Theo đó, Đảng ta chủ trương thực hiện kháng chiến toàn dân gắn liền với kháng chiến toàn diện. Với chiến lược đó, Đảng đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận "cả nước đánh giặc". Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến là huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[1]. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lời hiệu triệu, động viên, cổ vũ toàn thể các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các nhân sĩ yêu nước trong khối đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất đất nước. Đảng ta sớm xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ bản nhất để thực hiện toàn dân kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, ta đã tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và cũng chính trong lòng cuộc kháng chiến, chế độ dân chủ nhân dân được xây dựng và củng cố.



[1] Sđd: Tập 4, tr 480

XÂY DỰNG VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY


 

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hoá đồng bộ, hài hoà với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hoá nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao.

Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hoá, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.